Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Phật Giáo Nhập Thế Và Phát Triển (Quyển I)

Phật Giáo Nhập Thế Và Phát Triển (Quyển I)

Tác giả: Hòa thượng Thích Trí Quảng. Năm xuất bản: 2008. Số trang: 535.

Chương 11: Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh. (Trang 87 - 94)

NGHĨ ĐẾN VIỆC TỐT,LÀM VIỆC TỐT, TÂM THANH TỊNH
(Bài giảng trường hạ tỉnh Cà Mau, chùa Quan Âm ngày 21-6-2005)

        Thực hành giáo pháp Phật dạy, có đến tám muôn bốn ngàn pháp môn và thực tế chúng ta thường thấy những pháp tu chính yếu như hành Thiền, niệm Phật, hoặc trì chú, tụng niệm, lễ bái, cũng có người chuyên làm việc từ thiện.
Ở đạo tràng chùa này, gần như có đủ các pháp tu vừa kể. Chùa Quan Âm được sáng lập do Thiền sư Trí Tâm, cũng là ngôi chùa đầu tiên tại vùng đất này, nên được gọi là chùa Tổ. Thiền sư Trí Tâm tu hành, không kẹt hình tướng bên ngoài, mà chủ yếu là phát huy nội lực, thăng hoa đời sống tâm linh. Gọi ngài là Hòa thượng, hay Thiền sư cũng được, vì ngài đã đắc đạo trước khi xuất gia, trước khi thọ giới Cụ túc.
Cốt lõi của đạo Phật là Phật tại tâm, mà người ta thường nói đơn giản rằng Phật chẳng ở đâu xa, Phật tại lòng. Theo Phật, tâm quyết định tất cả cuộc sống của chúng ta. Hòa thượng Trí Tâm đắc

đạo, nhưng chưa xuất gia, gợi chúng ta nhớ đến lục Tổ Huệ Năng đã ngộ đạo từ lúc còn là cư sĩ. Trên bước đường tu, tôi không nghĩ xuất gia tốt hơn, hay tại gia tốt hơn, mà cần căn cứ trên hành trạng. Người xuất gia phải thấy ưu việt của mình và người tu tại gia cũng nhận ra điểm thù thắng của người tại gia, để từ đó, phát huy hạnh riêng của mỗi người, thì cả hai giới xuất gia và tại gia đều đạt được kết quả tốt đẹp.
Trong phẩm Pháp Sư thứ mười, kinh Pháp Hoa, Phật gọi Dược Vương Bồ tát, dạy rằng tất cả Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, Thiên long, Bát bộ, tất cả mọi người, mọi loài, ai nghe được kinh Pháp Hoa một câu, một kệ, một niệm tùy hỷ, Phật đều thọ ký Vô thượng Bồ đề.
Chúng ta tu Pháp Hoa, không phân biệt tại gia, xuất gia, nam nữ, già trẻ; nhưng tất cả phải biết phát huy tánh ưu việt của mình thì người nào cũng tốt. Người lớn tuổi có ưu thế của người lớn tuổi, người trẻ cũng vậy. Người trẻ hơn người già ở sức khỏe, người già hơn người trẻ ở kinh nghiệm và đức hạnh. Người lớn tuổi  đi  đến đâu, cũng được kính trọng và nhường nhịn. Tôi nhắc các vị lớn tuổi trong đạo tràng nên có cách xử sự theo người lớn là phải thương yêu, lo lắng, chăm sóc cho người nhỏ. Và người nhỏ đối với người lớn, phải kính trọng, giúp đỡ, mới được người lớn thương. Thuở còn nhỏ, thấy người già lên bậc tam cấp khó khăn, tôi thường dìu họ, họ mang nặng, tôi đỡ phụ; vì thế những người lớn tuổi rất thương tôi. Đối với các bậc tôn túc trưởng lão, chúng ta kính trọng và tìm cách hầu hạ, phụ giúp. Người lớn tuổi thì phải có hiểu biết, kinh nghiệm để truyền trao cho người trẻ.

 
Người xuất gia có điểm ưu việt ở hình thức gần giống Phật, nên người trông thấy thường kính trọng. Trước mắt là họ kính trọng màu áo của chúng ta. Thí dụ bà cụ kính trọng các Thầy cô trẻ, gọi là Thầy. Được kính trọng, quý vị nghiệm lại xem có thể hiện đúng hạnh của người xuất gia hay không, hay là đi lệch hướng Phật dạy, làm sai trái thì hậu quả thực nghiêm trọng. Phật dạy người xuất gia, đặc biệt nhất là hạnh nhẫn. Người xuất gia không được phép đánh trả người đã đánh mình, không được phép nói xấu người đã nói xấu mình, không được mắng người đã làm như thế với mình. Người xuất gia không nhẫn được, tỏ ra bực tức, buồn phiền, khó chịu, gặp việc không đáng giận cũng nổi giận; làm như vậy sẽ bị  đánh giá thế nào.
Thuở nhỏ, tôi đọc câu chuyện người thợ săn muốn giết sư tử, nên đã lấy áo Sa môn mặc vào để sư tử tưởng lầm là Thầy tu, nên đến gần, rồi bắn nó. Thử nghĩ lại xem ta có phải là Sa môn thực, hay thợ săn đội lốt Sa môn. Nếu là Sa môn thực, chúng ta nhịn chịu được tất cả những việc không tốt mà thiên hạvu khống, chấp nhận một cách vui vẻ. Người bàng quan thấy đệ tử Phật, giống Phật, nên họ kính Phật, trọng Tăng.
Khi tâm chúng ta còn nghĩ việc này, tính toán việc kia, phải cảm thấy xấu hổ; cần tự sửa mình cho tròn hạnh Sa môn. Thuở nhỏ, học kinh Pháp Hoa với Hòa thượng Trí Tịnh, ngài thường nhắc chúng tôi ý này và nay tôi nhắc lại đại chúng, khi đã khoác áo Sa môn, được người cung kính, tôn trọng. Nếu không xứng đáng mà thọ nhận sự kính trọng, sẽ chuốc lấy tai họa. Còn tu sĩ giả được kính trọng thì vui mừng, bị khinh chê thì buồn phiền. Ngài nhắc
chúng ta đừng bao giờ làm thợ săn mặc áo Sa môn, đừng làm tu sĩ giả.
Hòa thượng cũng nhắc thêm rằng Bồ tát đa hạnh và hầu hết các vị Bồ tát thường hiện thân làm cư sĩ. Vì mang hình thức Sa môn, sinh hoạt bị hạn chế, có rất nhiều việc mà người cư sĩ làm được, người xuất gia hoàn toàn không được phép làm. Vì thế, chúng ta thấy tôn tượng của các vị Bồ tát nổi tiếng thơm được mọi người kính ngưỡng, lễ bái hàng ngày như Bồ tát Quan Âm, Văn Thù, hay Phổ Hiền đều mang hình thức cư sĩ. Duy nhất có Bồ tát Địa Tạng là Sa môn dấn thân vào đời.
Chúng ta là Sa môn phát tâm Bồ đề, hành Bồ tát đạo, thì Địa Tạng chính là đối tượng của chúng ta noi theo. Hãy nghe Đức Phật dạy Bồ tát Địa Tạng khi vào đời, không để tâm đến trăm ngàn điều sai trái của chúng sanh; còn đối với một việc tốt dù nhỏ bằng hạt cải của họ, cũng phải ghi nhận và tùy hỷ.
Ghi nhớ tinh thần Phật dạy Địa Tạng Bồ tát, là Sa môn vào đời hành đạo, chúng ta không chất chứa trong tâm những tội lỗi của người khác, chỉ thấy việc tốt của họ. Vì nhìn việc xấu, nghĩ đến cái xấu, tâm chúng ta sẽ bị ô nhiễm và lần lần bị xấu theo. Và khi tâm chúng ta phiền não mà mặc áo Sa môn sẽ trở thành Sa môn hình thức, có tội. Trên bước đường tu, nên nhìn việc tốt, một ngàn điều xấu cũng không thấy, một việc tốt cũng không quên. Nhìn việc tốt, nghĩ điều tốt giúp tâm chúng ta dễ dàng trong sáng; đó là hạnh Sa môn phải tu.
Chúng ta biết rõ các vị Bồ tát lớn hiện thân trên cuộc đời nhằm giữ gìn và phát triển chánh pháp. Tôi thấy những người
có địa vị, quyền thế trong xã hội kính trọng Phật pháp, nên họ đã hỗ trợ chúng ta trong nhiều hoạt động; đừng thấy thế mà hiểu lầm là họ kính trọng chúng ta. Nhận lầm người kính trọng ta, sẽ lần xa rời Phật pháp, đi vào đường tà, hậu vận chắc chắn không tốt.
Ngoài ra, tôi muốn nhắc đạo tràng nơi đây có nhiều pháp tu cùng sinh hoạt chung ở ngôi chùa này, dưới sự che chở của Giáo hội, dưới bóng mát từ bi của Đức Phật. Cùng chung một nhà, việc kính trên nhường dưới là căn bản của người tu.
Trước nhất, kính trọng người lớn tuổi, người tu trước, người có trí  tuệ, người làm được nhiều việc. Ý thức như vậy, thấy mọi người đáng kính trọng, nên sanh tâm quý kính người; đó chính là hạnh tu cần thực hiện. Đức Phật có vô kiến đảnh tướng tiêu biểu cho tướng đức hạnh do kính trọng mọi người mà thành tựu. Ngày nay, một số người tu chưa đắc quả vị nào, làm việc cũng không bằng ai, nhưng lầm tưởng mình đắc đạo, là trên hết, sanh tâm ngã mạn. Họ đang tiến trên con đường đọa lạc.
Trong giới Bồ tát, Phật dạy các Bồ tát lớn sanh tâm kính trọng mọi người, không bao giờ đòi hỏi người kính trọng mình. Phật cho biết thuở quá khứ, Ngài tu Bồ tát đạo, có một kiếp tên là Thường Bị Khinh. Trọn một kiếp này, Ngài chỉ tu một pháp là bằng mọi cách kính trọng tất cả mọi người.
Để làm được như vậy, Phật dạy chúng ta tìm điểm tốt của người để kính trọng họ, thì trước nhất, tâm ta được an lành và cũng làm cho người đó dễ chịu với ta. Vì nếu ta xem thường họ, không có lý do gì họ kính ta. Phải tương kính nhau là điều tất yếu.
Riêng đối với đạo tràng Pháp Hoa, chẳng những kính trọng người xuất gia, mà với tất cả người tu các pháp môn khác, cũng phải kính trọng. Không được nghĩ rằng pháp của chúng ta hơn hết. Tôi đi nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều người, nhiều tôn giáo khác, nhưng được họ chấp nhận, vì  tôi kính trọng họ.
Những vị đóng vai cư sĩ tại gia làm việc hộ pháp là chính. Khi Giáo hội chúng ta tổ chức các lễ hội, quý vị nên hỗ trợ. Đạo tràng Pháp Hoa thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội được thương quý, vì trong suốt nhiều năm qua đã tham gia tích cực và vô điều kiện, làm hết khả năng những gì được Giáo hội giao phó.
Ngoài ra, một số người nghĩ sai lầm rằng tu Pháp Hoa, thì không tu Tịnh độ. Tu Pháp Hoa, chúng ta vẫn niệm Phật Di Đà và nhận biết được việc niệm Phật này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, phải suy nghĩ. Chúng ta niệm Phật Thích Ca, vì Ngài là giáo chủ cõi Ta bà, là bậc đại Đạo sư gần chúng ta nhất. Phật Thích Ca cho biết Phật Di Đà cũng tu Pháp Hoa cùng với Ngài, từ thời Phật Đại Thông Trí Thắng. Lúc đó, cũng như Đức Thích Ca, Di Đà là một trong mười sáu vương tử của đức Đại Thông Trí Thắng và Ngài thành Phật ở phương Tây. Như vậy, Phật Thích Ca khẳng định Đức Di Đà là anh em huyết thống với Ngài lúc chưa xuất gia. Và khi làm Phật, Di Đà cũng là anh em tốt hơn nữa với Đức Thích Ca, đó là anh em của trí tuệ toàn giác.
Pháp môn Tịnh độ rất tốt. Nếu có duyên với pháp này và hành trì đúng pháp, nhất định đạt kết quả lợi lạc. Đúng duyên nghĩa là chúng ta có hạt nhân Tịnh độ trong lòng, thì nghe tên Di Đà, liền sanh lòng cảm mến. "Cha lành vốn thiệt Di Đà, soi hào quang tịnh chói lòa thân con”. Tin chắc Di Đà là cha mình và cũng cảm nhận
sâu sắc Di Đà soi sáng thân mình, thấy an lành, sung sướng, nhẹ nhàng vô cùng, thì tu Tịnh độ là đúng rồi. Tôi cũng có duyên với Phật Di Đà, nên niệm hồng danh Ngài, cảm thấy an lạc, tự tại, mới dịch kinh Di Đà.
Ngược lại, nghe danh Phật mà không cảm, tự biết không có tịnh nhân, sẽ khó đạt kết quả tốt. Phải biết chúng ta có duyên với vị Phật nào, pháp môn nào. Nhân duyên đó chính là mối quan hệ từ nhiều đời mới có được. Thí dụ Hòa thượng Trí Tịnh chuyên tu Tịnh độ, niệm Phật Di Đà. Ngài đạt được kết quả lớn, thấy được thế giới Cực Lạc, thấy Phật hiện trong hư không, nên ngài niệm liên tục, không cho gián đoạn. Thậm chí ngài dạy tôi rằng làm được việc hay không, không quan trọng; nhưng quan trọng là giữ tâm thanh tịnh để giữ mối quan hệ với Phật hay Bồ tát mà mình hằng quý mến.
Cũng có một số người nghĩ sai lầm rằng tu Pháp Hoa thì không tu Thiền. Chắc chắn rằng Thiền không xa lạ với Pháp Hoa. Theo tôi, Thiền và Pháp Hoa có sự gắn bó mật thiết, "Liễu ngộ Pháp Hoa chứng đạo Thiền”. Hòa thượng Thanh Từ tu Thiền vẫn giảng kinh Pháp Hoa. Trì tụng Pháp Hoa mà tâm yên tĩnh, trí sáng suốt, đó chính là thể hiện cốt lõi của Thiền.
Thật vậy, Đức Phật dạy nhiều pháp môn tu để giúp cho tâm yên tĩnh, theo đó, tụng niệm, lễ bái cũng nhằm làm cho ba nghiệp được thanh tịnh, là Thiền. Hoặc niệm Phật, tâm yên tĩnh và ánh quang Phật soi sáng tâm trí chúng ta là chứng Thiền. Hoặc trì Pháp Hoa, sáu căn thanh tịnh, sanh được sáu ngàn công đức, dùng tám trăm công đức của mắt để quan sát cuộc đời, biết được việc cần làm, nơi cần đến, người cần giáo hóa, hoàn toàn không sai lầm. Được
một ngàn hai trăm công đức của ý, ngồi yên mà tiếp nhận pháp âm trong mười phương, nghe được Phật Di Đà, Phật A Súc, Phật Dược Sư, v.v… nói pháp, thông được Pháp giới. Đó chính là Thiền, vì mục tiêu tối hậu của Thiền là biết những gì mà thế gian không thấu tỏ nổi. Từ đó dấn thân hành Bồ tát đạo, cứu độ chúng sanh, nhưng nghiệp và phiền não trần lao không tác hại, là lộ trình tu Pháp Hoa.
Tóm lại, những gì ác xấu, cần loại khỏi tâm chúng ta và chỉ đem hình ảnh tốt, việc tốt vào tâm, mới được an lành và thanh tịnh. Có như vậy, Phật mới hộ niệm, việc tu hành của chúng ta mới đạt kết quả tốt.
Mong Tăng Ni và Phật tử tỉnh nhà đều là huynh đệ của nhau, cảm thông, giúp đỡ lẫn nhau để mọi người cùng thăng hoa đạo đức và tri thức theo tinh thần Phật dạy, làm cho Phật giáo tỉnh Cà Mau thực sự phát triển tốt đẹp. Cầu chúc quý vị luôn an lành trong chánh pháp.
/58
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »