THỌ GIỚI, TU HÀNH, NỖ LỰC THÂM NHẬP DÒNG THÁC TRÍ TUỆ
(Bài giảng tại giới đàn Chánh Tâm, tỉnh Long An, năm 2005)
Với tư cách là tuyên Luật sư của giới đàn Chánh Tâm, tôi nhắc nhở các tân Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni cần tuân thủ một số việc quan trọng, để đạt được kết quả tốt đẹp trên bước đường tu học.
Tôi vừa kết thúc chuyến đi tham bái các Thánh tích ở Trung Quốc. Vì là hành giả Pháp Hoa, nên tôi đến vườn Tiêu Dao, nơi mà ngài Cưu Ma La Thập đã dịch bộ kinh Pháp Hoa và ngài đã phát nguyện nếu lời văn của ngài không trái với ý Như Lai, thì khi ngài viên tịch, đem thiêu nhục thân, lưỡi của ngài không cháy. Quả tình đúng như vậy. Sau khi làm lễ trà tỳ, người ta thấy có những viên Xá lợi và cái lưỡi cong lên như cánh sen hồng. Chính hình ảnh kỳ diệu này được diễn tả trong bài kệ tán thán trước khi tụng kinh Pháp Hoa rằng "Hồng liên thiệt thượng phóng hào quang”. Nghĩa là trên lưỡi của ngài đã phóng ra hào quang. Người ta mới xây tháp thờ lưỡi của ngài ở vườn Tiêu Dao. Đến chiêm
bái nơi đó, tôi đã được Hòa thượng phương trượng mở cửa tháp để đảnh lễ ngài Cưu Ma La Thập.
Vị thứ hai mà tôi rất kính trọng là ngài Từ Ân đại Sư mà tôi thường được biết qua tôn danh là Đường Tam Tạng và được nhắc đến trong truyện Tây Du. Ngài có công rất lớn trong việc đi thỉnh kinh ở Ấn Độ và làm rạng danh Phật giáo đời Đường. Tôi cũng đến đây thăm di tích và đảnh lễ Xá lợi của ngài.
Và cuối cùng, tôi về núi Chung Nam là nơi ngài Đạo Tuyên Luật sư truyền bá Luật tông. Các giới đàn của Phật giáo Bắc tông ở Việt Nam, hay Trung Quốc, Nhật Bản…, khi mở giới đàn thường có bài vị thờ ngài là vị Tổ của Luật tông.
Thông thường chúng ta nói Ưu Ba Ly kiết tập Luật tạng. Tuy nhiên, hình thành được Luật tông và tổ chức quy củ đàn giới ngày nay như chúng ta có, đều theo sự sắp xếp, chỉ dẫn của ngài Đạo Tuyên Luật sư. Vì vậy, núi Chung Nam còn là Tổ đình của Luật tông Trung Quốc.
Sau khi viếng núi Chung Nam, tôi về Tào Khê chiêm bái nhục thân của lục Tổ Huệ Năng, vì đa số chúng ta đều ở trong phả hệ của Thiền tông, cho nên đến chiêm bái Thánh tích của lục Tổ là việc rất cần. Đến đó, tôi cũng thấy ở nhà Tổ còn hai vị cao Tăng khác là Đan Điền và Hám Sơn vẫn còn lưu lại toàn thân Xá lợi.
Chiêm bái những Thánh tích này với lòng thành kính và tâm thanh tịnh, tôi cảm nhận được trong vô hình luôn có sức gia bị cho chúng ta trải qua suốt chiều dài lịch sử của Phật giáo. Sự tu hành của Tăng Ni chúng ta có lúc thăng trầm, nhưng Phật giáo vẫn không thay đổi; đó là việc quan trọng.
Tôi muốn nhắc các Tăng Ni được thọ giới hôm nay, được đứng vào hàng Tăng bảo, vào dòng Thánh, trước nhất là hình thức, nhưng quan trọng hơn là làm sao thâm nhập được dòng Thánh thực sự, thâm nhập được dòng thác trí tuệ Như Lai miên viễn từ quá khứ cho đến hiện tại và mãi về sau không mất. Được như vậy, chúng ta mới thoát ly sanh tử và không uổng công xuất gia học đạo.
Thực tế cho thấy có người xuất gia, nhưng thân xuất gia mà tâm không vào đạo là tự đánh mất căn lành của họ; đây là điều nguy hiểm. Phật dạy rằng hôm nay chúng ta được xuất gia là nhờ căn lành chúng ta đã gieo trồng trong đời quá khứ. Vì trong tứ sanh lục đạo, chỉ có loài người mới xuất gia và làm Sa môn được. Nếu ngày nay chúng ta đã được mang thân người, lại được xuất gia, mang hình thức Sa môn; nhưng tâm không vào đạo. Nghĩa là tâm không phải của Sa môn, mà tâm là chư Thiên, hay con người, hoặc là tâm A tu la, tâm địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đặt vào hình tướng Sa môn, chúng ta đã phạm tội rất lớn, gọi là phá pháp tội chướng, không có tội nào lớn hơn tội này. Vì thế, tôi nhắc nhở quý vị cần lưu tâm, đừng để vấp phải lỗi lầm này, không cứu chữa được. Vì phạm tội phá pháp sẽ trở thành nhứt xiển đề, đời đời kiếp kiếp không thể đi vào cửa Thánh, dù làm gì, chúng ta vẫn trôi lăn trong sáu đường sanh tử mà thôi.
Quán sát kỹ, tôi thấy nhiều Thầy Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni trên hình thức; nhưng tâm ở trong sáu đường sanh tử, nên tu suốt đời cũng không thăng tiến đạo hạnh. Có người xuất gia được trời người cung kính cúng dường, nhưng có người bị coi la đội lốt Thầy tu.
Đi xuất gia được kính trọng, đi xuất gia bình thường và đi xuất gia bị người ghét bỏ. Phân ra thấy rõ có ba loại người xuất gia như
vậy. Tại sao bị ghét bỏ. Có thể khẳng định rằng vì tuy mang hình thức xuất gia, nhưng tâm không vào đạo, thì dù có thọ giới cũng không đắc giới. Mà chỉ có hình thức Thầy tu, thì suốt đời không thể thăng tiến đạo tâm, đạo hạnh, đạo quả. Tăng Ni hôm nay thọ giới phải suy nghĩ điều này.
Người xuất gia mang hình thức Sa môn mà tâm buồn phiền, đau khổ là tâm địa ngục. Người xuất gia tâm không vào đạo, ham muốn đủ thứ, nhưng chẳng được gì; muốn người cung kính cúng dường, nhưng không ai cúng; thậm chí ham muốn việc đạo như muốn có chùa lớn, có đệ tử đông, cũng sai lầm. Vì tâm ham muốn là tâm của ngạ quỷ, dĩ nhiên một vị Sa môn không có tâm này.
Thứ ba là tâm sân hận thuộc tâm A tu la. Có Thầy cô xuất gia, thọ giới, sống trong chùa, nhưng không nhịn nhau được, lúc nào cũng hơn thua tranh cãi. Những người này cũng không vào đạo được và chắc chắn họ sẽ rơi vào hoàn cảnh khó khổ.
Có những người cùng xuất gia với tôi, nhưng mang tâm niệm sân hận nhiều quá; nên họ đã hoàn tục, đi lính, rồi chết, hoặc bị tàn phế, không thể làm Sa môn được. Tất cả những người kể trên, tâm của họ không vào đạo, nhưng ở trong ba đường ác.
Tôi mong quý Thầy cô được thọ giới hôm nay có lòng khát ngưỡng giới pháp, phải có tâm thanh tịnh thực sự và không có tâm của ba đường ác, thì chẳng những đời này mà những kiếp sau, quý vị cũng không rơi vào ba đường ác. Đây cũng là điểm quan trọng tôi muốn nhắc quý vị.
Tôi đi tu nhận ra điều này rất rõ. Tôi sanh ở Củ Chi là vùng đất chiến tranh dữ dội. Bom đạn Mỹ đã đổ xuống quê tôi không
biết bao nhiêu mà kể, bà con bạn bè chết vô số. Nhưng lúc đó, tôi xuống thành phố xuất gia, đi học và khi bom đạn rơi xuống thành phố, thì tôi sang Nhật Bản du học và chiến tranh ở Việt Nam chấm dứt, tôi trở về đây hoằng pháp. Vì thế, biết chắc rằng trong cuộc đời tu của tôi, do nhiều đời không có tâm sân hận, nên tôi không phải sống trong hoàn cảnh tranh chấp, hơn thua phải trái. Đó chính là kinh nghiệm tu hành của tôi muốn nhắc nhở quý vị.
Người nhiều sân hận không bằng lòng với thực tế, thì luôn rơi vào những cảnh đó; cái gì chúng ta không muốn, nó sẽ tới, cái gì tới là nghiệp của ta. Quý vị tu hành, xuất gia, thọ giới rồi, phải nghĩ đến điều này. Đời đời kiếp kiếp chúng ta không vào ba đường ác nữa, mà chỉ qua lại chốn nhân thiên, tức từ cõi Trời xuống cõi người và từ người lên Trời để hoằng pháp. Đây là việc vô cùng quan trọng đối với người tu; vì Phật dạy rằng người xuất gia trong chánh pháp Phật chỉ làm một việc truyền bá chánh pháp. Trên bước đường tu, khoác áo Sa môn rồi, lấy hoằng pháp làm sự nghiệp của đời mình; nếu có việc khác thì chỉ là phương tiện thực hiện để độ sanh. Thấm nhuần tinh thần "Hoằng pháp vi gia vụ”, bất cứ nơi nào thỉnh tôi thuyết pháp, tôi ít từ chối; còn việc khác thì tôi nhường cho người làm.
Các Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni thọ giới hôm nay được chính thức đứng trong giới xuất gia, cần suy nghĩ để tiến thêm một bước nữa là đi vào dòng Thánh, một điều vô cùng quan trọng.
Bước vào dòng Thánh, thì tôi vừa nói, chúng ta cắt tất cả những duyên vụ thế gian, chúng ta đoạn tuyệt tất cả những việc làm của ba đường ác. Đi vào dòng Thánh, chúng ta sử dụng tâm nhẫn nhục để sống với cuộc đời. Việc xảy ra chúng ta coi như không có,
nghĩa là không có trong tâm, không phải không có trong hoàn cảnh thực tế. Đương nhiên còn sống trong cuộc đời, ở trong xã hội, luôn có mặt này mặt khác, làm sao không có được. Có người đồng thuận với ta, cũng có người không ưa ta; nhưng đối với chúng ta thì những thứ này không hiện diện.
Nhận chân rõ ý này, tôi tâm đắc nhất câu kệ của Phổ Hiền hạnh nguyện trong kinh Hoa Nghiêm rằng "Đối với tôi, lòng luôn hoan hỷ”. Dù hoàn cảnh thế nào chăng nữa, dù huynh đệ xử sự thế nào, lòng ta cũng hoan hỷ. Tu Hoa Nghiêm, chỉ tu một câu này thôi cũng tốt; giữ tâm hoan hỷ với tất cả mọi người. Ta coi như không có thì tất cả không có đối với chúng ta; còn chúng ta khởi tâm chấp thì mọi việc sẽ trở nên khó khăn với chúng ta nhiều hơn.
Ở giới đàn này, tôi thấy quý vị rất có phước. Thật vậy, khi được thọ giới xong, được Ban Kiến đàn, Ban Hộ đàn và tất cả Phật tử ủng hộ để quý vị được ở đây tu một tuần lễ, được học giáo pháp Phật, được sống hòa hợp trong chúng; nhờ đó, có cơ hội tự kiểm tra tâm mình xem thực sự tốt hay chưa.
Thông thường các giới đàn khác cho rằng thì giờ không cho phép, nên đăng ký xong là phải đăng đàn truyền giới ngay và phải giải quyết việc thọ giới trong một ngày cho xong. Vì thế, trong một ngày, Đường đầu Hòa thượng chỉ truyền cho giới tử bốn giới chính là bốn trọng tội và ngài bảo tất cả giới còn lại phải về theo Hòa thượng Đường đầu học cho đủ. Nhưng trên thực tế, thọ giới xong, trở về cho đến khi Hòa thượng Đường đầu viên tịch cũng chưa đến thăm một lần, nói chi đi theo để học cho đủ. Hoàn cảnh thực tế như vậy đã làm cho các Thầy cô thọ giới bị thiệt thòi rất nhiều trên bước đường tu hành.
Tại giới đàn này, quý vị không được theo Thầy học suốt năm năm như ngày xưa từng có, nhưng ít nhất quý vị cũng có một tuần lễ học Luật, giúp quý vị học hết 250 giới Tỳ kheo, 380 giới Tỳ kheo Ni và một số kiến thức cần thiết cho việc tu hành. Tôi nghĩ đó là phúc lớn mà các giới đàn khác chưa làm được điểm này.
Riêng tôi, được may mắn xuất thân từ Phật học đường Nam Việt và may mắn hơn nữa, tôi được thọ giới Tỳ kheo với Hòa thượng Thiện Hòa; nên tôi không phải chỉ có năm năm, mà suốt tám năm, tôi có cơ hội học giới với ngài tại Tổ đình Ấn Quang. Không phải chỉ học ở lớp, nhưng học từ oai nghi, cử chỉ, lời nói, việc làm, cho đến thái độ bình thường hàng ngày của Hòa thượng, tôi vẫn theo ngài học được. Những người khác không để ý, nhưng tôi rất quan tâm đến Hòa thượng. Sáng thức dậy sớm, tôi thấy Hòa thượng mặc dù là Giám đốc Phật học đường, ngài vẫn cầm chổi quét sân; trong khi anh em học Tăng đang ngủ. Ngoài sách vở, tôi còn học được tâm niệm của Hòa thượng khi làm việc, ngài làm với tất cả tâm hoan hỷ, nên công đức sanh ra. Nhờ học với Hòa thượng hạnh hoan hỷ, hạnh phục vụ cho đại chúng không nề hà gì cả, tôi sinh hoạt với các đạo tràng từ Việt Nam cho đến ở nước ngoài, cũng làm theo hạnh của ngài. Tôi học giới với Hòa thượng Thiện Hòa là học như vậy. Các Thầy cô nên suy nghĩ ý này.
Ngoài giới luật được ghi thành văn, giới luật sống quan trọng hơn, chỉ có ở các bậc cao Tăng, ở các vị chân tu; vì lời nói, cử chỉ, việc làm, cho đến những thái độ nhỏ nhất luôn thể hiện trong cuộc sống của các ngài. Vì vậy, chúng ta gần gũi các ngài, mới học được.
Sống gần Hòa thượng Thiện Hòa, tôi không bao giờ thấy ngài có cử chỉ, thái độ khó chịu với bất cứ ai. Các Thầy Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni mới thọ giới phải nhớ điều tôi mới vừa nói. Chính thái độ này đã in sâu trong lòng tôi; suốt một cuộc đời tu hành của tôi, hình ảnh này khó phai. Hòa thượng không bao giờ tỏ ra bực bội với bất cứ việc gì, mặc dù ngài làm nhiều chức vụ như Trị sự trưởng Giáo hội Tăng già Nam Việt, Giám đốc Phật học đường Nam Việt… Gánh vác trách nhiệm rất nặng nề, nhưng tâm ngài vẫn thanh thản là điều mà chúng ta cần học ở ngài.
Chúng ta học kinh luật sống ở các bậc cao Tăng, gần gũi các ngài, mới thấy cử chỉ, lời nói, hành động của các ngài như thế nào mà nhiếp hóa được chúng Tăng. Học như vậy đối với tôi quan trọng hơn là học trên sách vở. Vì thế, đến những nơi xa lạ, tôi thường tham vấn các bậc phương trượng trưởng lão.
Sang thăm Phật giáo Hàn Quốc, đến chùa Tùng Quảng, tôi gặp Hòa thượng Bồ Thành là một vị cao Tăng. Đến viếng chùa này, vì khi còn học ở Nhật Bản, tôi nghe nói chùa này có 16 đời Hòa thượng làm Quốc Sư; cho nên tôi muốn quan sát cảnh chùa thế nào mà có được những bậc cao Tăng. Đến đó, tôi mới thấy rõ cảnh núi non hùng vĩ tuyệt vời. Quý vị nghĩ xem chúng ta có một ngôi chùa rộng một hecta đất là rộng rồi. Vậy mà ở chùa Tùng Quảng, Hòa thượng phương trượng cho biết có tất cả 15.000 mẫu đất. Cứ mỗi đời Quốc Sư là nhà vua cúng thêm một số đất. Trên núi vào mùa này, phong cảnh rất đẹp, toàn là cây Mộc Liên Hoa nở hoa y như hoa sen được coi là quốc hoa của Hàn Quốc; còn chúng ta chỉ mới thấy hoa sen ở trong bùn. Trong khung cảnh một đại già lam với khu vườn rộng mênh mông như vậy, chư Tăng tập hợp tu hành
dưới sự lãnh đạo của một vị cao Tăng. Đến đây tôi mới thấy cách tu hành và cách quản lý Tăng chúng của nước bạn. Thiết nghĩ Phật giáo tồn tại và phát triển được là nhờ phát xuất từ điểm này.
Tôi quan sát thái độ, cử chỉ, ngôn ngữ của Hòa thượng lãnh đạo chùa này như thế nào mà đại chúng với hàng trăm Tăng sĩ tu hành, nhưng rất thanh tịnh, nề nếp, đâu ra đó. Chúng ta học Luật sống ở con người như vậy. Quý Thầy cô nên suy nghĩ về Luật sống để hiểu tại sao một vị Tỳ kheo có vài đệ tử, nhưng vị thì có vài trăm đồ đệ, lại có vị giáo dưỡng cả ngàn đệ tử. Mối quan hệ vô hình, mối quan hệ Thầy trò, mối quan hệ tình cảm là điều chúng ta phải học. Những người có khả năng tiếp Tăng độ chúng, nhiếp hóa tín đồ, trong kinh không ghi; nên chỉ học được ở Luật sống.
Tôi đến các Tổ đình ở nhiều nơi thử sống một tuần cho đến một tháng để quan sát cách điều chúng của các vị phương trượng, cách tu hành của họ. Không phải chúng ta theo sách vở và tu hình thức, vì tu hình thức thì mau chán lắm. Và khi chán rồi mà càng tiếp tục tu thì càng xa đạo.
Càng tu, chúng ta càng thâm nhập cửa Thánh, mới thấy thích thú, nên không muốn rời khỏi con đường tu, không muốn xa thế giới của người tu. Vì thế, những người may mắn sanh cùng thời với Đức Phật tại Ấn Độ, sống với Phật, cảm nhận được tình thương của Ngài bao dung rất dễ thương, rất đáng quý, nên từng bước họ được an lành, vào cửa Thánh rất dễ. Chúng ta sanh khác thời với Phật, nên ít có được sự may mắn đó; nhưng không gặp Phật, mà gặp được chân Sư, Thánh Tăng cũng không phải dễ, cho nên chúng ta phải tầm Sư học đạo. Cái đạo mà chúng ta học là học với con người sống thật mới quan trọng; học sách vở tôi coi như phụ.
Ngoài những giới điều ghi trong Luật mà quý vị phải học, tôi khuyên nên học Luật sống giúp chúng ta nhiều lắm. Tiếp thu Luật sống thì mới sống được và mới thích hợp với tất cả mọi loại hình xã hội. Luật chết không thể thích hợp với sinh hoạt thực tế. Chúng ta học Luật sống, đến nước xã hội chủ nghĩa, xem vị chân Sư sống thế nào mà truyền bá chánh pháp được để chúng ta làm theo. Vì các loại hình xã hội đều khác nhau; sinh hoạt và luật pháp của Mỹ phải khác với Nhật Bản và Nhật Bản cũng khác với Việt Nam, v.v… Vì vậy, không có một mô hình cố định, mà có sự sống biến hóa vô cùng. Phật giáo chúng ta bất biến, nhưng phải ứng vô vạn biến mới được. Vòng bất biến chết cứng không tồn tại được, gọi là Phật giáo chết. Bản chất bất biến của chúng ta muôn đời không thay đổi, nhưng đưa chúng ta vào xã hội Việt Nam, chúng ta sống hòa hợp được với xã hội Việt Nam. Nếu vào xã hội Mỹ, hay xã hội Tây phương, chúng ta cũng ứng vô sinh hoạt của những nước đó. Tôi đi đến nơi nào cũng thường nghiên cứu, tìm hiểu, để xây dựng cho mình cuộc sống luôn thích hợp với mọi tình huống, để tồn tại và phát triển. Đó là điều quan trọng tôi muốn nhắc quý vị hôm nay.
Quý vị đã được thọ giới, bước thứ hai là phải vào được dòng Thánh. Muốn bước vào dòng Thánh, chúng ta phải tìm cho được các bậc Thánh nhân trên cuộc đời. Những vị này mới có chìa khóa mở cửa cho chúng ta vào. Vì vậy, khi thọ giới, Hòa thượng Thiện Hòa nhắc một câu mà tôi còn nhớ mãi là nếu không phải Hiền thì không làm bạn, không phải Thánh, chúng ta không thờ. Dứt khoát như vậy. Trong tâm trí chúng ta chỉ thờ các bậc Thánh và chỉ làm bạn với Hiền. Có như vậy, từng bước mới thâm nhập vào dòng Thánh, là việc quan trọng trên bước đường tu hành của chúng ta.
Vị Thánh nghĩa là có trí tuệ mới ứng xử vào xã hội được; bấy giờ, mới giúp chúng ta đi vào cửa Thánh. Còn chúng ta không có bậc Thánh chỉ đạo, nghĩa là không có trí sáng suốt hướng dẫn để sống và tu hành, thì chúng ta sẽ rơi vô cái chấp.
Ứng vạn biến là sao? Thí dụ các Thầy cô bắt đầu thu đệ tử thì phải biết họ muốn gì, nghĩ gì, làm gì, mới nhận. Nếu trí chúng ta chưa mở ra được, chưa thấy biết được, thì phải theo học với Thầy trong năm năm là học cái này. Còn bây giờ mới thọ giới xong, muốn thu đệ tử ngay để mọi người biết ta cũng có đệ tử; lo xin tiền xây chùa để ta cũng có chùa như ai. Lo kêu gọi thu gom đệ tử kiểu này rất nguy hiểm. Ngài Toàn Nhật Thiền sư diễn tả tình trạng tệ hại này của Thầy tu ở thời của ngài, qua câu thơ dí dỏm và dễ thương như sau:
Ngồi dựa cột như thầy bói ế
Buồn quy y mấy kẻ ăn mày
Lại lân la mấy gánh hàng rong
Dụ thế phát mấy con ăn cắp
Cho những người này đi tu, quả là hại đạo vô cùng. Vì không ai theo thì làm sao làm Thầy, muốn có đệ tử, mới ra chợ dắt những người thất nghiệp, móc túi về chùa cho cạo tóc, làm Tăng, thì nguy hiểm vô cùng.
Quan sát xem Thầy ta và những vị đắc đạo độ chúng như thế nào. Độ chúng, phải biết rõ họ muốn gì, nghĩ gì, có khả năng làm gì. Nếu các Thầy cô biết như vậy, thử hỏi có dám độ hay không. Thực sự họ không muốn xuất gia, không muốn tu khổ hạnh; nói cách khác, không muốn làm Sa môn, không muốn tụng kinh niệm
Phật. Nhưng ta ép họ xuất gia, không có lợi cho bản thân họ, mà còn làm hại đến sự tu hành của đại chúng.
Đức Phật là bậc có trí tuệ, Ngài triển khai Tam thừa giáo, rồi Ngũ thừa giáo, để mọi người thuộc mọi trình độ và nghiệp lực khác nhau đều có thể ứng dụng thích nghi pháp Phật. Bước theo dấu chân Phật, chúng ta cũng vậy; nhận thấy người tu được pháp nhơn thiên, ta dạy họ pháp của nhơn thiên. Người tu được pháp Duyên giác, hay người hành đạo Bồ tát, cũng có pháp tương ưng cho họ.
Có trí tuệ phải quan sát người đến với mình, họ thực sự muốn tu hay không và căn tánh họ như thế nào, theo đó dạy họ mới phát triển được khả năng. Tất cả các bậc Thánh Tăng, cao Tăng độ sanh đều thành công, vì dạy người đạt được thành quả nhất định trong cuộc sống. Chúng ta học đạo cũng học theo các ngài, nương được các bậc cao đức thì chúng ta học được và sau này chúng ta có thể làm được. Không chịu học, không làm theo cách này, chắc chắn chúng ta thất bại mà thôi.
Nếu là Hiền, chúng ta làm bạn. Các Thầy cô ở chung một chùa, dễ nhận ra ý này. Chúng ta đọc một bộ kinh, có được tâm đắc và gặp người bạn cũng có tâm đắc thì mới có thể trao đổi với nhau; nhờ đó, tín tâm chúng ta mới tăng trưởng nhanh. Ngược lại, người bạn không thích hợp với pháp môn tu của chúng ta, họ chê trách, nói tới nói lui làm chúng ta phiền muộn, đôi khi còn làm chúng ta bỏ cuộc.
Phải đồng tâm nguyện, hạnh nguyện mới giúp nhau được. Tôi may mắn gặp những người Hiền khi còn tu học ở Nhật. Tôi trao
cho bạn những điều hay mà tôi nhận ra khi nghiên cứu và tôi cũng học được ở bạn những điều tốt lành mà họ đã bỏ công tìm tòi. Nhờ vậy, cả hai mở mang được kiến thức.
Không phải Hiền, không làm bạn. Không phải Thánh, không thờ. Chúng ta không chê, nhưng ta tránh, lần hồi chúng ta bước chân vào cửa Thánh; nghĩa là trí tuệ chúng ta sáng ra, kiến thức được mở rộng. Vì chúng ta kết thân với người Hiền, học với Thánh, nên những hiểu biết siêu tuyệt của các bậc minh triết này lần đưa vào tâm trí chúng ta, thì sự hiểu biết của chúng ta dần dần giống họ. Hình thức của chúng ta đã giống rồi, nhưng suy nghĩ, hiểu biết giống mới quan trọng.
Đi vào cửa Thánh, mới thấy mình có tâm đắc và Thầy bạn cũng có tâm đắc, nên sống chung với nhau rất an lành, rất tốt. Đó là kinh nghiệm của riêng tôi trên bước đường tu.
Và đến cửa này rồi, thấy Thầy của chúng ta thực hiện được pháp cao hơn trong cuộc sống, dần dần chúng ta cũng học theo. Nhờ đó, tôi mới phân biệt được là đồng đi tu, nhưng có năm loại Tăng khác nhau. Chúng ta cần biết điều này để tiến tu.
Cùng mang thân người và đến giới đàn thọ giới Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, mọi người đều giống nhau, gọi là phàm Tăng. Là phàm Tăng, cơ thể chúng ta còn lệ thuộc bốn thứ là ăn, mặc, ngủ, nghỉ, còn bị nóng lạnh, đói khát chi phối. Nếu không ăn mặc, ngủ nghỉ, chúng ta chết. Vì thế, mỗi ngày chúng ta phải thỏa mãn sự đòi hỏi của bốn thứ này; nhưng chẳng lẽ suốt đời chúng ta ở vị trí này hay sao?
Những người thấp hơn nữa thì không được dự vào hàng Tăng. Thấp hơn ở điểm nào. Những người bệnh hoạn, ngu dốt, tật nguyền không được dự vào hàng Tăng. Còn hạng phàm thì ai cũng giống nhau, nhưng tu hành, thọ giới rồi, bắt đầu từ đây đi lên. Năm năm, mười năm, ba mươi năm sau, chúng ta thấy họ lên địa vị Hiền Thánh, hay cũng thấy có người đi xuống.
Đi xuống nấc thứ nhất gọi là nghiệp chướng Tăng. Xin các Thầy cô đừng bước xuống chỗ này; hãy giữ nguyên vị trí, hoặc bước lên. Tu hành đổ nghiệp ra, gọi là nghiệp chướng Tăng; nghĩa là bắt đầu sân si, gặp việc không vừa ý thì tranh cãi, hơn thua nhau và cuối cùng bị loại ra ngoài. Quý vị cố khắc phục nghiệp, đừng cho đổ nghiệp.
Hòa thượng Thiện Hòa đã dạy tôi điều này, nay tôi muốn nhắc cho đại chúng. Khắc phục nghiệp bằng cách nào. Chúng ta có ba nghiệp là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Trong ba nghiệp này, các Thầy cô nghĩ xem nghiệp nào dễ trừ bỏ nhất. Ý nghiệp không thấy được, nên khó trừ nhất, thân nghiệp thì dễ bỏ.
Có lẽ tôi từ đất thép Củ Chi đến thành phố, nên tánh nóng nảy. Hòa thượng mới dạy tôi rằng nóng thì nóng, nhưng đừng đánh người ta, là ráng giữ thân nghiệp. Trong lòng bực bội, nếu không chịu nổi, lỡ nói vài lời cũng nhẹ một chút, còn đánh người là tuyệt đối không được. Phải đoạn thân nghiệp trước, Thầy Tỳ kheo đừng để nghiệp này đổ ra. Hai Thầy tranh cãi với nhau là đã quá lắm rồi; còn đánh nhau thì phải đuổi thôi, không thể cho ở chùa được. Hòa thượng dạy tôi giận thì giận, nhưng đừng đánh. Thuở còn đi học, tôi thấy những Tỳ kheo đánh nhau bị đuổi ra khỏi Phật học đường, vì không ai chấp nhận Tỳ kheo đánh nhau.
Dẹp được thân nghiệp, tiến lên bước thứ hai là khẩu nghiệp. Giận thì các Thầy cô nhớ cắn chặt răng lại, mím môi lại, không cho ra tiếng. Tôi học Hòa thượng Thiện Hòa cái tánh giận thì không nói, giận là bỏ đi chỗ khác. Hòa thượng dạy rằng chúng ta nói trong lúc giận là không tốt, vì thực sự bản chất của mọi việc tốt đẹp hay không đều phát xuất từ tâm. Nếu tâm mình kính trọng, thương người, mới phát ra lời nói dễ thương, chấp nhận được, nhưng trong lòng mình không ưa thích thì không thể nói lời tốt được. Quý vị nên nhớ hai điều, giận đừng đánh và giận không nói; làm như vậy, không ai bắt lỗi phải gì được.
Thân nghiệp và khẩu nghiệp dễ kiểm soát, nên trừ bỏ, mới chuyển hóa thân và khẩu nghiệp thành Thánh trước. Chuyển hóa bằng cách nào. Theo tôi, các Thầy cô thọ giới xong, nên siêng năng lạy sám hối, lạy Ngũ bách danh, rồi lạy Tam thiên, cho đến lạy Vạn Phật. Hòa thượng dạy rằng lạy để tiêu nghiệp; nhưng tôi nghĩ lạy sám hối một phần nào có tác dụng giống như tập thể thao. Vì các Thầy cô mà mặc quần ngắn chạy bộ ngoài đường coi không được. Ở chùa lạy sám hối vài trăm lạy, cũng như người ta chạy bộ. Thuở nhỏ, tôi nhờ chuyên tu pháp này, ít nhất một ngày lạy một thời sám hối Hồng danh. Có thì giờ, tôi lạy Tam thiên, lạy Vạn Phật. Nhờ lòng nghĩ tưởng Phật, siêng năng lạy Phật, một thời gian tự nhiên hảo tướng hiện, đó là pháp tu mà ngài Thiên Thai đại Sư dạy. Vì trong đầu chúng ta nghĩ đến cái gì là cái đó sẽ hiện ra trong cuộc sống ta. Nhìn thấy những phiền muộn khó ưa, tướng xấu của mình sẽ hiện ra. Còn nhìn tượng Phật đẹp, lâu ngày mình sẽ giống tượng đẹp đó. Tôi thờ tượng Phật đẹp, không lạy, nhưng để trước mặt nhìn, lòng mình cũng sanh hoan hỷ. Nhìn như vậy cho quen, đến sau này, nhìn các Thầy khó thương mấy, tôi cũng nhìn ra ông Phật.
Đó là kinh nghiệm tu của tôi; vì trong đầu đã quán tưởng thuần thục, thành pháp rồi.
Đi vào dòng Thánh là đi bằng cửa này. Chúng ta thấy tất cả mọi người theo cái tưởng này đó là nhờ tượng Phật trợ duyên cho ta. Kinh nghiệm tôi thấy rõ điều này, chọn tượng Phật để trên bàn làm việc, làm việc một lúc, ngước lên nhìn Phật; nhìn lâu ngày như thế thì nhìn đâu cũng thấy Phật, là chúng ta bắt đầu có cuộc sống tương đối khác.
Chúng ta lạy Phật nhiều, lâu dần cử chỉ chúng ta sẽ nhẹ nhàng. Vào chùa, thấy có Thầy lạy Phật rất đẹp, có Thầy lạy trông khó chịu; vì trong tâm họ thiếu tôn kính và công phu luyện tập của họ chưa thuần, nên oai nghi không có. Các Thầy cô thọ giới rồi, trở về phải tập bốn oai nghi, lạy Phật, kinh hành, đi từng bước cho quen, để trở thành hạnh. Khi tánh Tỳ kheo thành tựu thì hạnh Tỳ kheo tự nhiên hiện ra và bên ngoài sẽ hiện tướng Tỳ kheo giải thoát.
Bắt đầu vào dòng Thánh, tâm chúng ta được an lành, cơ thể khỏe mạnh, vấn đề ăn uống bắt đầu thay đổi, chúng ta có sức chịu đựng. Sang Nhật tu học, tôi tham gia các đạo tràng, mới nhận ra pháp này. Các Tỳ kheo thường hạn chế ăn uống, ăn ít, nhưng sức khỏe phải tốt; từ ăn nhiều đến ăn ít, cho đến có thể nhịn ăn vài ngày vẫn bình thường. Như vậy, tuy mang thân người, nhưng phần nào đã có cốt Thánh bên trong; nên khi họ nhập diệt, vẫn để lại Xá lợi. Ngài Huệ Năng Thiền Tổ, hay ngài Hám Sơn, hoặc Đan Điền của Trung Quốc, ba vị này tu hành, giảm bớt ăn uống, cho đến không ăn và ngồi Thiền để diệt độ, không phải Thánh là gì.
Phật giáo Việt Nam chúng ta ít nhất cũng có ba, bốn vị Thánh Tăng đời trước còn để lại nguyên nhục thân. Còn chúng ta tu thế nào để lần lần đi xuống, từ phàm Tăng có sức khỏe tốt, tu một thời gian, tuổi lớn, bệnh hoạn sanh ra, dở sống dở chết. Người ngoài nhìn thấy kết quả tu hành như vậy, họ sợ không dám tu, là đã phạm tội phá pháp. Tu mà đổ nghiệp ra, nghiệp này là bệnh thân đã có tội rồi. Thăm Hòa thượng Chủ tịch, tôi lắng nghe ngài nói rất đúng rằng tu mà không chữa được bệnh mình, thì chữa được cho ai. Năm nay, Hòa thượng gần 90 tuổi, nhưng rất khỏe. Hòa thượng nói rằng mình tu có khác hơn người đời một chút là không bệnh, không phiền não, thì cũng làm gương cho đời được rồi. Còn làm bao nhiêu Phật sự, mà nằm một chỗ không chết, cứ phải chịu mổ xẻ hoài, tốn tiền đàn na thí chủ và làm người khác không phát tâm.
Theo Thánh tu hành, bắt đầu giảm bớt ăn uống, ngủ nghỉ; vì nhu cầu về vật chất chúng ta không cần, nhưng phước chúng ta sanh ra nhiều, là phước điền Tăng. Từ phàm Tăng tiến lên phước điền Tăng, cuộc sống dư dả cũng để giúp đỡ người khác, mới là ruộng phước cho người gieo trồng. Nơi nào có phước điền Tăng xuất hiện, nơi đó Phật pháp hưng thạnh, giúp được đời nhiều. Trái lại, nếu đòi hỏi vật chất nhiều, thiếu thốn nhiều, phải nhờ Phật tử miếng ăn, thức uống; đó là nghiệp chướng Tăng.
Cao hơn nữa là Thánh Tăng, vượt được sự bức ngặt của hàn nhiệt cơ khát, quần chúng mới kính nể. Ở Nhật, các Hòa thượng thuộc Chân Ngôn tông thường đóng khố, xuống băng giá lạnh dưới không độ, trầm mình tắm; nhưng trì chú không có cảm giác lạnh và không bị bệnh hoạn. Tu Mật tông đúng pháp là đạt kết quả như thế.
Ngoài ra, các nhà Sư thuộc Nhật Liên tông đến mùa Đông đóng khố, ngồi trên tuyết vẫn chịu được, mới là Thánh. Điển hình như ngài Nhật Liên bị đày ra hoang đảo, không có thức ăn và phải sống trong băng tuyết không có loài cỏ cây nào sống nổi. Vậy mà ngài vẫn khỏe mạnh, rõ ràng là Thánh Tăng không sợ nóng lạnh, ăn cũng được, nhịn không sao. Những người như thế mới có khả năng ngồi Thiền, nhập định, rồi nhập diệt. Các ngài ngồi Thiền một tuần, cho đến một tháng, ba tháng, không thở nữa, người ta mới biết đã tịch. Bậc Thánh tu hành đạt đến những thành quả phi thường, mới làm cho Phật pháp hưng thạnh.
Trái lại, tu hành mà đọa xuống, quả là nguy hiểm. Nghiệp chướng Tăng đòi hỏi nhiều, nhưng đáp ứng không đủ, phiền não sanh ra và từ phiền não này tiến lên một bước là ác Tăng. Ác Tăng là người sân hận tột đỉnh, đòi hỏi vô cùng, rõ ràng họ là ký sinh trùng, làm cho Phật giáo bị suy yếu, hoại diệt.
Trên bước đường tu, chúng ta cần học hỏi giáo pháp với các bậc cao minh, Thánh Tăng, làm bạn với các bậc Hiền nhân quân tử, để từng bước thăng hoa, giữ gìn mạng mạch Phật pháp. Làm được như vậy, mới không uổng công xuất gia.
Cầu nguyện Đức Phật, chư vị Tổ sư và Hộ pháp Long thiên gia hộ cho tân Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni luôn an lành và từng bước thâm nhập dòng Thánh Như Lai.