Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Phật Giáo Nhập Thế Và Phát Triển (Quyển I)

Phật Giáo Nhập Thế Và Phát Triển (Quyển I)

Tác giả: Hòa thượng Thích Trí Quảng. Năm xuất bản: 2008. Số trang: 535.

Chương 15: Tấm gương sáng của Tổ Huệ Đăng (Trang 131 - 138)

Tấm gương sáng của tổ Huệ Đăng
 (Bài giảng tại chùa Thiên Châu, Long An, 2005 )

Với tư cách chứng minh đạo sư của môn hạ Thiên Thai Thiền giáo tông, tôi gợi một số ý để Tăng Ni trong tông môn hiểu đường hướng tu hành của Tổ sư và các bậc tiền nhân đã vạch ra cho chúng ta. Các bậc Thầy của chúng ta đi đúng lộ trình đó mà giữ được tông môn và Phật giáo tồn tại trong lòng dân tộc. Ngày nay, kế thừa sự nghiệp của các ngài, chúng ta cũng cần suy nghĩ và thể hiện phương hướng đúng đắn ấy, giúp cho Phật giáo hưng thạnh.
Thiên Thai Thiền giáo tông được Tổ sư thượng Huệ hạ Đăng, húy Thanh Kế sáng lập. Ngài là bậc học rộng hiểu sâu và có tinh thần yêu nước rất lớn. Ngài cũng là bạn thân của cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Hồ Chủ tịch. Ngài xuất thân từ Bình Định và khởi nghĩa chống Pháp ở miền Trung, nhưng việc không thành, ngài đã vào miền Nam ẩn mình trong khu rừng núi Chơn Tiên, Bà Rịa – Vũng Tàu. Nơi đó, hàng ngày tiếng chuông chùa Long Hòa vang vọng khiến ngài thức tỉnh, nhận chân được cuộc đời này vô thường, xoay vần mãi trong vòng

sanh diệt và quan trọng nhất là mọi việc đều do nghiệp thiện hay ác quyết định, gồm cả nghiệp quá khứ và nghiệp hiện tại. Với ý thức tỏ ngộ như vậy, ngài đã đến chùa Long Hòa, gặp Tổ Hải Hội, xin quy y, thế phát. Nghe ngài trình bày sự cảm nhận sâu sắc về lý vô thường chi phối muôn sự muôn vật trên cuộc đời này, Tổ Hải Hội đã ấn chứng rằng ngài thấu hiểu đạo lý, nên đặt pháp danh ngài là Thiện Thức, nghĩa là hiểu được ý nghĩa sâu xa của đạo Phật mà xuất gia, tu hành. Hiểu rồi mới tu, vì thế, ngài đã dốc hết tâm lực cho việc thể nghiệm pháp Phật, nên đã đạt được kết quả rất lớn.
Ngài xin Tổ truyền cho chánh pháp để tu, Tổ Hải Hội mới dạy ngài pháp môn trì chú Chuẩn Đề và tụng kinh Pháp Hoa, đó là pháp môn tu chính của tông Thiên Thai. Về việc tụng kinh Pháp Hoa, Tổ sư dạy rằng tụng trọn bộ kinh cũng tốt, nhưng nếu không có thì giờ, tụng một quyển thứ bảy cũng được. Về sau, tôi nghiên cứu, thấy rõ Tổ chọn quyển bảy nói về Bồ tát đạo, vì đó chính là cốt lõi của kinh Pháp Hoa; nên kinh Pháp Hoa còn được gọi là Giáo Bồ tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm Kinh. Sau khi lãnh yếu chỉ của Tổ, ngài mới vào khu rừng già chỉ có cọp beo, rắn rít ở, ngày nay Tổ đình Thiên Thai được xây dựng ở nơi đây. Tổ sư tu hành trong hang "Ông Hổ”. Điều này dạy chúng ta ý niệm ban đầu là phải tìm chỗ tu, nói cách khác, phải lo tu. Xưa kia, Đức Phật cũng đã thể hiện ý này, Ngài tìm đến cội Bồ đề và tập trung vào việc phát huy trí tuệ.
Tổ sư vào hang "Ông Hổ”, hay vào miệng cọp, cũng có thể hiểu là vào chỗ chết, nơi đáng sợ không ai dám đến. Điều này
gợi nhắc chúng ta tu hành, trước nhất phát khởi tâm niệm phát huy tinh thần hướng thượng cao độ, tránh tất cả phiền muộn thế gian, ẩn mình vào chốn thanh tịnh, là xuất gia. Ẩn thân nơi hang cọp, không có bóng người lai vãng, giúp ngài không khởi vọng thức, vọng niệm và đạt được tâm yên tĩnh cao độ, nhờ đó mà ngài trì chú Chuẩn Đề có linh nghiệm.
Tôi nhắc các huynh đệ trong tông Thiên Thai, việc trì chú đòi hỏi tâm phải thanh tịnh; vì thế cần sám hối cho tiêu nghiệp. Trì chú đúng pháp phải cách ly trần thế, nghĩa là thân tâm dứt trừ sân hận, tham dục, đạt được sự thanh tịnh càng nhiều càng tốt, mới nhận được sự gia hộ của Phật và Bồ tát, mới có sức mạnh tâm linh lạ thường, có sự hiểu biết mà bình thường không có được.  
Tổ Huệ Đăng trải qua thời gian áp dụng pháp sám hối ngũ hối, trì chú Chuẩn Đề và tu Pháp Hoa, không ai đến quấy rầy và ngài sống cuộc đời thanh đạm, uống nước suối, ăn măng rừng. Khi ngài đắc đạo, thân tâm trở nên thanh thản, nhẹ nhàng như hư không, không còn lệ thuộc vào việc ăn uống và ngài có được sức khỏe kỳ diệu. Ngài trở ra chùa Long Hòa trình với Tổ sư thành quả tu chứng ấy, Tổ Hải Hội ấn chứng rằng ngài đã ngộ đạo và đổi tên ngài là Huệ Đăng, tức ngọn đèn trí tuệ. Người ngộ đạo, đắc đạo, với trí huệ phát sáng, biết rõ ngọn ngành mọi việc đang diễn tiến và biết chính xác việc sắp xảy ra. Đắc đạo ở mức độ nào tùy từng người có khác nhau, từ quả vị thấp nhất đến cao nhất.
Đạt quả vị thấp nhất, Sơ quả, là đệ tử Phật đã bước chân vào dòng Thánh, thuộc hàng Dự lưu vượt qua được sự chi phối
của đói khát, nóng lạnh, ngủ nghỉ. Đời sống vật chất giảm thiểu thì đời sống tâm linh bắt đầu vươn cao, tầm nhìn trở nên chính xác, làm được nhiều việc lợi ích cho đời, được nhiều người kính trọng. Từ nền tảng này, tu Pháp Hoa, được Phật hộ niệm, hiểu biết mọi việc trên cuộc đời không sai lầm và bước đường tu theo đó thăng hoa dễ dàng. Tổ Huệ Đăng đã thể hiện tinh thần này. Ngài rời hang đá, ra ngoài sống trong túp lều. Tăng Ni bốn phương tìm đến cầu học với ngài. Lúc đó, chưa có chùa, Tổ cho cất cốc lá để đại chúng ở, ăn uống đơn giản, tu hành nghiêm mật, nhưng số người cầu học với Tổ mỗi ngày mỗi đông thêm.
Cuộc đời tu hành đắc đạo của Tổ tỏa sáng tinh ba mà Phật đã dạy trong kinh Pháp Hoa rằng nếu hành giả ở nơi vắng vẻ, Phật sẽ khiến chư Thiên và loài người đến cúng dường. Nếu có người đến hại, Phật cũng khiến Kim cang Bát bộ thiện thần che chở Pháp sư. Thậy vậy, Tổ Huệ Đăng ẩn tu, nhưng hàng sĩ phu yêu nước và người có trình độ học vấn tìm ngài hỏi đạo. Ý này nhắc chúng ta điều quan trọng trên bước đường tu là phải đắc đạo, mới sử dụng sự hiểu biết và sự thể nghiệm tốt đẹp ấy mà chỉ dạy họ được. Ngài không kêu gọi, quyên góp, nhưng người hằng tâm hằng sản xin cúng dường. Hòa thượng Minh Nguyệt kể rằng số tiền mà người đến cúng Tổ rất nhiều, không đếm từng đồng, nhưng cúng bằng thúng giạ. Có đủ duyên lành như vậy, Tổ mới cất chùa Thiên Thai và Thiên Bảo tháp cho đại chúng nương vào đó tu hành. Đức Phật tại thế cũng đã thể hiện việc này, Ngài tĩnh tọa ở Bồ đề đạo tràng và đắc đạo khiến vua Tần Bà Sa La dâng cúng Trúc Lâm tinh xá.

 
Ngoài ra, kinh Pháp Hoa cũng dạy rằng đối với người tu đắc đạo, nếu có người nói xấu hoặc có ý ác hại, Phật cũng khiến Kim cang Bát bộ thiện thần giữ gìn, ngăn chặn, không làm hại được. Riêng đối với Tổ Huệ Đăng, điều này cũng ứng hiện rất rõ; những kẻ ác xấu khởi lòng tham, đến cướp giựt tiền của mà hàng tín chủ dâng cúng ngài, nhưng cũng không lấy được. Vì vậy, noi theo tấm gương sáng của Tổ sư, người tu theo tông Thiên Thai lấy việc tu hành là chính yếu; tất cả các việc khác, chúng ta xem như phước báo do tu mà có được. Tu hành chân chính, tạo được phước càng lớn, y báo sẽ lớn theo. Ý thức như vậy, chúng ta không khởi vọng tâm tham đắm trên bước đường hành đạo. Thực tâm tu hành, tất cả những gì xảy ra thuận nghịch, tốt xấu, chúng ta đều được Phật, Bồ tát và chư Thiên nhắc nhở, giúp chúng ta không bị lạc đường.
Về việc xây tháp thờ Thầy Phước Hảo là trụ trì ngôi chùa này, tôi nhắc quý Thầy rằng theo truyền thống Phật giáo Việt Nam, tháp thờ Hòa thượng cao ba tầng, tháp của Thượng tọa cao hai tầng và tháp của Đại đức cao một tầng. Nếu người viên tịch thuộc hàng giáo phẩm nhỏ, mà môn hạ làm tháp thờ cao ba tầng, những người đến chiêm bái thấy tháp cao, lầm tưởng là của bậc đạo cao đức trọng, họ cung kính đảnh lễ. Và thọ nhận sự cung kính như vậy sẽ bị tổn phước là điều mà người tu e ngại và cần tránh.
Theo Tổ Huệ Đăng, sử dụng nội dung của quyển bảy, kinh Pháp Hoa nói về Bồ tát pháp làm pháp tu chính, nghĩa là chọn bốn vị Bồ tát: Dược Vương, Diệu Âm, Quan Âm và Phổ Hiền làm đối tượng tôn thờ và thực hành theo các ngài. Đó chính là
truyền thống của tông Thiên Thai, tùy từng người chọn hạnh nguyện của vị Bồ tát tương ưng với mình. Thí dụ Bồ tát Quảng Đức tu theo Bồ tát Dược Vương, thể hiện tinh thần làm đạo không tiếc thân mạng; những gì đạo pháp cần, sẵn sàng hy sinh để bảo tồn Phật pháp. Hoặc Hòa thượng Minh Nguyệt thành lập Phật Giáo Cứu Quốc cũng trên tinh thần như vậy. Ngài tham gia cuộc khởi nghĩa chống Pháp và bị tù đày hai mươi năm ở Côn Đảo. Nhờ sự tham gia cách mạng và hết lòng hy sinh cả tánh mạng của ngài và một số vị tôn túc khác như Hòa thượng Bửu Đăng, Đại đức Hành Tuệ, v.v… cùng với hàng cư sĩ tại gia, Phật giáo chúng ta mới có được vị trí ngày nay.
Nếu chọn hạnh Bồ tát Quan Âm để tu theo, không nhất định phải bó buộc theo hình thức cố định nào cả; cuộc đời này cần gì, chúng ta làm việc đó. Quan Âm thị hiện thân hình nào thuyết pháp được, giáo hóa chúng sanh được, làm lợi ích cho đời được thì ngài hiện hữu với hình tướng đó. Đức Phật đã khẳng định rằng Bồ tát Quan Âm có thể hiện thân phụ nữ, chư Thiên, quốc vương, đại thần, trẻ con, v.v…, không nhứt thiết phải là chư Tăng. Phải có Tăng Ni và nam nữ Phật tử đồng tu, Phật pháp mới hưng thạnh. Tăng Ni và nam nữ cư sĩ đều là Bồ tát có thể làm lợi ích cho đời. Thành phố Hồ Chí Minh mỗi năm thành tựu được công tác từ thiện cả mấy chục tỷ đồng do Phật tử đóng góp, làm tăng thêm uy tín của Phật giáo. Vì vậy, Tổ Huệ Đăng đã lập thêm Liên Hữu hội cạnh Thiên Thai Thiền Giáo tông, với thành phần Phật tử tham gia ủng hộ
đạo pháp. Có thể nói tông Thiên Thai mạnh, một phần cũng là nhờ lực lượng quần chúng đông đảo.
Hạnh Bồ tát thứ ba mà Tổ chọn là hạnh Diệu Âm Bồ tát. Vị Bồ tát này chưa xuất hiện mà ở Kỳ Xà Quật đã nổi lên hoa sen. Hình ảnh này nhắc chúng ta việc quan trọng rằng trên bước đường hành đạo, từng bước chân đi, từng đóa sen nở ra. Thân tâm thanh tịnh là hoa sen. Hoa sen không dính nước, không nhiễm bùn, chỉ tỏa hương thơm cho đời. Cũng vậy, hành giả đứng ngoài vòng cương tỏa của thế nhân, mọi tác động của khen chê, cám dỗ, đe dọa không làm vấy bẩn thân tâm hành giả Pháp Hoa. Đến cuộc đời này và rời khỏi chốn hồng trần, hành giả đều để lại dư hương khiến người nghe đến hay nghĩ đến cũng phát tâm đi theo con đường thánh thiện. Đó là tu theo Bồ tát Diệu Âm.
Sau cùng là Phổ Hiền, vị đại Bồ tát mà chúng ta khó làm theo, nếu không đủ tài đức. Thật vậy, là Phổ Hiền phải có đầy đủ sức mạnh, có thế có lực. Ngài xuất hiện ở Ta bà cùng với vô số Bồ tát đi theo, tiêu biểu cho sức mạnh của số đông, một mình không làm được. Tu theo hạnh Phổ Hiền, chúng ta phải hướng đến số đông, đừng vì một, hai người. Tổ sư đã hành đạo theo hướng này. Anh em xây dựng ngôi chùa này cũng vì Phật tử cả tỉnh Long An, không phải làm riêng cho tông Thiên Thai hay cho riêng người nào. Làm sao mỗi ngày có nhiều người đến đây tu hành, lễ bái, cúng dường. Nhiều người hợp tác mới làm Phật sự lớn được. Người Nhật có câu phương ngôn hay, một người không làm được, nhưng thiếu một người lãnh đạo cũng không làm được.

 
Tóm lại, trên bước đường tu, cùng ở trong tông Thiên Thai, mọi người nương tựa nhau tu hành và sinh hoạt theo phương hướng chỉ đạo của tông mình. Ngoài ra, dù là tông phái nào cũng phải gắn liền với Giáo hội, đặt dưới sự quản lý của Giáo hội. Tôi nhắc nhở Tăng Ni trong môn hạ đi đúng con đường mà Tổ sư đã vạch ra để đạt được kết quả tốt đẹp theo tinh thần Phật dạy và Tổ trao truyền.
/58
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »