Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Phật Giáo Nhập Thế Và Phát Triển (Quyển I)

Phật Giáo Nhập Thế Và Phát Triển (Quyển I)

Tác giả: Hòa thượng Thích Trí Quảng. Năm xuất bản: 2008. Số trang: 535.

Chương 13: Phát huy đạo đức (Trang 113 - 122)

Phát huy đạo lực
(Bài giảng trường hạ chùa Quảng Đức, quận 12 TP. HCM,
ngày 3-7-2005)
Mỗi năm chúng ta đều An cư kiết hạ, nhưng điều quan trọng là phải hiểu rõ nội dung An cư để thực hành cho đúng pháp, chúng ta mới được an lạc và làm cho người khác an lạc. Trên bước đường tu, nhiều người nặng về hình thức, nên thường làm những việc vượt quá hoàn cảnh cho phép và vượt quá năng lực mình, tất nhiên họ sẽ gặp những khó khăn cản trở công việc. Trong Phật giáo có pháp tùy duyên rất hay, theo đó, Đức Phật dạy rằng tất cả pháp đều do duyên sanh và hạt giống Phật cũng phải do duyên sanh. Làm đúng duyên hạt giống Phật sẽ được tăng trưởng, làm ngược duyên, nó sẽ bị tiêu hủy. Như vậy, muốn hạt giống Phật lớn mạnh, chúng ta phải biết rõ lý duyên sanh và tùy theo duyên mà làm đạo.
Đức Phật di huấn rằng giới luật còn thì đạo pháp còn. Theo tôi, giới luật còn, nghĩa là đạo đức của người tu còn thì đạo Phật còn. Đạo đức thay cho giới luật, vì giới luật nhằm phát huy đạo đức của

người tu. Từ giới luật, chúng ta phát huy thành giới đức; nói cách khác, từ giới điều ràng buộc chuyển đổi thành đức hạnh người tu. Vì vậy, khi Tăng Ni có đức hạnh, Phật pháp hưng thạnh; Tăng Ni thiếu đạo đức, Phật pháp suy đồi.  
Đạo đức này là gì? Phải hiểu ý Phật dạy rằng Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác. Bước thứ nhất, chúng ta phải có đạo đức của con người trong thế gian; vì Phật pháp tồn tại trong con người, trong xã hội loài người. Như vậy, điều quan trọng là phải được con người và xã hội chấp nhận, đạo Phật mới tồn tại. Thực tế cho thấy rõ những thời kỳ mà Phật giáo suy đồi, vì xã hội lúc đó không quan tâm đến đạo Phật. Xã hội thường được chia ra hai phần là thượng tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở. Thượng tầng kiến trúc gồm những người lãnh đạo và hàng trí thức. Hạ tầng cơ sở là quần chúng. Khi được cả hai mặt, thượng tầng kính trọng và hạ tầng quy ngưỡng, thì Phật giáo rất mạnh. Điển hình như Phật giáo thời Lý Trần được xếp vào thời vàng son vì đã kết hợp được hoàn toàn hai thành phần xã hội. Nhưng sau đó, đến thời hậu Lê và thời Nguyễn, hàng vua chúa và giới trí thức không còn đánh giá cao đạo Phật. Phật giáo chỉ còn sinh hoạt với quần chúng bình dân và chỉ phục vụ tín ngưỡng bình dân, lâu ngày trở thành mê tín dị đoan. Bấy giờ, đạo Phật được coi như một thứ tín ngưỡng nhân gian bình thường.
Có thể nói Phật giáo suy đồi nhất là vào thời kỳ mà tôi xuất gia. Lúc đó, các ông Thầy chỉ đi cúng thôi, chỗ có Thầy tu đến là có người chết, không người chết thì không có Thầy.Việc chính của tu sĩ Phật giáo thời ấy là cúng ma chay, khá hơn là cầu an và tổ chức
đàn cúng hội chẩn tế. Phật giáo chỉ còn có mặt trong việc phục vụ quần chúng ở mức thấp.
Thiết nghĩ, muốn Phật giáo tồn tại và phát triển, chúng ta phải sinh hoạt theo thế cân bằng. Cần có sự phân công đồng đều, mỗi người làm một việc. Tất cả làm giống nhau thì Phật giáo không hưng thạnh. Ai có năng lực nào thì đóng góp ở khía cạnh đó, thích hợp với pháp môn nào thì hành trì pháp đó; nhưng quan trọng là phải đạt kết quả tốt. Thí dụ tôi có khả năng thuyết giảng, có Thầy giỏi chẩn bệnh, cho thuốc cứu người, có Thầy giỏi cầu an, cầu siêu, v.v…, Phật giáo sinh hoạt đa dạng nhằm phục vụ tốt cho đời một cách rộng rãi ở nhiều lãnh vực khác nhau.
 Phật giáo thạnh hành khi thượng tầng kiến trúc cũng có các nhà Sư thông thái học rộng nghe nhiều, hàng phục được tà đạo. Tuy nhiên, không phải tất cả các tu sĩ đều làm việc này. Như trên đã nói, Phật giáo Lý Trần phát triển mạnh vì kết hợp được thế lực của hàng vua chúa và giới trí thức cùng với lực lượng của quần chúng. Nhưng sau đó, Phật giáo Lý Trần từ thạnh biến thành suy, vì chỉ  lo phát triển thượng tầng kiến trúc, như ở thời Lý, trong năm mươi mốt nhà văn nhà thơ, đã có đến bốn mươi mốt người là nhà Sư. Người tu chỉ hướng đến việc cao siêu, còn việc nhân gian thì bỏ quên, là đánh mất cái gốc của quần chúng. Người dân không còn chỗ dựa tinh thần để gần gũi, chia sẻ nỗi buồn, hay mang đến niềm vui, nên họ xa lánh Phật giáo. Ngày nay, mọi hoạt động của xã hội còn phải theo nguyên tắc lấy dân làm gốc. Mất quần chúng, chúng ta gieo hạt giống Bồ đề trong hư không, Phật giáo không thể nào tồn tại.

 
Chúng ta thấy rõ Phật giáo tồn tại trong lý nhân duyên. Phật dạy rằng ai thấy nhân duyên là thấy pháp và thấy pháp là thấy Như Lai. Như Lai không phải là Phật Thích Ca trên cuộc đời, nhưng Như Lai là chân lý. Như Lai thường được định nghĩa là như như bất động, nhưng lai hóa chúng sanh. Đi theo dấu chân Phật, bản chất của người tu là tâm vô động, không bị hoàn cảnh lôi cuốn, làm ô nhiễm; nhưng sự hiện hữu bất động của Thầy tu làm lợi ích cho chư Thiên và loài người. Ý này được kinh điển Đại thừa diễn tả là vô tác diệu lực. Người thể hiện được diệu lực trong vô tác là Như Lai. Còn làm nhiều theo tính toán thế gian, nhưng kết quả không được bao nhiêu. Diệu lực này là định lực trong con người. Chúng ta nói cả ngày, nhưng có mấy người nghe và mấy người làm theo. Trong khi thực tế chúng ta thấy các bậc cao Tăng có diệu lực, không nói không làm, mà thành quả của các Ngài thực to lớn vô cùng. Tôi có duyên gần gũi các bậc cao đức, nhận thấy rõ các ngài không làm, nhưng các ngài chỉ hiện hữu là mọi việc êm xuôi tốt đẹp. Điển hình là năm 1973, 1974, các vị giáo phẩm trong Viện Hóa Đạo họp chuẩn bị Đại hội Phật giáo kỳ V, mỗi người đều có ý kiến khác nhau, đến nỗi không thể đưa ra quyết định chung. Mặc dù tích cực vận động, làm việc, nhưng công việc vẫn bế tắc. Vì thế, phải ra Huế để cung thỉnh Đức Tăng Thống là đại lão Hòa thượng Giác Nhiên 102 tuổi. Nếu nhìn bề ngoài, chỉ thấy Hòa thượng làm công việc đơn giản là ngồi chứng minh. Các Thầy có tham gia sinh hoạt như thế, mới thấy đạo lực do công đức tu hành của Hòa thượng Tăng Thống mãnh liệt cách nào. Trông thấy đạo phong của một bậc đại lão Hòa thượng trên 100 tuổi, ai cũng kính sợ. Thấy quá trình tu hành miên mật của ngài lâu dài như thế cũng đáng kính sợ. Và tôi có cảm giác rằng các vị Hòa thượng, Thượng tọa
trong Ban Lãnh đạo bấy giờ, không ai muốn, hay không ai dám để Hòa thượng ngồi lâu nghe mình nói, nên tất cả đều "hạ hỏa”; nhờ vậy, buổi họp được kết thúc nhanh gọn cho ngài đi nghỉ. Thật lạ, tự nhiên mọi việc trở thành quá dễ dàng và Đức Tăng Thống đã chỉ định Hòa thượng Trí Thủ làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo. Đại hội kéo dài mấy ngày không sắp xếp được nhân sự, nhưng chỉ cần đạo lực của Đức Tăng Thống trong một tiếng đồng hồ là giải quyết êm đẹp mọi vấn đề.
Nhận chân rõ sự tác động vô cùng của đạo lực, tôi bắt đầu làm việc theo tinh thần này và càng thấy rõ chiều sâu của bậc chân tu có đạo lực lớn luôn ảnh hưởng rất nhiều đến đại chúng. Người có đạo lực nhỏ, thì ảnh hưởng được ít và không có đạo lực, coi như chưa được gì trên bước đường tu. Tôi muốn nhắc chư Tăng, nhất là các Thầy trẻ đừng nghĩ cha anh mình không học thức, mình có học vị Tiến sĩ, Cử nhân mới giỏi. Nhiều người có học vị, nhưng không được việc bằng người có đạo lực ảnh hưởng lớn đối với quần chúng, với xã hội và giải quyết tốt đẹp nhiều việc khó khăn.
Thực tế chúng ta thấy có những người giỏi lãnh đạo thường gặp khó khăn, nguy hiểm, trong khi người hiền lãnh đạo, công việc trở thành dễ dàng. Ý này được người Việt thường nói chữ Tài liền với chữ Tai một vần. Hòa thượng Thiện Hoa lại nói có tài thì phải có tai. Tai họa thường giáng xuống người có tài, còn người đạo đức dù hoàn cảnh khó, vẫn được an ổn. Tôi làm việc với Hòa thượng Trí Thủ vào thập niên 70-80, phải nói đó là thời kỳ khó khăn nhất; nhưng nhờ đạo lực của ngài, mọi việc đều được an lành. Và khi ngài viên tịch, Hòa thượng Trí Tịnh lãnh đạo Giáo hội chúng ta
trải qua suốt hai mươi năm, mọi sinh hoạt của Giáo hội thực sự được bình yên. Tôi đi thăm các tỉnh thành và thuyết giảng, động viên, sách tấn Tăng Ni, Phật tử cả nước; các vị khác hoạt động trong các lãnh vực khác, tất cả đều làm cho Phật giáo phát triển, đều tốt.
Tăng Ni tu hành, cần phát huy sự hiểu biết, học rộng nghe nhiều rất tốt, nhưng phát huy được đạo lực thì càng tốt hơn nữa. Mọi người sau này có đóng góp được cho Giáo hội, cho xã hội, chủ yếu là đạo lực. Người đạo lực kém, không giải quyết được khó khăn. Biết vậy, cần hạ vọng tâm, tức muốn ít, nhưng năng lực cao, thì chúng ta được an lành và làm cho Phật giáo an lành.
Điều thứ hai tôi muốn nói đến là tôi chuyên tu Pháp Hoa. Ngoài việc thọ trì kinh văn, tôi thường tìm nghĩa sâu xa trong kinh và ứng dụng trong cuộc sống, quan sát kỹ xem kết quả như thế nào. Đó là sự hành trì Pháp Hoa của tôi. Nhiều người tụng Pháp Hoa nghĩ rằng tụng nhiều để có công đức nhiều, ráng tụng hết bộ này sang bộ khác, thậm chí lạy từng chữ trong kinh. Các Thầy học khá thường phân tích, giảng dạy và bác bỏ việc này làm họ không đọc tụng kinh nữa. Thiết nghĩ kích bác pháp môn này hay pháp môn khác, đều làm cho Phật giáo suy yếu. Người nào thích lạy kinh thì cứ lạy, thích tụng kinh thì cứ tụng, vì nương theo pháp hành này, họ được an lành; không nên bài bác vì nhận thức được tinh thần tùy duyên và sự đa dạng của Phật giáo.
Người tụng Pháp Hoa cũng tu Thiền, họ đọc tụng Pháp Hoa trong Thiền quán, suy nghĩ tìm nghĩa lý sâu ẩn trong kinh và lý
giải được yếu chỉ của kinh. Làm được như vậy cũng dâng hiến được cho đời những điều tốt đẹp; không nên chê trách họ. Riêng tôi, được Hòa thượng Trí Thủ nhắc nhở một bài kệ của kinh Pháp Hoa: Chư Phật lưỡng túc tôn, tri pháp thường không tánh, Phật chủng tùng duyên khởi, thị cố thuyết nhất thừa. Đối với bộ kinh Pháp Hoa, Hòa thượng tâm đắc bài kệ này, ngộ yếu chỉ của bài kệ và hành đạo theo tinh ba của bài kệ này. Qua sự hành trì của Hòa thượng, tôi càng hiểu rõ hơn ý Phật dạy trong Pháp Hoa rằng dù chỉ một câu, một kệ, thậm chí một niệm tâm, nhưng ứng dụng được kết quả tốt đẹp trong cuộc sống đều có giá trị lớn lao.
Bài kệ đó có nghĩa là tất cả chư Phật đều thấy giống nhau là thấy tánh Không của các pháp, tức tất cả không có tánh cố định. Là Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, hay cư sĩ nam, nữ, nói chung mọi người, mọi loài đều tùy theo duyên sanh. Chúng ta gặp duyên xuất gia, khiến chúng ta trở thành Tỳ kheo, nhưng ra làm đạo, gặp chúng sanh cần cứu giúp, chúng ta cũng giúp, là Tỳ kheo cứu đời. Biết ứng dụng đúng duyên, có lợi cho cuộc đời. Nếu cứ khăng khăng cho mình là Tỳ kheo chỉ làm hạnh Tỳ kheo, việc khác không làm, là bỏ mất cơ hội tốt để tăng trưởng công đức, nhiều khi còn bị mất mạng. Điển hình là trường hợp Pôn Pốt lên nắm chính quyền, đã giết chết tất cả các nhà sư Campuchia. Trong hai mươi lăm vị Sư trí thức được vua Sihanouk đào tạo để phiên dịch kinh ra tiếng Khơme, thì hai mươi bốn vị cương quyết giữ áo Tỳ kheo, nên bị chúng giết. Chỉ có ngài Um Sum nhận thấy vị trí Tỳ kheo được vua chúa kính trọng đã trở thành tai họa dưới thời Pôn Pốt. Ngài liền cởi ca sa, giả làm nông dân, mới thoát nạn. Ngài đã ứng dụng đúng lý nhân duyên, lúc nào nên và không nên mặc ca sa. Trong phẩm Phổ Môn, kinh Pháp Hoa, đức Quan Âm
cũng mặc đủ loại áo, tức ngài có đến ba mươi hai thị hiện thân để hiện hữu trong mọi loài hình nhằm ban vui, cứu khổ muôn loài. Tất cả pháp không cố định, do nhân duyên sanh. Nương theo lý nhân duyên tu hành, làm đạo, giúp cho đạo lực tăng trưởng. Trái lại, vượt qua nhân duyên là bị tiêu diệt, như Pôn Pốt giết hại tất cả nhà Sư vì không muốn có hình bóng của người tu.
Học được một bài kệ Pháp Hoa và thể hiện được yếu nghĩa của pháp đó trong cuộc sống vẫn hoàn toàn có giá trị  lớn lao cho sự tu hành là ý nghĩa của Nhứt thừa pháp. Ngoài ra, đọc kinh Pháp Hoa, thấy Phật trước khi nói kinh này, Ngài nói kinh Vô Lượng Nghĩa dạy cho tất cả Bồ tát tu hành rồi nhập Vô Lượng Nghĩa Xứ định. Kinh Vô Lượng Nghĩa thuộc về giáo và Định Vô Lượng Nghĩa  thuộc về Thiền. Nói cách khác, kinh thuộc lý thuyết, Định thuộc về thực hành. Nếu chúng ta nặng về lý thuyết, đọc tụng lý thuyết, chấp vào giáo tướng mà quên thực hành Thiền quán là sai lầm.
Phật nói kinh Vô Lượng Nghĩa là lý thuyết thì hiện tượng xảy ra không có gì quan trọng. Nhưng Phật nhập Vô Lượng Nghĩa Xứ tam muội thì trời mưa hoa Mạn đà la, ma ha Mạn đà la, Mạn thù Sa, ma ha Mạn thù sa cúng dường cả chúng hội, đất đều rung động, v.v... Điều này cho thấy Định vô cùng quan trọng, hay thực hành quan trọng hơn lý thuyết.
Pháp sư học rộng, nói hay, nhưng không ảnh hưởng nhiều. Người tu chứng không nói mà tác động vô cùng. Suy nghĩ ý này, tôi nhận ra chúng ta bỏ lý thuyết không được, phải nương lý thuyết. Vì vậy, Phật nói kinh Vô Lượng Nghĩa trước, rồi mới nhập Định.
Phải nương theo kinh, vì bỏ kinh, sẽ rớt  vào ngoại đạo là tà định. Đọc tụng cả bộ kinh, hay chỉ đọc một câu, một chữ trong kinh, tôi nhắm vô phần thực hành nhiều hơn. Nhập Vô Lượng Nghĩa Xứ định rồi mới có ảnh hưởng là làm cho mọi người thấy được tứ sanh lục đạo, thấy được sanh tử luân hồi. Quan trọng của việc tu hành là phải thấy được điều này, chúng ta mới thoát được và giúp cho người khác cũng thoát được.
Học kinh để ứng dụng, thấy được địa ngục A tỳ cho đến Trời Sắc Cứu cánh. Thấy những người đi vào địa ngục A tỳ bằng con đường nào, nghĩa là họ làm gì trên cuộc đời này mà phải gánh chịu hậu quả cùng tột khổ đau như thế. Thấy biết rõ như vậy, chúng ta nhất định không đi vào con đường địa ngục đó. Nhiều khi, nghĩ mình vì đạo, bảo vệ đạo, nhưng không khéo quý vị lại vào địa ngục A tỳ vì đã tự phạm sai lầm, rồi lại tức giận thêm nữa. Kế đến, quan sát Trời Hữu đảnh là Trời Sắc Cứu cánh giới hay Ngũ tịnh cư Thiên, thấy các vị chư Thiên đang ngồi Thiền, chúng ta lại giận họ không làm gì mà được hưởng phước lạc; còn chúng ta làm đổ mồ hôi, sôi nước mắt mà lại khổ như vầy.
Nhiều người không chịu tu, không thực hành Thiền quán, cứ luôn bực tức là sai lầm nghiêm trọng. Người vào địa ngục A tỳ hay ở cõi Trời Hữu đảnh đều đã tạo cái nhân để được hay bị như vậy, chẳng có cái gì tự nhiên xảy ra cả. Thấy rõ hai con đường dẫn xuống địa ngục và lên cõi Trời, chúng ta chọn con đường giữa, thấy Phật ra đời, thấy các Bồ tát thị hiện đủ loại hình để cứu khổ ban vui. Thấy biết làm thế nào để là
Phật hay là Bồ tát và chúng ta làm theo các Ngài là tu Pháp Hoa, không phải chỉ đọc tụng suông.
Trong mùa tu, chúng ta nên suy nghĩ nghĩa lý sâu xa tiềm ẩn trong kinh điển, từ đó ứng dụng tinh ba Phật dạy trong cuộc sống, thân tâm luôn được an lành và trí luôn sáng suốt, làm chỗ nương tựa cho mọi người được thanh tịnh, giải thoát theo.
/58
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »