Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Phật Giáo Nhập Thế Và Phát Triển (Quyển I)

Phật Giáo Nhập Thế Và Phát Triển (Quyển I)

Tác giả: Hòa thượng Thích Trí Quảng. Năm xuất bản: 2008. Số trang: 535.

Chương 55: Tam quy và pháp niệm Phật (Trang 489 - 502)

Tam quy và pháp niệm Phật
 (Bài giảng tại chùa Từ Quang, Bình Chánh, ngày 9-4-2006)

Hôm nay dự lễ húy kỵ lần thứ 11 của Hòa thượng Viện chủ Thích Thanh Phong, tôi nhớ lại thập niên năm mươi, cố Hòa thượng đã cùng học với tôi tại Phật học đường Nam Việt. Hòa thượng rất hiền lành và được Phật tử quý mến, cho nên gần gũi Hòa thượng, tôi học được đức tánh hiền lành. Ngoài ra, tôi còn tiếp nhận được đức tánh hiền lành từ cố Hòa thượng Giám đốc Thích Thiện Hòa. Nhưng vì hạnh nguyện của tôi thích hợp với ngành hoằng pháp, nên tôi để tâm theo học nhiều hơn với cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa. Và sau này, tôi kế nghiệp Hòa thượng Thiện Hoa về hoằng pháp. Điều này chúng ta phải hiểu là Thầy trò, đạo bạn đều có nhân duyên từ nhiều kiếp, cho nên đời này mới gặp nhau và có sự cảm thông tương ưng về pháp tu, về đạo hạnh, về suy nghĩ, v.v… trong cuộc sống. Kể từ khi Hòa thượng Thanh Phong nhận trách nhiệm Trụ trì ngôi chùa này, tôi ít gặp Hòa thượng, vì mỗi người đi một hướng. Nhưng hình ảnh thân thương ngày nào về ngài vẫn còn tồn đọng trong tôi.
Nhân ngày húy kỵ của Hòa thượng, tôi về đây, trước là hồi tưởng lại tình pháp lữ cố tri trong thời gian cùng học chung và sau đó nhận thấy học trò thừa kế của Hòa thượng vẫn giữ được phong thái ngày nào. Tôi mong quý vị noi gương Thầy để phát huy đạo hạnh, làm gương tốt cho đời và thăng hoa trên bước đường tu.
Tôi có vài suy nghĩ nhằm nhắc nhở các anh em xuất gia và Phật tử tại gia trên bước đường tu. Chúng ta thường nói giáo pháp Phật có tám mươi bốn ngàn pháp môn tu. Vì thế, người ta thường hiểu rằng có nhiều pháp môn tu thì tu pháp nào cũng được. Mặc dù tu pháp nào cũng được, nhưng không khéo, chúng ta dễ bị lạc ra ngoài pháp Phật; vì tám mươi bốn ngàn pháp tu của Phật được mở rộng để thu nhiếp tất cả tư tưởng của con người. Như vậy, tám mươi bốn ngàn pháp môn tương ưng với tám mươi bốn ngàn phiền não trần lao; nhưng không nhận ra được yếu lý này, chúng ta sẽ đi vào trần lao phiền não, kết quả là càng tu thì nghiệp chướng trần lao càng sâu dày, phiền não càng nổi dậy. Nghĩa là chúng ta từ Phật pháp mà đi vào sanh tử;  tu cách này, không bao giờ tiến bộ được.
Chúng ta cần suy nghĩ, ý thức rằng tám mươi bốn ngàn pháp môn tu là con đường giúp chúng ta đang sống trong phiền não trần lao mà hướng về Bồ đề. Nói cách khác, tu pháp nào cũng được, nhưng phải được giải thoát. Trên bước đường tu, khi thấy tâm mình không an lành, thân không giải thoát là biết đã lạc vào trần lao phiền não, thì càng tu càng khổ. Nhất là Phật tử tại gia nên nhớ ý này, pháp Phật có nhiều như vậy, nhưng chỉ có một vị giải thoát mà thôi.

 
Từ tám mươi bốn ngàn pháp môn tu nếu thu hẹp lại, còn hai thừa là nhân thừa và thiên thừa, tức pháp Phật dạy cho người còn phải chịu luân hồi sanh tử trong lục đạo tứ sanh, hay còn phải sống trong Nhà lửa tam giới theo kinh Pháp Hoa. Nhưng nhân thừa và thiên thừa theo Phật là nhân lành giúp con người từng bước đi vào đường lành, được sống an lành.  Giáo lý của nhân thừa mà Phật dạy là Tam quy, Ngũ giới; nhưng quan trọng nhất là pháp Tam quy. Thật vậy, nếu có giữ Ngũ giới, nhưng không thọ Tam quy, cũng không thể đi vào cửa Phật được. Vì theo đạo Nho cũng có Ngũ giới gọi là ngũ thường gồm nhơn, lễ, nghĩa, trí, tín. Giữ tam cang, ngũ thường là đi vào con đường của Nho giáo.
Muốn trở thành Phật tử, phải thọ Tam quy, tức quy y Tam Bảo để kết duyên với Tam Bảo. Vì Đức Phật đã ra khỏi sanh tử, chúng ta tu theo Ngài, từng bước mới ra khỏi sanh tử. Phải nhận thức được ý này và thực hiện cho được. Còn chỉ giữ Ngũ giới, mà không quy y Tam Bảo, thì vẫn ở trong sanh tử; nhưng đương nhiên, trở thành người tốt và trong kiếp tái sanh, được sống trong hoàn cảnh tốt. Vì thế, chúng ta phải quy y Phật, nương với Phật để ra khỏi sanh tử là việc chính. Thật vậy, quy y Phật, nghĩa là tâm ta hướng về Phật và sống theo Phật; điều này rất quan trọng mà kinh Pháp Hoa gọi là trồng căn lành ở các Đức Phật. Có trồng căn lành với Phật, giữa chúng ta và Phật mới có mối tương quan mật thiết trên bước đường tu, khiến tâm chúng ta thường hướng về Phật. Và tạo được sự tương quan như thế, chúng ta mới tiếp nhận được
lực gia bị của Phật, giúp chúng ta hóa giải được phiền não trần lao của thế gian.
Ta hướng về Phật và Phật gia hộ cho ta, hai việc này gắn bó mật thiết và tác động hỗ tương cho nhau, chúng ta mới an lành. Người có căn lành đi chùa khác với người chưa trồng căn lành. Người chưa trồng căn lành, chỉ gieo nghiệp ác và họ đến chùa bằng nghiệp ác, nên thường rình rập, trộm cắp. Hoặc một số Phật tử đi chùa, vừa tụng kinh vừa coi chừng đôi dép, lo sợ mất dép. Như vậy, tâm họ không có Phật, chỉ nghĩ đến đôi dép. Tu như vậy, chắc chắn cuộc đời họ cứ xuống lần. Người không có căn lành, nhưng nghiệp chướng nhiều, trong lòng họ phiền não khổ đau chồng chất. Những người phiền não gặp nhau thì họ chia sẻ những điều phiền muộn cho nhau. Họ đến chùa để bàn những chuyện xấu ác, nên càng tu hoàn cảnh càng khó thêm, càng đi chùa càng nhiều chuyện, bực tức, khó chịu với người xung quanh. Dù họ đi chùa cũng không thấy Phật, là không thấy Phật bằng tâm.
Người đi chùa lễ Phật bằng nhân tốt thì trong tâm họ luôn nghĩ đến Phật, lâu ngày nét mặt họ có phần nào giống Phật. Vì thế, Thầy cô hay Phật tử nào giống Phật, biết họ có căn lành; vì nghiệp thiện hay ác đều hiện rõ trên khuôn mặt, trong ánh mắt, trong lời nói, trong cuộc sống của chúng ta.
Tụng kinh Pháp Hoa, phẩm An Lạc Hạnh thứ 14, Phật dạy Bồ tát Văn Thù Sư Lợi rằng thấy người thực sự có lỗi, còn không nói lỗi của họ, huống chi người không có lỗi. Tại sao? Vì tâm chúng ta còn trong sáng, chưa bị nhiễm dơ bẩn, nên
không muốn đem tội lỗi đó vào tâm mình, e ngại nó sẽ phá hư căn lành của chúng ta. Phật tử nghiệm điều này sẽ nhận ra, lúc mới đến chùa, chưa biết gì, luôn nghĩ các Thầy cô và Phật tử rất tốt. Nhưng đi chùa lâu, nói rằng biết các Thầy cô và Phật tử, nhưng biết toàn chuyện xấu của họ thì tất cả mọi người, mọi việc trong chùa lúc ấy đều trở thành tệ xấu. Người này đã dại khờ đem cái xấu vào tâm để biến tâm thành nhơ bẩn. Đến một lúc nào đó, nghiệp ác sanh ra, họ thấy cuộc đời không còn gì đẹp nữa, là đã đánh mất căn lành, không thể tu được nữa.
Phẩm An Lạc Hạnh dạy ý này mà tôi thường suy nghĩ và hành trì trong năm mươi năm trước. Vì thế, từ thuở nhỏ, ở Phật học đường Nam Việt, tôi rất cân nhắc trong việc chọn bạn đồng học đồng tu. Tôi chỉ  kết bạn với người có cùng hạnh nguyện, có lời nói, cử chỉ, tâm niệm giống Phật và họ thường hành trì pháp Phật, để cùng trao đổi, giúp nhau thăng tiến trên bước đường tu. Đối với người sống chung một chùa, nhưng ba nghiệp đều không thể hiện lời Phật dạy, tôi cố tránh. Với Phật tử, tôi càng tránh xa hơn, vì sợ những việc ô uế vấy bẩn tâm mình. Một số huynh đệ công phu tu hành ít ỏi, nhưng thích giao tiếp, thọ hưởng, lâu ngày không hóa giải được nghiệp ác của người ban tặng cho, mà lại biến thành nghiệp ác của chính họ, nên đã hỏng cả đời tu.
Thực tế cho thấy mọi người đến với Thầy tu, phần nhiều họ mang tâm trạng khổ đau, bực tức tặng cho chúng ta. Không bao giờ nghe họ nói được pháp thù thắng nào. Bạn mà chúng ta có thể trao đổi kinh nghiệm tu hành quả là hiếm hoi. Vì muốn nói
được lý đạo, phải gia công Thiền định, phải thể nghiệm pháp Phật, mới có đời sống tâm linh, mới có thể tương thông chia sẻ với chúng ta. Trong kinh Viên Giác, Phật cũng dạy rằng biết mình nghiệp chướng trần lao nặng, không nên quan tâm đến người khác. Nếu là người thực tu thì không thấy lỗi của người khác. Nhận chân ý Phật dạy, tiếp xúc với người, tôi cố gắng tìm khía cạnh tốt của họ; nhờ vậy, trước nhất lòng tôi được an vui, còn nhìn khía cạnh xấu, chắc chắn cảm thấy nặng lòng. Từ ý này, tôi nhớ đến kinh Địa Tạng, Phật cũng dạy Bồ tát Địa Tạng rằng trong địa ngục đương nhiên không có người tốt, thì ráng tìm cái đáng thương của người xấu; cái tốt của họ nếu có, dù là nhỏ và mong manh như sợi tơ, Bồ tát cũng phải cứu vớt.
Trở lại pháp Tam quy, chủ yếu là quy y Phật trong tâm. Nói cách khác, tâm chúng ta lúc nào cũng có Phật ngự. Nhờ vậy, gặp việc không vừa ý, chúng ta liền niệm Phật, tức hình dung ra Phật trong tâm mà quên mất việc xấu, người ác bên ngoài. Tụng kinh Pháp Hoa và nhận được sự hộ niệm của Phật mà từ lúc đi học cho đến khi làm việc cho Giáo hội, tôi luôn cảm nhận sự an lành, thanh thản. Đó chính là nhờ tôi thực hiện sâu sắc pháp Tam quy, không phải là pháp cao siêu nào cả. Có thể nói pháp quy y Tam bảo là pháp căn bản có thể dung được Ngũ thừa và tất cả pháp môn tu. Trong tám mươi bốn ngàn pháp môn tu, đối với tôi, việc chính yếu là đem Phật vào tâm, lúc nào trong tâm cũng có Phật, thấy Phật thì được an vui. Và an vui là con đường để đi vào đạo, Phật lực
mới gia bị được. Người ta thường nghĩ quy y Tăng là theo các Thầy tu trong chùa. Nghĩ như thế, đôi khi họ thấy các Thầy làm gì không vừa ý thì suy nghĩ ác của họ khởi lên ngay. Không ít người giận Thầy Trụ trì rồi không đi chùa nữa.
Theo nghĩa hẹp, quy y Tăng là nương theo người xuất gia vì người xuất gia phạm hạnh, thanh tịnh hơn. Nhưng theo tinh thần Đại thừa, quy y Tăng là nhìn khía cạnh tốt của người khác, không nhìn khía cạnh xấu. Nghĩ về điều tốt của người, phiền não trong ta tự nhiên tiêu tan. Ở trong hoàn cảnh tồi tệ nhất, cũng phải thấy được điểm tốt của mọi việc, mọi người, chúng ta mới ra khỏi sanh tử. Nếu đi chùa, tụng kinh, nhưng kinh là kinh, Phật là Phật và nhìn người xung quanh không tốt thì bấy giờ đối tượng trong tâm mình không tốt, làm sao tâm thanh tịnh được và như thế Phật cũng không gia bị cho ta được. Tội nghiệp cho người chỉ nghĩ đến những việc xấu ác của người khác, một lúc nào họ biến thành người ác mà không hay.
Tôi thường suy nghĩ tại sao người này tốt với người kia mà không tốt với mình. Chúng ta tự kiểm sẽ nhận thấy ngay lý do, mà người theo đạo Thiên Chúa thường nói là lỗi tại tôi, không phải lỗi tại người. Tại tôi ăn ở thế nào, nói cái gì mà người không thương. Có bà mẹ thưa rằng bà có một đứa con, lo lắng tất cả cho nó, nhưng nó không nghe lời bà mà lại nghe lời hàng xóm. Người mẹ này không nhận ra được bà như thế nào và người hàng xóm ra sao. Bà cứ thấy rằng mình thương con và hết lòng chăm sóc con mà nó cứ ngỗ nghịch, chỉ nghe hàng xóm thôi. Trong khi con của bà này tâm sự với tôi rằng người hàng xóm hiểu tâm trạng nó và biết an ủi nó. Còn bà mẹ thì gạn
hỏi con như tra tấn, khiến nó không chịu nổi. Rõ ràng người hàng xóm không nuôi nấng gì cả, nhưng biết cách tháo gỡ vấn đề, nên được ưa thích. Trong khi người mẹ dạy con, mà không hiểu được tâm trạng con, nhưng dùng quyền khống chế, làm nó sợ và bực, mới phản đối bằng cách đến với hàng xóm. Tôi nhắc nhở bà mẹ này về lỗi của bà. Từ đó, đứa con nghe lời tôi dạy và người mẹ có thái độ tốt với con, bắt đầu thương nó, cũng như người con chịu nghe lời mẹ, nhưng phải nghe qua Thầy thôi! Quy y Phật cũng giống như vậy. Đôi khi chúng ta không chấp nhận đối tượng, nhưng qua hình ảnh thánh thiện của Đức Phật, qua lời dạy đúng đắn của Phật, qua công đức vô lượng của Phật, chúng ta chấp nhận nhượng bộ đối phương. Và từ pháp Tam quy, chúng ta đi thẳng vào thế giới Phật theo kinh Hoa Nghiêm, theo đó muôn vật muôn sự đều là hình ảnh Phật, không có gì không phải là Phật mới là Phật.
Ngoài pháp Tam quy, còn có pháp tu khác theo Đại thừa, vẽ ra con đường đi tắt hơn nữa, đó là pháp môn niệm Phật, tức tu Tịnh độ. Theo tinh thần kinh Hoa Nghiêm, từ Tam quy đi vào Pháp giới, không còn phiền não trần lao chi phối. Nhưng từ  niệm Phật đi vào Tịnh độ còn nhanh hơn một bước, vì tự nhiên cắt bỏ được trần lao nghiệp chướng dễ dàng. Ý này được một vị Tổ sư  tu Tịnh độ nhận chân được và diễn tả rằng:
 Hay trừ tám vạn trần lao
    Tham Thiền, quán tưởng pháp nào cũng thua.
Tu Thiền, chúng ta dụng công nhiều, sử dụng nhiều cách để tự tịnh hóa tâm mình. Thí dụ Thiền Tứ Niệm xứ buộc chúng ta phải quán tưởng, để cuối cùng thâm nhập được thế giới Không,
tức trở về với bản thể của sự vật. Điều này trên thực tế ít người đạt được. Tôi áp dụng pháp này nhiều, nhưng kết quả không được bao nhiêu; vì tất cả mọi sinh hoạt của chúng ta diễn tiến ở thế giới hữu, mà chúng ta phải quán Không, cho đến thấu triệt được thực chất của sự vật ở  mặt thể tánh và sống với thế giới Không ấy, chắc chắn không đơn giản. Do đó, chúng ta tu Thiền khó, nhưng tu được thì rất lợi ích.
Khi học ở Nhật, tôi áp dụng Thiền theo họ là xã hội Thiền. Nghĩa là chỉ tập trung tư tưởng để quán chiếu sự vật, cho ta cái nhìn sáng hơn, chính xác hơn và theo đó, xử sự tốt hơn. Gặp việc khó, tôi không tiếp xúc với mọi người, để cho tâm yên tĩnh, nghỉ ngơi hoàn toàn, đột nhiên tâm trí sáng lên, có đáp số đúng cho vấn đề. Riêng Hòa thượng Trí Tịnh thường dạy rằng đối trước việc có suy nghĩ, trả lời đúng sáu mươi phần trăm, nhưng không suy nghĩ, tâm hòan toàn lắng yên thì trả lời đúng chín mươi phần trăm. Hòa thượng tu Tịnh độ, ít tiếp xúc với cuộc đời, vì theo ngài, càng nhiều việc, phiền não càng dễ phát sanh. Dù là bậc cao Tăng mà ngài còn phải dè dặt như vậy. Tu pháp môn Tịnh độ có thể trừ được tám vạn trần lao, mà không cần phân tích, quán tưởng chúng để diệt trừ.  Chỉ quán tên của Đức Phật Di Đà, quán hình tượng của Ngài và thế giới Cực Lạc của Ngài. Chúng ta không dụng công gì khác nữa. Khi tu pháp môn Tịnh độ, tôi thường áp dụng trên bước chân đi. Đi nhanh hay chậm, một bước đi đều kèm theo một câu niệm Nam Mô A Di Đà Phật thì cũng tập trung tâm được. Lấy tên Phật làm điểm tựa tập trung tâm mình và toàn tâm nghĩ đến danh hiệu
Phật Di Đà, việc xảy ra xung quanh chúng ta không hề hay biết. Lúc đó, chúng ta không cần dẹp bỏ tám vạn trần lao, tự động chúng cũng lắng yên. Cũng vậy, trong lòng chúng ta nghĩ việc ác, việc ác sẽ tăng; nhưng ta nghĩ việc thiện để xóa trừ việc ác thì việc ác cũng tự tiêu mất. Thuở nhỏ, tôi thường nhớ câu "Tránh ác không gì hơn là làm thiện”. Chúng ta sợ cái ác, tức đã nghĩ tới ác, ác đã hiện hữu trong tâm ta. Thí dụ chúng ta sợ ma là đang nghĩ đến ma, ma ở trong lòng chúng ta, không phải ma ở bên ngoài.
Pháp đem Phật vào tâm để đuổi ma là tốt nhất. Nghĩ đến Phật, tin Phật, thì không còn sợ gì cả. Tôi nghĩ cuộc đời này không bền chắc, cái chết có thể đến bất cứ lúc nào; nên tâm tôi luôn nghĩ nhớ đến Phật, niệm Phật. Nếu vô thường chợt đến, chúng ta đang niệm Phật, tất nhiên sẽ về với Phật. Còn nghĩ ác và tránh ác thì ác xấu đang ở ngay trong lòng chúng ta và lại đem thêm cái xấu bên ngoài vô nữa, phải đọa thôi. Tu pháp môn Tịnh độ, niệm Phật thay cho niệm chúng sanh, niệm tội lỗi, niệm ác. Những niệm xấu được xóa sạch, trong lòng chúng ta chỉ có Phật. Và xa hơn nữa, chúng ta hiểu về pháp niệm Phật như thế nào? Thuở nhỏ, được dạy niệm Phật, tôi cứ niệm, nhưng tuổi lớn hơn, tôi nhận ra ý nghĩa khác.
Tiến xa trên bước đường tu Tịnh độ, phải hiểu Phật A Di Đà mà chúng ta niệm có nghĩa là vô lượng quang, vô lượng thọ và vô lượng công đức. Đức Phật Di Đà chúng ta kính trọng là Đức Phật Vô Lượng Quang, tức sự hiểu biết của Ngài rộng vô biên. Theo Phật Di Đà và niệm Di Đà là nương theo sự hiểu biết
hoàn toàn của Ngài, chúng ta có hiểu biết sáng hơn, nhìn đời đúng hơn. Như vậy, vô lượng quang đã hiện hữu trong lòng chúng ta rồi, sẽ giúp chúng ta nhận ra được việc đáng làm, điều đáng nói, người đáng tiếp xúc. Như vậy, nhờ niệm Phật mà chúng ta được an lành.
Trì danh hiệu Phật, trí tuệ sáng, thấy biết đúng đắn. Nói cách khác, trí tuệ Phật đã truyền đến cho chúng ta và dùng trí tuệ đó mà thấy biết người, không phạm sai lầm. Ngài Huyền Trang đi thỉnh kinh, đã nhận lầm yêu tinh là Phật, nên thọ không biết bao nhiêu nạn tai. Nhưng thấy rõ theo Tôn Ngộ Không thì dù ma quái có đóng vai nào, ông cũng biết rõ bộ mặt thực của chúng. Đó là nhờ Tôn Ngộ Không bị đốt trong lò bát quái của Thái Thượng lão quân, tinh luyện đôi mắt thành vàng ròng tiêu biểu cho sự thấy biết hoàn hảo, mới thấu tỏ được bề trái của cuộc đời, biết người muốn gì, nghĩ gì, làm được gì.
Từ niệm Phật là niệm vô lượng quang, tiếp nhận được ánh sáng trí tuệ Phật rọi vào, chúng ta biết mọi việc sáng suốt, mới phá bỏ được tai ách, xa rời phiền não trần lao, tâm chúng ta không còn buồn, giận, sợ, lo. Thật vậy, khi có trí tuệ, biết rõ rồi, thì còn gì mà lo; vì biết tất cả đều do nghiệp quyết định. Việc thiện đã làm, không mong cầu, quả lành cũng tự đến. Nghiệp ác tạo rồi, quả ác phải tới thôi. Ý thức như vậy, trước cái chết, chúng ta cũng thấy bình thường, vì có lo cũng không sống được. Tôi thường lo là lo chết rồi đi đâu, làm gì. Phật dạy làm sao bỏ xác thân này, phải được thân sau tốt hơn, cuộc sống sau tốt hơn mới là việc đáng lo. Còn sanh tử là việc bình thường; không lo thì chưa hết duyên cũng không chết; có lo thì
cái chết đến cũng phải chết. Thậm chí có khi vì lo quá mà chết sớm. Không lo vì ta thấy rõ lý nhân quả. Trên bước đường hành đạo, đối trước việc phải xảy đến, tôi quan sát kỹ để sống thích nghi và ứng xử từng trường hợp cho thực tốt đẹp. Nhân nào quả đó, không thể khác; thí dụ như tôi hạ quyết tâm học lúc nhỏ, tất nhiên phải thi đỗ. Và khi được ánh quang Phật soi rọi, mọi việc dường như được sắp xếp sẵn và quan trọng chúng ta đi đúng lộ trình này. Theo tôi, cố gắng tạo nhiều nhân tốt, quả tốt tự hưởng. Còn tính toán đủ thứ theo tham vọng cá nhân, quả lành không có mà còn đi vào đường tà, gặp nhiều khó khăn hơn.
Kế tiếp, niệm Phật Di Đà là niệm vô lượng thọ; vì người luôn niệm Phật, luôn có Phật ngự trong lòng, không còn bị buồn giận, lo sợ tác hại tinh thần và thể xác, tâm họ được an vui, thanh thản, sức khỏe nhờ đó được tốt, chắc chắn được thọ mạng dài lâu. Ngoài vô lượng quang, vô lượng thọ, A Di Đà còn có nghĩa là vô lượng công đức. Thực tế đời sống người tu không có tài sản, nhưng nhờ nương vào công đức của Phật và tu trong chánh pháp Phật, công đức của chúng ta sanh ra. Thật vậy, các Phật tử quý mến những bậc chân tu vì họ mặc áo Phật, đang giảng nói pháp Phật và đang thể hiện tinh thần Phật dạy trong cuộc sống. Từ đó, công đức lần lần sanh ra thì thân của họ tiêu biểu cho thân công đức.
Có thể thấy rõ do niệm Phật mà trí tuệ sáng suốt, hành sử mọi việc tốt đẹp, đời sống tinh thần thăng hoa và thân vật chất theo đó khỏe mạnh, được sống lâu, làm bóng mát cho người nương theo tu hành, làm được nhiều việc lợi ích cho người nương nhờ. Như vậy là đã thể hiện ba nghĩa vô lượng quang, vô lượng thọ và vô lượng công đức khi hành trì pháp niệm Phật.
Hòa thượng Thiện Hoa dạy rằng một đời người niệm Phật được chia thành ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất, niệm Phật là niệm vô lượng quang, thì phải cố gắng học, đừng lãng phí thì
giờ. Học giáo lý là căn bản và hiểu biết thêm tất cả pháp thế gian càng nhiều càng tốt để không bị vướng mắc, sai lầm vì những thủ đoạn xấu ác của chúng sanh. Tôi sang Nhật tu học cũng nhờ Hòa thượng Thiện Hoa khuyến khích tôi nên nghiên cứu sinh hoạt của Phật giáo Nhật. Học hỏi phương cách tu hành, cách tổ chức, cách quản lý của họ để rút ra những điều tốt đẹp mà ứng dụng cho Phật giáo Việt Nam, vì Phật giáo Nhật cũng theo tinh thần Đại thừa như chúng ta và phát triển được nhiều hoạt động ở mọi lãnh vực.
Giai đoạn thứ hai quan trọng là càng sống lâu, sống khỏe thì mới gánh vác được nhiều việc lợi ích cho đạo, tốt đẹp cho đời. Tu học ở Nhật, tôi thấy các Thiền sư của họ đều phải tập luyện võ thuật để bảo đảm sức khỏe tốt, vì bệnh hoạn chẳng thể làm được gì. Người tu ăn ít, nhưng phải khỏe. Tham vấn Thiền sư Kono, đầu tiên ngài dạy tôi bằng cách dẫn tôi đến mộ địa của chùa và nói rằng đây là những người đi trước vì không có sức khỏe, không có trí tuệ, áp dụng pháp sai lầm, nên chết sớm. Vị Thiền sư này có học vị Tiến sĩ và đạt sáu đẳng về kiếm đạo. Vì thế, ngài rất khỏe mạnh và thông minh. Người cơ thể yếu đuối, học xong rồi chết, chưa sử dụng được sở học vào việc tu hành, chưa tạo được công đức, thì thực uổng phí công sức đã đầu tư. Hòa thượng Thiện Hoa nói rằng Thầy Trí Minh xưa kia ham học, mà không nghĩ đến giữ gìn sức khỏe, nên học chưa xong thì thân bị hoại. Có trí tuệ mới biết cách bảo đảm sức khỏe tốt. Điều này trong nhà Thiền thường nhắc rằng đói ăn, mệt ngủ. Tỉnh táo, sáng suốt sẽ tự biết cơ thể mình thiếu chất gì để bổ sung thì nó tự khỏe, không nên ép
xác. Phật dạy chúng ta không ăn quá dư hoặc quá thiếu. Và Trí Giả dạy không ăn thức ăn không thích hợp với cơ thể mình, vì không thích hợp sẽ gây ra bệnh tật thì không thể tu được. Và giai đoạn thứ ba là tạo vô lượng công đức. Nhờ có sức khỏe và trí sáng tức vô lượng quang và vô lượng thọ mới hướng dẫn, dạy dỗ người, cứu đời, giúp người được. Nhiều người thọ ơn chúng ta thì công đức sanh ra từ đó.
    Tóm lại, người tu pháp môn niệm Phật, áp dụng đúng đắn vô lượng quang, vô lượng thọ và vô lượng công đức, chắc chắn được an vui, giải thoát ngay trong cuộc sống hiện tại. Và khi mãn duyên ở Ta bà, đương nhiên về thế giới Phật, vì đó là cảnh giới của những hành giả đã diệt trừ được tám vạn trần lao và làm lợi ích cho nhiều người.
/58
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »