Thiền sư Nga Hồ149 Dưỡng Am Quảng Tâm họ Chu, người Thượng Nhiêu150. Một hôm, tình cờ đến nhà người thân, gặp một đạo nhân đang bàn luận về nghĩa Tứ sinh151 ngày đó, ngài thông suốt được đại ý” vật và ta đều bình đẳng”. Về sau, nghe tiếng hò đẩy thuyền giữa dòng sông, ngài bừng ngộ và làm bài kệ:
Đêm vắng dòng sông rộng
Tiếng hò đẩy thuyền trôi
Biết dừng nơi đâu nghỉ
Cho vơi nửa gánh đời
Ngài thường lấy bài kệ” Vô môn toả” đặt trong trượng thất để chứng nghiệm lời dạy cuả chư vị tổ sư. Kệ viết:
Người xưa lưu truyền khoá
Nhờ người trí mở ra
Nếu như không cách mở
Gặp nhau có ích gì?
Ngày 30 tháng 2 năm Đinh Mão (1627), niên hiệu Vạn Lịch152, ngài thượng đường thuyết pháp, thiết trai từ giã đại chúng, rồi nói kệ khuyên:
Hơn tám mươi năm trong huyễn mộng
Trâu sắt cày nát vụn hư không
Ra đi đôi lời xin gởi lại
Nửa đêm toả rạng ánh dương hồng
Nói xong, ngài ngồi kiết- già an nhiên thị tịch
Bài tán
Ngay trong lời từ giã
Vật bình đẳng cùng ta
Đêm khuya trên sông vắng
Tiếng hò đẩy thuyền xa.
_____________________________
149.Nga hồ: tên núi nằm ở huyện Diên Sơn, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc
150.Thượng Nhiêu: tên thành phố nằm ở miền đông Bắc bộ tỉnh Giang Tây
151. Tứ sinh: thai sinh, noãn sinh, thấp sinh, hoá sinh.
152. Vạn Lịch: niên hiệu của vua Thần Tông thời Minh, Trung Quốc, 1573- 1620.
Cửa chưa từng mở khoá
Nga Hồ đã ngộ ra
Hư không cày nát vụn
Ánh dương toả sáng loà.