Thiền sư Độc Triệt tự Thương Tuyết, họ Triệu, người huyện Trình Cống, tỉnh Vân Nam. Thuở nhỏ, ngài theo cha đến chùa Diệu Trạm, thành phố Côn Minh xuất gia. Sau khi thọ giới cụ túc, ngài làm thị giả hầu hoà thượng Thuỷ Nguyệt một thời gian lâu. Ngài vốn thông minh lanh lợi, nối tiếng thơ văn thời bấy giờ. Giữa niên hiệu Sùng Trinh156, ngài đến Ngô Cối157, tham vấn khế hợp với thiền sư Nhất Vũ và được cử làm thủ toà. Về sau, ngài nối pháp thiền sư Trung Phong158 từ đó danh đức vang khắp chốn thiền môn. Sau đó, ngài đến nhí Bảo Hoa lần lượt giảng kinh Lăng nghiêm. Một hôm, ngài từ giã đại chúng và thị tịch ngay trên pháp toà. Ngài trứ tác kinh Hoa nghiêm hải ấn, gồm 42 quyển, được lưu hành ở đời.
Bài tán
Miệng tợ hư không
Lưỡi trùm vạn tượng
Một câu gồm hết
Nói suốt đêm ngày
Gậy Đức Sơn buộc
Miệng Lâm Tế dán
Lửa hồng rực sáng
Là bởi trăng trong
_________________________________
156.Sùng Trinh: niên hiệu của vua Tư Tông thời nhà Minh, Trung Quốc, CN 1628- 1644
157.Ngô Cối: thời Tần Hán là tên gội chung của huyện Ngô và quận Cối Kê . nay là thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tô Trung Quốc.
158.Trung Phong: thiền sư Minh Bản(1263- 1323), hiệu Trung Phong, người Tiền Đường là thiền tăng đời Nguyên , cũng là Phỏ Ưng quốc sư núi Thiên Mục, tỉnh Chiết Giang Trung Quốc.