Pháp sư Huyền Trang họ Trần, người huyện Câu Thị, Lạc Dương, xuất gia từ thuở nhỏ. Niên hiệu Trinh Quán thứ 3( 629), ngài vào hoàng cung dâng biểu xin đi Tây Vực thỉnh kinh, nhưng nhà vua không chấp thuận. Ngài âm thầm ra khỏi Trường An, đi tham cứu khắp một trăm ba mươi nước vùng Tây Vực, thỉnh được sáu trăm năm mươi bảy bộ kinh luận bằng tiếng Phạn. Đến niên hiệu Trinh Quán thứ 19 (645) ngài trở về nước. Phòng Huyền Linh dâng biểu tâu vua. Vua liền thỉnh ngài vào yết kiến ở Nghi Điện và hạ chiếu phiên dịch các kinh luận. Nhà vua đích thân viết bài “ Thánh giáo tự187, đồng thời cho kiến lập tháp lớn để thờ kinh mới dịch. Năm Giáp tý ( 664), niên hiệu Lân Đức thứ nhất, lúc sắp thị tịch, ngài bảo người chung quanh niệm danh hiệu đức Từ Thị Như Lai, rồi an nhiên thị tịch, trụ thế 62 năm . Đêm ấy, trên bầu trời có bốn đường cầu vồng trắng từ Bắc chí Nam, xuyên qua sao Tỉnh. Lát sau có một vị tăng đem hương chiên đàn đến để thoa lên thi thể của ngài; khi vị tăng mở khám thấy thần sắc của ngài vẫn như còn sống. Thoa hương xong, vị tăng ấy bỗng nhiên biến mất. Ngài là tổ thứ hai của Từ Ân, đồng thời ngài để lại sự nghiệp phiên dịch kinh điển Phật giáo vô cùng to lớn và tác phẩm bất hủ Đại Đường Tây vực ký
Bài tán
Tuổi nhỏ giảng pháp
Nối tiếng thông minh
Ra đi cầu pháp
Thành khẩn quên mình
Hơn năm trăm bộ
Vô cùng cao thâm
Đại giáo đầy đủ
Hoằng truyền tướng tông
_____________________________
187. Thánh giáo tự: Đại Đường Tam tạng Thánh giáo tự: sau khi Tam tạng pháp sư Huyền Trang đi Tây Vực thỉnh hơn một ngìn quyển kinh trở về Trường An phiên dịch, vào niên hiệu Trinh Quán thứ 22, Thái Tông Hoàng Đế đích thân viết bài tựa này để ca ngợi công đức Huyền Trang. Thái tử Lý Trị cho khắc vào bia đá.