Quốc sư Thanh Lương huý Trừng Quán, tự Đại Hưu, họ Hạ Hầu, người Sơn Âm184 . Diện tướng của ngài toát lên vẻ siêu phàm thoát tục, thân cao chín thước tư, tay dài quá gối, miệng có bốn mươi chiếc răng, ban đêm mắt phát ra ánh sáng, ban này mắt không nháy động. Mỗi ngày, ngài viết được một vạn lời, cứ bảy hàng thì xuống dòng, lại có tài viết cả hai tay cùng một lúc.
Năm 11 tuổi, ngài xuất gia, từng lập ra mười điều185 để tự răn nhắc chính mình. Có lần, ngài tham vấn thiền sư Đạo Khâm ở Kính Sơn về tông chỉ Tây Lai, thầm được ấn ký. Ngài ở núi Ngũ Đài viết sớ chú giải kinh Hoa nghiêm , sau đó đến Kinh đô. Vua Đức Tông186 nhà Đường đón ngài vào cung, ban hiệu là Thanh Lương Quốc Sư. Ngài sống trải qua chín triều đại, làm quốc sư của bảy đời vua. Vào niên hiệu Khai Thành thứ 3(839) đời Văn Tông nhà Đường, ngài ngồi an nhiên thị tịch, trụ thế 120 năm, tháp tôn trí tại núi Chung Nam, hiệu là Diệu Giác. Về sau có vị tăng đến trước cung nói rằng:” Tôi thấy Ở Thông Lĩnh, Kim Thần mang chiếc răng lớn của bồ- tát Hoa Nghiêm về cúng dường”. Nghe như vậy, vua hạ chỉ mở tháp thì thấy diện mạo của ngài như đang sống mà chỉ mất hai chiếc răng.
Bài tán
Báo duyên thù thắng
Ta đây không màng
Tinh hoa dưỡng đức
Ta chẳng cậy vào
Dùng trí huệ sâu
Thấu cùng pháp giới
Thầy bảy đời vua
Nghi phạm muôn đời
______________________________________
184.Sơn Âm : nay là huyện Thiệu Hưng , tỉnh Chiết Giang
185. Mười điều: ( thập sự) : không huỷ phạm oai nghi của bậc Sa- môn, không trái luật chế của Như lai, không ngồi xoay lưng về kinh điển trong pháp giới, không nhiễm cảnh tình chướng ngại thế gian; không bước chân đến chùa ni, không nằm giường cư sỹ; không nhìn màu sắc trái lễ nghi, không ăn quá ngọ, không rời hạt châu tròn sáng; không lìa y bát ngủ
186. Vua Đức Tông: vị vua trị vì vào năm Trinh nguyên thứ 15( 799), đời Đường.