Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 29 - Bộ Bát-Nhã XII - Số 220 (Quyển 551 - 600)

Đại Tập 29 - Bộ Bát-Nhã XII - Số 220 (Quyển 551 - 600)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 999.

Chương 14: Kinh Đại Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa - Quyển 563 - Phẩm 17: Tham Hành (2) (Trang 261 - 279)

KINH ĐẠI BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA

QUYỂN 563


Phẩm 17: THAM HÀNH (2)
 
Phật bảo Thiện Hiện:
–Nếu các Bồ-tát hành như thế là hành chỗ nào?
Thiện Hiện bạch:
–Nếu các Bồ-tát hành như thế thì hoàn toàn không chỗ hành. Vì sao? Vì các pháp đang hành đều chẳng chuyển động vậy.
  Phật bảo Thiện Hiện:
 –Nếu các Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa là hành  Nghĩa đế nào?
Thiện Hiện bạch:
–Nếu các Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa là hành Thắng  Nghĩa đế.
  Phật bảo Thiện Hiện:
 –Ý ông thế nào? Nếu các Bồ-tát hành Thắng  Nghĩa đế thì đối với Thắng  Nghĩa đế là giữ lấy tướng chăng?
Thiện Hiện bạch:
–Kính bạch Thế Tôn, không!  
Phật bảo Thiện Hiện:
 –Ý ông thế nào? Các Bồ-tát này đối với Thắng  Nghĩa đế tuy chẳng giữ lấy tướng mà làm theo tướng chăng?
Thiện Hiện bạch:
–Kính bạch Thế Tôn, không!
  Phật bảo Thiện Hiện:
 –Ý ông thế nào? Các Bồ-tát này đối với tướng Thắng  Nghĩa đế đã chẳng làm theo tướng thì phá bỏ tướng chăng?
Thiện Hiện bạch:
–Kính bạch Thế Tôn, không!  
Phật bảo Thiện Hiện:
–Ý ông thế nào? Các Bồ-tát này đối với Thắng  Nghĩa đế nếu chẳng phá bỏ tướng thì sai khiến tướng chăng?
Thiện Hiện bạch:
–Kính bạch Thế Tôn, không!

Phật bảo Thiện Hiện:
 –Các Bồ-tát này đối với Thắng  Nghĩa đế nếu chẳng phá bỏ, chẳng sai khiến thì làm sao có thể dứt được tưởng ông giữ lấy tướng?
Thiện Hiện bạch:
–Các Bồ-tát này chẳng  Nghĩ: “Ta nay dứt được tưởng tướng phá bỏ, tướng sai khiến, cũng chưa tu học được đạo dứt tưởng.” Nếu các Bồ-tát tinh tấn tu hành đạo dứt tưởng mà chưa đầy đủ Phật pháp, đúng ra phải rơi vào địa vị Thanh văn, hoặc Độc giác. Nhưng các Bồ-tát này với phương tiện thiện xảo, nên mặc dù đối với các tướng và tưởng ôm giữ lấy tướng biết là rất lỗi lầm, nhưng chẳng phá bỏ hay sai khiến để mau dứt tưởng này, mà chứng được tướng không. Vì sao? Vì chưa viên mãn tất cả pháp Phật vậy.
  Phật bảo Thiện Hiện:
 –Đúng vậy, đúng vậy!
Khi ấy, Xá-lợi Tử bảo Thiện Hiện:
–Nếu các Bồ-tát, trong giấc mộng, tu hành ba môn giải thoát; thì đối với Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa có lợi ích chăng? Nếu khi các Bồ-tát thức, tu hành ba môn giải thoát, đối với Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa đã có lợi ích thì trong giấc mộng họ tu cũng có lợi ích. Vì sao? Vì Phật dạy: “Mộng thức không sai khác vậy.”
    Thiện Hiện thưa:
 –Nếu khi các Bồ-tát thức, tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, đã được gọi là an trú Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì các Bồ-tát này trong giấc mộng tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, cũng được gọi là an trụ ba pháp môn giải thoát Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa. Đối với Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa có thể tăng lợi ích cũng như thế; hoặc mộng, hoặc thức,  Nghĩa không sai khác.
Xá-lợi Tử thưa:
–Trong giấc mộng tạo nghiệp có tăng lợi ích chăng?
Phật dạy:
–Các pháp chẳng thật, như mộng nên sự tạo ra các nghiệp ở trong mộng đúng ra không tăng lợi ích; cần phải đến lúc thức dậy, nhớ tưởng phân biệt mới tăng ích.
    Thiện Hiện thưa:
 –Bạch Thế Tôn, nếu các hữu tình trong giấc mộng thấy giết hại sinh mạng, chưa đến khi thức dậy, mà ngay khi ấy, nhớ tưởng phân biệt, rất vui mừng, thì sự tạo nghiệp của người đó chẳng tăng ích ư?
Xá-lợi Tử thưa:
–Việc không sở duyên, hoặc  Nghĩ, hoặc buộc lòng tin, nghiệp chẳng thể phát sinh, cần phải có sở duyên suy  Nghĩ, nghiệp mới phát sinh. Nghiệp suy  Nghĩ trong giấc mộng duyên đâu mà sinh?   
 Thiện Hiện thưa:
 –Đúng vậy, đúng vậy! Hoặc mộng, hoặc thức, không có sở duyên suy  Nghĩ thì nghiệp chẳng sinh. Cần phải có sở duyên suy  Nghĩ, nghiệp mới sinh. Vì sao? Này Xá-lợi Tử, vì cần phải có các tướng thấy, nghe, hiểu, biết, vì đó là tác động của sự hiểu biết, thì mới phát sinh nhiễm hoặc phát sinh tịnh. Nếu không có các tướng: thấy, nghe, hiểu biết thì không có tác dụng của sự hiểu biết, nên cũng không nhiễm tịnh. Do đó nên biết, hoặc mộng, hoặc thức, có sở duyên suy  Nghĩ thì nghiệp mới sinh, nếu không sở duyên suy  Nghĩ thì nghiệp chẳng sinh.
Xá-lợi Tử hỏi Thiện Hiện:
–Phật dạy sở duyên đều lìa tự tánh. Như thế thì làm sao có thể nói: Có sở duyên suy  Nghĩ, nghiệp mới phát sinh, không sở duyên suy  Nghĩ thì nghiệp chẳng sinh?
Thiện Hiện đáp:
–Mặc dù các nghiệp suy  Nghĩ và sở duyên đều lìa tự tánh, nhưng do tự tâm ôm giữ lấy tướng phân biệt, nên thế tục đặt bày nói là có sở duyên phát sinh các nghiệp suy  Nghĩ, chẳng phải sở duyên này lìa tâm mà riêng có được!
Xá-lợi Tử hỏi Thiện Hiện:
–Nếu các Bồ-tát trong giấc mộng làm việc bố thí. Bố thí xong, hồi hướng đến quả vị Giác ngộ cao tột, thì các Bồ-tát này có phải là thật đem bố thí hồi hướng đến quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật chăng?
Thiện Hiện đáp:
–Bồ-tát Từ Thị từ lâu đã được thọ ký quả đại Bồ-đề, nên có thể thưa hỏi, nhất định Ngài sẽ đáp.
Khi ấy, Xá-lợi Tử theo lời Thiện Hiện, cung kính thưa hỏi Bồ-tát Từ Thị.
Bồ-tát Từ Thị bảo Xá-lợi Tử:
–Những gì gọi là Bồ-tát Từ Thị, mà bảo có thể đáp lời Tôn giả hỏi? Là sắc chăng? Là thọ, tưởng, hành, thức chăng? Là sắc không chăng? Là thọ, tưởng, hành, thức không chăng?
Vả lại, sắc chẳng phải là Bồ-tát Từ Thị, nên cũng chẳng thể đáp lời Tôn giả hỏi. Thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải là Bồ-tát Từ Thị nên cũng chẳng thể đáp lời Tôn giả hỏi.
Không của sắc, chẳng phải Bồ-tát Từ Thị, cũng chẳng thể đáp lời Tôn giả hỏi. Không của thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải Bồ-tát Từ Thị, cũng chẳng thể đáp lời Tôn giả hỏi.
Tôi hoàn toàn chẳng thấy có pháp nào có thể gọi là Bồ-tát Từ Thị, cũng hoàn toàn chẳng thấy có pháp được đáp, có pháp bị đáp, nới chốn đáp, thời gian đáp và do đấy đáp cũng đều chẳng thấy.
Tôi hoàn toàn chẳng thấy có pháp được thọ ký, có pháp bị thọ ký, nơi chốn thọ ký, thời gian thọ ký và do đấy thọ ký cũng đều chẳng thấy. Vì sao? Xá-lợi Tử, vì bản tánh tất cả pháp đều không. Suy tìm rốt ráo chẳng thể nắm bắt vậy.
Xá-lợi Tử hỏi Từ Thị:
–Pháp mà Tôn giả nói có phải là như chỗ đã chứng chăng?
Từ Thị đáp:
–Pháp tôi nói, chẳng phải như chỗ đã chứng. Vì sao? Vì pháp tôi đã chứng thì chẳng thể nói vậy.
Khi ấy, Xá-lợi Tử  Nghĩ: “Bồ-tát Từ Thị trí tuệ sâu xa, từ lâu tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, mới có thể nói như thế.”
Khi ấy Thế Tôn biết ý  Nghĩ của Xá-lợi Tử, liền bảo:
–Ý ông thế nào? Ông do pháp này thành A-la-hán, thì có thể thấy pháp này là có thể nói chăng?
Xá-lợi Tử bạch:
–Kính bạch Thế Tôn, chẳng thể.
Phật dạy:
–Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, pháp tánh đã chứng
cũng giống như thế, chẳng thể tuyên thuyết. Các Bồ-tát này với phương tiện thiện xảo, chẳng thể  Nghĩ: “Ta do pháp này đã được thọ ký, đang được thọ ký, sẽ được thọ ký đại Bồ-đề.” Chẳng thể  Nghĩ: “Ta do pháp này sẽ chứng Bồ-đề.” Các Bồ-tát có thể hành như thế là hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, đối với việc đắc Bồ-đề cũng không sợ hãi, quyết định tự biết: “Ta sẽ chứng”; nên các Bồ-tát này, hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, nghe pháp sâu xa chẳng kinh, chẳng sợ, cũng chẳng chìm đắm.
Các Bồ-tát này, nếu ở nơi đồng hoang, chỗ có thú dữ cũng không sợ hãi. Vì sao? Vì các Bồ-tát này, muốn đem lợi ích cho các hữu tình; nên có thể xả bỏ tất cả sở hữu trong ngoài, thường suy  Nghĩ: “Các thú dữ… muốn ăn nuốt thân ta, ta sẽ bố thí, làm cho chúng được no đủ. Nhờ căn lành này khiến cho ta tu Bố thí ba-la-mật-đa mau được viên mãn, mau chứng quả vị Giác ngộ cao tột. Ta sẽ siêng tu chánh hạnh như thế để khi chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột, trong cõi Phật của ta không có tất cả súc sinh, ngạ quỷ đều không có.”
Các Bồ-tát này nếu ở đồng hoang, chỗ có giặc ác, cũng không sợ hãi. Vì sao? Vì các Bồ-tát này đem lợi ích cho các hữu tình, nên có thể xả bỏ tất cả sở hữu trong ngoài, ưa tu các việc lành; đối với thân mạng, tài sản, không chút luyến tiếc; thường hay  Nghĩ: “Nếu các hữu tình đến tranh giành, cướp đoạt các của cải của ta, hoặc do vậy mà có lỡ hại thân mạng của ta, thì ta chẳng sân giận họ. Nhờ nhân duyên này làm cho ta tu An nhẫn ba-la-mật-đa mau được viên mãn, mau chứng quả vị Giác ngộ cao tột. Ta sẽ siêng tu chánh hạnh như thế để khi chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột, trong cõi Phật của ta không có các oán tặc cướp hại. Do cõi Phật của ta rất thanh tịnh nên cũng không có các thứ xấu khác.”
Các Bồ-tát này, nếu ở đồng hoang, chỗ không có nước cũng không sợ hãi; thường  Nghĩ rằng: “Ta sẽ tuyên thuyết diệu pháp vô thượng, dứt bệnh thèm khát nước của các hữu tình. Giả sử ta do cơn khát này bức ngặt mà chết, đối với các loài hữu tình quyết chẳng rời bỏ ý đại Bi, bố thí cho họ nước diệu pháp. Kỳ lạ thay! Các hữu tình này bạc phước nên mới ở tại thế giới không có nước như thế. Ta sẽ siêng tu chánh hạnh như thế để khi chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột; trong cõi Phật của ta không có những đồng hoang… thiếu nước, cháy
khát như thế. Ta sẽ tìm cách khuyên các hữu tình tu nghiệp thắng phước, tùy ở chỗ nào cũng đều có đầy đủ nước tám công đức.”
Các Bồ-tát này, ở chỗ đói kém cũng không sợ hãi; thường  Nghĩ rằng: “Ta sẽ tinh tấn nghiêm tịnh cõi Phật, để khi chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột, trong cõi Phật của ta hoàn toàn không có sự đói kém như thế. Các loài hữu tình đầy đủ sự vui sướng, tùy ý cần dùng gì,  Nghĩ đến liền có ngay, như chư Thiên  Nghĩ gì liền được. Ta sẽ phát khởi tinh tấn bền vững, làm cho nguyện ước của các hữu tình được đầy đủ. Tất cả thời gian, nơi chốn, tất cả hữu tình đối với tất cả của cải sẽ không thiếu thốn.” Nếu các Bồ-tát không lo sợ việc này, thì nhất định chứng quả vị Giác ngộ cao tột.
Các Bồ-tát này khi gặp bệnh dịch cũng không sợ hãi. Vì sao? Vì các Bồ-tát này thường tư duy kỹ rằng: “Không có pháp gọi là bệnh, thì cũng không có người bệnh; tất cả đều không, chẳng nên sợ hãi. Ta sẽ siêng năng tu chánh hạnh như thế để khi chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột, trong cõi Phật của ta, các loài hữu tình… không có ba thứ bệnh; tinh tấn tu hành pháp lành thù thắng như Phật đã dạy, thường không lười biếng bỏ bê.
Các Bồ-tát này, nếu  Nghĩ Bồ-đề, trải qua thời gian lâu mới đắc, cũng không sợ hãi. Vì sao? Vì giới hạn kiếp số đời trước tuy có vô lượng, nhưng trong một niệm nhớ  Nghĩ phân biệt chứa   nhóm là thành. Giới hạn kiếp số đời sau nên biết cũng như thế. Thế nên Bồ-tát chẳng nên ở trong đó, khởi tưởng lâu xa mà sinh sợ hãi. Vì sao? Vì giới hạn trước, giới hạn sau của kiếp số dài ngắn, đều trong một sát-na tương ưng với tâm vậy. Bồ-tát đối với những việc đáng sợ như thế, luôn tư duy kỹ lưỡng, chẳng sinh sợ hãi, thì mau chứng quả vị Giác ngộ cao tột.
 
Phẩm 18: CHỊ EM GÁI

 
Bấy giờ trong hội có một Thiên nữ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật, phủ vai bên trái, gối phải quỳ sát đất, chắp tay, cung kính bạch Phật:
–Kính bạch Thế Tôn, con ở trong đấy cũng không sợ hãi,
nguyện đời tương lai sẽ được thành Phật, cũng vì hữu tình thuyết pháp như thế.
Thưa như vậy xong, nàng lấy hoa vàng tươi đẹp, cung kính chí thành, dâng cúng Như Lai. Nhờ thần lực của Phật nên khiến hoa vàng ấy rực rỡ bay lên trụ trên hư không.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn mỉm cười, từ nơi mặt phát ra ánh sáng sắc vàng chiếu khắp mười phương, rồi trở lại nhập vào nơi đỉnh đầu.
A-nan-đà thấy nghe việc như thế xong, chắp tay cung kính bạch:
–Kính bạch Thế Tôn, do nhân do duyên gì mà Ngài mỉm cười như thế? Chư Phật mỉm cười chẳng phải là không có nhân duyên.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo Khánh Hỷ:
–Thiên nữ này, ở đời vị lai sẽ thành Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, kiếp tên Tinh dụ, Phật hiệu Kim Hoa.
Khánh Hỷ nên biết, Thiên nữ này chính là thân nữ cuối cùng của nàng. Xả thân này xong, liền thọ thân nam, cùng tận đời vị lai không còn thọ lại thân nữ. Từ đây mạng chung, sinh đến quốc độ của Phật Bất Động ở phương Đông, siêng tu phạm hạnh. Người nữ này ở cõi kia tên là Kim Hoa, từ thế giới Phật Bất Động mạng chung, lại sinh ở thế giới của Phật phương khác. Bất cứ sinh chỗ nào, cũng thường không xa lìa Phật. Như vua Chuyển luân, từ điện đài này đến điện đài khác, sung sướng hưởng lạc cho đến chết, chân không chạm đất… Người nữ này cũng thế, từ nước Phật này đến nước Phật khác tùy theo sinh chỗ nào cũng thường chẳng xa lìa chư Phật Thế Tôn, thường tu phạm hạnh cho đến giác ngộ.
Khi ấy, A-nan-đà thầm  Nghĩ: “Người chị em này, khi thành Phật, cũng sẽ giống như chúng hội Bồ-tát hôm nay.” Phật biết ý  Nghĩ đó, bảo Khánh Hỷ:
–Đúng vậy, đúng vậy, đúng như điều ông  Nghĩ! Bồ-tát Kim Hoa khi thành Phật cũng sẽ tuyên thuyết cho chúng hội Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa như thế. Số Bồ-tát ở trong hội nhiều hay ít cũng như chúng hội Bồ-tát của ta ngày nay. Số đệ tử Thanh văn khó biết, chỉ có thể nói tổng quát là vô lượng, vô số. Thế giới của Đức Phật ấy hoàn toàn không có thú dữ, giặc ác, đói khát, bệnh tật… Cũng không có các sự phiền não, sợ hãi khác.
Bấy giờ, Khánh Hỷ bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, người chị em này trước đây ở chỗ Phật nào, phát tâm cầu quả vị Giác ngộ cao tột đầu tiên, trồng các căn lành, hồi hướng phát nguyện?
Phật bảo Khánh Hỷ:
–Người nữ này, quá khứ ở chỗ Phật Nhiên Đăng, đầu tiên phát đại tâm, cũng dùng hoa vàng dâng lên Đức Phật kia, hồi hướng phát nguyện nên nay được gặp Ta.
Khánh Hỷ nên biết, thời quá khứ, Ta ở chỗ Phật Nhiên Đăng, dùng năm cành hoa dâng lên Đức Phật, hồi hướng phát nguyện. Nhiên Đăng Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, biết Ta các căn đã thuần thục, thọ ký cho Ta: “Ông đời sau sẽ được thành Phật hiệu là Năng Tịch, cõi tên Kham nhẫn, kiếp hiệu là Hiền.”
Bấy giờ, Thiên nữ nghe Phật kia thọ ký cho Ta đại Bồ-đề, vui mừng hớn hở, liền dùng hoa trời dâng lên Đức Phật kia, hồi hướng phát nguyện rằng: “Khiến cho con đời sau, khi Bồ-tát này được thành Phật; cũng như hôm nay, Phật hiện tiền đã thọ ký đại Bồ-đề, cũng thọ ký cho con như thế”; nên nay Ta thọ ký cho nàng.
Bấy giờ Khánh Hỷ nghe Phật dạy, vui mừng hớn hở, bạch:
–Kính bạch Thế Tôn, người chị em này từ lâu đã tu tập tâm đại Bồ-đề, hồi hướng phát nguyện, nay được thành thục.
Phật bảo Khánh Hỷ:
–Đúng vậy, đúng vậy, đúng như lời ông nói!
Bấy giờ,   Thiện Hiện bạch Phật:
 –Bạch Thế Tôn, Bồ-tát làm sao hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa hiện nhập không định?
  Phật bảo Thiện Hiện:
 –Nếu các Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, quán các sắc, thọ, tưởng, hành, thức là không; khi quán như thế không làm cho tâm rối loạn. Nếu tâm không loạn thì như thật thấy pháp, tuy như thật thấy pháp nhưng không chứng đắc.
Cụ thọ   Thiện Hiện bạch Phật:
 –Bồ-tát làm sao tuy thấy pháp là không, mà không chứng đắc?
  Phật bảo Thiện Hiện:
 –Các Bồ-tát này, khi quán pháp không, trước hết  Nghĩ: “Ta nên quán tướng các pháp đều không, mà ở trong đó chẳng nên chứng đắc.
Ta vì học nên quán các pháp không, chẳng vì chứng mà quán các pháp không. Nay là thời gian học, chẳng phải thời gian chứng.” Các Bồ-tát này, chưa nhập vào ngôi vị định, nhiếp tâm ở cảnh chẳng phải cảnh khi nhập định. Bồ-tát bấy giờ, tuy chẳng lui mất pháp phần Bồ-đề mà chẳng sạch các lậu. Vì sao? Vì các Bồ-tát này đã thành tựu căn lành, trí tuệ rộng lớn, có thể tự  Nghĩ kỹ: “Ta đối với pháp không, bây giờ là thời gian học, chẳng phải thời gian đắc. Ta nên giữ gìn Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, quán các pháp không, để viên mãn tất cả pháp phần Bồ-đề. Nên không chứng Niết-bàn, không vào địa vị Nhị thừa, không đắc Bồ-đề.”
Giống như có người lực lưỡng, dũng mãnh, đứng đi vững chắc, hình dáng đoan nghiêm, sáu mươi bốn tài năng đều đầy đủ. Đối với các kỹ thuật khác, học đến chỗ rốt ráo; đầy đủ nhiều công đức vi diệu tối thắng, thông minh trí tuệ, nói năng khéo léo, thường giỏi đối đáp, đủ từ đủ  Nghĩa; có thế lực lớn, làm bất cứ điều gì đều có thể thành tựu sự nghiệp tốt đẹp, nên công ít lợi nhiều; do đó mọi người đều kính mến. Người ấy có nhân duyên, nên đem cha mẹ, vợ con, quyến thuộc đi đến nơi khác. Giữa đường, ngang qua đồng hoang, hiểm nạn, trong đó có nhiều thú dữ, oán tặc; thân thuộc lớn bé đều rất kinh hoàng. Người đó cậy vào nhiều kỹ thuật, sức mạnh, sự dũng mãnh, nên thân ý thơ thới, an ủi cha mẹ, vợ con, quyến thuộc: “Chớ có lo buồn, chắc chắn con làm cho thoát khổ, mau vượt qua đồng hoang, đến chỗ an ổn.”
Bấy giờ, người kia hóa làm các thứ binh trượng tinh nhuệ, gặp các oán địch làm cho bọn họ trông thấy, tự nhiên giải tán, nên tráng  sĩ kia ở giữa đồng hoang, ác thú, oán tặc không có thể làm tổn hại, nhờ phương tiện khéo dùng nên đã đem các quyến thuộc nhanh chóng vượt qua đồng hoang, đến chỗ an vui.
Các chúng Bồ-tát cũng như thế. Thương xót các loài hữu tình bị khổ sinh tử, nên luôn luôn an trụ Từ, Bi, Hỷ, Xả; bảo vệ căn lành thù thắng của Bát-nhã ba-la-mật-đa, dùng phương tiện thiện xảo như Phật đã cho, đem các công đức, hồi hướng đến quả vị Giác ngộ cao tột. Tuy tu hoàn bị pháp không, mà chẳng chứng đắc, hết lòng thương xót,  Nghĩ đến tất cả hữu tình, đối với các hữu tình luôn muốn ban cho họ sự an lạc.
Các Bồ-tát này vượt các loại phiền não, cũng vượt các loại ma và địa vị Nhị thừa. Tuy trụ không định mà chẳng hết các lậu, tuy khéo học tập không mà chẳng chứng đắc. Bấy giờ Bồ-tát trụ trong không định, tuy chẳng chấp tướng mà chẳng chứng vô tướng. Như chim có cánh khỏe, bay lượn giữa hư không, nhào liệng tự tại, lâu mà không bị rơi xuống. Tuy nương hư không đùa giỡn mà chẳng trụ hư không, cũng chẳng bị hư không làm trở ngại. Các chúng Bồ-tát này cũng như thế, tuy học pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện nhưng chẳng trụ Không, Vô tướng, Vô nguyện. Cho đến khi Phật pháp chưa được viên mãn cùng cực thì hoàn toàn không nương nơi đó, dứt hẳn các lậu.
Như có người khỏe mạnh, thông thạo nghệ thuật bắn cung, muốn biểu diễn tài nghệ của mình, ngửa mặt bắn lên hư không, vì muốn mũi tên ở trên không, không rơi xuống đất nên lại lấy mũi tên sau bắn đuôi mũi tên trước… lần lượt như thế, trải qua nhiều giờ, mũi tên trước, mũi tên sau nương nhau không rơi xuống đất. Nếu muốn cho rơi xuống thì ngưng bắn mũi tên sau, bấy giờ các mũi tên mới rơi xuống.
Các Bồ-tát này cũng như thế. Hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, giữ gìn phương tiện thiện xảo thù thắng, cho đến khi căn lành chưa cùng cực thuần thục, nửa đường hoàn toàn chẳng chứng Niết-bàn. Nếu khi căn lành đã rất thuần thục, liền chứng Niết-bàn, đắc đại Bồ-đề.
Thế nên, Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, phương tiện thiện xảo đều nên như thế, quán sát kỹ pháp tánh sâu xa. Nếu chưa cùng cực viên mãn pháp của chư Phật thì chẳng nên chứng đắc.
Bấy giờ,   Thiện Hiện bạch Phật:
 –Thật kỳ lạ, kính bạch Thế Tôn! Thật hy hữu, kính Bạch Thiện Thệ! Các Bồ-tát này thường làm việc khó làm, tuy học pháp sâu xa nhưng không chứng đắc.
  Phật bảo Thiện Hiện:
 –Đúng vậy, đúng vậy! Các Bồ-tát này, thề không xả bỏ tất cả hữu tình nên có thể làm xong việc như thế.  Nghĩa là các Bồ-tát phát tâm rộng lớn, vì giải thoát khổ sinh tử cho hữu tình, nên dù có luôn phát khởi ba pháp môn giải thoát mà ở nửa đường cũng chẳng chứng Niết-bàn. Vì sao? Vì muốn độ thoát họ nên chẳng thể bỏ họ vậy. Vả
lại được phương tiện thiện xảo hộ trì nên nửa đường chẳng chứng Niết-bàn.
Thiện Hiện, nếu các Bồ-tát, đối với chỗ sâu xa, muốn dùng Bát-nhã ba-la-mật-đa quán sát kỹ, đó là cách thức tu hành ba pháp môn giải thoát Đẳng trì là Không, Vô tướng, Vô nguyện. Các Bồ-tát này nên  Nghĩ: “Hữu tình luôn luôn phát khởi tưởng hữu tình, chấp có sở đắc, dễ đưa đến các nẻo tà kiến xấu, luân hồi sinh tử, chịu khổ không cùng. Ta vì dứt trừ nẻo tà kiến xấu kia, nên cầu quả vị Giác ngộ cao tột, nên vì các hữu tình thuyết pháp sâu xa, làm cho họ dứt trừ chấp kia để ra khỏi khổ sinh tử. Thế nên tuy học pháp môn giải thoát Không, mà chẳng chứng Niết-bàn nửa đường.”
Các Bồ-tát này, do phát khởi niệm phương tiện thiện xảo, tuy ở nửa đường chẳng chứng Niết-bàn mà chẳng lui mất bốn pháp Thắng định là Từ, Bi, Hỷ, Xả. Vì sao? Vì các Bồ-tát này được phương tiện thiện xảo của Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa hộ trì, nên càng tăng bạch pháp, các căn lanh lợi dần, các chi, lực, giác, đạo càng thêm tăng trưởng.
 Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát này thường hay  Nghĩ: “Hữu tình từ lâu, ở trong các tướng, phát khởi các loại chấp trước, do đây luân hồi chịu khổ không cùng. Ta vì dứt các tướng chấp kia, nên cầu quả vị Giác ngộ cao tột, thuyết pháp không tướng cho các hữu tình, khiến cho họ dứt tướng chấp, để ra khỏi khổ sinh tử.” Do đấy thường nhập Đẳng trì vô tướng. Các Bồ-tát này, do trước đây để thành tựu phương tiện thiện xảo và đã phát sinh tác ý, nên tuy luôn hiện nhập Đẳng trì vô tướng mà nửa đường chẳng chứng Niết-bàn; tuy nửa đường chẳng chứng Niết-bàn, nhưng chẳng lui mất bốn định vô lượng. Vì sao? Vì các Bồ-tát này, được phương tiện thiện xảo của Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa hộ trì, nên càng tăng bạch pháp, các căn bén dần, các chi, lực, giác, đạo càng thêm tăng trưởng.
 Thiện Hiện, các Bồ-tát này thường hay  Nghĩ: “Hữu tình từ lâu, tâm của chúng thường phát khởi tưởng thường, tưởng lạc, tưởng ngã, tưởng tịnh, do đó phát sinh chấp trước điên đảo, luân hồi sinh tử, chịu khổ không cùng. Ta vì muốn dứt bốn điên đảo, nên cầu quả vị Giác ngộ cao tột, thuyết pháp không điên đảo cho các hữu tình.  Nghĩa là nói sinh tử không thường, không lạc, không ngã, không tịnh, chỉ có Niết-
bàn là vắng lặng, nhiệm mầu, đầy đủ các thứ công đức chân thật.” Do đó thường nhập đẳng trì Vô nguyện. Các Bồ-tát này do trước đây thành tựu phương tiện thiện xảo và phát khởi tác ý, nên tuy thường hiện nhập Vô nguyện đẳng trì, nhưng các Phật pháp chưa rốt ráo viên mãn, thì hoàn toàn chẳng nửa đường chứng Niết-bàn, mà chẳng thoái thất bốn định vô lượng. Vì sao? Vì các Bồ-tát này, được phương tiện thiện xảo của Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa hộ trì, nên càng tăng bạch pháp, các căn bén dần, các chi, lực, giác, đạo càng thêm tăng trưởng.
 Thiện Hiện, các Bồ-tát này thường hay  Nghĩ: “Hữu tình trước đây đã luôn luôn hành có sở đắc, nay cũng hành có sở đắc trước đã hành có tướng, nay cũng hành có tướng; trước đã hành điên đảo, nay cũng hành điên đảo; trước đã hành tưởng hòa hợp, nay cũng hành tưởng hòa hợp; trước đã hành tưởng hư vọng, nay cũng hành tưởng hư vọng; trước đã hành tà kiến, nay cũng hành tà kiến. Do đây mà luân hồi chịu khổ không cùng. Ta vì muốn dứt trừ tội lỗi như thế cho hữu tình nên cầu quả vị Giác ngộ cao tột, thuyết pháp sâu xa cho họ, làm cho lỗi lầm của họ đều dứt trừ hẳn, chẳng còn luân hồi chịu khổ sinh tử, mau chứng Niết-bàn thường lạc chân tịnh.”
Các Bồ-tát này, nhờ rất thương xót và luôn  Nghĩ đến tất cả hữu tình, nên mới thành tựu phương tiện thiện xảo thù thắng, được Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa hộ trì nên thường ưa quán sát pháp tánh sâu xa, đó là không, vô tướng, vô nguyện, vô tác, không sinh, không diệt, không tánh, Niết-bàn.
Các Bồ-tát này đã thành tựu tri kiến thù thắng như thế; nếu rơi vào pháp không có tướng, không có tạo tác; hoặc trụ ba cõi thì hoàn toàn không có lẽ đó.
Các Bồ-tát này đã thành tựu công đức thù thắng như thế, mà xả bỏ hữu tình để thẳng đến viên tịch, chứng quả vị Giác ngộ cao tột, chẳng đem lợi ích gì cho hữu tình, cũng không có lẽ đó.
 Thiện Hiện, nếu các Bồ-tát muốn đắc quả vị Giác ngộ cao tột thì cần nên thưa hỏi các Bồ-tát khác rằng: “Bồ-tát làm sao tu tập tất cả pháp phần Bồ-đề? Phát khởi tâm nào để có thể làm cho Bồ-tát học không, vô tướng, vô nguyện, không tác, không sinh, không diệt, không tánh, Niết-bàn mà chẳng chứng đắc nhưng vẫn tu Bát-nhã ba-la-mật-đa?”
Nếu các Bồ-tát khác khi được hỏi như thế mà trả lời: “Các chúng Bồ-tát chỉ nên tư duy về không, vô tướng…”, chứ chẳng dạy: “Cần phải ghi nhớ, không từ bỏ tất cả hữu tình và cứu độ bằng phương tiện thiện xảo thù thắng”, nên biết, Bồ-tát đó trước đây chưa từng được chư Phật thọ ký không thoái chuyển nơi quả vị Giác ngộ cao tột. Vì sao? Vì các Bồ-tát đó chưa có thể chỉ dạy và phân biệt rõ ràng về địa vị không thoái chuyển và pháp tướng Bất cộng của các chúng Bồ-tát, chẳng biết rõ ràng điều người ta thưa hỏi về các hành trạng tướng của địa vị không thoái chuyển nên cũng chẳng thể trả lời được.
Khi ấy,   Thiện Hiện bạch Phật:
 –Kính bạch Thế Tôn, có nhân duyên nào để biết được đó là các Bồ-tát không thoái chuyển không?
  Phật bảo Thiện Hiện:
 –Cũng có nhân duyên để biết các Bồ-tát đó là không thoái chuyển.  Nghĩa là có các Bồ-tát đối với Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa hoặc nghe, hoặc chẳng nghe cũng có thể trả lời đúng những điều người ta thưa hỏi trước đây và có thể thực hành đúng các hạnh của Bồ-tát ở địa vị không thoái chuyển. Do nhân duyên đó nên biết, Bồ-tát đó là không thoái chuyển.
Cụ thọ   Thiện Hiện bạch Phật:
 –Vì nguyên nhân gì có nhiều Bồ-tát hành hạnh Bồ-đề, mà lại ít có vị có thể trả lời đúng được?
  Phật bảo Thiện Hiện:
 –Mặc dù có nhiều Bồ-tát hành hạnh Bồ-đề, nhưng có ít Bồ-tát được thọ ký đắc trí tuệ vi diệu ở địa vị không thoái chuyển như thế. Nếu có vị nào được thọ ký như thế thì vị ấy có thể trả lời đúng.
Thiện Hiện nên biết, các Bồ-tát này căn lành trong sáng, trí tuệ rộng sâu. Trời, Người, A-tố-lạc… trong thế gian không thể phá hoại tâm đại Bồ-đề.

Phẩm 19: VIỆC TRONG MỘNG

 
Này Thiện Hiện, nếu các Bồ-tát cho đến trong giấc mộng chẳng đắm trước ba cõi và cũng chẳng ca ngợi địa vị Nhị thừa; tuy quán các
pháp như những gì thấy trong giấc mộng mà đối với Niết-bàn có thể chẳng thọ chứng, đó là tướng Bồ-tát không thoái chuyển.
 Thiện Hiện, nếu các Bồ-tát trong giấc mộng thấy Phật thuyết pháp cho vô lượng trăm ngàn đại chúng vây quanh, hoặc thấy tự thân cũng làm như thế, đó là tướng các Bồ-tát không thoái chuyển.
 Thiện Hiện, nếu các Bồ-tát trong giấc mộng thấy Phật đủ các tướng tốt, có hào quang chiếu sáng rực rỡ bao chung quanh một tầm, cùng vô lượng chúng phóng lên hư không, hiện ra các đại thần thông, giảng thuyết các điều cốt yếu của chánh pháp và hóa làm các hóa  sĩ, bảo đi đến vô biên cõi Phật ở phương khác làm các Phật sự, hoặc thấy tự thân cũng làm như thế, đó là tướng các Bồ-tát không thoái chuyển.
 Thiện Hiện, nếu các Bồ-tát, trong giấc mộng thấy kẻ giặc dữ, phá hoại thành ấp; hoặc thấy lửa cháy bùng lên thiêu đốt xóm làng; hoặc thấy thú dữ muốn đến hại thân; hoặc thấy oan gia muốn chém đầu mình; hoặc thấy cha mẹ sắp chết; hoặc thấy chính thân mình có các việc khổ đến bức bách… Tuy thấy các việc sợ hãi như thế nhưng chẳng kinh sợ, cũng chẳng lo buồn, khi thức dậy, luôn tư duy đúng đắn: “Ba cõi chẳng chân thật, đều như chiêm bao. Khi ta đắc quả vị Giác ngộ cao tột sẽ thuyết pháp cho các hữu tình biết rằng ba cõi đều là hư vọng, đều như cảnh chiêm bao”, đó là tướng các Bồ-tát không thoái chuyển.
 Thiện Hiện, nếu các Bồ-tát cho đến trong giấc mộng, thấy có các loài hữu tình ở cảnh giới địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, liền  Nghĩ: “Ta phải siêng năng tu hạnh Bồ-tát, mau thẳng đến quả vị Giác ngộ cao tột, ở trong cõi Phật của ta không có những cảnh giới và tên xấu ác như địa ngục, ác thú, súc sinh, ngạ quỷ… .” Khi thức dậy cũng  Nghĩ như thế và  Thiện Hiện nên biết, các Bồ-tát ấy khi thành Phật, quốc độ sẽ thanh tịnh, không có nẻo ác và tên các nẻo xấu kia, đó là tướng các Bồ-tát không thoái chuyển.
 Thiện Hiện, hoặc các Bồ-tát trong giấc mộng, thấy lửa thiêu đốt các loài hữu tình trong địa ngục…, hoặc lại thấy thiêu đốt xóm làng, thành ấp; liền phát nguyện: “Ta nếu đã được thọ ký không thoái chuyển thì nguyện lửa dữ này biến thành mát mẻ.” Nếu Bồ-tát này, khi phát nguyện như thế, trong giấc mộng thấy lửa lập tức tắt ngay; thì nên biết Bồ-tát đã được thọ ký không thoái chuyển. Nếu Bồ-tát này khi
phát nguyện như thế, mà trong giấc mộng thấy lửa chẳng tắt ngay, thì nên biết chưa được thọ ký không thoái chuyển. Khi thức dậy, thấy lửa thiêu đốt các thành ấp; theo nguyện, lửa tắt hay chẳng tắt thì cũng như trong mộng là đã thọ ký không thoái chuyển hay là chưa.
 Thiện Hiện, hoặc các Bồ-tát khi thức dậy thấy lửa thiêu đốt các thành ấp, liền  Nghĩ: “Nếu ta thật có tướng không thoái chuyển thì nguyện lửa dữ này lập tức tắt ngay và biến thành mát mẻ.”  Nghĩ xong, nói ra nhưng lửa chẳng tắt ngay, lại còn thiêu đốt từ làng này lan qua làng khác, hoặc thiêu đốt từ nhà này lan qua nhà khác. Lần lượt như thế lửa đó mới tắt, nên biết các Bồ-tát này cũng đã được thọ ký không thoái chuyển nhưng bị thiêu đốt là do ương họa của hủy báng chánh pháp còn lại, hoặc biểu hiện tướng khổ của hủy báng chánh pháp ở tương lai.
Này Thiện Hiện, hoặc các Bồ-tát thấy có nam hoặc nữ đang bị phi nhân mê hoặc, chịu các khổ não, chẳng thể xa lìa; liền  Nghĩ: “Nếu các Đức Như Lai biết ta đã được ý muốn thanh tịnh, biết ta đã được thọ ký không thoái chuyển, đã xa lìa địa vị Thanh văn, Độc giác… chắc chắn đắc quả vị Giác ngộ cao tột; nguyện các Ngài rủ lòng thương xót, soi xét tâm niệm của ta đã  Nghĩ. Nếu ta thật có thể tu hạnh Bồ-tát, mau chứng quả vị Giác ngộ cao tột, cứu giúp dứt khổ sinh tử cho hữu tình thì nguyện nam hoặc nữ này chẳng bị phi nhân làm não loạn. Chúng sẽ theo lời ta nói lập tức bỏ đi.” Các Bồ-tát này khi nói như thế, nếu phi nhân kia chẳng chịu bỏ đi, nên biết là chưa được thọ ký không thoái chuyển. Nếu phi nhân kia lập tức bỏ đi, nên biết các Bồ-tát đó đã được thọ ký không thoái chuyển.
Này Thiện Hiện, có các Bồ-tát thật sự chưa được thọ ký không thoái chuyển, thấy nam hoặc nữ đang bị phi nhân mê hoặc, chịu các khổ não chẳng thể xa lìa, bỗng liền phát lời chân thật chí thành rằng: “Nếu ta đã được thọ ký không thoái chuyển, thì khiến cho nam hoặc nữ này chẳng bị phi nhân làm não loạn. Phi nhân vâng theo lời ta, sẽ nhanh chóng bỏ đi.” Khi ấy, ác ma vì dối gạt người kia nên liền xua đuổi, hối thúc, làm cho phi nhân lập tức bỏ đi. Vì sao? Vì oai lực của ác ma mạnh hơn phi nhân nên phi nhân vâng lời ma, lập tức bỏ đi. Khi ấy Bồ-tát kia  Nghĩ: “Phi nhân bỏ đi là nhờ oai lực của ta. Vì sao? Vì phi nhân kia vâng theo lời thệ nguyện của ta, lập tức buông thả những
nam, nữ này, chứ không do nguyên nhân nào khác.” Các Bồ-tát này, chẳng thể biết rõ được đó là việc làm của ma, mà bảo là do năng lực của mình, sinh tăng thượng mạn, khinh chê các Bồ-tát khác; nên tuy siêng năng tinh tấn, nhưng hoàn toàn chẳng thể nắm bắt quả vị Giác ngộ cao tột, rơi vòa hàng Nhị thừa, luôn bị ác ma mê hoặc. Thế nên, Bồ-tát nên khéo hiểu biết cho rõ về việc tu các thiện nghiệp của các ác ma.
Này Thiện Hiện, có các Bồ-tát thật chưa được thọ ký đắc không thoái chuyển, mà xa lìa phương tiện thiện xảo Bát-nhã ba-la-mật-đa nên không tánh khỏi bị ma dối gạt.  Nghĩa là, có các ác ma vì muốn lừa gạt, nên tìm cách biến hóa ra các thứ hình tượng, đi đến chỗ Bồ-tát nói thế này: “Bạn có biết không? Chư Phật quá khứ đã từng thọ ký cho bạn đại Bồ-đề. Tên tuổi sai khác trong bảy đời của bạn cho đến quyến thuộc ta đều biết hết. Bạn sinh ở phương đó, nước đó, thành đó, ấp đó, trong xóm làng đó. Bạn sinh năm đó, tháng đó, ngày đó, giờ đó, sinh vào ngôi sao của Thiên vương đó… ”
Như thế, ác ma nếu thấy Bồ-tát bẩm tánh yếu đuối, các căn ám độn, liền dối trá thọ ký rằng: “Bạn ở đời trước bẩm thọ căn tánh đã từng như thế.”
Nếu thấy Bồ-tát bẩm tánh kiên cường, các căn sáng suốt, lanh lợi, liền dối trá thọ ký: “Bạn ở đời trước cũng từng như thế.”
Nếu thấy Bồ-tát đầy đủ các công đức Đỗ-đa và hạnh thù thắng khác, liền dối trá thọ ký rằng: “Bạn ở đời trước cũng từng như thế, đầy đủ các công đức, nên tự vui mừng, chớ nên coi nhẹ.”
Bấy giờ, các Bồ-tát kia nghe ác ma nói về các công đức quá khứ, hiện tại của mình, vui mừng hớn hở, sinh tâm kiêu mạn, tự mãn, chê bai khinh miệt các Bồ-tát khác. Ác ma biết rồi, lại bảo rằng: “Bạn nhất định thành tựu công đức thù thắng, chư Phật đã thọ ký cho bạn đại Bồ-đề nên đã có tướng điềm lành thù thắng đang hiện ra như thế.”
Bấy giờ, ác ma vì làm rối loạn nên lại giả làm các thứ hình tượng, đi đến chỗ Bồ-tát, tỏ vẻ thân ái, nói: “Bạn nay đã đủ đức không thoái chuyển, nên tự kính trọng, chớ nên tôn người.” Khi Bồ-tát này nghe những lời của ác ma xong, lòng kiêu ngạo tự mãn lại càng vững chắc thêm, khiến cho vốn đã xa trí Nhất thiết trí lại càng xa hơn. Thế nên, Bồ-tát muốn đắc Bồ-đề, nên biết rõ về các việc làm của ác ma.
Này Thiện Hiện, có các Bồ-tát chẳng thể biết rõ danh tự thật tướng; chỉ nghe danh tự hư dối, sinh chấp trước. Đó là do ác ma tìm cách biến hóa thành các thứ hình tượng, đến bảo Bồ-tát: “Sự tu hành của bạn, hạnh nguyện đã viên mãn, không lâu sẽ chứng quả vị Giác ngộ cao tột. Khi bạn thành Phật sẽ được danh hiệu tôn quý và công đức thù thắng như thế.”  Nghĩa là các ác ma kia, biết Bồ-tát này luôn luôn ước nguyện: “Khi ta thành Phật sẽ được danh hiệu tôn quý như thế”; nên ác ma theo ước nguyện đó mà thọ ký cho.
Khi ấy, Bồ-tát này vì xa lìa Bát-nhã ba-la-mật-đa phương tiện thiện xảo, nghe ma thọ ký nên suy  Nghĩ rằng: “Lạ thay! Người này thọ ký cho ta sẽ thành Phật với danh hiệu tôn quý, cùng tương ưng với ước nguyện từ lâu của ta. Do vậy nên biết, ta chắc chắn sẽ được thành Phật với danh hiệu tôn quý hơn người khác.” Ác ma cứ thọ ký danh hiệu cho người kia như thế, như thế… Vì vậy mà người kia kiêu mạn có tăng mãi, khinh miệt các Bồ-tát thật sự có đức khác. Do đó càng xa lìa quả vị Giác ngộ cao tột, rơi vào địa vị Thanh văn, hoặc Độc giác.
Các Bồ-tát này, nếu có thân như thế, mà gần gũi bạn lành, chí thành sám hối, tuy trôi lăn nhiều đời trong vòng sinh tử, nhưng cuối cùng cũng sẽ chứng quả vị Giác ngộ cao tột. Hoặc nếu có thân này, mà chẳng gặp bạn lành có chí thành sám hối thì cũng nhất định trôi lăn sinh tử, nhiều đời ngu si điên đảo. Về sau mặc dù có tinh tấn tu các nghiệp lành nhưng vẫn rơi vào địa vị Thanh văn, hoặc Độc giác. Kiêu mạn, khinh chê các Bồ-tát khác như thế, tội nặng hơn tứ trọng và năm tội vô gián gấp vô lượng lần. Thế nên Bồ-tát phải hiểu biết rõ về sự thọ ký với danh hiệu hư dối… đó là việc làm vi tế của ma, không nên kiêu mạn khinh chê Bồ-tát khác.
Này Thiện Hiện, có các Bồ-tát ở núi rừng, đồng hoang, tu hạnh xa lìa. Bấy giờ có ác ma đi đến chỗ Bồ-tát đó, cung kính khen ngợi, nói thế này: “Đại  sĩ thường tu hạnh chân thật xa lìa, hạnh xa lìa này Hiền thánh khen ngợi, các hàng Trời, Rồng, Thần đều bảo vệ.”
 Thiện Hiện nên biết, Ta chẳng khen ngợi hạnh xa lìa này là chân thật.
Thiện Hiện bạch:
–Bạch Thế Tôn, hạnh xa lìa này nếu chẳng phải chân thật thì còn có hạnh nào?
  Phật bảo Thiện Hiện: 
–Nếu các Bồ-tát ở thành ấp, hoặc ở núi rừng, đồng hoang, chỉ xa lìa phiền não, tác ý Nhị thừa, thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì gọi là hạnh chân chánh xa lìa của Bồ-tát. Hạnh xa lìa này chư Phật Thế Tôn chấp nhận, khen ngợi. Bồ-tát nên học, nó làm cho các Bồ-tát mau chứng Bồ-đề.
 Thiện Hiện nên biết, Ma thường khen ngợi những người ở núi rừng, đồng hoang; ngồi yên tịnh tư duy, nhưng còn xen tạp phiền não, tác ý Nhị thừa, xa lìa Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, chẳng thể viên mãn trí Nhất thiết trí.
Có các Bồ-tát, tuy ưa tu hành pháp hạnh xa lìa; được ma khen ngợi nên sinh lòng khinh miệt các Bồ-tát khác cũng thường ở xóm làmg thành ấp, tu hạnh chân chánh xa lìa, thì Thiện Hiện nên biết, các Bồ-tát này đã xa lìa Bát-nhã ba-la-mật-đa; tuy trải qua thời gian lâu ở núi sâu, đồng hoang; tu hạnh xa lìa; nhưng chẳng biết rõ pháp chân xa lìa, tăng thêm kiêu mạn, càng sinh ưa đắm địa vị Nhị thừa, hoàn toàn chẳng thể nắm bắt quả vị Giác ngộ cao tột, chẳng phải là điều Phật Thế Tôn khen ngợi, chấp nhận; cũng chẳng phải chỗ nên tu hành của Bồ-tát.
 Thiện Hiện nên biết, Ta khen ngợi pháp chân tịnh xa lìa của các chúng Bồ-tát. Các Bồ-tát này hoàn toàn chẳng thành tựu hạnh ấy. Ở trong hạnh chân tịnh xa lìa cũng chẳng thấy có hành tướng tương  tự, nhưng các ác ma vì muốn lừa gạt Bồ-tát kia, làm cho sinh kiêu mạn, khinh Bồ-tát khác, nên thường đi lại trong không trung ân cần khen ngợi: “Đây là pháp hạnh chân tịnh xa lìa”.
 Thiện Hiện nên biết, các Bồ-tát này ở núi rừng, đồng hoang nhưng tâm náo loạn, chẳng thể nào tu học hạnh chân chánh xa lìa. Có các Bồ-tát tuy ở xóm làng, thành ấp nhưng tâm tịch tĩnh, thường hay tu học hạnh chân chánh xa lìa.
 Thiện Hiện nên biết, các Bồ-tát này đối với các chúng Bồ-tát thường tu học hạnh chân chánh xa lìa, khinh chê hủy báng như kẻ hàng thịt; còn đối với các chúng Bồ-tát chẳng thể tu học hạnh chân chánh xa lìa, thì cung kính cúng dường, tôn trọng như Phật Thế Tôn.
 Thiện Hiện nên biết, các Bồ-tát này xa lìa Bát-nhã ba-la-mật-đa, phát sinh các thứ phân biệt chấp trước, thường suy  Nghĩ: “Sự tu học của
ta là chân xa lìa, nên được phi nhân đi đến chỗ ta khen ngợi, hộ niệm. Người ở thành ấp thân tâm rối loạn, ai mà hộ niệm, khen ngợi, kính trọng!” Các Bồ-tát này tâm nhiều kiêu mạn, ác nghiệp và phiền não ngày đêm tăng trưởng.
 Thiện Hiện nên biết, các Bồ-tát này đối với chúng Bồ-tát là kẻ hàng thịt, làm nhơ nhớp chúng Đại Bồ-tát, cũng là giặc lớn trên cõi trời, trong loài người, dối gạt Trời, Người, A-tố-lạc. Thân tuy mặc pháp y của Sa-môn nhưng tâm thường ưa ôm ấp ý như kẻ giặc. Những bậc phát tâm hướng đến Bồ-tát thừa thì chẳng nên gần gũi, cung kính cúng dường họ. Vì sao? Vì những hạng người này ôm lòng tăng thượng mạn, bề ngoài thì giống như Bồ-tát nhưng bên trong lại nhiều phiền não, ác nghiệp dẫy đầy.
Thế nên này Thiện Hiện, nếu các Bồ-tát chân thật thì chẳng bỏ trí Nhất thiết trí, cầu chứng quả vị Giác ngộ cao tột, làm lợi ích an vui cho khắp tất cả loài hữu tình chẳng nên gần gũi hạng người ác như thế.
Thiện Hiện nên biết, các chúng Đại Bồ-tát thường nên tinh tấn tu sự nghiệp chân tịnh, nhàm chán và xa lìa sinh tử, chẳng đắm trước ba cõi; đối với hạng người hàng thịt và ác tặc kia cũng nên phát tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả; thường  Nghĩ: “Ta chẳng nên phát khởi như kẻ ác kia mà mắc phải lỗi lầm. Giả sử lúc bị thất niệm, mà thoáng khởi lên như họ, thì liền nên tỉnh giác, trừ diệt ngay.”
Thế nên Bồ-tát muốn chứng quả vị Giác ngộ cao tột, phải khéo tỉnh giác biết rõ việc của các ác ma. Nên siêng năng tinh tấn xa lìa, trừ diệt tội lỗi như Bồ-tát kia đã mắc phải, siêng năng cầu quả vị Giác ngộ cao tột.
Nếu các Bồ-tát học như thế thì chính là khéo tỉnh giác về việc làm của ma.
/52
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »