Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 29 - Bộ Bát-Nhã XII - Số 220 (Quyển 551 - 600)

Đại Tập 29 - Bộ Bát-Nhã XII - Số 220 (Quyển 551 - 600)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 999.

Chương 24: Kinh Đại Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa - Quyển 573 - Phẩm 14: Khuyên Răn (2) (Trang 455 - 476)

KINH ĐẠI BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA

QUYỂN 573


Phẩm 14: KHUYÊN RĂN (2)

 
Phật bảo Bồ-tát Mạn-thù-thất-lợi rằng:
–Giả sử nghiền nát thế giới Kham nhẫn trong thế giới ba lần ngàn này thành cực vi, mỗi cực vi là một Thánh giả. Có những thiện nam, thiện nữ đem các thứ hảo hạng ở thế gian: đồ ăn uống, y phục, gường nằm, thuốc thang… với tâm thanh tịnh bố thí cúng dường suốt cả cuộc đời của Thánh chúng kia dù dài hay ngắn. Sau khi Thánh chúng nhập Niết-bàn những thiện nam… ấy thâu hết xá-lợi, xây dựng Bảo tháp, trang trí cúng dường, hoặc đem bảy báu đầy như số cực vi trong thế giới ba lần ngàn như đã nói ở trước chứa đến trời Sắc cứu cánh, đem hết bảy báu đó dâng cúng từng Thánh chúng. Suốt cả tháng ba mươi ngày đem cúng dường liên tục không gián đoạn.
Mạn-thù-thất-lợi, ý ông thế nào? Do nhân duyên này các thiện nam, thiện nữ được phước nhiều chăng?
Mạn-thù-thất-lợi liền bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, rất nhiều! Bạch Thiện Thệ, rất nhiều! Phước bố thí đã nói ở trước còn khó  Nghĩa bàn, huống gì số phước ở đây thu được.
Phật bảo Bồ-tát Mạn-thù-thất-lợi rằng:
–Thiện nam, thiện nữ nào thọ trì kinh này giảng nói truyền bá sẽ được phước hơn phước bố thí ở trước gấp trăm lần, ngàn lần cho đến vô số lần.
Mạn-thù-thất-lợi, đối với công đức này, nếu không hồi hướng cầu quả Bồ-đề của Phật thì phải trải qua nhiều kiếp như vi trần làm vua trời Tha hóa tự tại; lại trải qua rất nhiều số kiếp làm vua trời Lạc biến hóa; lại trải qua rất nhiều kiếp làm vua trời Đổ-sử-đa; trải qua rất nhiều kiếp làm vua trời Dạ-ma; trải qua rất nhiều kiếp làm vua Thiên
đế Thích, huống là vua Chuyển luân. Nếu đem sự hồi hướng ấy cầu trí Nhất thiết trí thì có thể thành tựu phương tiện thiện xảo của Bát-nhã ba-la-mật-đa, sẽ chứng quả vị Giác ngộ cao tột.
Mạn-thù-thất-lợi, giả sử đầy khắp châu Thiệm-bộ này toàn bậc Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán, Độc giác như rừng lúa, mè, tre, lau, sậy, mía… không còn chỗ trống. Có người hung ác nổi lên giận dữ đã giết toàn bộ Thánh giả ấy. Mạn-thù-thất-lợi, ý ông thế nào? Do việc này người ấy mắc tội rất nhiều chăng?
Mạn-thù-thất-lợi bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, rất nhiều! Bạch Thiện Thệ, rất nhiều! Giết một vị Thánh giả còn đọa vào đại địa ngục Vô gián, chịu khổ một kiếp, huống hồ giết hại chừng ấy Thánh giả. Người ấy sẽ mắc tội không thể kể hết được.
Phật bảo Bồ-tát Mạn-thù-thất-lợi rằng:
–Người nào hủy báng kinh điển này, tội ấy còn hơn trước gấp trăm ngàn lần cho đến vô số lần.
Mạn-thù-thất-lợi, giả sử đầy khắp châu Đông thắng thần toàn bậc Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán và Độc giác, như khu rừng đầy lúa, mè, tre, lau, sậy và mía… không còn chỗ trống. Có người hung bạo nổi lên giận dữ giết hại hết chừng ấy Thánh giả. Mạn-thù-thất-lợi, ý ông thế nào? Do việc này người ấy mắc tội rất lớn phải không?
Mạn-thù-thất-lợi bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, rất nặng! Bạch Thiện Thệ, rất nặng! Giết một vị Thánh còn đọa vào đại địa ngục Vô gián, chịu khổ suốt một kiếp, huống gì giết hại hết chừng ấy Thánh giả. Người kia mắc tội không thể kể hết.
Phật bảo Bồ-tát Mạn-thù-thất-lợi rằng:
–Người nào hủy báng kinh điển này, tội ấy nặng hơn trước gấp trăm ngàn lần cho đến vô số lần.
Mạn-thù-thất-lợi, giả sử đầy khắp châu Tây ngưu hóa toàn những bậc Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán, như khu rừng trồng toàn lúa, mè, tre, lau, sậy, mía… không còn chỗ trống. Có người hung bạo nổi lên giận dữ đã giết hết chừng ấy Thánh giả. Mạn-thù-thất-lợi, ý ông thế nào? Do việc này, người kia mắc tội nhiều chăng?
Mạn-thù-thất-lợi liền bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, rất nhiều! Bạch Thiện Thệ, rất nhiều! Giết một Thánh giả còn đọa vào ngục lớn Vô gián, chịu khổ suốt một kiếp, huống gì sát hại chừng ấy Thánh giả. Tội lỗi ấy không thể kể xiết.
Phật bảo Bồ-tát Mạn-thù-thất-lợi rằng:
–Người nào hủy báng kinh điển này, tội ấy còn hơn trước trăm ngàn lần cho đến vô số lần.
Mạn-thù-thất-lợi, giả sử khắp châu Bắc câu-lô toàn những bậc Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán và Độc giác, giống như trong khu rừng nhiều cây lúa, mè, tre, lau, sậy, mía… không còn chỗ trống. Có người hung ác nổi lên giận dữ đã giết hết số Thánh giả kia. Mạn-thù-thất-lợi, ý ông thế nào? Do việc này mà người ấy mắc tội nhiều chăng?
Mạn-thù-thất-lợi liền bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, rất nhiều! Bạch Thiện Thệ, rất nhiều! Giết một Thánh giả còn đọa vào đại địa ngục Vô gián, chịu khổ suốt một kiếp, huống gì giết hại chừng ấy Thánh giả. Tội lỗi ấy không thể kể hết.
Phật bảo Bồ-tát Mạn-thù-thất-lợi rằng:
–Người nào hủy báng kinh điển này, tội ấy còn hơn trước gấp trăm lần, gấp ngàn lần cho đến vô số lần.
Mạn-thù-thất-lợi, giả sử nghiền nát bốn đại châu này thành nhiều cực vi, mỗi cực vi là một Đức Phật; có một chúng sinh tà kiến độc ác, khởi tâm hung ác muốn giết hết số Đức Phật ấy, cướp đoạt tất cả của cải pháp tài, phá diệt vua pháp và thuốc pháp của thế gian. Mạn-thù-thất-lợi, ý ông thế nào? Chúng sinh hung ác kia mắc tội nhiều chăng?
Mạn-thù-thất-lợi liền bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, rất nhiều! Bạch Thiện Thệ, rất nhiều! Chúng sinh kia mắc tội vô lượng, vô biên không thể  Nghĩ bàn, không thể kể xiết. Đối với việc đó ta còn chẳng buồn nghe huống hồ có thể nói về tội lỗi đó nhiều hay ít. Nếu hại một Đức Phật còn đọa vào đại địa ngục Vô gián chịu khổ nhiều kiếp huống giết nhiều chư Phật Thế Tôn như vậy. Chúng sinh này chắc chắn phải chịu khổ trong đại địa ngục Vô gián không hẹn ngày ra.
Phật bảo Bồ-tát Mạn-thù-thất-lợi rằng:
–Nếu có sự hủy báng cản trở kinh này, không cho truyền bá rộng rãi, không cho cúng dường, tội này hơn tội trước gấp trăm lần, ngàn lần cho đến vô số lần.
Mạn-thù-thất-lợi, giả sử tất cả hữu tình trong thế giới ba lần ngàn đều trải qua trăm ngàn vô số đại kiếp tu đủ tất cả hạnh của các Bồ-tát, đều chứng được quả vị Giác ngộ cao tột. Chúng sinh ác kia vì nghiệp ác nặng nề nên chưa thoát khỏi khổ trong đại địa ngục.
Mạn-thù-thất-lợi, đối với địa ngục Vô gián ở khắp mười phương cõi, không có địa ngục nào mà chúng sinh ác kia không trải qua nhiều kiếp chịu khổ, huống hồ các địa ngục bàng sinh quỷ giới. Vì sao? Vì kẻ ngu si kia hủy hoại mẹ pháp thân của chư Phật trong mười phương ba đời. Nếu kẻ kia đã trải qua nhiều kiếp số như vi trần về trước, chịu khổ nặng nề, rồi được ra khỏi ba cảnh giới ác, đời sau người ấy được sinh vào trong loài người mắc bệnh ngặt nghèo, tất cả thuốc thang không thể chữa khỏi. Lại phải trải qua nhiều kiếp như vi trần, vừa ra đời thì không có lưỡi hoặc không có tay… trải qua số kiếp như vi trần này.
Mạn-thù-thất-lợi, ta dùng thần lực trụ đời một kiếp hay hơn một kiếp nói về tội báo của chúng sinh hủy báng, cản trở kinh này cũng không thể hết. Mạn-thù-thất-lợi, những người có trí muốn được an lạc trong hiện tại và vị lai chớ nên hủy báng và ngăn cản Kinh này.
 
Phẩm 15: HAI HẠNH
Bấy giờ, Phật bảo Mạn-thù-thất-lợi rằng:
–Thiện nam, nếu Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa phải thành tựu mặt trước và mặt sau của Bát-nhã ba-la-mật-đa. Vì sao? Vì các Đại Bồ-tát có hai loại hạnh: Một, thành tựu Bát-nhã; hai, giáo hóa hữu tình.
Bấy giờ, Bồ-tát Mạn-thù-thất-lợi liền bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, thế nào là Đại Bồ-tát thành tựu Bát-nhã, giáo hóa hữu tình?
Phật bảo Bồ-tát Mạn-thù-thất-lợi rằng:
–Thiện nam, nếu Đại Bồ-tát từ khi mới hành Bát-nhã cho đến
cuối cùng, đều lìa tâm dụng công, thuyết pháp không cùng tận, không gián đoạn, làm cho hữu tình thoát khỏi cảnh giới ác của ba cõi để họ an trú cảnh giới lành, hoặc khiến họ chứng được Thánh quả Tam thừa thì này Mạn-thù-thất-lợi, đó gọi là các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa để giáo hóa hữu tình. Mạn-thù-thất-lợi, nếu Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thành tựu vô biên vô vi Bát-nhã. Đó gọi là các Đại Bồ-tát tự hành Bát-nhã. Vì sao? Vì Bát-nhã có thể viên mãn tất cả công đức.
Mạn-thù-thất-lợi liền bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa tu hành pháp nào để tương ưng trí Nhất thiết trí?
Phật bảo Bồ-tát Mạn-thù-thất-lợi rằng:
–Thiện nam, nếu Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa tu pháp chân thật của trí Nhất thiết, xa lìa sự  Nghĩ bàn, vô tướng nhiệm mầu,  Nghĩa lý thâm sâu không thể quán sát, rất khó thông đạt, thường trụ sự vắng lặng, mát mẻ biến khắp, không có phân biệt, không vướng mắc, không ngăn ngại, tùy thuận đúng lý nhưng không chấp giữ? Ở trong các pháp rất là tịch tĩnh, không gì trên hết, không gì sánh bằng.
Mạn-thù-thất-lợi, khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, các Đại Bồ-tát tu pháp hành này thì tương ưng với trí Nhất thiết trí.
Mạn-thù-thất-lợi lại bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, các Đại Bồ-tát ở trong cảnh giới nào mà hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa?
Phật bảo Bồ-tát Mạn-thù-thất-lợi rằng:
–Thiện nam, khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, các Đại Bồ-tát phải nhất định phải ở trong cảnh giới sâu mầu, cảnh giới rộng lớn, cảnh giới công đức.
Mạn-thù-thất-lợi, cảnh giới sâu mầu là bản thể vô vi, không vướng hai bên cũng chẳng lìa nhau, tự tánh thanh tịnh giải thoát các sự, chướng ngại, không thể  Nghĩ bàn không thể đo lường, chẳng ở cùng với tất cả Thanh văn và Độc giác.
Mạn-thù-thất-lợi, cảnh rộng lớn là tất cả công đức của chư Phật Như Lai, hai pháp đại Bi, Bát-nhã làm tánh, lìa tướng phân biệt, không có tâm dụng công, làm lợi lạc cho hữu tình không lúc nào tạm
bỏ. Các pháp nói ra đều vừa ý người nghe.
Mạn-thù-thất-lợi, cảnh giới công đức là các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa tương ưng với tất cả công đức: Ba mươi hai tướng Đại  sĩ, tám mươi vẻ đẹp, tùy theo căn cơ tánh hạnh của các hữu tình chỗ ưa muốn các hình tướng khác nhau thế nào thì năng lực oai thần của Phật đều thị hiện như vậy.  Nghĩa là hoặc thị hiện Đổ-sử-đa, hoặc thị hiện từ cõi trời hạ sinh xuống châu Thiệm-bộ, hoặc hiện ở trong thai, hoặc hiện lúc sơ sinh, hoặc hiện đồng tử, hoặc hiện cảnh đi dạo, hoặc thị hiện xuất gia, hoặc thị hiện tu khổ hạnh, hoặc hiện dưới cội Bồ-đề, hoặc hiện sự chứng quả vị Giác ngộ cao tột, hoặc hiện chuyển xe pháp, hoặc thị hiện nhập Niết-bàn. Thị hiện các tướng khác nhau như vậy đều vì sự giải thoát sinh tử của hữu tình. Mạn-thù-thất-lợi, như vậy gọi là cảnh giới sở hành của các Đại Bồ-tát lúc hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa.
Mạn-thù-thất-lợi liền bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn thật là hy hữu! Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này của Bồ-tát là cảnh giới Phật không thể  Nghĩ bàn.
Phật bảo Bồ-tát Mạn-thù-thất-lợi rằng:
–Đúng vậy, đúng vậy, đúng như ông nói! Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa là pháp bất cộng, là pháp không thể  Nghĩ bàn. Vì sao? Tất cả phàm phu, Thanh văn, Độc giác không thể thông suốt vì chẳng phải cảnh giới ấy, trừ Đức Phật Thế Tôn không ai có thể đạt được. Vì sao? Vì  Nghĩa chân như của các pháp rất thậm thâm, tự tại, chẳng động, thâu nhiếp cả cõi vô lậu, làm cho các loài hữu tình được trọn vẹn sự lợi lạc, cho nên gọi là cảnh giới chư Phật, vượt đường ngôn ngữ, thâu nhiếp Thắng  Nghĩa đế, xa lìa sự tìm tòi, phân biệt,  Nghĩ bàn, pháp thế gian chẳng thể nào so sánh, ví dụ kịp, là thượng phẩm trong tất cả các pháp, không ở trong sinh tử cũng chẳng trụ Niết-bàn.
Mạn-thù-thất-lợi, khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, các Đại Bồ-tát có năm việc không thể  Nghĩ bàn:
1.Tự tánh.
2.Phương xứ.
3.Các trụ. 
4.Nhất dị.
5.Lợi lạc.
Mạn-thù-thất-lợi, thế nào là tự tánh không thể  Nghĩ bàn?
Tức là chân như của sắc cầu không thể được, lìa chân như của sắc mà cầu cũng không thể được. Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy.
Tức là chân như của nhãn cầu không thể được, lìa chân như của nhãn cầu không thể được.  nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý cũng như vậy.
Tức là chân như của sắc cầu không thể được, lìa chân như của sắc cầu không thể được. Thanh, hương, vị, xúc, pháp cũng như vậy.
Tức là chân như của nhãn thức cầu không thể được, lìa chân như nhãn thức cầu không thể được.  nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức cũng như vậy.
Tức là chân như của địa giới cầu không thể được, lìa chân như địa giới cầu không thể được. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới cũng vậy.
Chân như của pháp hữu cầu không thể được, lìa chân như của pháp cầu không thể được. Cho nên tự tánh không thể  Nghĩ bàn.
Mạn-thù-thất-lợi, thế nào là phương xứ không thể  Nghĩ bàn?
Chân như như thế nếu trụ ở cõi Dục thì không thể  Nghĩ bàn, nếu lìa cõi Dục thì không thể  Nghĩ bàn, đối với cõi Sắc và cõi Vô sắc cũng như vậy. Hoặc trụ phương Đông không thể  Nghĩ bàn, hoặc lìa phương Đông không thể  Nghĩ bàn. Phương Nam, Tây, Bắc bốn góc và phương trên, phương dưới cũng như vậy. Cho nên phương xứ không thể  Nghĩ bàn.
Mạn-thù-thất-lợi, thế nào là các trụ không thể  Nghĩ bàn?
Hoặc trụ an lạc không thể  Nghĩ bàn, hoặc trụ vắng lặng không thể  Nghĩ bàn, hoặc trụ hữu tâm không thể  Nghĩ bàn, hoặc trụ vô tâm không thể  Nghĩ bàn. Thế nên các trụ không thể  Nghĩ bàn.
Mạn-thù-thất-lợi, thế nào là một là sai khác không thể  Nghĩ bàn? Ba đời Như Lai đồng ở một chỗ, tự tánh thanh tịnh, thâu nhiếp cõi vô lậu, hoặc là một hoặc sai khác đều không thể  Nghĩ bàn. Cho nên một và khác đều không thể  Nghĩ bàn.
Mạn-thù-thất-lợi, thế nào là lợi lạc không thể  Nghĩ bàn?
Thần lực trí tuệ đồng một pháp giới, Bát-nhã và phương tiện hai tướng bình đẳng, có thể làm cho hữu tình được lợi lạc vô lượng không thể nói được, vượt qua cảnh giới ngôn ngữ nhưng tùy thuận theo căn
tánh khác nhau của chúng sinh mà tạo ra nhiều cách nói và nhiều kiểu thị hiện: ba mươi hai tướng Đại  sĩ, tám mươi vẻ đẹp, tùy theo tâm hữu tình đều thị hiện được.
Mạn-thù-thất-lợi bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, những gì gọi là ba mươi hai tướng Đại  sĩ, tám mươi vẻ đẹp?
Phật bảo Bồ-tát Mạn-thù-thất-lợi rằng:
–Thiện nam, tướng tốt của Như Lai vô lượng, vô biên, nếu ta nói rộng ra không thể hết được, theo sở thích của thế gian chỉ nói gồm ba mươi hai tướng Đại  sĩ, tám mươi vẻ đẹp.
Mạn-thù-thất-lợi, thế nào gọi là ba mươi hai tướng?
1 Dưới bàn chân Như Lai bằng đầy, vững chải khéo đẹp giống như đáy hộp. Đất dù cao thấp nhưng được chân ngài đặt lên đều tiếp xúc đồng đều tất cả.
2 Dưới bàn chân Như Lai có đủ nghìn và những tướng mành lưới tròn đầy.
3.Tay chân Như Lai đều mềm mại hơn tất cả như bông vải.
4 Ngón tay chân Như Lai đều thon dài tròn đẹp hơn người, biểu lộ sự trường thọ.
5 Giữa kẻ mỗi ngón tay chân của Như Lai như chim nhạn chúa có màng lưới thêu dệt màu vàng rực rỡ giống như bức họa đồ kỳ diệu.
6 Gót chân Như Lai rộng dài tròn đầy tương xứng với mu chân, hơn các hữu tình.
7 Mu chân Như Lai nổi cao đầy đặn, xinh đẹp mềm mại tương xứng với gót chân.
8 Bắt chân Như Lai thon tròn như bắp đùi nai chúa.
9. Hai cánh tay Như Lai dài thẳng tròn đầy như vòi voi chúa. Nếu đứng thẳng thì tay đụng tới đầu gối.
10. Nam căn của Như Lai ẩn kín như ngựa rồng cũng giống voi chúa.
11 Mỗi lỗ chân lông có một sợi lông mềm nhuận xanh biếc và xoay vòng bên phải.
12. Lông tóc Như Lai mướt đều, uốn lên và xoay về bên phải, mềm nhuận xanh biếc, thân thể vàng rực, trang nghiêm rất khả ái khả lạc.
13 Da thân Như Lai mỏng láng mịn trơn, đất bụi nước đều không bám vào được.
14 Da thân Như Lai đều màu vàng thắm, chói sáng như đài Diệu Kim trang nghiêm bằng các thứ báu. Mọi người đều ưa nhìn.
 Hai lòng bàn tay, hai lòng bàn chân, hai vai và đỉnh đầu bảy chỗ này của Như Lai đều đầy đặn, sáng láng mềm mại rất dễ ưa thích.
15 Cổ vai Như Lai tròn đầy đẹp lạ.
16. Vai nách Như Lai đều đầy chắc.
17. Dung nghi Như Lai đồ sộ đoan chánh.
18. Thân tướng Như Lai cao rộng đoan nghiêm.
19. Thân thể Như Lai ngang rộng tương xứng, tròn đầy như cây Nặc-cù-đà.
20.Cầm, ngực và thân trên của Như Lai oai dung rộng lớn như sư tử chúa.
21. Ánh sáng từ thân Như Lai thường chiếu ra trong tầm một trượng.
22. Như Lai đủ bốn mươi chiếc răng đều nhau, trắng trong đều khít, trắng hơn kha tuyết.
23 Bốn răng cửa của Như Lai trắng trong bén nhọn.
24. Như Lai thường được thượng vị trong các mùi vị, vì hầu mạch thẳng nên có thể dẫn nghìn nhánh tiết mạch trong thân với nhiều thượng vị.
25. Tướng lưỡi Như Lai rộng dài, mỏng sạch, che được diện luân đến mé tai.
26. Giọng nói Như Lai có âm vang rộng lớn thanh nhã, dù chúng nhiều hay ít đều được nghe.
27 Phát âm vang rền giống như tiếng trống trời, lời nói thuận gọn trong trẻo như chim Tần-già.
28. Lông mi Như Lai như trâu chúa, xanh biếc ngang đều chẳng rối.
29. Mắt Như Lai xanh biếc, trong sáng phân minh.
30. Diện luân Như Lai như trăng tròn đầy, tướng mây sáng sạch như cung vua trời.
31. Giữa mày Như Lai có chòm lông trắng xoáy quanh bên hữu,
mềm mại như múi bông vải trắng đẹp như kha tuyết.
32. Trên đỉnh đầu của Như Lai có cục thịt tròn nổi cao như búi tóc.
 Đây gọi là ba mươi hai tướng của Như Lai.
Mạn-thù-thất-lợi, thế nào là tám mươi vẻ đẹp?
1. Móng tay Như Lai hẹp dài, mỏng và láng bóng như hoa đồng đỏ.
2. Ngón tay, chân Như Lai tròn, thon thon dài, ngay thẳng, mềm mại. Xương lóng chẳng hiện.
3. Ngón tay, chân Như Lai đều ngang bằng không so le, ở các kẻ ngón đều đầy đặn.
4. Tay chân Như Lai tròn đầy như ý, mềm sạch sáng láng như hoa sen.
5. Gân mạch Như Lai kết lại bền chắc nhưng ẩn kín không lộ ra.
6. Mắt cá Như Lai ẩn kín.
7. Như Lai bước đi thẳng tiến, bộ dạng ung dung như voi chúa.
8. Như Lai bước đi oai dung nghiêm chỉnh như sư tử chúa.
9. Như Lai bước đi vững thẳng chừng mực, không quá cũng không giảm giống như trâu chúa.
10. Như Lai bước đi oai nghi, tiến dừng như con nga chúa.
11. Khi ngó lại, Như Lai đều quay về bên hữu như voi rồng chúa cả người đều chuyển theo.
12. Lóng đốt Như Lai lần lượt thẳng tròn an bố khéo đẹp.
13. Đốt xương Như Lai kết khít không hở như rồng bàn.
14. Đầu gối Như Lai rắn chắc tròn đẹp.
15. Chỗ kín của Như Lai có văn rất đẹp, đầy đủ uy thế, hoàn toàn sạch sẽ.
16. Thân Như Lai nhuận trơn, mềm mại, bóng bảy, sạch đẹp, bụi đất chẳng dính.
17. Dung nghi của Như Lai đầy đủ, không sợ sệt, cũng chẳng khiếp nhược.
18. Các phần của Như Lai đều rắn chắc, dày dặn, ăn khớp vớinhau.
19. Chi phần của thân Như Lai yên định, trì trọng, chẳng khuynh động, trọn vẹn không hư hoại.
20. Thân tướng Như Lai như Tiên chúa, chung quanh đoan nghiêm, sáng rực chẳng mờ.
21. Xung quanh thân Như Lai có hào quang, khi đi có hào quang chiếu trên thân.
22. Bụng Như Lai vuông thẳng không khuyết, mềm mại, chẳng lộ, các tướng trang nghiêm.
23. Rốn Như Lai sâu tròn, xoay quanh bên phải thanh tịnh sáng trong.
24. Rốn Như Lai dày, chẳng lồi, chẳng lõm, chung quanh đẹp đẽ.
25. Làn da của Như Lai lìa xa bệnh ghẻ lở, cũng không có nốt ruồi tàn nhan và bướu…
26. Lòng bàn tay Như Lai đầy đặn mềm mại, dưới lòng bàn chân bằng thẳng.
27. Vân tay Như Lai sâu dài rõ thẳng, nhuận trơn không đứt đoạn.
28. Môi Như Lai đỏ như quả Tần bà, hai vành môi cân xứng.
29. Khuôn mặt Như Lai chẳng dài chẳng ngắn, chẳng lớn, chẳng nhỏ nhưng đầy đặn trang nghiêm.
30. Lưỡi Như Lai mềm mỏng, rộng, dài, sắc như đồng đỏ.
31. Âm thanh Như Lai vang trầm như voi chúa rống, oai chấn tất cả.
32. Âm vận Như Lai mỹ diệu đầy đủ, như tiếng vang trong hang sâu.
33. Mũi Như Lai cao dài, ngay thẳng, lỗ mũi không lộ.
34. Các răng Như Lai vuông thẳng trắng đẹp.
35.Các răng Như Lai tròn trắng sáng sạch, bén nhọn.
36. Mắt Như Lai trong, xanh, trắng phân minh.
37. Mắt Như Lai rộng dài như tép hoa sen xanh nên mọi chúng sinh thấy đều vui thích.
38. Lông mi Như Lai trên dưới ngang bằng, dầy dặn chẳng trắng nhạt.
39. Đôi mắt Như Lai dài nhưng chẳng trắng, rậm, nhỏ mà mềm.
40. Đôi mày Như Lai dệt mướt thứ tự, sắc biếc như lưu ly.
41. Đôi mày Như Lai cao, rõ, sáng như hình trăng non.
42. Tai Như Lai dày, rộng, lớn dài, hai trái tròn rủ xuống.
43. Hai tay Như Lai ngang bằng đẹp lạ, tránh xa lỗi lầm.
44.Dung nghi Như Lai hay khiến cho người thấy Ngài đều ái kính không còn sự tổn hại, không còn sự ô nhiễm.
45. Trán Như Lai rộng, tròn đầy, bằng thẳng, hình tướng đẹp lạ.
46. Phần trên của thân Như Lai viên mãn như sư tử chúa oai hùng vô địch.
47. Tóc đầu Như Lai dài, dày dặn, suông, xanh biếc chẳng bạc.
48. Tóc Như Lai thơm, sạch, nhỏ, mềm, trơn, xoắn tròn.
49. Tóc Như Lai dài đều không rối cũng chẳng kết đùm.
50. Tóc Như Lai bền chắc, chẳng đứt, hoàn toàn không rụng.
51. Tóc Như Lai trơn láng, sáng rực đẹp lạ, chẳng dính bụi bẩn.
52. Thân Như Lai vững vàng, rắn chắc như thân Naladiên.
53. Thân thể Như Lai cao lớn ngay thẳng.
54. Các lỗ của Như Lai thanh tịnh tròn đẹp.
55. Thân Như Lai có năng lực hơn ai hết.
56. Thân tướng Như Lai được tất cả chúng sinh ưa ngắm nhưng không chán đủ.
57. Khuôn mặt Như Lai dài rộng đúng cỡ, sáng láng rực rỡ như trăng thu tròn đầy.
58. Nhan sắc Như Lai thư thái sáng rỡ, tươi nhuận cười trước nói sau, chỉ có thuận không có trái.
59. Diện mạo Như Lai rực sáng vui tươi, xa lìa các lỗi nhăn  nhĩ: xanh, đỏ…
60. Thân Như Lai trong sạch không bẩn, thường không hôi dơ.
61. Các lỗ chân lông của Như Lai thường tỏa ra mùi thơm như ý, mầu nhiệm.
62. Miệng Như Lai thường tỏa ra mùi thơm tuyệt vời.
63. Tướng đầu Như Lai xoay tròn khéo đẹp như quả Mạt-đạt-na, cũng tựa như các lọng của trời.
64. Lông thân Như Lai xanh biếc, sáng sạch như lông cổ chim công, dệt đẹp đỏ rực, sắc giống đồng đỏ.
65. Âm thanh thuyết pháp của Như Lai tùy theo chúng sinh lớn nhỏ nhưng chẳng tăng, chẳng giảm, đúng lý không chấp trước.
66. Tướng đỉnh Như Lai không ai thấy được.
67. Ngón tay, ngón chân của Như Lai thon, phân minh, trang nghiêm đẹp đẽ như màu đồng đỏ.
68.Khi đi, chân Như Lai cách đất bốn tấc nhưng có hiện ấn văn.
69.Thân Như Lai rắn chắc, chẳng dựa vào người khác, thân không khinh động cũng không uốn éo.
70. Oai đức Như Lai vang xa chấn động tất cả, ác tâm nghe thì vui mừng, người sợ hãi thấy được yên.
71. Âm thanh của Như Lai tùy theo ý chúng sinh mà ban lời hòa nhã vui vẻ, chẳng cao, chẳng thấp.
72.Như Lai thường tùy theo ngôn ngữ và ý muốn của chúng sinh mà thuyết pháp.
73. Như Lai thuyết pháp ứng với âm thanh và căn cơ của mỗi chúng sinh.
74. Như Lai thuyết pháp tuần tự ứng với nhân duyên không lời nào không hoàn hảo.
75. Như Lai coi chúng sinh bình đẳng như nhau: gặp thiện thì khen, gặp ác thì chê nhưng không có sự ưa ghét.
76. Phàm làm việc gì, Như Lai đều xem xét trước rồi làm sau, đúng theo quy tắc để người phân biệt một cách thanh tịnh hoàn toàn.
77. Tướng hảo của Như Lai, tất cả hữu tình không ngắm hết được.
78. Xương đỉnh của Như Lai cứng chắc tròn đầy.
79. Dung nhan Như Lai thường trẻ chẳng già, lớp mới luôn thay đổi lớp cũ.
80. Tay chân và trước ngực Như Lai đều là tướng bậc có đức và cát tường, vẽ như bức thêu, sắc giống châu đơn.
 Đây gọi là tám mươi vẻ đẹp của Như Lai.
 
Phẩm 16: TÁN THÁN

 
Bấy giờ, Mạn-thù-thất-lợi Đại Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ chân Phật, mặc y che vai trái, gối phải sát đất, chắp tay cung kính bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, công đức của Như Lai thật là hiếm có, không gì sánh bằng, không thể  Nghĩ bàn, chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai đều không có gì khác vậy. Nếu được thấy Như Lai hoặc nghe công đức thì
loài hữu tình này cũng khó  Nghĩ bàn. Lại một lần nữa, hôm nay con được thấy Phật chuyển xe pháp lớn thật là điều chưa từng có, nên hân hoan vui mừng. Nói lời này rồi, liền bay lên hư không cao bảy cây Đa-la, chắp tay khen rằng:
Tất cả loài hữu tình
Chỉ Phật là tối tôn
Không có ai sánh bằng
Huống lại có người hơn.
Ngã, pháp hai đều không
Diệu lý Vô đẳng đẳng,
Chỉ Phật Thế Tôn, ta
Sánh bằng, không sánh bằng.
Phiền não và tập khí
Đều hết hẳn không còn,
Biết được tất cả pháp
Đều sáng rõ phân minh,
Hoặc trí hoặc thuyết pháp
Không ai kịp được Phật.
Thế giới ba lần ngàn
Chỉ Phật là độc tôn.
Mười lực, Vô úy thảy,
Thật có chẳng hư dối.
Đế Thích cùng Phạm vương,
Thảy đều không thể bằng
Đại ân Đức Thế Tôn,
Thấm khắp các hữu tình.
Việc này khó  Nghĩ bàn,
Nhất định không ai bằng
Thường đem tuệ vi diệu
Và phương tiện thiện xảo,
Giáo hóa các hữu tình,
Đều làm cho được lợi lạc.
Bấy giờ, trong hội có một Thiên tử tên là Diệu Sắc, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, mặc y che vai trái, gối phải sát đất, chắp tay hướng Phật, dùng kệ khen rằng:
Có kẻ nói thế gian ngang Phật,
Lời ấy là cuồng dối chẳng thật.
Nếu nói Pháp Vương là tối tôn,
Lời này chắc thật chẳng hư vọng.
Những hàng trời, người đang vấn nạn
Không ai bẻ được Đại Sư ta.
 Thiện Thệ hàng ma dẹp ngoại đạo
Dẫn dắt thế gian đến giải thoát.
Bốn biện thanh tịnh nói không cùng
Thuốc mầu cam lồ thí hữu tình
Quán khắp các pháp trí vô ngại
Tất cả sát-na chẳng giảm mất.
Bình đẳng đại Bi xem hữu tình,
Tâm luôn thanh tịnh, chẳng nhiễm tục.
Biết rõ hoàn toàn căn, dục, tánh,
Tùy sự thích nghe, nói thích hợp.
Phiền não sai khác, chẳng phải một
Chỉ bày vô lượng môn đối trị.
Chỉ Phật khéo nói, nhân duyên kia,
Chuyên vì lợi lạc chúng hữu tình.
Gặp Phật nghe pháp chẳng chứng Thánh,
Hữu tình như thế thật khó độ.
Đại danh Như Lai phải khát ngưỡng,
Kẻ nào được thấy, ích vô lượng.
Phật trí luôn làm tâm thanh tịnh,
Được nghe chánh pháp, khỏi sinh tử.
Nghe danh hiệu Phật điềm lành lớn,
Thường niệm Thế Tôn luôn hỷ lạc,
Phát tâm hướng Phật sinh trí tuệ,
Như giáo siêng tu thành chủng trí.
Giới phẩm thanh tịnh, không vẩn đục,
Tĩnh lự đệ nhất, tâm bừng sáng,
Trí tuệ tối thắng khó khuynh động,
Biển pháp thanh tịnh như cam lồ.
Tất cả hữu tình ưa buông lung,
Chư Phật chuyên tinh, lìa thế gian,
Từ mẫn hữu tình như con một,
Ân đức sâu dày, không đền được.
Trước nói pháp phá giặc kết sử,
Sau dẹp Thiên ma, quân huyễn hóa.
Thế Tôn đã nói lỗi ba cõi,
Rộng bày vô lượng đức Niết-bàn
Trăm ngàn đại kiếp khó được nghe
Nên con chí thành, nay tán lễ.
Bấy giờ, trong hội có một vị Thiên tử tên là  Thiện Danh, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, mặc y che vai trái, gối phải sát đất, chắp tay hướng về Phật dùng kệ khen rằng:
 Như Lai bình đẳng hành đại Từ
Nếu có thể dùng trí độ người
Đề-bà-đạt-đa được độ trước
Huống gì đối với hữu tình khác.
Nay tôi chẳng muốn để luống qua,
Tu trì đại hạnh đền ân Phật,
Nếu chỉ tự chứng Diệt vô lậu,
Với ân Phật ấy, chưa đền được.
Nếu có tu hành thâm giáo Phật
Mới được gọi là chân Phật tử.
Phật cần khổ mãi, vì hữu tình
Ân lớn vô thượng khó trả được.
Đại Từ mở ra chân Diệu pháp,
Khiến chúng tự hành, giáo hóa người.
Nếu Phật chẳng xuất hiện thế gian,
Tất cả hữu tình chịu khổ lớn:
Chỉ có ác thú không trời, người,
Nghe toàn các thứ âm thanh khổ,
Chịu khổ các cõi, không ai khỏi.
Vì phiền não ràng buộc hữu tình.
Phật muốn cởi bỏ các gút độc,
  Lại  được buộc vào dây đại Bi.
Như Lai ruộng phước lớn của đời
Nương pháp chánh tu lìa ác thú.
Nếu trái lời Phật, chẳng tu hành,
Nhất định chẳng được sinh trời, người.
Nếu ở chỗ Phật khởi tâm ác,
Hoặc chẳng ưa nghe pháp thâm sâu,
Loài hữu tình này thật đáng thương
Quyết định ở mãi chỗ tăm tối.
Như Phật Thế Tôn trí tự biết,
Việc ấy Như Lai mới hiểu rõ.
Trí Phật chẳng phải để so lường,
Cúi đầu đảnh lễ mười phương Phật.
Vô úy, trí, lực, pháp bất cộng,
Chỉ Phật Thế Tôn bậc viên mãn.
Tướng hảo trang nghiêm hương vi diệu,
Người xem không chán, vượt các sắc.
Ba môn khai mở chẳng tạm dứt.
Hoa Phật thanh tịnh, nay tôi lễ.
Chỉ Phật hiểu đúng Vô thượng giác.
Vĩnh viễn ra khỏi các hiểm nạn.
Phật là đệ nhất, là tối thượng.
Cúi đầu quy mạng Đấng Lưỡng Túc.
Phật đem nước chánh pháp công đức
Rửa trừ được hết các uế bẩn
Thế Tôn xưa nay sạch trong ngoài,
Tôi nay đảnh lễ thân chân tịnh.
Bấy giờ, Đại phạm Thiên vương chủ cõi Kham nhẫn, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, mặc y che vai trái, gối phải sát đất chắp tay hướng Phật, dùng kệ khen rằng:
 Như Lai thù thắng phước tuệ đủ,
Lợi lạc hữu tình chẳng tạm ngưng,
Thường rưới cam lồ cứu đói khát,
Con nay đảnh lễ Bậc Lợi Tha.
Hơn hết thế gian, Người khả kính,
Loài kia vẫn đến cúng dường Phật,
Đầy đủ các thiện, hết các ác,
Con nay kính lạy Bậc Vô Đẳng.
Vì cứu vớt khắp các hữu tình,
Chẳng còn hạnh nào không tu học,
Vượt khỏi sinh tử được an vui,
Con nay đảnh lễ Bậc Cứu Thế.
Đảnh lễ thân vi diệu sắc vàng.
Đảnh lễ Bậc thuyết pháp cam lồ.
Đảnh lễ trí thanh tịnh không bẩn.
Đảnh lễ tất cả rừng công đức.
Bấy giờ, Phật bảo Đại phạm Thiên vương rằng:
–Lành thay, lành thay! Như điều ông khen đối với Như Lai là thật chẳng phải hư dối. Vì sao? Trong vô lượng kiếp, chư Phật Thế Tôn đã tu tập nhiều loại công đức trí tuệ, do đó quả vị hoàn toàn đầy đủ. Vì sao? Vì Như Lai đầy đủ Bố thí, Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa. Ba nghiệp thân, ngữ, ý đều thanh tịnh, nên thông suốt được chân như, thật tế, vì trụ thật tế nên điều đã nói chẳng hư dối. Khi ấy, Đại phạm Thiên vương đảnh lễ chân Phật, chắp tay cung kính, bạch Phật rằng:
–Cúi xin Thế Tôn dùng năng lực thần thông làm cho Bát-nhã ba-la-mật-đa này trụ lâu ở thế gian để làm lợi lạc cho tất cả.
Bấy giờ, Phật bảo Đại phạm Thiên vương:
–Tất cả Như Lai trong mười phương ba đời dùng đại thần thông, cùng chung hộ niệm Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa trụ lâu ở thế gian để làm lợi lạc cho tất cả. Trời, Ma, Phạm chí, ngoại đạo, Sa-môn đều không thể phá diệt và gây trở ngại. Vì sao? Vì ta nhớ quá khứ có Phật tên là Bảo Nguyệt Như Lai, đầy đủ mười hiệu, cõi nước tên là Vô Hủy, kiếp số tên là Hỷ Tán. Phật kia có hai đệ tử Bí-sô làm đại Pháp sư, khéo thuyết giáo pháp thâm sâu. Một tên là Trí Thịnh, hai tên là Đế Thọ, thường theo Phật kia chuyển xe chánh pháp, trải qua một kiếp tuyên thuyết Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này, trăm ngàn ức chúng ma quân ở thế giới ba lần ngàn đều được giáo hóa phát tâm Bồ-đề. Vì thế nên các Thiên ma đều không có sức phá diệt và cản trở.
Bấy giờ, Đại Bồ-tát Tịch Tĩnh Tuệ liền từ chỗ ngồi đứng dậy,

đảnh lễ chân Phật, mặc y che vai trái, gối phải sát đất, chắp tay cung kính bạch Phật rằng:
–Bảo Nguyệt Như Lai trụ ở chỗ nào? Vẫn còn trụ đời hay đã Niết-bàn?
Bấy giờ, Thế Tôn bảo Tịch Tĩnh Tuệ rằng:
–Thiện nam, cách phương Đông hơn mười ngàn ức thế giới chư Phật, đã từng có thế giới tên là Vô hủy. Trong thế giới ấy, Như Lai thọ một vạn kiếp. Ở thế giới ấy, Phật thường thuyết Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này. Các Thiên ma và ngoại đạo… không thể làm chướng ngại đối với kinh điển này và đều phát tâm cầu quả vị Giác ngộ cao tột. Bí-sô Trí Thịnh nay là Mạn-thù-thất-lợi. Bí-sô Đế Thọ nay là Tối Thắng Thiên vương. Hai vị Bồ-tát này đã dùng các phương tiện thiện xảo ủng hộ Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa làm cho trụ lâu ở đời. Mười phương cõi Phật nếu có thuyết Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này thì hai vị Bồ-tát ấy liền đến nghe nhận. Như ngày nay, ta thuyết pháp môn này, phóng Đại Quang Minh, họ tìm theo ánh quang minh mà vân tập đến đây.

Phẩm 17: PHÓ CHÚC

 
Bấy giờ, Phật bảo A-nan-đà rằng:
–Ngươi phải thọ trì Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, chớ để quên mất.
Khi ấy, A-nan-đà liền từ chỗ ngồi dậy, đảnh lễ chân Phật, mặc y che vai trái, gối phải sát đất, chắp tay cung kính bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, kinh điển như vậy thọ trì cách nào?
Phật liền bảo A-nan rằng:
–Thọ trì kinh này có mười phương pháp:
1.Biên chép.
2.Cúng dường.
3.Cấp cho người.
4.Lắng nghe.
5.Tìm đọc.
6.Thọ trì.
7.Giảng rộng.
8.Phúng tụng.
9. Suy  Nghĩ.
10. Tu tập.
 Dựa vào mười pháp này để thọ trì kinh này. Thí như ở thế gian, tất cả cỏ cây, hoa, quả, thuốc… đều nương nhờ đại địa cũng như vậy tất cả pháp lành thù thắng đều dựa vào Bát-nhã ba-la-mật-đa. Như vua Chuyển luân nếu trụ ở đời thì bảy báu luôn biểu hiện. Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa lại cũng như thế, nếu trụ ở đời thì Tam bảo chẳng diệt.
Bấy giờ, đại chúng chiêm ngưỡng tôn nhan, khác miệng đồng thanh đều than rằng:
–Sau khi Như Lai diệt độ, ai có thể gánh được gánh nặng đại giáo pháp của Thế Tôn này?  Nghĩa là vị ấy phải trải qua vô lượng, vô biên đại kiếp tu tập mới thành tựu Vô thượng Bồ-đề.
Bấy giờ, trong chúng có một vạn hai ngàn Bồ-tát, vì hộ pháp này liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, mặc y che vai trái, gối phải sát đất, chắp tay cung kính, nói kệ rằng:
Chúng con bỏ thân mạng
Chẳng cầu phước đời sau
Hộ trì lời Phật dạy
Chánh pháp thâm sâu này.
Bấy giờ, trong chúng có năm trăm Thiên tử do Hiền Vương dẫn đầu, cũng từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, mặc y che vai trái, gối phải sát đất, chắp tay cung kính, nói kệ rằng:
Vì độ các hữu tình,
Thành tựu nguyện đại Bi,
Hộ trì lời Phật dạy,
Chánh pháp thâm sâu này.
Khi ấy Thiên đế Thích, Trì Kế Phạm vương, Tỳ-sa-môn vương, đều từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, mặc y che vai trái, gối phải sát đất, chắp tay cung kính, nói kệ rằng:
 Trị được tất cả bệnh,
Thế Tôn nay đã nói,
Thuốc Bát-nhã nhiệm mầu,
Chúng con đầu đội mang.
Thần cầm chày Kim cang cũng từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, mặc y che vai trái, gối phải sát đất, chắp tay cung kính mà nói kệ rằng:
 Pháp vốn không danh tự,
Phật dùng danh tự nói,
Đại bi chân giáo pháp,
Con nay đầu đội mang.
Bấy giờ, Phật bảo Trì Kế Phạm rằng:
–Phạm thiên nên biết, Phật khen ba việc là tối thượng nhất. Những gì là ba?
1. Phát tâm Bồ-đề.
2.Hộ trì chánh pháp.
3.Như giáo pháp tu hành.
 Ba pháp này thật là Vô thượng. Người nào tu hành được mới là chân cúng dường Phật. Nếu Ta trụ đời một kiếp, hoặc hơn một kiếp, nói công đức ấy cũng không thể hết. Hộ trì Như Lai bằng một bài kệ bốn câu, công đức ấy nói còn không hết, huống gì hộ trì Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa là mẹ chư Phật ba đời. Vì sao? Vì chư Phật ba đời đều do Bát-nhã ba-la-mật-đa mà được sinh xuất. Vì pháp mà cúng dường là chân cúng dường Phật. Nếu dùng tiền của thì chẳng phải là chân cúng dường. Nên cúng dường pháp là cúng dường tối thượng nhất. Nếu người nào hộ trì chánh pháp của Phật, phải biết người ấy an lạc ba đời. Cho nên này Phạm thiên, phải thường ủng hộ Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa. Hộ trì pháp rồi, ông sẽ được gặp ngàn Đức Phật trong hiền kiếp và được làm thỉnh chủ. Phạm vương nên biết, ở cõi uế trược này, hộ trì chánh pháp trong chừng giây lát công đức đạt được còn hơn ở cõi Tịnh hoặc một kiếp hay hơn một kiếp. Thế nên phải siêng năng hộ trì chánh pháp.
Thế Tôn lại bảo Thiên đế Thích rằng:
–Kiều-thi-ca, Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa ở chỗ nào thì biết là Như Lai đã sinh chỗ đó và chứng quả Bồ-đề ở chỗ đó, chuyển pháp luân ở đó và nhập Niết-bàn cũng ở đó. Vì sao? Kiều-thi-ca, tất cả Bồ-

tát, tất cả pháp lành, tất cả Như Lai đều từ đây mà xuất sinh. Nếu có Pháp sư tuyên thuyết Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này thì chỗ ấy chính là chỗ Phật đã đi đến. Ở chỗ Pháp sư, các loài hữu tình phải sinh tâm tôn trọng và gần gũi như Phật, vui mừng, cung kính, cúng dường, ngợi khen. Nếu ta trụ ở đời một kiếp hay hơn một kiếp nói về công đức mà Pháp sư ấy đã truyền bá kinh này cũng không thể hết. Kiều-thi-ca, khi Pháp sư này đi đến chỗ nào, các thiện nam có người cắt máu rải xuống đất cúng dường nhưng vẫn chưa gọi là nhiều. Vì sao? Vì pháp luân vô thượng khó thọ trì vậy.
Khi ấy, Thiên đế Thích bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, trong đời vị lai, chỗ nào thuyết kinh này, tôi và quyến thuộc đều phải ủng hộ vị Pháp sư và bảo vệ địa phương ấy. Nếu thấy kinh này để ở chỗ nào liền sinh bốn loại tâm xứ như đã nói ở trước.
Bấy giờ, Thế Tôn khen Thiên đế Thích:
–Ngươi được như vậy thật quý hóa thay, quý hóa thay! Ta đem kinh này giao phó và dặn dò cho ngươi. Ở đời sau, ngươi phải ủng hộ và lưu truyền.
Khi ấy, Thiên đế Thích liền bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, chư Thiên chúng con được sinh vào cảnh giới lành đều do Bát-nhã ba-la-mật-đa, phát tâm Bồ-đề cũng nhờ vào đây. Thế nên chúng con chẳng tiếc thân mạng, ủng hộ giáo pháp thâm sâu của Thế Tôn.
Khi ấy, Phật lại khen Thiên đế Thích rằng:
–Hay thay, hay thay! Hãy làm như lời đã nói.
Khi Đức Thế Tôn thuyết kinh này rồi, Tối Thắng Thiên vương và các Đại Bồ-tát trong mười phương cõi, tất cả Thanh văn, Trời, Rồng, Dược-xoa, Kiền-đạt-phược, A-tố-lạc, Yết-lộ-đồ, Khẩn-nại-lạc, Mạc-hô-lạc-già, Nhân phi nhân… nghe Phật thuyết rồi đều rất vui mừng, tin nhận, phụng hành.
/52
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »