KINH ĐẠI BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA
QUYỂN 565
Phẩm 22: CỘI RỄ MỚI TRỒNG (2)
Thiện Hiện bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, các Bồ-tát này hành Nghĩa sâu xa.
Phật bảo Thiện Hiện:
–Đúng vậy, đúng vậy! Các Bồ-tát này hành Nghĩa sâu xa. Thiện Hiện nên biết, các Bồ-tát này có thể làm việc khó làm. Có Nghĩa là, Nghĩa đã hành tuy rất sâu xa nhưng đối với pháp của địa vị Thanh văn, Độc giác có thể không chứng đắc.
Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, theo con hiểu Nghĩa Phật dạy: Việc làm của các Bồ-tát này chẳng khó, chẳng nên nói các Bồ-tát ấy có thể làm việc khó làm. Vì sao? Vì Nghĩa sâu xa mà Bồ-tát này đã chứng là chẳng thể nắm bắt được. Được chứng Bát-nhã ba-la-mật-đa cũng chẳng thể nắm bắt được. Pháp chứng, người chứng, nơi chốn chứng, thời gian chứng cũng chẳng thể nắm bắt được. Nếu các Bồ-tát nghe lời này, tâm chẳng chìm đắm, cũng chẳng hối hận, chẳng kinh, chẳng sợ, chính là hành Bát-nhã ba-la-mật-đa. Các Bồ-tát này khi hành như thế, chẳng thấy các tướng, cũng chẳng thấy ta hành Bát-nhã ba-la-mật-đa để gần quả vị Giác ngộ cao tột, xa lìa địa vị Thanh văn, Độc giác…
Các Bồ-tát này, đối với việc như thế, cũng chẳng phân biệt. Ví như hư không, chẳng thể Nghĩ: “Ta cách vật kia hoặc xa, hoặc gần”. Vì sao? Vì hư không không động, không phân biệt vậy. Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa cũng như thế, chẳng thể Nghĩ: “Thanh văn, Độc giác cách ta xa, quả vị Giác ngộ cao tột cách ta gần.” Vì sao? Vì Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa đối với tất cả pháp không phân biệt vậy.
Ví như hóa nhân chẳng Nghĩ: “Chất huyễn, thầy huyễn cách ta
gần. Những người đứng xem… cách ta xa.” Vì sao? Vì người huyễn không phân biệt vậy. Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa cũng thế, chẳng thể Nghĩ: “Thanh văn, Độc giác cách ta xa, quả vị Giác ngộ cao tột cách ta gần.” Vì sao? Vì Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa không phân biệt tất cả pháp vậy.
Nên biết, các dụ về bóng hình cũng như thế, giống như Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác không ưa không ghét tất cả pháp. Vì sao? Vì Như Lai đoạn trừ hẳn tất cả sự phân biệt về thương ghét vậy. Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa cũng thế, không ưa không ghét tất cả pháp. Vì sao? Vì Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa đều dứt hẳn tất cả sự phân biệt vậy.
Ví như người được Như Lai biến hóa ra, tuy có hành động nhưng không phân biệt. Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa cũng như thế; mặc dù có thể thành tựu sự nghiệp đã làm nhưng không phân biệt. Ví như có người thợ khéo chế tạo ra các loại người máy, hoặc nam hoặc nữ… Các người máy này, tuy có hành động nhưng không phân biệt. Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa cũng như thế, tuy có làm các thứ việc cần làm nhưng không phân biệt.
Khi ấy, Xá-lợi Tử hỏi Thiện Hiện:
–Nếu các Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa là hành pháp bền chắc hay là hành pháp chẳng bền chắc?
Thiện Hiện thưa:
–Nếu các Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa là hành pháp chẳng bền chắc, chẳng hành pháp bền chắc.
Khi ấy có vô lượng Thiên tử cõi Dục Nghĩ: “Nếu các Bồ-tát có thể phát tâm cầu quả vị Giác ngộ cao tột, thì mặc dù hành Nghĩa lý sâu xa của Bát-nhã ba-la-mật-đa, nhưng thường chẳng chứng đắc Niết-bàn, chẳng rơi vào địa vị Thanh văn, Độc giác. Do nhân duyên này, nên rất là hiếm có, thường làm được những việc khó làm, tất cả thế gian đều nên kính lễ.”
Cụ thọ Thiện Hiện biết ý Nghĩ của các Thiên tử, nên bảo với họ rằng:
–Nếu các Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, chẳng chứng Niết-bàn, chẳng rơi vào địa vị Thanh văn và Độc giác; thì chẳng phải là việc hy hữu, chưa phải là việc khó làm. Nếu các Bồ-tát
biết tất cả pháp và các hữu tình hoàn toàn chẳng có, đều chẳng thể nắm bắt được mà phát tâm cầu quả vị Giác ngộ cao tột, mặc áo giáp tinh tấn, thề độ vô lượng, vô biên hữu tình, làm cho họ được vào cảnh giới Vô dư Bát-niết-bàn, đó mới thật là hy hữu, là làm được việc khó làm.
Thiên tử nên biết, các Bồ-tát dù biết các pháp và các hữu tình đều chẳng thể nắm bắt được, nhưng phát tâm cầu quả vị Giác ngộ cao tột, mặc giáp tinh tấn là vì muốn điều phục các loài hữu tình; ví như có người vì muốn điều phục hư không, phải mặc áo giáp bền chắc để chiến đấu cùng hư không. Vì sao? Này các Thiên tử, vì hư không lìa tan nên hữu tình cũng lìa tan. Hữu tình lìa tan nên giáp cũng lìa tan. Hữu tình lìa tan nên sự nhiêu ích cũng lìa tan. Hữu tình lìa tan nên năm uẩn cũng lìa tan. Hữu tình lìa tan nên tất cả pháp cũng lìa tan. Nếu các Bồ-tát nghe lời này, tâm chẳng chìm đắm, cũng chẳng lo buồn, chẳng kinh, chẳng sợ, là hành Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Khi ấy, Thế Tôn bảo Thiện Hiện:
–Do nhân duyên gì mà các Bồ-tát nghe lời như thế, tâm chẳng chìm đắm, cũng chẳng lo buồn, chẳng kinh, chẳng sợ?
Cụ thọ Thiện Hiện bạch:
–Kính bạch Thế Tôn, do tất cả pháp đều xa lìa vậy, không sở hữu vậy. Vì sao? Vì các Bồ-tát này, đối với tất cả pháp hoặc được chìm đắm…, hoặc bị chìm đắm…, hoặc nơi chốn chìm đắm, thời gian chìm đắm, người chìm đắm…, do đấy chìm đắm… đều chẳng thể nắm bắt được. Do tất cả pháp chẳng thể nắm bắt được như vậy, nên các Bồ-tát nếu nghe việc như thế, mà tâm chẳng chìm đắm, cũng chẳng lo buồn, chẳng kinh, chẳng sợ, đó là hành Bát-nhã ba-la-mật-đa. Nếu các Bồ-tát khi hành như thế thì Thiên đế Thích, Đại phạm Thiên vương… chủ thế giới đều cùng kính lễ.
Phật bảo Thiện Hiện:
–Nếu các Bồ-tát có thể hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa như thế, thì chẳng phải chỉ thường làm cho Thiên đế Thích, Đại phạm Thiên vương… chủ thế giới đều cung kính đảnh lễ, mà các Bồ-tát này cũng còn được hơn thế nữa. Đó là trời Cực quang tịnh, hoặc trời Biến tịnh, hoặc trời Quảng quả, hoặc trời Tịnh cư và Trời, Rồng, A-tố-lạc… khác cũng đều kính lễ, cũng được chư Phật và Bồ-tát ở vô lượng, vô
số, vô biên thế giới trong mười phương đều đồng hộ niệm.
Thiện Hiện nên biết, các Bồ-tát này thường được chư Phật, các chúng Bồ-tát và các Trời, Rồng, A-tố-lạc… nhớ Nghĩ, bảo vệ. Công đức thiện căn từng niệm từng niệm tăng trưởng, mau chứng quả vị Giác ngộ cao tột.
Thiện Hiện nên biết, các Bồ-tát này đã trụ được địa vị không thoái chuyển của Bồ-tát. Giả sử tất cả hữu tình ở thế giới chư Phật như cát sông Hằng trong mười phương đều biến thành ma; các chúng ma này đều hóa làm chừng ấy ác ma. Các ác ma này đều có vô lượng, vô biên thần lực. Các ác ma này dùng hết thần lực của mình cũng chẳng thể làm trở ngại các Bồ-tát này, làm cho Bồ-tát đó chẳng thể hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, hoặc thoái lui Bồ-đề.
Thiện Hiện nên biết, nếu các Bồ-tát thành tựu hai pháp, thì tất cả ác ma chẳng thể gây trở ngại. Hai pháp đó là: Một, quán sát tất cả pháp đều không; hai, không xả bỏ tất cả hữu tình.
Lại nữa Thiện Hiện, nếu các Bồ-tát thành tựu hai pháp, thì tất cả ác ma chẳng thể làm chướng ngại. Hai pháp đó là: Một, đúng như lời nói, có thể thực hành tất cả; hai, thường được chư Phật hộ niệm.
Thiện Hiện nên biết, nếu các Bồ-tát thành tựu hai loại pháp thù thắng như thế thì các Thiên thần… thường đến lễ kính, phát khởi sự siêng năng, tinh tấn, gần gũi, cúng dường, thưa hỏi và nói thế này:
–Lành thay, Đại sĩ! Ngài có thể như thật là đang hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa phương tiện thiện xảo, có thể mau an trụ địa vị trí tuệ của chư Phật, có thể làm chỗ nương tựa cho tất cả hữu tình không có nơi nương tựa, có thể cứu hộ kẻ không có người cứu hộ, có thể làm nhà cửa cho kẻ không có nhà cửa, có thể làm nơi hướng đến cho người không có nơi hướng đến, có thể làm hòn đảo cho người không có hòn đảo, có thể làm chỗ quay về nương tựa cho người không có nơi quay về nương tựa, có thể làm ánh sáng cho người tối tăm, có thể làm tai mắt cho người đui, điếc. Vì sao? Này Thiện nam, nếu ai có thể an trụ Bát-nhã ba-la-mật-đa phương tiện thiện xảo thì mau chứng quả vị Giác ngộ cao tột. Tất cả ác ma chẳng thể làm trở ngại.
Thiện Hiện nên biết, nếu các Bồ-tát có thể an trụ đúng Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, được chư Phật Thế Tôn ở vô lượng, vô số, vô biên thế giới trong mười phương; ở giữa đại chúng tự nhiên hoan hỷ khen
ngợi, tán thán danh tự, dòng họ, sắc tướng, công đức. Như Ta ngày nay, ở giữa đại chúng tự nhiên hoan hỷ, khen ngợi, tán thán Bồ-tát Bảo Tràng và các Bồ-tát… về danh tự, dòng họ, sắc tướng, công đức, đang an trú Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, tịnh tu phạm hạnh ở cõi Phật Bất Động.
Thiện Hiện bạch Phật:
–Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đều ở giữa chúng tự nhiên hoan hỷ, khen ngợi, tán thán tất cả danh tự, dòng họ, sắc tướng, công đức của Bồ-tát chăng?
Phật bảo:
–Chẳng phải vậy! Nếu các Bồ-tát đã được không thoái chuyển nơi quả vị Giác ngộ cao tột, hành Bát-nhã ba-la-mật-đa phương tiện thiện xảo, thì các Bồ-tát này được các Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, ở giữa đại chúng tự nhiên hoan hỷ, khen ngợi, tán thán danh tự, dòng họ, sắc tướng, công đức.
Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:
–Có Bồ-tát nào chưa được sự không thoái chuyển nơi quả vị Giác ngộ cao tột, mà được Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, ở giữa đại chúng tự nhiên hoan hỷ, khen ngợi, tán thán danh tự, dòng họ, công đức không?
Phật dạy:
–Cũng có, đó là các Bồ-tát, tuy chưa được sự không thoái chuyển nơi quả vị Giác ngộ cao tột nhưng tu Bát-nhã ba-la-mật-đa phương tiện thiện xảo, thì các Bồ-tát này, cũng được các Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, ở giữa đại chúng tự nhiên hoan hỷ, khen ngợi, tán thán danh tự, dòng họ, sắc tướng, công đức. Như có Bồ-tát khi theo Phật Bất Động làm Bồ-tát, đã học sự tu và an trú sự thực hành để tu hành phương tiện thiện xảo của Bát-nhã ba-la-mật-đa. Lại có Bồ-tát theo Bồ-tát Bảo Tràng… đã học sự tu và an trú sự thực hành để tu hành phương tiện thiện xảo của Bát-nhã ba-la-mật-đa; thì các Bồ-tát ấy tuy chưa được sự không thoái chuyển nơi quả vị Giác ngộ cao tột, nhưng được Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác ở giữa đại chúng tự nhiên hoan hỷ, khen ngợi, tán thán danh tự, dòng họ, sắc tướng, công đức.
Thiện Hiện, có các Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa; đối
với tánh không sinh của tất cả pháp, tuy rất tin hiểu nhưng chưa chứng đắc Vô sinh pháp nhẫn; đối với tánh không rốt ráo của tất cả pháp, tuy rất tin hiểu nhưng chưa được tự tại; đối với địa vị không thoái chuyển của Bồ-tát tuy an trụ tánh vắng lặng của các pháp, nhưng chưa được nhập vào địa vị không thoái chuyển; các Bồ-tát này cũng được Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác ở giữa đại chúng tự nhiên hoan hỷ, khen ngợi, tán thán danh tự, dòng họ, sắc tướng, công đức.
Thiện Hiện nên biết, nếu các Bồ-tát được Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác ở giữa đại chúng tự nhiên hoan hỷ, khen ngợi, tán thán danh tự, dòng họ, sắc tướng, công đức, thì các Bồ-tát này đã vượt khỏi địa vị Nhị thừa, gần đại Bồ-đề, hoặc đã được thọ ký không thoái chuyển, hoặc sẽ gần được thọ ký không thoái chuyển.
Phẩm 23: GIAO PHÓ KÝ THÁC
Thiện Hiện, nếu các Bồ-tát nghe thuyết Nghĩa thú của Bát-nhã ba-la-mật-đa, rất tin hiểu, không nghi, không ngờ, chẳng mê mờ, chẳng hoang mang, chỉ Nghĩ: “Lý thú như Phật đã dạy tất nhiên, nhất định là không điên đảo. Các Bồ-tát này quyết định sẽ ở chỗ Phật Bất Động và chỗ các Đại Bồ-tát để được nghe tất cả Bát-nhã ba-la-mật-đa, đối với Nghĩa thú sâu xa mà phát sinh tin hiểu; tin hiểu rồi siêng năng tu phạm hạnh, thì sẽ được an trụ địa vị không thoái chuyển; an trụ địa vị này rồi, sẽ mau chứng Bồ-đề.”
Thiện Hiện nên biết, nếu các Bồ-tát chỉ nghe Bát-nhã ba-la-mật-đa còn được vô biên công đức, lợi ích thù thắng, huống chi chỉ hết lòng tin hiểu, y như lời dạy tu hành, các Bồ-tát này gần sẽ trí Nhất thiết, an trụ chân như, mau chứng Bồ-đề, tuyên thuyết pháp yếu.
Thiện Hiện bạch Phật:
–Pháp lìa chân như không thể riêng nắm bắt, thì nói pháp nào gần trí Nhất thiết, an trụ chân như, người nào chứng Bồ-đề, người nào thuyết pháp yếu?
Phật bảo Thiện Hiện:
–Đúng vậy, đúng vậy! Pháp lìa chân như, hoàn toàn chẳng thể nắm bắt được, thì nói những pháp nào gần trí Nhất thiết, có thể an trụ
chân như, mau chứng Bồ-đề, tuyên thuyết pháp yếu! Tự tánh chân như còn chẳng thể đắc, làm gì có pháp khác có thể tạo tác. Nhưng vì thuận theo thế tục nên nói như thế.
Thiên đế Thích bạch Phật:
–Bát-nhã ba-la-mật-đa như thế lý thú sâu xa, rất khó tin hiểu. Nếu các Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, tuy biết các pháp đều chẳng thể đắc, nhưng vẫn cầu quả vị Giác ngộ cao tột, vẫn muốn tuyên thuyết pháp yếu cho hữu tình nên việc làm đó rất khó. Các chúng Bồ-tát nghe nói lời này tâm chẳng chìm đắm, không nghi, không ngờ, chẳng mê mờ, cũng chẳng hoang mang, việc như thế rất là hy hữu.
Thiện Hiện bảo Thiên đế Thích:
–Như lời ông nói, các chúng Bồ-tát nghe nói lời này tâm chẳng chìm đắm, không nghi, không ngờ, chẳng mê mờ, cũng chẳng hoang mang, thì việc như thế rất là hy hữu sao!
Này Kiều-thi-ca, các chúng Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, quán các pháp đều không, hoàn toàn không sở hữu, thì ai chìm, ai đắm, ai nghi, ai ngờ, ai mê mờ, ai hoang mang? Thế nên việc này chưa phải là hy hữu, nhưng vì hữu tình ngu si điên đảo, chẳng thể thông đạt các pháp đều là không, nên cầu Bồ-đề; muốn tuyên thuyết phương tiện thiện xảo cho họ thì chẳng phải là việc khó.
Thiên đế Thích thưa:
–Tôn giả Thiện Hiện, những điều Ngài nói ra đều y vào không, thế nên những điều nói ra thường không ngăn ngại. Như có người đem mũi tên ngửa mặt bắn lên hư không, hoặc gần hoặc xa đều không ngăn ngại.
Thiên đế Thích bạch Phật:
–Những gì con và Tôn giả Thiện Hiện đã luận bàn là thuận thật ngữ, pháp ngữ của Như Lai. Ngay nơi pháp tùy pháp là nói đã đúng chưa?
Khi ấy, Thế Tôn bảo Thiên đế Thích:
–Những sự luận bàn của ông và Thiện Hiện đều thuận thật ngữ, pháp ngữ của Như Lai. Ngay nơi pháp tùy pháp là luận bàn đúng. Vì sao? Kiều-thi-ca, vì Cụ thọ Thiện Hiện có biện tài, mới trình bày được rằng không có gì là chẳng nương không. Vì sao? Vì Cụ thọ
Thiện Hiện quán sát thấy tất cả pháp đều hoàn toàn không. Bát-nhã ba-la-mật-đa còn chẳng đắc, huống là có người hành Bát-nhã ba-la-mật-đa. Quả vị Giác ngộ cao tột còn chẳng đắc, huống là có người chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột. Trí Nhất thiết trí còn chẳng đắc, huống là có người chứng đắc trí Nhất thiết trí. Chân như còn chẳng đắc, huống là có người chứng đắc chân như, thành Như Lai. Tánh vô sinh còn chẳng đắc, huống là có người chứng đắc tánh vô sinh. Bồ-tát còn chẳng đắc, huống là có người chứng đắc Bồ-đề, Phật. Mười lực, bốn điều không sợ còn chẳng đắc, huống là có người thành tựu mười lực, bốn điều không sợ. Pháp còn chẳng đắc, huống là có người thuyết pháp!
Kiều-thi-ca, Cụ thọ Thiện Hiện đối với tất cả pháp trụ, trụ xa lìa, trụ vô sở đắc. So với hạnh trụ vi diệu của các chúng Bồ-tát đã trụ Bát-nhã ba-la-mật-đa thì chẳng bằng một phần trăm, chẳng bằng một phần ngàn, cho đến cũng chẳng bằng một phần nhỏ nhất.
Kiều-thi-ca, sự an trụ hạnh trụ vi diệu Bát-nhã ba-la-mật-đa của các Bồ-tát, trừ sự an trụ của Như Lai; thì so với các trụ của các Bồ-tát và các Thanh văn, Độc giác khác là cao tột, là hơn hết, là tôn quý, là cao cả, là tốt đẹp, là nhiệm mầu, là trên hết, là không gì hơn. Vì thế nên, này Kiều-thi-ca, muốn là cao tột, là hơn hết, là tôn quý, là cao cả, là tốt đẹp, là nhiệm mầu, là trên hết, là không gì hơn trong tất cả chúng hữu tình thì phải trụ Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Lúc bấy giờ, trong chúng có vô lượng, vô số trời Ba mươi ba nghe pháp, hoan hỷ, đều đem hương hoa tốt đẹp nhất của trời dâng lên Thế Tôn và các Bồ-tát. Sáu trăm Bí-sô đều từ chỗ ngồi đồng loạt đứng dậy, gối phải quỳ sát đất, chắp tay hướng về Phật; nhờ thần lực của Phật, nên trong lòng bàn tay của mỗi vị, tự nhiên đầy dẫy hương hoa vi diệu. Chúng Bí-sô này vui mừng hớn hở, đều đem hương hoa này dâng cúng Phật. Rải cúng hoa xong, đồng phát nguyện:
–Chúng con nhờ năng lực căn lành thù thắng này, nguyện thường an trụ hạnh trụ vi diệu của Bát-nhã ba-la-mật-đa, mau thẳng đến quả vị Giác ngộ cao tột.
Khi ấy, Thế Tôn mỉm cười, như thường pháp của chư Phật, từ nơi mặt phóng ra các thứ hào quang xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng, tía, bích lục, màu kim cang, pha lê chiếu khắp vô biên quốc độ của chư Phật,
trên đến Phạm Thế, dưới thấu phong luân và dần dần trở lại, xoay quanh bên phải Phật ba vòng, rồi nhập vào nơi đỉnh đầu.
A-nan-đà từ tòa đứng dậy lễ Phật, chắp tay bạch:
–Kính bạch Thế Tôn, do nhân nào, duyên nào mà Ngài hiện mỉm cười như thế?
Phật bảo A-nan-đà:
–Các Bí-sô này trong kiếp Tinh dụ ở đời vị lai đều được thành Phật, đồng danh hiệu là Tán Hoa, đầy đủ mười hiệu. Số Thanh văn Tăng tất cả đều bằng nhau, tuổi thọ của Phật cùng đồng hai mươi ngàn kiếp, dù ở chỗ nào trời đều mưa hoa năm sắc; do nhân duyên này nên Ta mỉm cười. Nếu các Bồ-tát muốn được an trụ Tối thắng trụ, thì phải trụ Bát-nhã ba-la-mật-đa. Nếu các Bồ-tát muốn được an trụ Như Lai trụ, thì phải trụ Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Khánh Hỷ nên biết, nếu các Bồ-tát tinh tấn tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa được rốt ráo, thì các Bồ-tát ấy đời trước, hoặc từ trong loài người sinh trở lại nơi này, hoặc từ trên trời Đổ-sử-đa sinh lại nhân gian. Vì sao? Vì hai chỗ này dễ hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, chẳng có chỗ nào khác vậy.
Khánh Hỷ nên biết, Như Lai hiện thấy, nếu các Bồ-tát siêng năng tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, không đoái hoài đến thân mạng, tài sản, nhất định được sự không thoái chuyển nơi quả vị Giác ngộ cao tột.
Khánh Hỷ, nếu các Bồ-tát lắng nghe, thọ trì, đọc tụng, biên chép Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, rồi chỉ dạy, khuyến khích, dắt dìu, khen ngợi, chúc mừng thiện nam trụ Bồ-tát thừa… thì các Bồ-tát ấy, quá khứ đã từng ở chỗ vô lượng chư Phật trồng các căn lành, chứ chẳng phải chỉ ở chỗ Thanh văn, Độc giác…
Khánh Hỷ, nếu các Bồ-tát tu học Bát-nhã ba-la-mật-đa chẳng kinh, chẳng sợ, thọ trì đọc tụng, buộc niệm tư duy, hoặc pháp, hoặc Nghĩa, hoặc văn, hoặc ý… đều thông suốt hoàn toàn, tùy theo đó mà tu hành; thì các Bồ-tát ấy tức là đang thấy chúng ta, Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.
Khánh Hỷ, nếu các Bồ-tát, nghe thuyết về Nghĩa thú Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa như thế, mà hết lòng tin hiểu, chẳng hủy báng, chẳng ngăn cản, phá hoại; thì các Bồ-tát ấy đã từng cúng dường vô lượng chư
Phật, đã ở chỗ chư Phật trồng nhiều căn lành, cũng đã được vô lượng bạn lành thủ hộ.
Khánh Hỷ, nếu các hữu tình có thể trồng các căn lành nơi ruộng phước tối thắng của Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, nhất định sẽ đắc hoặc quả Thanh văn, hoặc quả Độc giác, hoặc quả Như Lai, nhưng muốn chứng quả vị Giác ngộ cao tột, thì cần phải thông suốt hoàn toàn Nghĩa thú sâu xa của Bát-nhã ba-la-mật-đa, khéo vượt qua những ngăn ngại, tinh tấn tu hành các hạnh Bồ-tát, làm cho thật viên mãn.
Thế nên Khánh Hỷ, Ta đem kinh điển Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa phó chúc cho ông, ông nên chính mình thọ trì, đọc tụng cho thông suốt, chớ để quên mất.
Khánh Hỷ nên biết, trừ kinh điển Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này ra, thọ trì các pháp khác mà Ta đã thuyết, giả sử có quên mất, tội đó còn nhẹ, nhưng nếu đối với kinh điển Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa không thọ trì đúng, cho đến nếu quên mất chỉ một câu, thì tội đó rất nặng.
Khánh Hỷ nên biết, nếu đối với kinh điển Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thậm chí nếu có thể thọ trì đúng một câu chẳng quên mất thì cũng đạt được phước đến vô lượng. Còn nếu đối với kinh điển Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, chẳng thọ trì đúng, thậm chí quên mất, dù chỉ một câu, thì mắc tội rất nặng, đồng với lượng phước như trước.
Thế nên Khánh Hỷ, Ta đem kinh điển Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này, ân cần phó chúc cho ông, ông nên chính mình thọ trì, đọc tụng cho thông suốt, như lý tư duy, giảng thuyết, phân biệt chỉ dạy cho khắp tất cả; làm cho người thọ trì hiểu rõ rốt ráo văn Nghĩa, ý, thú. Vì sao? Vì nếu các Bồ-tát đối với Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thọ trì, đọc tụng. Thông suốt rốt ráo, như lý tư duy và giảng thuyết, phân biệt chỉ dạy rộng rãi cho mọi người, làm cho họ dễ hiểu, thì các Bồ-tát này chính là người thọ trì tạng pháp sâu xa của chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại và tuyên thuyết chỉ dạy rộng rãi cho các hữu tình.
Khánh Hỷ nên biết, nếu có các loài hữu tình phát tâm ân cần thanh tịnh, đang ở chỗ ta, muốn đem các thứ đồ cúng dường tốt đẹp nhất để, cung kính cúng dường không mỏi mệt cho Ta, nên cúng dường đối với Bát-nhã ba-la-mật-đa, cụ thể là: Chí tâm lắng nghe, thọ trì, đọc tụng, tinh tấn tu hành, như lý tư duy, phân biệt giảng thuyết rộng rãi
cho hữu tình; hoặc lại biên chép, rồi trang nghiêm đẹp đẽ bằng các thứ, cung kính cúng dường chẳng chút rời bỏ.
Khánh Hỷ nên biết, nếu các Bồ-tát cung kính cúng dường, tôn trọng, ngợi khen Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, chính là hiện tiền cung kính cúng dường tôn trọng, ngợi khen Ta và chư Phật mười phương ba đời.
Khánh Hỷ nên biết, nếu các Bồ-tát nghe Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, rồi phát tâm ân cần thanh tịnh, cung kính, yêu mến, chính là phát tâm ân cần thanh tịnh, cung kính, yêu mến quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại.
Khánh Hỷ, nếu ông yêu mến Ta, chẳng rời xa Ta, cũng nên yêu mến, chẳng rời xa kinh điển Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thậm chí một câu cũng đừng để quên mất.
Khánh Hỷ, Ta nói nhân duyên phó chúc kinh điển Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa như thế, dù trải qua một kiếp cho đến trải qua đại kiếp số nhiều như cát sông Hằng cũng chẳng thể hết. Nói tóm lại, như Ta đã là Đại sư của các ông thì Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa nên biết cũng là Đại sư của các ông. Như chư Phật ba đời là Đại sư Vô thượng của chúng Trời, Người, A-tố-lạc… thì Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa nên biết, cũng là Đại sư Vô thượng của Trời, Người, A-tố-lạc… trong thế gian. Các ông, Trời, Người, A-tố-lạc… kính trọng Ta thì cũng nên kính trọng Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa.
Thế nên Khánh Hỷ, Ta dùng vô lượng phương tiện thiện xảo, phó chúc kinh điển Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa cho ông, ông nên thọ trì, đừng để quên mất. Ta nay đem Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này trước vô lượng đại chúng chúng Trời, Người, A-tố-lạc… phó chúc cho ông, ông nên chính mình thọ trì, đừng để quên mất.
Khánh Hỷ, nay Ta chân thật bảo ông: Có các thiện nam với lòng tin thanh tịnh, nếu muốn chẳng rời bỏ Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, chư Phật ba đời; thì nhất định chẳng nên rời bỏ Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa. Như thế gọi là pháp của chư Phật chúng Ta dạy bảo, trao truyền cho các đệ tử vậy.
Khánh Hỷ nên biết, nếu có người nào ưa thích lắng nghe Bát-nhã ba-la-mật-đa, rồi thọ trì, đọc tụng thông suốt hoàn toàn, như lý tư duy, biên chép, giảng thuyết, thì mau chứng quả vị Giác ngộ cao tột. Vì
sao? Vì quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật đều nương vào Bát-nhã ba-la-mật-đa mà phát sinh.
Thế nên, này Khánh Hỷ, nếu các Bồ-tát muốn đắc quả vị Giác ngộ cao tột thì nên siêng năng tinh tấn tu học Bát-nhã ba-la-mật-đa. Vì sao? Vì Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa là mẹ của các Đại Bồ-tát, có thể làm cho các Bồ-tát mau chứng Bồ-đề.
Khánh Hỷ nên biết, nếu khi pháp của các Bồ-tát sắp diệt; thì nên hộ trì Bát-nhã ba-la-mật-đa, tức là hộ trì trí Nhất thiết trí của chư Phật ba đời, cũng là hộ trì tạng pháp vô thượng của chư Phật ba đời.
Khánh Hỷ nên biết, nếu các Bồ-tát siêng năng tu học sáu pháp Ba-la-mật-đa thì mau chứng quả vị Giác ngộ cao tột.
Thế nên, này Khánh Hỷ, Ta đem sáu pháp Ba-la-mật-đa phó chúc cho ông, ông nên chính mình thọ trì, đừng để quên mất. Vì sao? Vì sáu pháp Ba-la-mật-đa như thế là tạng pháp vô tận của chư Phật ba đời.
Khánh Hỷ nên biết, pháp yếu mà chư Phật Thế Tôn mười phương ba đời đã giảng thuyết, đều là lưu xuất từ tạng pháp vô tận của sáu pháp Ba-la-mật-đa. Phật và đệ tử mười phương ba đời, đều nương vào tạng pháp vô tận ấy mà tinh tấn tu học; đã chứng, đang chứng và sẽ chứng quả vị Giác ngộ cao tột; đã nhập, đang nhập và sẽ nhập Vô dư Niết-bàn.
Này Khánh Hỷ, giả sử ông vì các hàng Thanh văn thừa mà nói pháp Thanh văn, do pháp này nên tất cả hữu tình ở thế giới ba lần ngàn đều đắc quả A-la-hán, thì như vậy là chưa vì Ta mà làm việc của đệ tử; đối với việc làm này của ông, Ta chưa thật tùy hỷ. Nếu ông có thể vì hàng Bồ-tát mà tuyên thuyết một câu pháp tương ưng với Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì đó mới gọi là vì Ta làm việc làm của đệ tử, Ta đối với việc làm này rất tùy hỷ.
Khánh Hỷ, giả sử tất cả hữu tình ở thế giới ba lần ngàn đồng một lúc chứng đắc quả A-la-hán, sự thành tựu các việc phước nghiệp từ thuộc tính của thí, giới, tu kia, thì theo ý ông thế nào? Có nhiều không?
Khánh Hỷ thưa:
–Kính bạch Thế Tôn, rất nhiều!
Phật bảo Khánh Hỷ:
–Nếu có Thanh văn có thể vì Bồ-tát mà tuyên thuyết pháp
tương ưng với Bát-nhã ba-la-mật-đa, lần lượt trải qua một ngày đêm, thậm chí trải qua khoảng khảy móng tay, thì vị Thanh văn này đạt được lượng phước càng nhiều hơn trước. Vì sao? Vì vị Thanh văn này đạt được lượng phước vượt hơn tất cả các căn lành của Thanh văn, Độc giác.
Khánh Hỷ, nếu có Bồ-tát vì Thanh văn thuyết pháp Thanh văn; giả sử tất cả hữu tình ở thế giới ba lần ngàn, do pháp này đều chứng quả A-la-hán, theo ý ông thế nào? Bồ-tát đó có đạt được phước có nhiều không?
Khánh Hỷ đáp:
–Kính bạch Thế Tôn, rất nhiều!
Phật bảo Khánh Hỷ:
–Nếu có Bồ-tát vì các hữu tình, tuyên thuyết pháp tương ưng với Bát-nhã ba-la-mật-đa, lần lượt trải qua một ngày đêm, thậm chí chỉ trải qua khoảng khảy móng tay; Bồ-tát đó đã đạt được lượng phước càng nhiều hơn trước. Vì sao? Vì pháp thí tương ưng với Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, vượt hơn tất cả pháp thí tương ưng với Thanh văn, Độc giác và các căn lành của hai thừa kia.
Khánh Hỷ nên biết, nếu các Bồ-tát thành tựu việc nhớ Nghĩ căn lành như thế, mà lại thoái lui nơi quả vị Giác ngộ cao tột thì không có lẽ đó.
Phẩm 24: THẤY PHẬT BẤT ĐỘNG
Bấy giờ Như Lai có bốn chúng vây quanh, khen ngợi Bát-nhã ba-la-mật-đa, giao phó, dạy bảo A-nan-đà thọ trì xong; lại đối với tất cả Bí-sô, Bí-sô-ni, Ô-ba-sách-ca, Ô-ba-tư-ca, Trời, Rồng, Dược-xoa, Kiền-đạt-phược… giữa hội đại chúng, bằng năng lực thần thông; làm cho đại chúng đều thấy Như Lai Bất Động Ứng Chánh Đẳng Giác với đại chúng Thanh văn, Bồ-tát vây quanh, tuyên thuyết chánh pháp cho đại hội như biển lớn chẳng động và thấy tướng nghiêm tịnh của cõi kia. Thanh văn Tăng cõi đó đều là A-la-hán, các lậu đã sạch, không còn phiền não, được chân thật tự tại, tâm lành giải thoát hoàn toàn, tuệ lành giải thoát hoàn toàn, như ngựa khôn được điêu luyện; cũng như
rồng lớn, việc đáng làm đã làm xong, đã vứt bỏ gánh nặng, đạt được lợi ích cho chính mình, dứt các kết sử, chánh trí giải thoát, đạt đến tâm tự tại rốt ráo đệ nhất.
Bồ-tát Tăng ở cõi đó, tất cả đều là những vị mà mọi người đều biết. Các ngài đã đắc Đà-la-ni và vô ngại biện, thành tựu vô lượng công đức vi diệu chẳng thể Nghĩ bàn, chẳng thể đo lường.
Phật thu hồi thần lực, làm cho bốn chúng, Trời, Rồng, Dược-xoa, Kiền-đạt-phược… này, chẳng còn thấy Như Lai Bất Động Ứng Chánh Đẳng Giác, Thanh văn, Bồ-tát và đại chúng khác cùng tướng trang nghiêm thanh tịnh của cõi Phật kia. Chúng hội và cõi trang nghiêm thanh tịnh của Phật kia đều chẳng phải là đối tượng mà nhãn căn ở cõi này thấy tới được. Vì sao? Vì Phật thu hồi thần lực nên không thể thấy được cảnh ở xa kia.
Bấy giờ, Phật bảo A-nan-đà:
–Ông có còn thấy cõi nước và chúng hội của Như Lai Bất Động Ứng Chánh Đẳng Giác không?
A-nan-đà thưa:
–Con chẳng còn thấy những việc đó, vì chẳng phải cảnh giới mắt này đạt tới.
Phật bảo A-nan-đà:
–Như chúng hội và cõi nước của Như Lai kia, chẳng phải là cảnh giới mà mắt ở cõi này đạt tới; nên biết các pháp cũng như thế, chẳng phải cảnh giới mà nhãn căn… đạt tới được.
Khánh Hỷ nên biết, vì pháp chẳng hành pháp, pháp chẳng thấy pháp, pháp chẳng biết pháp, pháp chẳng chứng pháp.
Khánh Hỷ nên biết, tất cả pháp tánh không thể hành, không thể thấy, không thể biết, không thể chứng, không hành động, không tạo tác. Vì sao? Vì tất cả pháp đều không tác dụng. Người chấp giữ, pháp chấp giữ đều như hư không, vì tánh xa lìa vậy; vì tất cả pháp chẳng thể Nghĩ bàn, người, pháp Nghĩ bàn đều như người do biến hóa, vì tánh xa lìa vậy; vì tất cả pháp không tạo tác, không lãnh thọ, như bóng sáng… chẳng chắc thật vậy.
Khánh Hỷ nên biết, nếu các Bồ-tát thường tu hành như thế thì gọi là tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, không chấp trước tướng các pháp. Nếu các Bồ-tát thường học như thế thì gọi là học Bát-nhã ba-la-mật-
đa. Đối với tất cả pháp không giữ, không bỏ.
Khánh Hỷ nên biết, nếu các Bồ-tát muốn được mau chóng viên mãn tất cả Ba-la-mật-đa, đạt rốt ráo tất cả pháp để đến bờ kia; thì nên học Bát-nhã ba-la-mật-đa. Vì sao? Vì người học như thế đối với các pháp học nó là cao tột, là hơn hết, là tôn quý, là cao cả, là tốt đẹp, là nhiệm mầu, là trên hết, là không có gì hơn, lợi ích an lạc cho tất cả thế gian.
Khánh Hỷ nên biết, nếu các Bồ-tát có thể học như thế; tức là làm nơi nương tựa, giúp đỡ cho người không có nơi nương tựa, giúp đỡ; chư Phật Thế Tôn luôn chấp nhận, khen ngợi sự tu học Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Khánh Hỷ nên biết, chư Phật, Bồ-tát học pháp học này xong, an trụ trong đó; có thể dùng ngón tay phải hoặc ngón chân phải nhấc thế giới ba lần ngàn ném qua phương khác, hoặc trả lại chỗ cũ; mà hữu tình trong đó chẳng hay, chẳng biết, không tổn hại, không sợ hãi. Vì sao? Vì công đức oai lực của Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa chẳng thể Nghĩ bàn. Chư Phật và các Bồ-tát quá khứ, vị lai, hiện tại học Bát-nhã ba-la-mật-đa này, nên đối với việc đi lại, hôm nay và pháp vô vi tất cả đều đạt được tri kiến vô ngại.
Thế nên, này Khánh Hỷ, Ta bảo: Thường nên học Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, vì trong các pháp học nó là cao tột, là hơn hết, là tôn quý, là cao cả, là tốt đẹp, là nhiệm mầu, là trên hết, là không có gì hơn được.
Khánh Hỷ nên biết, có người muốn nắm lấy lượng và biên giới của Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thì cũng giống như kẻ ngu si muốn nắm lấy lượng và biên giới của hư không. Vì sao? Vì công đức của Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa không lượng, không biên giới vậy.
Khánh Hỷ nên biết, Ta hoàn toàn chẳng nói Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa như danh, thân… có biên giới, có hạn lượng. Vì sao? Vì danh, cú, văn, thân là pháp có hạn lượng; còn công đức lợi ích thù thắng của Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa là pháp chẳng có hạn lượng. Chẳng phải các việc danh, thân… có thể lường được công đức lợi ích thù thắng của Bát-nhã ba-la-mật-đa. Cũng chẳng phải công đức lợi ích thù thắng của Bát-nhã ba-la-mật-đa là đối tượng suy lường của những thứ kia.
Cụ thọ Khánh Hỷ bạch Phật:
–Vì nhân duyên nào, nói Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa là vô lượng?
Phật bảo Khánh Hỷ:
–Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa vì tánh là vô tận, vì tánh là xa lìa nên nói là vô lượng.
Khánh Hỷ nên biết, chư Phật ba đời đều học Bát-nhã ba-la-mật-đa, chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột rốt ráo và viên mãn; Rồi tuyên thuyết chỉ dạy cho các hữu tình, mà Bát-nhã ba-la-mật-đa này vẫn thường còn, không mất hết. Vì sao? Vì Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa như hư không, rộng lớn chẳng thể cùng tận vậy. Nếu có người muốn Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa cùng tận tức là muốn biên giới của hư không cũng cùng tận.
Thế nên, này Khánh Hỷ, Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa vì thế nói là vô tận. Do vô tận nên nói là vô lượng.
Bấy giờ Thiện Hiện Nghĩ: “Chỗ này sâu xa, ta nên thưa hỏi Phật.” Nghĩ như vậy xong, bạch Phật:
–Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, vì lẽ gì Như Lai dạy là không cùng tận?
Phật bảo Thiện Hiện:
–Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa do giống như hư không, nên chẳng thể cùng tận.
Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:
–Bồ-tát làm thế nào để phát khởi Bát-nhã ba-la-mật-đa?
Phật bảo Thiện Hiện:
–Các chúng Bồ-tát nên quán các pháp sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều vô tận, để phát khởi Bát-nhã ba-la-mật-đa. Nên quán vô minh cho đến lão tử đều vô tận, để phát khởi Bát-nhã ba-la-mật-đa. Như vậy, này Thiện Hiện, các chúng Bồ-tát nên làm như thế để phát khởi Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Hiện nên biết, các chúng Bồ-tát quán sát mười hai duyên khởi, xa lìa hai bên như thế; quán sát mười hai duyên khởi không chính giữa, không chung quanh như thế, đó là diệu quán bất cộng của các Bồ-tát. Nghĩa là cần phải an tọa tòa Bồ-đề vi diệu, mới có thể quán sát đúng đắn mười hai duyên khởi lý thú sâu xa như hư không
rộng lớn chẳng thể cùng tận, được vậy mới có thể chứng đắc trí Nhất thiết trí.
Thiện Hiện nên biết, nếu Đại Bồ-tát đem hành tướng như hư không vô tận mà hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, quán sát đúng đắn mười hai duyên khởi, chẳng rơi vào địa vị Thanh văn và Độc giác, mau chứng quả vị Giác ngộ cao tột.
Thiện Hiện nên biết, các chúng Bồ-tát nào mà thoái chuyển quả vị Giác ngộ cao tột là đều do chẳng nương vào tác ý phương tiện thiện xảo như thế. Các chúng Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, mà chẳng hiểu biết đúng thì nên dùng hành tướng vô tận nào để phát khởi Bát-nhã ba-la-mật-đa, để quán sát đúng đắn mười hai duyên khởi?
Thiện Hiện nên biết, các chúng Bồ-tát, nếu thoái chuyển quả vị Giác ngộ cao tột thì đều do xa lìa phát khởi phương tiện thiện xảo của Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Hiện nên biết, các chúng Bồ-tát nếu chẳng thoái chuyển quả vị Giác ngộ cao tột, thì tất cả đều do nương vào phương tiện thiện xảo của Bát-nhã ba-la-mật-đa mà phát khởi. Các Bồ-tát ấy nhờ nương vào phương tiện thiện xảo như thế để hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa; dùng hành tướng như hư không vô tận, để quán sát đúng đắn mười hai duyên khởi. Khi quán sát pháp duyên khởi như thế; chẳng thấy có một pháp nào là do nhân mà sinh; chẳng thấy có một pháp nào tánh tướng thường trụ; chẳng thấy có một pháp nào có người tạo tác và lãnh thọ. Các Bồ-tát này hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, đã dùng hành tướng như hư không vô tận để quán sát đúng như thật mười hai duyên khởi mà phát khởi Bát-nhã ba-la-mật-đa, nên có thể mau chứng đắc trí Nhất thiết trí.
Thiện Hiện nên biết, nếu khi Bồ-tát quán sát đúng như thật mười hai duyên khởi, phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, thì bấy giờ Bồ-tát hoàn toàn chẳng thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức; chẳng thấy thế giới của Phật này, chẳng thấy thế giới của Phật kia, chẳng thấy có pháp để có thể thấy thế giới của chư Phật này, chư Phật kia.
Nếu các Bồ-tát có thể hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa như thế, thì khi ấy ác ma rất là buồn khổ như trúng phải tên độc. Ví như có người cha mẹ chết mất, thân tâm buồn khổ, ác ma cũng như thế.
Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:
–Chỉ có một ác ma, thấy các Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, sinh rất buồn khổ như trúng tên độc; hay là tất cả ác ma khắp thế giới ba lần ngàn cũng đều như thế?
Phật bảo Thiện Hiện:
–Tất cả ác ma đầy khắp thế giới ba lần ngàn, thấy các Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa đều rất lo buồn như trúng tên độc, mỗi người chẳng thấy yên ổn ngay chỗ ngồi của mình. Vì sao? Vì nếu các Bồ-tát trụ Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa; Trời, Người, A-tố-lạc… ở thế gian nếu có xét tìm lỗi của vị đó đều chẳng thể được, nên chẳng thể làm rối loạn, thoái lui. Thế nên này Thiện Hiện, nếu các Bồ-tát muốn chứng quả vị Giác ngộ cao tột thì nên siêng năng an trú Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa. Nếu các Bồ-tát có thế siêng năng an trú Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thì có thể tu viên mãn Bố thí, Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự ba-la-mật-đa. Nếu các Bồ-tát có thể chính mình tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thì có thể tu hành viên mãn tất cả phương tiện thiện xảo Ba-la-mật-đa. Các việc ma phát sinh, đều có thể biết đúng như thật để xa lìa.
Thế nên này Thiện Hiện, nếu các Bồ-tát muốn chính mình thủ hộ phương tiện thiện xảo thì nên chính mình tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa.
Nếu khi Bồ-tát tu hành mà phát khởi Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì khi ấy có chư Phật Thế Tôn, ở vô lượng, vô biên các thế giới, sẽ cùng hộ niệm. Các Bồ-tát này nên Nghĩ: “Các Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác kia, cũng từ Bát-nhã ba-la-mật-đa sinh trí Nhất thiết.” Nghĩ như thế xong, nên suy Nghĩ tiếp: “Như các Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đã chứng đắc pháp, ta cũng sẽ chứng.”
Như vậy, này Thiện Hiện, nếu khi các Bồ-tát tu hành mà phát khởi Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, lại tư duy như thế, dù trải qua khoảng khảy móng tay thì lượng phước phát sinh sẽ hơn công đức đạt được về sự tu hành bố thí, trải qua số đại kiếp nhiều như cát sông Hằng, của các chúng Bồ-tát có sở đắc; huống chi có thể tư duy như thế trong một ngày hoặc nửa ngày! Các Bồ-tát ấy chẳng bao lâu, sẽ an trụ địa vị không thoái chuyển, thường được Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác cùng hộ niệm. Các chúng Bồ-tát này nếu được chư Phật hộ niệm,
thì nhất định chứng quả vị Giác ngộ cao tột, chẳng rơi vào địa vị Thanh văn, Độc giác… nhất định chẳng còn sinh vào các nẻo ác, sẽ sinh trong cõi trời, người; chẳng xa lìa chư Phật. Nếu khi các Bồ-tát tu hành mà phát khởi Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, lại nhớ Nghĩ tư duy công đức của chư Phật trải qua khoảng khảy móng tay, còn đạt được vô biên công đức lợi ích thù thắng; huống chi là trải qua một ngày hay hơn một ngày, tinh tấn dũng mãnh tu hành phát khởi Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, nhớ Nghĩ tư duy công đức của chư Phật, như các chúng Bồ-tát Hương Tượng… ở chỗ Phật Bất Động thường tu phạm hạnh, chẳng lìa Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Khi ấy, Đức Bạc-già-phạm thuyết kinh này xong, vô lượng chúng Đại Bồ-tát, Bồ-tát Từ Thị làm Thượng thủ, Cụ thọ Thiện Hiện, Xá-lợi Tử… các Đại Thanh văn và các Trời, Rồng, Kiền-đạt-phược… Tất cả đại chúng nghe Phật giảng đều rất vui mừng tín thọ, phụng hành.