KINH ĐẠI BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA
QUYỂN 570
Phẩm 7: BÌNH ĐẲNG
Bấy giờ Tối Thắng rời tòa đứng dậy lệch áo che vai trái, gối phải chấm đất, chắp tay cung kính bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã thuyết pháp tánh bình đẳng. Sao gọi là bình đẳng? Những pháp nào thì gọi là bình đẳng?
Phật bảo Tối Thắng:
–Thiên vương nên biết, bình đẳng quán tự tánh các pháp vốn tịch tĩnh, không sinh, không diệt nên gọi là bình đẳng. Tất cả phiền não, hư vọng phân biệt tự tánh tịch tĩnh, không sinh, không diệt nên gọi là bình đẳng. Danh tướng phân biệt tự tánh tịch tĩnh, không sinh, không diệt nên gọi là bình đẳng. Diệt các điên đảo, không có phan duyên gọi là bình đẳng. Diệt tâm năng duyên, vô minh, hữu, ái nên được tịch tĩnh. Vì diệt si ái nên không còn trở lại chấp trước ngã và ngã sở cho nên gọi là bình đẳng. Vì diệt sạch hoàn toàn ngã và ngã sở thì danh sắc tịch tĩnh nên gọi là bình đẳng. Vì diệt danh sách nên biên kiến không sinh gọi là bình đẳng. Vì diệt chấp đoạn, chấp thường nên thân kiến tịch tĩnh gọi là bình đẳng.
Thiên vương nên biết, năng chấp, sở chấp và tất cả phiền não làm chướng thiện pháp đều sinh ra từ thân kiến. Bồ-tát nào bằng phương tiện quyền xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa thì có năng lực diệt thân kiến, tất cả phiền não và tùy miên hoàn toàn tịch tĩnh sự mong cầu cũng chấm dứt. Thí như cây đại thọ bị nhổ gốc rễ thì nhánh, lá đều chết khô; như người đứt đầu thì cả thân mạng đều bị chết. Cũng vậy, nếu đoạn thân kiến thì tùy miên, phiền não đều diệt tận. Người nào quán được các pháp vô ngã thì người chấp và pháp để chấp bị diệt tận.
Khi ấy, Tối Thắng bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, vì sao ngã kiến làm chướng ngại chân lý?
Phật bảo Tối Thắng:
–Thiên vương nên biết, đối với năm thủ uẩn vọng chấp Nghĩa là có liền khởi ngã kiến. Pháp chân thật tự tánh bình đẳng là không có năng chấp và sở chấp, trái ngược với ngã kiến, cho nên gọi là không có năng chấp và sở chấp, cho nên gọi là chướng.
Thiên vương nên biết, như thế ngã kiến không ở trong, không ở ngoài, không ở giữa, hoàn toàn không có chỗ trụ nên gọi là tịch tĩnh tức là bình đẳng, xa lìa ngã kiến, thông suốt bình đẳng gọi là chân thật không. Quán sát Không, Vô tướng, Vô nguyện này tự tánh tịch tĩnh, không sinh, không diệt, không chấp chặt, không nhiễm trước, xa lìa ngã kiến nên gọi là bình đẳng.
Thiên vương nên biết, gọi là ngã thì không đến, không đi, không có chân thật. Pháp hư vọng phân biệt từ vọng sinh cũng là hư vọng. Bồ-tát nào bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa quán các pháp như thế, xa lìa hư vọng cho nên gọi là tịch tĩnh bình đẳng.
Thiên vương nên biết, năng chấp, sở chấp như lửa hừng cháy, nếu xa lìa gọi là tịch tĩnh. Các phiền não chướng cũng như lửa rực cháy, nếu xa lìa nó gọi là tịch tĩnh. Bồ-tát nào bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thì biết rõ như thật về năng chấp và sở chấp, diệt các phiền não gọi là tăng trưởng thiện pháp. Đoạn diệt năng chấp, sở chấp và các phiền não mà không thấy sinh, không thấy diệt nên gọi là bình đẳng. Tu tập tất cả các pháp Ba-la-mật-đa, xa lìa ma chướng mà không thấy có chỗ tu tập, không thấy xa lìa nên gọi là bình đẳng. Bồ-tát thường duyên theo pháp phần Bồ-đề nên không có ý niệm về Thanh văn, Độc giác không thấy tướng khác nên gõi là bình đẳng. Duyên với trí Nhất thiết tâm không dừng nghỉ, thường không hạnh, nhờ năng lực đại Bi không bỏ hữu tình nên gọi là bình đẳng.
Thiên vương nên biết, những Bồ-tát nào bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thì đối với các pháp, tâm duyên tự tại, tâm duyên vô tướng để tu Bồ-đề, mà không thấy vô tướng và Bồ-đề khác nhau. Tâm duyên vô nguyện không bỏ ba cõi, không thấy vô nguyện và ba cõi khác nhau nên gọi là bình đẳng. Quán thân bất
tịnh nhưng tâm trụ thanh tịnh; quán hành vô thường nên tâm duyên sinh tử mà không nhàm chán; quán khổ của hữu tình mà trụ Niết-bàn; quán pháp vô ngã nhưng an vui đối với các hữu tình luôn phát tâm đại Từ. Thường vì hữu tình nói thuốc bất tịnh, nên không bị bệnh tham; thường thuyết đại Từ bi nên không bị bệnh sân; thường thuyết duyên khởi nên không bị bệnh si. Vì kẻ đủ các bệnh trên thì nói thuốc vô thường mà không thấy vô thường và các bệnh khác nhau. Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa nên tâm duyên tự tại với tất cả các pháp, duyên pháp lìa tham để giáo hóa Thanh văn, duyên pháp lìa sân để giáo hóa Độc giác, duyên pháp lìa si, để giáo hóa Bồ-tát. Duyên tất cả sắc, nguyện đạt được diệu sắc thanh tịnh của Như Lai nhưng vô sở đắc. Duyên tất cả âm thanh, nguyện được âm thanh vi diệu của chư Phật nhưng vô sở đắc. Duyên tất cả hương, nguyện được giới hướng thanh tịnh của Như Lai nhưng vô sở đắc. Duyên tất cả vị, nguyện được tướng Đại trượng phu nhất trong mùi vị của Như Lai, nhưng vô sở đắc. Duyên tất cả xúc, nguyện được bàn tay mềm mại của Như Lai nhưng vô sở đắc. Duyên tất cả pháp, nguyện được tâm tịch tĩnh của Như Lai nhưng vô sở đắc. Duyên các việc Bố thí, vì muốn được thành tựu thân tướng tốt đẹp của Như Lai. Duyên Tịnh giới, vì muốn được cõi Phật viên mãn nghiêm tịnh. Duyên An nhẫn, nguyện được tiếng đại Phạm âm của chư Phật và thân tịnh quang minh của chư Phật. Duyên Tinh tấn, vì muốn độ hữu tình không bị gián đoạn. Duyên Tĩnh lự, vì muốn thành tựu thần thông quảng đại. Duyên Bát-nhã, vì muốn đoạn tất cả vọng kiến phiền não. Duyên đại Từ bình đẳng, vô ngại, vì muốn cho các hữu tình đều được an lạc. Duyên đại Bi, vì muốn hộ chánh pháp để cứu vớt hữu tình ra khỏi khổ sinh tử. Duyên đại Hỷ, vì muốn cho hữu tình được vui sướng nên thuyết pháp vô ngại tự tại. Duyên đại Xả, vì không chấp kiến phiền não tùy miên trói buộc hữu tình.
Thiên vương nên biết, những Bồ-tát nào bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thì không thấy hai việc gọi là bình đẳng hành. Duyên bốn Nhiếp pháp vì muốn giáo hóa hữu tình. Duyên với lỗi lầm của xan tham, tật đố vì muốn bỏ của cải để tu hành bố thí. Duyên với lỗi lầm của phá giới vì muốn trụ tịnh giới. Duyên lỗi lầm của sân hận vì muốn được an nhẫn. Duyên với lỗi lầm
của biếng nhác vì muốn thành tựu năng lực đại tinh tấn của Như Lai. Duyên với lỗi lầm của tánh loạn vì muốn được Thắng định tịch tĩnh của Như Lai. Duyên với sai lầm của ác tuệ vì muốn thành tựu trí tuệ vô ngại của Như Lai. Duyên pháp Nhị thừa vì muốn thành tựu Đại thừa vô thượng. Duyên các cảnh giới ác vì muốn cứu vớt tất cả hữu tình. Duyên các cảnh giới thiện vì muốn biết rõ quả báo trời, người đều phải bại hoại. Duyên các hữu tình vì muốn rõ tất cả chỉ là hư vọng, không có bền chắc. Duyên tùy niệm Phật vì muốn được thành tựu Thắng định trợ đạo. Duyên tùy niệm Pháp vì muốn thông suốt các tạng pháp bí mật. Duyên tùy niệm Tăng vì muốn chúng hòa hợp tâm không thoái chuyển. Duyên tùy niệm xả vì không ái trước. Duyên tùy niệm giới vì được tịnh giới. Duyên tùy niệm thiên vì thành Bồ-đề được chư Thiên tán thán. Duyên thân tướng của chính mình vì muốn được thân Phật. Duyên ngữ tướng của chính mình nên được Phật ngữ. Duyên ý tướng của chính mình vì muốn được tâm bình đẳng của chư Phật. Duyên pháp hữu vi vì thành Phật trí. Duyên pháp vô vi vì được tịch tĩnh.
Thiên vương nên biết, Bồ-tát nào bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa không có bỏ qua một tâm, một hành nào mà không hồi hướng đến trí Nhất thiết. Đó là Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, tuy có duyên các pháp rộng khắp nhưng không chấp trước nên gọi là phương tiện thiện xảo. Quán các pháp đều là nơi hướng đến đạo Bồ-đề. Thí như các vật được sinh ra trong ba ngàn thế giới để cho các hữu tình sử dụng. Cảnh giới sở duyên bằng phương tiện thiện xảo khi Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa như vậy đều vì sự lợi ích hướng đến Bồ-đề. Thí như các sắc đều được sinh ra từ tứ đại chủng. Cảnh giới sở duyên của Bồ-tát như vậy không có một pháp nào mà không hướng đến Bồ-đề. Vì sao? Vì sự tu hành của Bồ-tát đều nhờ các duyên bên ngoài mà được thành lập. Nghĩa là Bồ-tát nhờ kẻ xan tham, tật đố mà thành tựu Bố thí ba-la-mật-đa, nhờ kẻ bội ân mà thành tựu Tịnh giới ba-la-mật-đa, nhờ kẻ ác mà thành tựu An nhẫn ba-la-mật-đa, nhờ kẻ biếng nhác mà thành tựu Tinh tấn ba-la-mật-đa, nhờ kẻ tán loạn mà thành tựu Tĩnh lự ba-la-mật-đa, nhờ kẻ ngu si mà thành tựu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Những hữu tình nào làm tổn hại, não loạn Bồ-tát thì Bồ-tát nhờ họ mà chế
phục, diệt trừ sân giận. Nếu Bồ-tát thấy người tu hành thiện pháp hướng đến Bồ-đề thì xem như con mình. Bồ-tát như thế thì khen không mừng, chê không giận. Thấy kẻ không vui, Bồ-tát khởi tâm đại Từ, thấy kẻ đau khổ mà sinh tâm đại Bi, thấy kẻ vui sướng mà tâm đại Hỷ, thấy kẻ không khổ mà sinh tâm đại Xả. Nhờ kẻ khó giáo hóa mà tu pháp chỉ, thấy kẻ dễ giáo hóa mà tu pháp quán, nhờ kẻ tín hành mà sinh trí tri ân. Hữu tình nào duyên ác bên ngoài nhiều, duyên thiện bên ngoài ít thì siêng năng bảo hộ. Nếu người nhờ vào năng lực mà cương cường thì dùng mọi phương tiện giáo hóa để cho họ lãnh thọ giáo pháp. Nếu thấy hữu tình trí tuệ đã khai ngộ thì tuyên thuyết pháp yếu sâu xa. Nếu thấy hữu tình cần phải nói rộng mới ngộ thì phải lần lượt tuyên thuyết các pháp. Nếu thấy hữu tình chấp trước văn tự thì thuyết văn Nghĩa cho họ được thông hiểu. Nếu đã học pháp chỉ thì thuyết diệu quán. Nếu đã học pháp quán thì thuyết tịch chỉ. Nếu chấp trì giới thì thuyết về địa ngục. Trì giới không chấp thì không có gì để thuyết. Nếu chấp văn tuệ thì thuyết về tứ tuệ. Nếu chấp Đẳng trì thì thuyết Bát-nhã. Nếu người thích ở A-lan-nhã thì thuyết pháp lìa tâm. Nếu người ưa nghe nói về công đức của Phật thì vì họ mà thuyết Thánh trí vô thượng. Vì kẻ tham dục thuyết pháp bất tịnh, vì kẻ sân hận thuyết pháp Từ bi, vì kẻ ngu si thuyết pháp duyên khởi, vì kẻ đủ cả ba phần trên thuyết pháp bất tịnh, hoặc thuyết pháp Từ bi, hoặc thuyết pháp duyên khởi. Kẻ đã điều phục thì thuyết tịnh giới, thắng định, trí tuệ. Người muốn nhập vào Phật thừa mới chịu sự giáo hóa thì thứ lớp thuyết Ba-la-mật-đa. Người phải khống chế mới chịu thọ giáo thì trước hết bẻ gãy lý luận sau đó mới thuyết pháp. Người muốn dùng nhiều lời lẽ mới chịu thọ giáo thì nên vì họ mà thuyết về nhân duyên, thí dụ làm cho họ được khai ngộ. Người cần dùng pháp sâu xa mới chịu thọ giáo thì nên vì họ mà dùng phương tiện thiện xảo, vô ngã, vô pháp để thuyết về Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa. Người có chấp trước các kiến thì thuyết pháp Không. Người nhiều tầm tứ thì thuyết Vô tướng. Người chấp trước hữu vi thì thuyết Vô nguyện. Người chấp trước các uẩn thì thuyết pháp như huyễn. Người chấp trước các giới thì thuyết không tánh. Người chấp trước xứ thì thuyết pháp như mộng. Người chấp trước Dục giới thì thuyết về lửa thiêu đốt. Người chấp trước Sắc giới thì thuyết về hành khổ. Người chấp trước Vô sắc giới thì thuyết về các hành vô
thường. Hữu tình khó giáo hóa thì tán thán về Thánh chủng. Hữu tình dễ giáo hóa thì thuyết về Tĩnh lự và Vô lượng tâm. Người nghe sinh lên cõi trời mới chịu thọ giáo thì thuyết khoái lạc. Người nghe pháp Thanh văn mới chịu thọ giáo thì thuyết Thánh đế. Người nghe pháp Độc giác mới chịu thọ giáo thì thuyết Duyên khởi. Người nghe pháp Bồ-tát mới chịu thọ giáo thì thuyết Tịnh tâm. Bồ-tát tu hành pháp đại Từ bi thì thuyết Phước tuệ. Bồ-tát không thoái chuyển thì thuyết Tịnh độ. Bồ-tát Nhất sinh bổ xứ thì thuyết trang nghiêm tòa Bồ-đề. Người cần nghe lời Phật thuyết thì mới chịu thọ giáo nên vì họ mà thuyết thứ lớp liên tục.
Thiên vương nên biết, những Đại Bồ-tát này bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thanh tịnh, được tự tại, thuyết pháp lợi ích không có vô ích.
Khi thuyết pháp tự tại của Bồ-tát có ba vạn trời, người đều phát tâm cầu quả vị Giác ngộ cao tột, năm ngàn Bồ-tát được Vô sinh pháp nhẫn.
Bấy giờ Thế Tôn liền mỉm cười. Theo thường pháp của chư Phật khi mỉm cười như vậy thì vô số hào quang từ mặt phóng ra đủ màu: xanh, vàng, đỏ, tía, pha lê… chiếu khắp mười phương đến vô biên thế giới, hiện việc hy hữu rồi trở về chỗ Phật, nhiễu quanh ba vòng xong nhập và đỉnh Phật.
Khi ấy, Xá-lợi Tử thấy tướng lành ấy sinh tâm do dự, rời tòa đứng dậy, trệch áo che vai trái, gối phải chấm đất, cung kính chắp tay bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, vì nhân duyên gì Ngài hiện tướng lành này?
Khi ấy, Thế Tôn bảo Xá-lợi Tử:
–Trời Tối Thắng này trong vô lượng, vô biên đại kiếp về quá khứ đã từng ở chỗ chư Phật tu tất cả hạnh Ba-la-mật-đa, vì các Bồ-tát mà thủ hộ Bát-nhã ba-la-mật-đa. Do nhân duyên đó mà nay được gặp ta thưa hỏi lãnh thọ Bát-nhã ba-la-mật-đa. Ở đời vị lai phải trải qua vô lượng, vô biên đại kiếp tu tập Vô thượng Bồ-đề để làm tư lương, sau đó chứng đắc điều mong cầu là quả vị Giác ngộ cao tột, đầy đủ mười hiệu. Đức Phật ấy tên là Công Đức Trang Nghiêm, cõi nước tên Tối cực nghiêm tịnh, kiếp tên là Thanh tịnh. Cõi ấy giàu vui, dân chúng phồn thịnh, thuần nhất Bồ-tát Tăng không có chúng Thanh
văn. Mặt đất cõi ấy do bảy báu hợp thành, các báu trang nghiêm, bằng phẳng như bàn tay. Cõi đó được trang sức bằng hương hoa cỏ mềm, không có núi, gò, đồi, chông gai; có tràng phan, lọng hoa và nhiều loại trang nghiêm, có đô thành lớn tên là Nan phục, có lưới bảy báu giăng phủ ở trên, dùng dây bằng vàng giăng bủa với nhau, được treo chuông vàng ở các góc. Ngày đêm sáu thời trên bầu trời tấu nhạc và rải các thứ hương hoa trời tuyệt diệu. Cõi ấy dân chúng sung sướng an vui tuyệt diệu hơn cả cung trời Tha hóa, người, trời qua lại không có ngăn ngại không có ba cõi ác và tên gọi Nhị thừa. Hữu tình ở cõi ấy chỉ cầu Phật trí. Phật ấy thường tuyên thuyết pháp yếu thanh tịnh cho các Bồ-tát. Vô lượng, vô biên quyến thuộc Bồ-tát không chấp, không tà kiến, tà mạng và không phá giới; không có kẻ mù, điếc, câm, ngọng, gù lưng, các căn thiếu khuyết hay các việc ác… Người ở cõi ấy có đủ ba mươi hai tướng tốt trang nghiêm thân tướng Như Lai cõi ấy thọ tám tiểu kiếp, trong chúng trời, người không có kẻ chết yểu. Đức Phật ấy có vô lượng công đức như thế. Nếu muốn thuyết pháp thì trước tiên phóng ánh sáng, các chúng Bồ-tát thấy ánh sáng ấy thì biết được Thế Tôn sắp thuyết pháp, chúng ta hãy đến nghe.
Khi ấy, trời trải tòa Sư tử cho Phật cao rộng trăm do-tuần, đem nhiều loại xinh đẹp để cúng dường bằng nhiều cách. Đức Thế Tôn thăng tòa thuyết pháp cho chúng hội. Các Bồ-tát ấy lợi căn thông minh nghe xong lãnh ngộ, xa lìa ngã và ngã sở, đồ dùng ăn uống tùy theo ý niệm đều có.
Khi Phật thuyết pháp thọ ký cho Tối Thắng, có năm vạn chư Thiên đều hoan hỷ phát tâm cầu quả vị Giác ngộ cao tột, nguyện đời vị lai sinh về cõi ấy.
Bấy giờ, Tối Thắng nghe lời Phật dạy vui mừng hớn hở được điều chưa từng có, liền bay lên hư không cao bằng bảy cây Đa-la. Khi ấy thế giới ba lần ngàn biến động sáu cách. Các thứ âm nhạc trời tự nhiên vang lên, vô lượng hoa trời được tung rải cúng dường Phật và Bồ-tát Tối Thắng Thiên vương. Khi ấy Thiên vương ở cõi kia từ trên không xuống lễ Phật sát đất rồi lui ngồi một phía.
Phẩm 8: HIỆN TƯỚNG
Khi ấy, Xá-lợi Tử hỏi Tối Thắng:
–Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thông đạt pháp tánh, lúc ấy liền ngồi tòa Bồ-đề, chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột, chuyển pháp luân vi diệu độ chúng hữu tình. Vì nhân duyên vì trước tiên lại hiện sáu năm khổ hạnh, nhiếp phục Thiên ma sau đó mới thành Chánh giác?
Tối Thắng trả lời:
–Đại đức nên biết, Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thông đạt pháp tánh thật không cần khổ hạnh, chỉ vì điều phục ngoại đạo nên mới thị hiện khổ hạnh mà Thiên ma kia là chủ cõi Dục, bẩm tánh hiền thiện không nên phá hoại và vì giáo hóa hữu tình khác nên thị hiện điều phục ma. Nghĩa là, bọn ngoại đạo tự xưng có khả năng tu khổ hạnh đệ nhất, cho nên Bồ-tát thị hiện khả năng tu khổ hạnh vượt bậc hơn sự khổ hạnh kia. Nghĩa là các hữu tình hoặc thấy Bồ-tát đứng co một chân, hoặc thấy Bồ-tát đứng bằng hai tay, hoặc thấy Bồ-tát đứng nhìn mặt trời, hoặc thấy Bồ-tát dùng lửa đốt cháy thân, hoặc thấy Bồ-tát treo ngược thân, hoặc thấy Bồ-tát nằm trên gai nhọn, hoặc nằm trên phân trâu, hoặc nằm trên đá, hoặc nằm trên đất, hoặc nằm trên ván mỏng, hoặc nằm trên cái chày, hoặc nằm trên tro, hoặc thấy Bồ-tát chỉ mặc áo mỏng, hoặc mặc áo gai, hoặc mặc áo cỏ, hoặc mặc bằng vỏ cây, hoặc mặc áo cỏ tranh, hoặc trần truồng, hoặc mặt hướng về mặt trời và di chuyển theo mặt trời; hoặc thấy Bồ-tát chỉ ăn hạt lúa cỏ, hoặc ăn lúa mì, hoặc ăn rễ cây, hoặc ăn lá cây, hoặc hoa hoặc trái, hoặc ăn khoai mài, hoặc cây khoai lang, hoặc ăn ngó sen, hoặc đậu, hoặc lúa, hoặc vừng, hoặc gạo, hoặc sáu ngày ăn một bữa, hoặc uống nước qua ngày, hoặc trong một ngày dùng một giọt váng sữa, một giọt mật, hoặc một giọt sữa, hoặc không ăn gì cả, hoặc thường ngủ mê. Như vậy trải qua sáu năm Bồ-tát đã thị hiện các việc khổ hạnh không còn thiếu sĩt một việc nào. Bồ-tát không quan tâm đến khổ hạnh nhưng vì độ hữu tình nên mới thấy có Bồ-tát thị hiện khổ hạnh như vậy.
Lúc ấy, có sáu mươi muôn ức chư Thiên do thấy việc này mà được an trụ nơi ba thừa.
Lại có chư Thiên nhờ năng lực căn lành đời trước ưa nghe pháp Đại thừa liền thấy Bồ-tát ngồi trên đài bảy báu, thân tâm bất động, mỉm cười nhập định Thắng đẳng trì, trải qua sáu năm mới ra khỏi định.
Có chư Thiên rất muốn nghe người thuyết pháp Đại thừa liền thấy Bồ-tát đoan chánh ngồi thuyết pháp trong vòng sáu năm.
Đại đức nên biết, như vậy Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, có năng lực điều phục Thiên ma và ngoại đạo, dùng năng lực đại Bi giáo hóa tất cả hữu tình. Bồ-tát nhập định trải qua sáu năm mới ra khỏi định tùy thuận pháp thế gian, đi đến sông Vô cấu tắm rửa xong rồi đứng bên bờ sông. Lúc ấy, có nàng chăn bò vắt sữa một trăm con bò cho một con bò uống. Nàng dùng sữa của con bò này để làm cháo sữa dâng cúng Bồ-tát. Lại có sáu ức Trời, Rồng, Dược-xoa, Càn-thát-bà… mỗi mỗi đều đem đến các thức ăn uống thơm ngon để cúng dường và cùng nhau thưa rằng:
–Cúi xin bậc Đại sĩ Chánh sĩ thọ nhận thức ăn uống của chúng tôi cúng dường.
Bồ-tát vì thương xót họ nên đều thọ nhận. Khi ấy người chăn bò, Trời, Rồng, Dược-xoa, Càn-thát-bà… không thể thấy nhau nhưng đều thấy Bồ-tát chỉ thọ vật cúng dường của mình. Bấy giờ, có vô lượng chư Thiên do thấy việc thọ nhận cúng dường này đều được ngộ đạo cho nên Bồ-tát vì họ mà thị hiện. Thật ra Bồ-tát không tắm rửa cũng không thọ nhận vật cúng dường của họ. Đại đức nên biết, Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thị hiện đi đến tòa Bồ-đề.
Lúc ấy, ở Địa cư thiên gọi là Diệu Địa cùng chúng Thiên thần quét dọn khắp nơi, rảy nước hương và rải hoa đẹp. Trong ban ngàn đại thiên thế giới Tứ đại Thiên vương lãnh đạo Thiên chúng mình mưa hoa trời vi diệu cúng dường Bồ-tát. Chủ cõi Thiên đế Thích phân bố Thiên vương lãnh đạo Thiên chúng của mình trụ giữa hư không tấu lên nhạc trời tán thán Bồ-tát. Hỷ Túc Thiên vương lãnh đạo Thiên chúng của mình cầm lưới bảy báu giăng che thế giới; ở bốn góc lưới treo chuông linh bằng vàng; khắp nơi đều mưa vô lượng báu cúng dường Bồ-tát. Thiện Hóa Thiên vương lãnh đạo Thiên chúng của mình, đem lưới vàng tía bày giăng che thế giới, trổi lên vô số nhạc trời, mưa vô lượng
hoa cúng dường Bồ-tát. Tự Tại Thiên vương lãnh đạo Thiên chúng của mình, các loài Rồng, Dược-xoa, Càn-thát-bà… đều đem các thứ cúng dường thượng diệu để cúng dường Bồ-tát. Đại phạm Thiên vương chủ ở thế giới Kham nhẫn đã thấy Bồ-tát đến tòa Bồ-đề liền bảo tất cả chúng Phạm thiên:
–Các ông nên biết, nay Bồ-tát này đã tự trang sức bằng áo mũ kiên cố, không trái bản nguyện, tâm không nhàm chán, đầy đủ các hạnh, thông đạt vô lượng pháp giáo hóa hữu tình. Các Bồ-tát đều được tự tại, đối với hữu tình tâm luôn thanh tịnh, biết rõ căn tánh sai biệt của chúng sinh, thông đạt mật tạng thậm thâm của Như Lai, vượt hơn tất cả sự nghiệp hiểu biết của ma, huân tập các việc lành vốn có chứ không chờ đợi duyên bên ngoài, được tất cả Như Lai hộ niệm, mở cửa giải thoát cho tất cả chúng sinh, là vị Đại tướng Đạo sư dẹp quân địch ma. Ở đại thiên thế giới chỉ một mình Ngài được xưng là bậc Dũng mãnh. Là vị Đại y vương giỏi bố thí thuốc pháp, nhận lãnh ngôi vị Pháp vương làm pháp quán đảnh giải thoát, phóng ánh sáng trí tuệ chiếu soi tất cả, không nhiễm tám loại gió, giống như hoa sen, thông đạt tất cả pháp môn tổng trì một cách sâu rộng khó lường như biển cả, kiên cố bất động như núi Diệu cao. Trí tuệ thanh tịnh không có vẩn đục, trong ngoài sáng sạch như ngọc ma-ni. Đối với các pháp tướng đều được tự tại, phạm hạnh thanh bạch đến chỗ cứu cánh. Như vậy, vì độ hữu tình nên Bồ-tát dùng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa đi đến tòa Bồ-đề, ngồi kiết già, nhiếp phục ma oán.
Vì muốn thành tựu mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, vô lượng, vô biên công đức chư Phật… nên Bồ-tát chuyển đại pháp luân, rống tiếng sư tử bố thí pháp cho tất cả hữu tình tùy theo khả năng của họ đều được đầy đủ. Vì Pháp nhãn thanh tịnh của hữu tình nên Bồ-tát dùng pháp Vô thượng, nhiếp phục ngoại đạo, thị hiện bản nguyện thành tựu của chư Phật. Đối với các pháp đều được tự tại. Các ông nên đến cúng dường Bồ-tát.
Đại đức nên biết, như vậy, Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thị hiện đi đến tòa Bồ-đề.
Lúc ấy, tướng ngàn bánh xe ở dưới hai bàn chân phóng ra vô
lượng ánh sáng vi diệu chiếu khắp cõi giới địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Ở trong cõi ấy hữu tình nào nhận được ánh sáng này thì thân tâm an lạc, xa lìa khổ não.
Bấy giờ, ở trong long cung có Đại long vương tên Ca-lý-ca nhận được ánh sáng này rồi sinh lòng hoan hỷ bảo loài rồng:
–Ánh sáng vi diệu này chiếu đến chúng ta làm cho chúng ta đều được an vui. Ngày xưa ta đã từng gặp ánh sáng này thì lúc ấy có Như Lai xuất hiện ở đời. Nay đã có ánh sáng vi diệu này chắc chắn có Phật xuất hiện ở thế gian. Chúng ta nên sắm các thứ hương hoa, trân bảo vi diệu, tràng phan, bảo cái trổi lên âm nhạc đi đến cúng dường.
Lúc ấy, Long vương dẫn quyến thuộc đem đầy đủ các thứ cúng dường rồi nổi lên vầng mây lớn, mưa xuống vô lượng hương đi đến chỗ Bồ-tát, trổi âm nhạc, dâng vật cúng dường. Sau khi đi nhiễu phía bên phải quanh Bồ-tát, Long vương tán thán:
–Ánh sáng vi diệu chiếu soi làm cho chúng tôi được an lạc, chắc chắn có Phật Tối Thắng xuất hiện ở đời. Các thứ ngọc quý trang trí ở mặt đất, cỏ cây đều biến thành báu. Sông hồ đều lặng không có sóng gió, do đó biết được Phật xuất hiện ở đời. Ánh sáng mặt trời, mặt trăng, Phạm thiên, Đế Thích không hiện, cõi ác được thanh tịnh quyết chắc Phật xuất hiện ở đời. Thí như có người lúc nhỏ bị lạc cha mẹ đến khi lớn khôn bỗng nhiên được gặp lại, vui mừng nhảy nhĩt không thể kềm chế được.
Cũng vậy, tất cả thế gian thấy Phật xuất hiện đều rất hân hoan. Quá khứ chúng ta đã từng cúng dường chư Phật. Ngày nay được gặp Sư Tử Pháp Vương thì chúng ta sinh ra cũng không uổng phí. Đại đức nên biết, như vậy, Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa trải tòa cỏ ngồi dưới gốc cây Bồ-đề, đi quanh bên phải bảy vòng, ngồi ngay thẳng chánh niệm. Hữu tình thấp hèn thấy tướng như vậy, còn các Đại Bồ-tát thấy có tám vạn bốn ngàn Thiên tử đều riêng trải một tòa Sư tử lớn. Các tòa Sư tử đều do châu báu làm thành, có lưới bảy báu giăng phủ ở trên, được treo chuông vàng ở bốn góc, tràng phan, bảo cái la liệt khắp nơi.
Bồ-tát biến hiện an tọa trên tám vạn bốn ngàn tòa Sư tử mà các Thiên tử đều không thể thấy nhau nên họ Nghĩ rằng Bồ-tát chỉ ngồi trên tòa mình chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột, do đó sinh tâm hoan
hỷ đối với Vô thượng giác nên đều được không thoái chuyển.
Đại đức nên biết, Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thì tướng giữa hai lông mày phóng ánh sáng lớn chiếu khắp thế giới ba lần ngàn làm cho cung điện ma mất đi ánh sáng. Khi ấy, các ma vương đều Nghĩ rằng: “Do nhân duyên gì có ánh sáng này che mất ánh sáng của cung điện chúng ta, chẳng lẽ Bồ-tát ngồi tòa Bồ-đề sắp chứng Vô thượng Bồ-đề hay sao?” Nghĩ rồi cùng nhau quán thấy Bồ-tát ngồi trên tòa Kim cang dưới cây Bồ-đề. Thấy rồi kinh sợ liền triệu tập vô lượng trăm ngàn quân ma hình tướng khác nhau cầm nhiều binh khí, tràng phan, phát ra nhiều âm thanh làm cho người nào nghe thì các lỗ chân lông thảy đều chảy máu.
Lúc ấy, Bồ-tát dùng lực đại Bi làm mất âm thanh ấy. Đó là Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, nhớ Nghĩ vô lượng ức kiếp về quá khứ, siêng năng tu hành Bố thí, Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã, Từ, Bi, Hỷ, Xả, Niệm trụ, Chánh đoạn, Thần túc, Căn, Lực, Giác chi, Thánh đạo, Tịch chỉ, Diệu quán, tam Minh, tám Giải thoát đều được viên mãn. Nhớ rồi liền đưa bàn tay vàng rờ từ trên đỉnh đầu cho đến khắp thân, nói rằng:
–Ta muốn cứu vớt khổ não cho hữu tình nên khởi tâm đại Bi.
Lúc nghe tiếng nói của Bồ-tát, Ma vương và quyến thuộc đều lăn nhào nghiêng ngả.
Bấy giờ, Bồ-tát dùng lực đại Bi làm cho quân ma nghe tiếng nói ở giữa hư không:
–Các ông nên quy y Đại Tiên thì có thể ban cho sự vô úy và cứu hộ tất cả tịnh giới.
Nghe rồi, ma và quyến thuộc vẫn còn nằm trên mặt đất nói rằng:
–Xin nguyện Đại Tiên cứu hộ chúng tôi.
Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo nương vào Bát-nhã ba-la-mật-đa phóng ra ánh sáng lớn. Hữu tình nào nhận được ánh sáng đều không còn sự sợ hãi. Lúc thấy sự việc ấy ma và quyến thuộc vừa sợ hãi, vừa vui mừng.
Đại đức nên biết, Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa làm cho sự thấy biết của hữu tình khác nhau. Nghĩa là có hữu tình thấy Bồ-tát nhiếp phục ma quân, có hữu tình lại không thấy; hoặc thấy Bồ-tát chỉ ngồi trên tòa cỏ, hoặc thấy Bồ-tát
ngự trên đài Sư tử, hoặc thấy Bồ-tát ngồi trên mặt đất, hoặc thấy Bồ-tát ngồi trên tòa Sư tử ở giữa hư không. Thấy cây Bồ-đề tướng cũng sai khác, Nghĩa là hoặc thấy đó là cây Tát-bát-la, hoặc thấy là cây Thiên viên thải, hoặc thấy cây này do các báu hợp thành, hoặc thấy cây này cao bằng bảy cây Đa-la, hoặc thấy cây này khoảng tám vạn bốn ngàn do-tuần, có tòa Sư tử chừng bốn vạn hai ngàn do-tuần. Bồ-tát ngồi ở dưới gốc cây này, hoặc thấy Bồ-tát dạo chơi ở không trung, hoặc thấy ngồi dưới cây Bồ-đề. Như vậy Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thị hiện các loại thần thông biến hóa để độ hữu tình.
Đại đức nên biết, Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa ngồi tòa Bồ-đề, có vô lượng, vô số, vô biên hằng hà sa Bồ-tát ở khắp mười phương đều đến nhóm họp trụ giữ hư không, phát ra các thứ âm thanh an ủi Bồ-tát làm cho thân Bồ-tát an lạc, tâm sinh hoan hỷ.
Lành thay, Đại sĩ! Dũng mãnh tinh tấn thì mau chóng thành tựu điềm lành rộng lớn, tâm như Kim cang chớ sinh sợ hãi, thần thông du hý lợi ích hữu tình, có khả năng chỉ trong một sát-na là chứng trí Nhất thiết.
Bồ-tát như thế ngồi tòa Bồ-đề, ma đến quấy nhiễu đều không sân giận. Trong một sát-na tâm tương ưng với lý Bát-nhã ba-la-mật-đa hướng đến cứu cánh, thông đạt tất cả sở tri kiến.
Đại đức nên biết, Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa ngồi tòa Bồ-đề, có chư Phật ở khắp mười phương hằng hà sa thế giới đều cùng khen ngợi:
–Lành thay, lành thay! Đại sĩ mới có khả năng thông đạt Tự nhiên trí, Vô ngại trí, Bình đẳng trí, Vô sư trí, đại Bi trang nghiêm.
Đại đức nên biết, Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa có khả năng thị hiện các việc như thế. Các loài hữu tình hoặc thấy Bồ-tát ngày nay chứng đắc Bồ-đề, hoặc thấy Bồ-tát thành Phật đã lâu, hoặc có hữu tình chỉ thấy một thế giới, trong đó có Tứ đại Thiên vương đều cúng dường bình bát, hoặc thấy mười phương hằng hà sa thế giới Tứ đại Thiên vương đều cúng dường bình bát.
Khi ấy, Bồ-tát hữu tình nên nhận tất cả cái bát ấy chồng xấp
trong lòng bàn tay, dùng tay đè xuống tạo thành một cái bát. Các Tứ đại Thiên vương không thấy sự việc ấy, nên đều Nghĩ rằng: “Đức Thế Tôn chỉ nhận cái bát của mình.”
Lúc ấy, có sáu vạn Thiên tử nương vào nguyện lực ở đời trước đi đến cúng dường. Trong đời quá khứ họ đã nguyện rằng:
–Nếu Bồ-tát này khi mới thành Phật, nguyện Ngài thọ nhận sự cúng dường của chúng tôi đầu tiên.
Khi thuyết pháp như vậy có ba vạn Bồ-tát chứng đắc Vô sinh nhẫn, ba vạn sáu ngàn Bồ-tát đều ở trong quả vị Giác ngộ cao tột, được không thoái chuyển. Tám vạn trời, người xa lìa trần cấu xuất sinh Pháp nhãn thanh tịnh. Vô lượng, vô biên các loài hữu tình đều phát tâm cầu quả vị Giác ngộ cao tột.
Đại đức nên biết, Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo nương vào Bát-nhã ba-la-mật-đa sắp muốn thị hiện chuyển đại pháp luân, lúc ấy vị chủ thế giới Kham nhẫn nắm búi tóc của Phạm vương, đồng thời liền có sáu mươi tám vạn chúng Phạm thiên đi đến chỗ Phật đảnh lễ dưới chân Ngài, cung kính chắp tay đi nhiễu bên phải bảy vòng rồi ba lần thưa rằng:
–Xin nguyện Đấng Đại Bi! Thương xót chúng con, chuyển đại pháp luân. Xin nguyện Đấng Đại Bi! Thương xót chúng con, chuyển đại pháp luân. Xin nguyện Đấng Đại Bi! Thương xót chúng con, chuyển đại pháp luân.
Sau ba lần thỉnh như vậy rồi liền hóa thành tòa Sư tử lớn. Tòa ấy cao rộng bốn vạn hai ngàn do-tuần, các thứ trang trí kiên cố an ổn. Lúc ấy ở mười phương thế giới có vô lượng Thiên chủ Đế Thích đều trải tòa Sư tử cho Như Lai. Số lượng và sự trang nghiêm cũng lại như vậy.
Khi ấy, Bồ-tát thị hiện thần thông lực làm cho chư Thiên kia đều thấy Bồ-tát ngồi trên tòa ấy chuyển pháp luân, Bồ-tát đã ngồi trên tòa Sư tử liền nhập vào vô biên cảnh Tam-ma-địa, phóng ánh sáng lớn soi khắp mười phương hằng hà sa thế giới, lại làm cho thế giới kia chấn động bằng sáu cách. Trong đó có chúng hữu tình khổ não tạm dừng, thân tâm an lạc, cũng tạm xa lìa tham, sân, si và các pháp bất thiện… đem lòng Từ hướng đến với nhau giống như tình mẹ con.
Khi ấy, thế giới ba lần ngàn Trời, Rồng, Dược-xoa, Càn-thát-
bà, A-tố-lạc, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Mạc-hô-lạc-già, Nhân phi nhân… đầy dẫy trong ở đó, không còn một kẻ hở nào nhỏ như lỗ chân lông. Hữu tình nào nghe pháp khổ mà thọ giáo thì Phật nói khổ, muốn nghe pháp vô ngã, tịch tĩnh, xa lìa, vô thường, không, mà thọ giáo lại cũng như vậy.
Hữu tình nào muốn nghe như huyễn mà thọ giáo thì Phật thuyết pháp như huyễn, muốn nghe pháp như mộng, như tiếng vang, như bóng, như quáng nắng, như sự biến hóa, như thành Tầm hương, mà thọ giáo lại cũng như vậy.
Hữu tình nào muốn nghe pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện mà thọ giáo thì Phật thuyết pháp Không, Vô tướng, Vô nguyện.
Lúc ấy, có hữu tình nghe Như Lai thuyết các pháp từ nhân duyên sinh, hoặc nghe thuyết về uẩn, hoặc nghe thuyết về giới, hoặc nghe thuyết về xứ, hoặc nghe thuyết khổ, hoặc nghe thuyết tập, hoặc nghe thuyết diệt, hoặc nghe thuyết đạo.
Hoặc có hữu tình nghe thuyết Niệm trụ, Chánh đoạn, Thần túc, Căn, Lực, Giác chi, Thánh đạo. Hoặc có hữu tình nghe thuyết Tịch chỉ, Diệu quán.
Hoặc có hữu tình nghe thuyết pháp Thanh văn, hoặc có hữu tình nghe thuyết pháp Độc giác. Hoặc có hữu tình nghe thuyết pháp Bồ-tát.
Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thị hiện các tướng chuyển pháp luân như thế, tùy thuận theo căn tánh sai biệt của hữu tình đều được lợi lạc lớn tâm sinh hoan hỷ.
Bấy giờ, Xá-lợi Tử hỏi Tối Thắng:
–Thiên vương! Cảnh giới Bồ-tát dùng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa cực vi thậm thâm khó Nghĩ, khó bàn, khó hiểu biết, khó nhập vào.
Tối Thắng đáp
–Đại đức nên biết, Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa được vô lượng, vô biên công đức tối thắng. Lời nói của tôi ngày nay trong trăm phần, ngàn phần, cho đến vô số phần, chẳng được một phần. Chỉ có Như Lai mới thuyết hết được. Nay tôi có nói một chút phần kia là đều nương vào oai lực của Như Lai. Vì
vậy cho nên cảnh giới chư Phật không thể Nghĩ bàn. Nhất sinh bổ xứ Bồ-tát thuyết công đức ấy còn chưa cùng tận, huống nữa là các Bồ-tát khác.
Đại đức nên biết, cảnh giới chư Phật tịch tĩnh lìa sự nói năng, chỉ có Vô phân biệt trí và Hậu đắc trí mới hiểu rõ.
Đại đức nên biết, Đại Bồ-tát nào muốn chứng đạt cảnh giới chư Phật cần dùng phương tiện thiện xảo học Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa rốt ráo thông đạt Tam-ma-địa Kiện hành, Tam-ma-địa Như huyễn, Tam-ma-địa Kim cang dụ, Tam-ma-địa Kim cang luân, Tam-ma-địa Vô động tuệ, Tam-ma-địa Biến thông đạt, Tam-ma-địa Bất duyên cảnh giới, Tam-ma-địa Sư tử tự tại, Tam-ma-địa Tam-ma-địa vương, Tam-ma-địa Công đức trang nghiêm, Tam-ma-địa Tịch tĩnh tuệ, Tam-ma-địa Phổ siêu việt, Tam-ma-địa Vô nhiễm trước, Tam-ma-địa Tuệ trang nghiêm vương, Tam-ma-địa Vô đẳng đẳng, Tam-ma-địa Đẳng học, Tam-ma-địa Chánh giác, Tam-ma-địa Duyệt ý, Tam-ma-địa Hoan hỷ, Tam-ma-địa Thanh tịnh, Tam-ma-địa Hỏa diệm, Tam-ma-địa Quang minh, Tam-ma-địa Nan thắng, Tam-ma-địa Thường hiện tiền, Tam-ma-địa Bất hòa hợp, Tam-ma-địa không sinh, Tam-ma-địa Thông đạt, Tam-ma-địa Tối thắng, Tam-ma-địa Siêu quá ma cảnh, Tam-ma-địa trí Nhất thiết tuệ, Tam-ma-địa Tràng tướng, Tam-ma-địa Đại bi, Tam-ma-địa An lạc, Tam-ma-địa Ái niệm và Tam-ma-địa Bất kiến pháp.
Đại đức nên biết, Đại Bồ-tát nào dùng phương tiện thiện xảo siêng học Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa liền có khả năng thông đạt rốt ráo vô lượng, vô biên hằng hà sa số tất cả pháp môn Tam-ma-địa này mới có thể chứng nhập cảnh giới chư Phật. Tâm vị ấy được an ổn không có sợ hãi cũng giống như vua Sư tử chẳng sợ cầm thú. Vì sao vậy? Vì Đại Bồ-tát nào tu Tam-ma-địa như thế, hễ có đi đâu đều không sợ hãi, chẳng thấy một oán địch nào trước mặt. Vì sao vậy? Này Xá-lợi Tử, Đại Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thì tâm không chỗ duyên, cũng không chỗ trụ. Thí như có người sinh vào cõi Vô sắc, ở trong tám vạn đại kiếp chỉ có một thức, không có chỗ trụ, cũng không chỗ duyên, như vậy Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa tâm không chỗ duyên cũng không chỗ trụ. Đó là Bồ-tát tâm chẳng lành chỗ không hành, tâm
chẳng tưởng chỗ không tưởng, tâm chẳng duyên chỗ không duyên, tâm chẳng chấp trước chỗ không chấp trước, tâm chẳng loạn chỗ không loạn, tâm không cao thấp, tâm không thuận nghịch, không buồn, không vui, không phân biệt hay xa lìa phân biệt, lìa pháp chỉ, pháp quán tâm không tùy trí, tâm không tự trụ cũng không trụ ở đâu, không nương trụ vào mắt, không nương trụ vào tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không nương trụ vào sắc, không nương trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp. Tâm không ở bên trong, không ở ngoài cũng không ở giữa hai bên. Tâm không duyên pháp, cũng không duyên trí, không ở trong ba đời, không xa lìa ba đời.
Đại đức nên biết, đó là Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, không giữ một pháp mà đối với các pháp tri kiến vô ngại. Vì tâm hành tịnh nên thấy các pháp đều tịnh. Không giữ tướng thấy nên thấy không phân biệt, xa lìa hý luận.
Đại đức nên biết, Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, không tương ưng cùng Nhục nhãn, Thiên nhãn, Tuệ nhãn, Pháp nhãn, Phật nhãn cũng không phải không tương ưng. Cũng lại không tương ưng cùng các trí Thiên nhĩ, Tha tâm, Túc trụ, Thần cảnh, Lậu tận cũng chẳng phải không tương ưng.
Đại đức nên biết, phương tiện thiện xảo sâu xa hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, cùng các pháp đều chẳng tương ưng và chẳng phải không tương ưng. Các Đại Bồ-tát với phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, được bình đẳng trí đối với các pháp, có khả năng quán xét tất cả tâm hạnh của hữu tình, như thật biết các pháp nhiễm tịnh, không mất chánh niệm đối với công đức mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng và vô lượng, vô biên công đức của Phật.
Các Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thấu đạt các pháp vô công dụng tâm, vô tâm ý thức, thường tại định. Chẳng ra khỏi định mà giáo hóa hữu tình, làm các Phật sự chưa hề ngưng nghỉ. Đối với Phật pháp được vô ngại trí, tâm không nhiễm trước. Thí như hóa Phật hóa làm Như Lai. Như Lai hóa ra không tâm, ý, thức, không thân, không thân nghiệp, không ngữ, không ngữ nghiệp, không ý, không ý nghiệp mà có năng lực làm các Phật sự lợi ích hữu tình. Vì sao? Vì nhờ thần lực của Phật. Như vậy
Bồ-tát được hóa ra bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, không thân, không thân nghiệp, không ngữ, không ngữ nghiệp, không ý, không ý nghiệp, vô công dụng tâm thường làm Phật sự lợi ích cho hữu tình. Vì sao? Xá-lợi Tử, các Đại Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, tâm không phân biệt, thông đạt các pháp đều như huyễn nhưng mà hữu tình thường nghe Phật pháp.
Đại đức nên biết, trí tuệ của Bồ-tát chẳng trú hữu vi, không trú vô vi, không trú các uẩn, xứ, giới, không trú trong ngoài hoặc giữ trong ngoài, không trú thiện ác hoặc thế xuất thế, không trú nhiễm tịnh, hữu lậu, vô lậu, hữu vi, vô vi, không trú ba đời hoặc lìa ba đời, không trú hư không trạch, phi trạch diệt. Đó là các Bồ-tát bằng phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, tuy tâm thường không có chỗ trú như thế, nhưng hay thông đạt tánh tướng các pháp dùng vô ngại trí, vô công dụng tâm, tuyên thuyết các pháp thường trú tịch tĩnh cho các hữu tình, làm việc giáo hóa không có ngưng nghỉ. Đó là nguyện lực đời trước của Bồ-tát mạnh mẽ, thuyết pháp cho người vô công dụng tâm. Bồ-tát nhờ phương tiện thiện xảo hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thường không sợ hãi. Vì sao vậy? Vì họ thường được y thần chấp Kim cang hộ vệ trong lúc đi hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm.
Đại đức nên biết, Đại Bồ-tát nào nghe thuyết Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa như thế mà tâm không kinh sợ, không nghi hoặc, phải biết vị ấy đã được thọ ký Bồ-đề. Vì sao vậy? Vì tín thọ phương tiện thiện xảo của Bát-nhã ba-la-mật-đa tức gần cảnh giới Phật, nhờ nhất tâm này nên thường thông đạt tất cả Phật pháp. Vì thông đạt Phật pháp nên lợi lạc hữu tình, không thấy có hữu tình và Phật pháp sai khác. Vì sao vậy? Hữu tình và Phật pháp, lý đạo không có hai.