KINH ĐẠI BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA
QUYỂN 595
Phẩm BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA (3)
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không phải sự hành sắc uẩn. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không phải sự hành của thọ, tưởng, hành, thức uẩn.
Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không phải sự hành sắc uẩn nên không biết không thấy. Nếu đối với sắc uẩn không biết không thấy, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không phải sự hành thọ, tưởng, hành, thức uẩn nên không biết không thấy. Nếu đối với thọ, tưởng, hành, thức uẩn không biết không thấy, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không phải sự hành nhãn xứ. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không phải sự hành nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không phải sự hành nhãn xứ, nên không biết không thấy. Nếu đối với nhãn xứ không biết không thấy, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không phải sự hành nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ. Nếu đối với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ không biết không thấy., gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không phải sự hành sắc xứ. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không phải sự hành thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không phải sự hành sắc xứ nên không biết không thấy. Nếu đối với sắc xứ không biết không thấy, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng chẳng phải sự hành thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ nên không biết không thấy.
Nếu đối với thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ không biết không thấy, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không phải sự hành nhãn giới. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không phải sự hành nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không phải sự hành nhãn giới nên không biết không thấy. Nếu đối với nhãn giới không biết không thấy, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không phải sự hành nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới nên không biết không thấy. Nếu đối với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới không biết không thấy, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không phải sự hành sắc giới. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng chẳng phải sự hành thanh, hương, vị, xúc, pháp pháp giới.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không phải sự hành sắc giới nên không biết không thấy. Nếu đối với sắc giới không biết không thấy, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không phải sự hành của thanh, hương, vị, xúc, pháp giới. Nếu đối với thanh, hương, vị, xúc, pháp giới không biết không thấy, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không phải sự hành nhãn thức giới. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cũng chẳng phải sự hành nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không phải sự hành nhãn thức giới nên không biết không thấy. Nếu đối với nhãn thức giới không biết không thấy, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cũng không phải sự hành nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới nên không biết không thấy. Nếu đối với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới không biết không thấy, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không phải sự hành tất cả pháp, nên không biết không thấy. Nếu đối với tất cả pháp không biết không thấy, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không bỏ tự tánh sắc uẩn. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không bỏ tự tánh thọ, tưởng, hành, thức uẩn. Nếu đối với tự tánh biết trọn vẹn như vậy, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ chẳng bỏ tự tánh nhãn xứ. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không bỏ tự tánh nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý. Nếu đối với tự tánh biết trọn vẹn như vậy, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không bỏ tự tánh sắc xứ. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không bỏ tự tánh thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ. Nếu đối với tự tánh biết trọn vẹn như vậy, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không bỏ tự tánh nhãn giới. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không bỏ tự tánh nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới. Nếu đối với tự tánh biết trọn vẹn như vậy, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không bỏ tự tánh sắc giới. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không bỏ tự tánh thanh, hương, vị, xúc, pháp giới. Nếu đối với tự tánh biết trọn vẹn như vậy, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không bỏ tự tánh nhãn thức giới. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cũng không bỏ tự tánh nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới. Nếu đối với tự tánh biết trọn vẹn như vậy, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không bỏ tự tánh tất cả pháp. Nếu đối với tự tánh biết trọn vẹn như vậy, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn cùng với sắc uẩn không hợp không lìa. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cùng thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không hợp không lìa. Sắc uẩn không hợp không lìa, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không hợp không lìa, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ và nhãn xứ không hợp chẳng lìa. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cùng nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không hợp không lìa. Nhãn xứ không hợp không lìa, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng chẳng hợp chẳng lìa, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ cùng với sắc xứ không hợp không lìa. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cùng thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ không hợp không lìa. Như vậy sắc xứ không hợp không lìa, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không hợp không lìa, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới cùng nhãn giới không hợp không lìa. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cùng nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không hợp không lìa. Như vậy nhãn giới không hợp không lìa, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không hợp không lìa, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới cùng sắc giới không hợp không lìa. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cùng thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không hợp không lìa. Như vậy sắc giới không hợp không lìa, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới cùng nhãn thức giới không hợp không lìa. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cùng nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cũng không hợp không lìa. Như vậy nhãn thức giới không hợp không lìa, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cũng không hợp không lìa, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp cùng tất cả pháp không hợp không lìa. Như vậy tất cả pháp không hợp không lìa, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không bớt không thêm. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không bớt không thêm. Như vậy sắc uẩn không bớt không thêm, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không bớt không thêm, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không bớt không thêm. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không bớt không thêm. Như vậy nhãn xứ không bớt không thêm, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không bớt không thêm, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không bớt không thêm. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không bớt không thêm, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không bớt không thêm. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không bớt không thêm. Như vậy, nhãn giới
không bớt không thêm, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không bớt không thêm, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không bớt không thêm. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không bớt không thêm. Như vậy sắc giới không bớt không thêm, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không bớt không thêm, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không bớt không thêm. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không bớt không thêm. Như vậy nhãn thức giới không bớt không thêm, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cũng không bớt không thêm, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không bớt không thêm, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không dơ không sạch. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không dơ không sạch. Như vậy sắc uẩn không dơ không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không dơ không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không dơ không sạch. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không dơ không sạch. Như vậy nhãn xứ không dơ không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không dơ không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không dơ không sạch. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không dơ không sạch. Như vậy sắc xứ không dơ không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không dơ không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không dơ không sạch. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không dơ không sạch. Như vậy nhãn giới không dơ không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không dơ không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không dơ không sạch. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không dơ không sạch. Như vậy sắc giới không dơ không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không dơ không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không dơ không sạch. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cũng không dơ không sạch. Như vậy nhãn thức giới không dơ không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cũng không dơ không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không dơ không sạch. Như vậy tất cả pháp cũng không dơ không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không có pháp sạch không có pháp không sạch. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không có pháp sạch không có pháp không sạch. Như vậy năm uẩn không có pháp sạch không có pháp không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không có pháp sạch không có pháp không sạch. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không có pháp sạch không có pháp không sạch. Như vậy trong sáu xứ không có pháp sạch không có pháp không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không có pháp sạch không có pháp không sạch. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không có pháp sạch không có pháp không sạch. Như vậy ngoài sáu xứ không có pháp sạch không có pháp không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không có pháp sạch không có pháp không sạch. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không có pháp sạch không có pháp không sạch. Như vậy trong sáu giới không có pháp sạch không có pháp không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không có pháp sạch không có pháp không sạch. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không có pháp sạch không có pháp không sạch. Như vậy, ngoài sáu giới không có pháp sạch không có pháp không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không có pháp sạch không có pháp không sạch. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cũng không có pháp sạch không có pháp không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không có pháp sạch không có pháp không sạch. Như vậy tất cả pháp không có pháp sạch không có pháp không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không dời chuyển không hướng vào. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không dời chuyển không hướng
vào. Như vậy năm uẩn không dời chuyển không hướng vào, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không dời chuyển không hướng vào. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không dời chuyển không hướng vào. Như vậy sáu xứ bên trong không dời chuyển không hướng vào, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không dời chuyển không hướng vào. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không dời chuyển không hướng vào. Như vậy, sáu xứ bên ngoài không dời chuyển không hướng vào, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không dời chuyển không hướng vào. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không dời chuyển không hướng vào. Như vậy sáu giới bên trong không dời chuyển không hướng vào, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không dời chuyển không hướng vào. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không dời chuyển không hướng vào. Như vậy, sáu giới bên ngoài không dời chuyển không hướng vào, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không dời chuyển không hướng vào. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cũng không dời chuyển không hướng vào. Như vậy sáu thức giới không dời chuyển không hướng vào, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không dời chuyển không hướng vào. Như vậy tất cả pháp không dời chuyển không hướng vào, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không hệ không ly hệ. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không hệ không ly hệ. Như vậy năm uẩn không hệ không ly hệ, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không hệ không ly hệ. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không hệ không ly hệ. Như vậy, sáu xứ bên trong không hệ không ly hệ, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không hệ không ly hệ. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không hệ không ly hệ. Như vậy sáu xứ bên ngoài không hệ không ly hệ, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không hệ không ly hệ. nhĩ, tỷ,
thiệt, thân, ý giới cũng không hệ không ly hệ. Như vậy sáu giới bên trong không hệ không ly hệ, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không hệ không ly hệ. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không hệ không ly hệ. Như vậy sáu giới bên ngoài không hệ không ly hệ, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không hệ không ly hệ. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cũng không hệ không ly hệ. Như vậy sáu thức giới không hệ không ly hệ, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không hệ không ly hệ. Như vậy tất cả pháp không hệ không ly hệ, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không chết không sinh. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không chết không sinh. Như vậy năm uẩn không chết không sinh, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không chết không sinh. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ không chết không sinh. Như vậy sáu xứ bên trong không chết không sinh, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không chết không sinh. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không chết không sinh. Như vậy sáu xứ bên ngoài không chết không sinh, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không chết không sinh. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không chết không sinh. Như vậy sáu giới bên trong không chết không sinh, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không chết không sinh. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không chết không sinh. Như vậy sáu giới bên ngoài không chết không sinh, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không chết không sinh. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cũng không chết không sinh. Như vậy sáu thức giới không chết không sinh, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không chết không sinh. Như vậy tất cả pháp không chết không sinh, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không chết không sinh. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không chết không sinh. Như vậy năm uẩn không chết không sinh, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không chết không sinh. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không chết không sinh. Như vậy sáu xứ bên trong
không chết không sinh, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không chết không sinh. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không chết không sinh. Như vậy sáu xứ bên ngoài không chết không sinh, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không chết không sinh. Như vậy sáu giới bên ngoài không chết không sinh, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không chết không sinh. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không chết không sinh. Như vậy sáu giới bên ngoài không chết không sinh, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không chết không sinh. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cũng không chết không sinh. Như vậy sáu thức giới không chết không sinh, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không chết không sinh. Như vậy tất cả pháp không chết không sinh, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển. Như vậy năm uẩn không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển. Như vậy sáu xứ bên trong không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển. Như vậy sáu xứ bên ngoài không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển. Như vậy sáu giới bên trong không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển. Như vậy sáu giới bên ngoài không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển. Như vậy sáu thức giới không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển. Như vậy tất cả pháp không lưu chuyển không có pháp lưu chuyển, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không tận, không có pháp tận. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không tận không có pháp tận. Như vậy, năm uẩn không tận, không có pháp tận, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không tận không có pháp tận. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không tận không có pháp tận. Như vậy sáu xứ bên trong không tận không có pháp tận, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không tận không có pháp tận. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không tận không có pháp tận. Như vậy sáu xứ bên ngoài không tận không có pháp tận, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không tận không có pháp tận. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không tận không có pháp tận. Như vậy sáu giới bên ngoài không tận không có pháp tận, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không tận không có pháp tận. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không tận không có pháp tận. Như vậy sáu giới bên ngoài không tận không có pháp tận, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không tận không có pháp tận. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cũng không tận không có pháp tận. Như vậy sáu thức giới không tận không có pháp tận, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không tận không có pháp tận. Như vậy tất cả pháp không tận không có pháp tận, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không có pháp tập khởi không
có pháp diệt. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không có pháp tập khởi không có pháp diệt. Như vậy năm uẩn không có pháp tập khởi không có pháp diệt, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không có pháp tập khởi không có pháp diệt. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không có pháp tập khởi không có pháp diệt. Như vậy sáu xứ bên trong không có pháp tập khởi không có pháp diệt, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không có pháp tập khởi không có pháp diệt. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không có pháp tập khởi không có pháp diệt. Như vậy sáu xứ bên ngoài không có pháp tập khởi, không có pháp diệt, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không có pháp tập khởi không có pháp diệt. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không có pháp tập khởi không có pháp diệt. Như vậy sáu giới bên trong không có pháp tập khởi không có pháp diệt, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không có pháp tập khởi không có pháp diệt. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không có pháp tập khởi không có pháp diệt. Như vậy sáu giới bên ngoài không có pháp tập khởi không có pháp diệt, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không có pháp tập khởi không có pháp diệt. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cũng không có pháp tập khởi không có pháp diệt. Như vậy sáu thức giới không có pháp tập khởi không có pháp diệt, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không có pháp tập khởi không có pháp diệt. Như vậy tất cả pháp không có pháp tập khởi không có pháp diệt, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không có pháp sinh khởi không có pháp tận. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không có pháp sinh khởi không có pháp tận. Như vậy năm uẩn không có pháp sinh khởi không có pháp tận, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không có pháp sinh khởi không có pháp tận. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ không có pháp sinh khởi không có pháp tận. Như vậy sáu xứ bên trong không có pháp sinh khởi không có pháp tận, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không có pháp sinh khởi không có
pháp tận. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không có pháp sinh khởi không có pháp tận. Như vậy sáu xứ bên ngoài không có pháp sinh khởi không có pháp tận, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không có pháp sinh khởi không có pháp tận. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không có pháp sinh khởi không có pháp tận. Như vậy sáu giới bên trong không có pháp sinh khởi không có pháp tận, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không có pháp sinh khởi không có pháp tận. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không có pháp sinh khởi không có pháp tận. Như vậy sáu giới bên ngoài không có pháp sinh khởi không có pháp tận, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không có pháp sinh khởi không có pháp tận. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cũng không có pháp sinh khởi không có pháp tận. Như vậy sáu thức giới không có pháp sinh khởi không có pháp tận, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không có pháp sinh khởi không có pháp tận. Như vậy tất cả pháp không có pháp sinh khởi không có pháp tận, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không có pháp biến hoại, không có pháp không biến hoại. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không có pháp biến hoại, không có pháp không biến hoại. Như vậy năm uẩn không có pháp biến hoại, không có pháp không biến hoại, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không có pháp biến hoại, không có pháp không biến hoại. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không có pháp biến hoại, không có pháp không biến hoại. Như vậy sáu xứ bên trong không có pháp biến hoại, không có pháp không biến hoại, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không có pháp biến hoại, không có pháp không biến hoại. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không có pháp biến hoại, không có pháp không biến hoại. Như vậy sáu xứ bên ngoài không có pháp biến hoại, không có pháp không biến hoại, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không có pháp biến hoại, không có pháp không biến hoại. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không có pháp
biến hoại, không có pháp không biến hoại. Như vậy sáu giới bên trong không có pháp biến hoại, không có pháp không biến hoại, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không có pháp biến hoại, không có pháp không biến hoại. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không có pháp biến hoại, không có pháp không biến hoại. Như vậy sáu giới bên ngoài không có pháp biến hoại, không có pháp không biến hoại, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không có pháp biến hoại, không có pháp không biến hoại. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới không có pháp biến hoại, không có pháp không biến hoại. Như vậy sáu thức giới không có pháp biến hoại, không có pháp không biến hoại, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không có pháp biến hoại, không có pháp không biến hoại. Như vậy tất cả pháp không có pháp biến hoại, không có pháp không biến hoại, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không thường, không vô thường, không vui không khổ, không ngã, không vô ngã, không sạch, không không sạch. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không thường, không vô thường, không vui, không khổ, không ngã, không vô ngã, không sạch, không không sạch. Như vậy năm uẩn không thường, không vô thường, không vui, không khổ, không ngã, không vô ngã, không sạch, không không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không thường, không vô thường, không vui không khổ, không ngã, không vô ngã, không sạch, không không sạch. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không thường, không vô thường, không vui, không khổ, không ngã, không vô ngã, không sạch, không không sạch. Như vậy, sáu xứ bên trong không thường, không vô thường, không vui, không khổ, không ngã không vô ngã, không sạch, không không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không thường, không vô thường, không vui không khổ, không ngã, không vô ngã, không sạch, không không sạch. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không thường, không vô thường, không vui, không khổ, không ngã, không vô ngã, không sạch, không không sạch. Như vậy sáu xứ bên trong không thường, không vô
thường, không vui, không khổ, không ngã, không vô ngã, không sạch, không không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không thường, không vô thường, không vui không khổ, không ngã không vô ngã, không sạch không không sạch. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không thường, không vô thường, không vui không khổ, không ngã không vô ngã, không sạch không không sạch. Như vậy sáu giới bên trong không thường, không vô thường, không vui, không khổ, không ngã, không vô ngã, không sạch, không không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không thường, không vô thường, không vui không khổ, không ngã, không vô ngã, không sạch, không không sạch. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không thường, không vô thường, không vui, không khổ, không ngã, không vô ngã, không sạch, không không sạch. Như vậy sáu giới bên ngoài không thường, không vô thường, không vui, không khổ, không ngã, không vô ngã, không sạch, không không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không thường, không vô thường, không vui không khổ, không ngã, không vô ngã, không sạch không không sạch. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cũng không thường, không vô thường, không vui không khổ, không ngã không vô ngã, không sạch không không sạch. Như vậy sáu thức giới không thường, không vô thường, không vui không khổ, không ngã không vô ngã, không sạch không không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không thường, không vô thường, không vui không khổ, không ngã không vô ngã, không sạch không không sạch. Như vậy tất cả pháp không thường, không vô thường, không vui không khổ, không ngã không vô ngã, không sạch không không sạch, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không có pháp tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không có pháp tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si. Như vậy năm uẩn không có pháp tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không có pháp tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không có pháp
tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si. Như vậy sáu xứ bên trong không có pháp tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không có pháp tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không có pháp tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si. Như vậy sáu xứ bên ngoài không có pháp tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không có pháp tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không có pháp tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si. Như vậy sáu giới bên trong không có pháp tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không có pháp tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không có pháp tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si. Như vậy sáu giới bên ngoài không có pháp tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không có pháp tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới không có pháp tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si. Như vậy sáu thức giới không có pháp tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không có pháp tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si. Như vậy tất cả pháp không có pháp tham, sân, si, không có pháp lìa tham, sân, si, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết. Như vậy năm uẩn không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không
người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết. Như vậy sáu xứ bên trong không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết. Như vậy sáu xứ bên ngoài không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết. Như vậy sáu giới bên trong không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết,
gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết. Như vậy sáu giới bên ngoài không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cũng không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết. Như vậy sáu thức giới không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết. Như vậy tất cả pháp không người làm, không người sai làm, không người phát khởi, không người cùng phát khởi, không người rõ, không người làm rõ, không người nhận, không người sai nhận, không người thấy biết, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không đoạn không thường, không có biên giới không không biên giới. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không đoạn không thường, không có biên giới không không biên giới. Như vậy năm uẩn cũng không đoạn không thường, không có biên giới không không biên giới, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không đoạn không thường, không có biên giới không không biên giới. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không đoạn không thường, không có biên giới không không biên giới. Như vậy sáu xứ bên trong cũng không đoạn không thường, không có biên giới không không biên giới, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không đoạn không thường, không có biên giới không không biên giới. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không đoạn không thường, không có biên giới không không biên giới. Như vậy, sáu xứ bên ngoài không đoạn không thường, không có biên giới không không biên giới, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không đoạn không thường, không có biên giới không không biên giới. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không đoạn không thường, không có biên giới không không biên giới. Như vậy sáu giới bên trong không đoạn không thường, không có biên giới không không biên giới, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không đoạn không thường, không có biên giới không không biên giới. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới không có biên giới không không biên giới. Như vậy sáu giới bên ngoài không thường, không đoạn không có biên giới không không biên giới, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không đoạn không thường, không có biên giới không không biên giới. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới cũng không đoạn không thường, không có biên giới không không biên giới. Như vậy sáu thức giới không đoạn không thường, không có biên giới không không biên giới, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không đoạn không thường, không có biên giới không không biên giới. Như vậy tất cả pháp không đoạn không thường, không có biên giới không không biên giới, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không kiến chấp, không đoạn kiến chấp, không ái, không đoạn ái. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn không kiến chấp, không đoạn kiến chấp, không ái, không đoạn ái. Như vậy năm uẩn không kiến chấp, không đoạn kiến chấp, không ái, không đoạn ái, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không kiến chấp, không đoạn kiến
chấp, không ái, không đoạn ái. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ không kiến chấp, không đoạn kiến chấp, không ái, không đoạn ái. Như vậy sáu xứ bên trong không kiến chấp, không đoạn kiến chấp, không ái, không đoạn ái, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không kiến chấp, không đoạn kiến chấp, không ái, không đoạn ái. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ không kiến chấp, không đoạn kiến chấp, không ái, không đoạn ái. Như vậy sáu xứ bên ngoài không kiến chấp, không đoạn kiến chấp, không ái, không đoạn ái, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không kiến chấp, không đoạn kiến chấp, không ái, không đoạn ái. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới không kiến chấp, không đoạn kiến chấp, không ái, không đoạn ái. Như vậy sáu giới bên trong không kiến chấp, không đoạn kiến chấp, không ái, không đoạn ái, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không kiến chấp, không đoạn kiến chấp, không ái, không đoạn ái. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới không kiến chấp, không đoạn kiến chấp, không ái, không đoạn ái. Như vậy sáu giới bên ngoài không kiến chấp, không đoạn kiến chấp, không ái, không đoạn ái, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không kiến chấp, không đoạn kiến chấp, không ái, không đoạn ái. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới không kiến chấp, không đoạn kiến chấp. Như vậy sáu thức giới không kiến chấp, không đoạn kiến chấp, không ái, không đoạn ái. Như vậy sáu thức giới không kiến chấp, không đoạn kiến chấp, không ái, không đoạn ái, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không kiến chấp, không đoạn kiến chấp, không ái, không đoạn ái. Như vậy tất cả pháp không kiến chấp, không đoạn kiến chấp, không ái, không đoạn ái, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Dũng Mãnh, sắc uẩn không thiện, không không thiện. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn cũng không thiện, không không thiện. Như vậy năm uẩn không thiện, không không thiện, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn xứ không thiện, không không thiện. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng không thiện, không không thiện. Như vậy sáu
xứ bên trong không thiện, không không thiện, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc xứ không thiện, không không thiện. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không thiện, không không thiện. Như vậy sáu xứ bên ngoài không thiện, không không thiện, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn giới không thiện, không không thiện. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới cũng không thiện, không không thiện. Như vậy sáu giới bên trong không thiện, không không thiện, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, sắc giới không thiện, không không thiện. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không thiện, không không thiện. Như vậy sáu giới bên ngoài không thiện, không không thiện, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, nhãn thức giới không thiện, không không thiện. nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới không thiện, không không thiện. Như vậy sáu thức giới không thiện, không không thiện, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Dũng Mãnh, tất cả pháp không thiện, không không thiện. Như vậy tất cả pháp không thiện, không không thiện, gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa.