Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 29 - Bộ Bát-Nhã XII - Số 220 (Quyển 551 - 600)

Đại Tập 29 - Bộ Bát-Nhã XII - Số 220 (Quyển 551 - 600)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 999.

Chương 19: Kinh Đại Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa - Quyển 568 - Phẩm 4: Pháp Giới (2) (Trang 355 - 374)

KINH ĐẠI BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA

QUYỂN 568


Phẩm 4: PHÁP GIỚI (2)

 
Bấy giờ Tối Thắng lại bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, vì độ hữu tình các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thị hiện các tướng như thế nào?
Phật bảo Tối Thắng:
–Thiên vương nên biết, tướng Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, chẳng thể nắm bắt được; tướng các Bồ-tát cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì cứu độ hữu tình nên các Ngài dùng oai lực phương tiện quyền xảo thị hiện các tướng giáo hóa bằng cách nhập vào thai mẹ cho đến nhập Niết-bàn. Vì sao? Vì chư Thiên chấp thường cho là không bị đọa lạc cho nên Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa dùng phương tiện quyền xảo thị hiện các tướng vào thai mẹ để phá sự chấp trước kia. Do đó làm cho chư Thiên phát sinh ý niệm vô thường,  Nghĩ rằng: “Bậc Tối thắng Tối tôn ở trong thế gian chẳng ai sánh bằng, ở trong cõi Dục không nhiễm mà còn có rơi rớt huống nữa là các chư Thiên khác mà được thường ư?” Cho nên chúng ta chớ có buông lung cần phải tinh tấn, giữ niệm tu đạo. Như thấy mặt trời còn có lúc lặn mất thì biết lửa đom đóm không thể tồn tại lâu dài.
  Lại  có chư Thiên sống phóng dật say đắm dục lạc, không tu chánh pháp, mặc tình đùa giỡn. Tuy cùng với Bồ-tát ở trong thiên cung nhưng không đến lễ bái, không thưa hỏi pháp mà đều  Nghĩ rằng: “Lúc này, ta hãy hưởng dục, đợi đến ngày mai sẽ đến Bồ-tát để thưa hỏi pháp.”  Nghĩ vậy rồi, bảo rằng:
–Ta cùng với Bồ-tát thường ở nơi đây thì việc tu hành đâu có muộn màng gì? Do đó, Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa siêng tu tinh tấn như cứu lửa cháy trên đầu để phá trừ hành động buông lung nên thị hiện đọa lạc. Sự thì hiện này có hai nguyên nhân:

Một, làm cho chư Thiên xa lìa sự buông lung; hai, làm cho hữu tình đều được trông thấy.
Vì trong thế gian cũng có hữu tình hèn kém, ít có căn lành không thể thấy Phật thành Vô thượng giác, chuyển xe diệu pháp nên Bồ-tát phải thị hiện làm trẻ con chơi giỡn ở hậu cung. Nếu làm các tướng khác để thuyết pháp thì e rằng nữ nhân trong hậu cung khó tin được. Do đó, Bồ-tát thị hiện làm trẻ con.
  Lại  có chư Thiên  Nghĩ rằng: “Người có đức hạnh cao thượng hay rời bỏ thế tục” thì Bồ-tát vì người kia mà thị hiện xuất gia.
  Lại  có chư Thiên  Nghĩ rằng: “Ngồi yên thọ lạc thì không đạt được Thánh đạo.” Bồ-tát vì người kia thị hiện khổ hạnh. Vì để hàng phục khổ hạnh của ngoại đạo nên Bồ-tát thị hiện các khổ hạnh khó hành.
  Lại  có chư Thiên phát nguyện từ lâu rằng: “Khi Bồ-tát đi đến tòa Bồ-đề thì trời, người chúng ta cung kính cúng dường.” Bồ-tát vì họ nên đi đến tòa Bồ-đề. Vô lượng trời, người đã cúng dường rồi đều được nhân duyên Bồ-đề.
  Lại  có chư Thiên  Nghĩ rằng: “Ác ma ngoại đạo làm chướng ngại chánh pháp, nguyện các Bồ-tát ngồi tòa Bồ-đề điều phục ác ma và ngoại đạo để cho người có chánh tín đều được thấy pháp.”
Sau khi Bồ-tát thành Chánh giác, trong hư không khắp thế giới ba lần ngàn vang lên những âm thanh tán thán rằng:
–Mặt trời Phật xuất hiện ở đời làm cho ánh sáng đom đóm lặn mất.
Chư Thiên nói rằng:
–Nguyện cho tôi đời sau thành Vô thượng giác cũng được như sự chứng đắc Bồ-đề của Bồ-tát hôm nay vì các hữu tình mà ngồi tòa Bồ-đề.
  Lại  có vô lượng chư Thiên… nói rằng:
–Nguyện được thấy Đại sư thành trí Nhất thiết, trí Nhất thiết tướng, Vô sư trí, Tự nhiên trí. Đó là các hữu tình không cầu xuất ly mà căn tánh đã thuần thục ấy là bậc Pháp khí thâm sâu. Bồ-tát vì các hữu tình này mà thị hiện ba chuyển, mười hai hành tướng vô thượng pháp luân.
  Lại  có chư Thiên muốn nghe pháp viên tịch, Bồ-tát vì họ mà thị hiện.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thì có khả năng thị hiện các hóa tướng như vậy.
Thiên vương nên biết, Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thì chắc chắn không sinh vào cảnh giới bất an. Vì sao? Vì người không phước đức, không nghe được danh tự Bát-nhã ba-la-mật-đa.
  Lại  nữa, các Bồ-tát thường xa lìa các ác nghiệp, không hề hủy phạm giới cấm Phật chế. Tâm không ganh ghét, thân, miệng không phạm lỗi. Vì đã gieo trồng nhiều căn lành với vô lượng Phật trong quá khứ, đầy đủ phước đức, trí tuệ, phương tiện thù thắng, thành tựu đại nguyện, tâm ưa tịch tĩnh, siêng tu tinh tấn, bỏ sự biếng nhác.
Thiên vương nên biết, các Bồ-tát này không có ác nghiệp đọa vào địa ngục, vì luôn thực hành mười nẻo nghiệp thiện. Các Bồ-tát này không có phá giới để đọa vào loài bàng sinh vì thường hay hộ trì giới đã thọ. Các Bồ-tát này không có tâm ganh ghét, không đọa vào loài ngạ quỷ, không sinh vào nhà tà kiến, thường gặp bạn lành, xa lìa bạn ác. Vì sao? Vì đã trồng nhiều căn lành với vô lượng Phật trong thời quá khứ cho nên được sinh chỗ giàu sang, có quyền thế, đầy đủ chánh kiến. Thân hình các Bồ-tát này đã thọ đầy đủ các căn để thành tựu bậc Pháp khí của Phật. Vì sao? Vì vào thời quá khứ đã cúng dường chư Phật, lắng nghe chánh pháp, kính lễ đại chúng cho nên sinh ở chỗ nào cũng đầy đủ các căn, hình tướng xinh đẹp để thành bậc Pháp khí của Phật. Các Bồ-tát này không sinh nơi biên địa, độn căn ngu si, không biết rõ thiện ác, lời nói và ý  Nghĩa chẳng hợp với Pháp khí của Phật, không biết Sa-môn, Bà-la-môn… Vì sao? Vì Bồ-tát chắc chắn thọ sinh ở trung tâm của đất nước, các căn thông minh trí tuệ, nói năng lưu loát, biết rõ ý  Nghĩa về ngôn ngữ là Pháp khí của Phật, biết rõ Sa-môn, Bà-la-môn… Vì sao? Vì đời trước Bồ-tát đầy đủ năng lực trí tuệ, phước đức thù thắng nên Bồ-tát không sinh vào cõi trời sống lâu, vì không có lợi ích cho người, không được gặp Phật. Các Bồ-tát đa số sinh ở Dục giới, thị hiện ở đời, lợi lạc hữu tình. Vì sao? Vì đầy đủ năng lực phương tiện quyền xảo tối thắng. Bồ-tát không sinh vào thế giới không có Phật, không người thuyết pháp, không nghe chánh pháp, không cúng dường Tăng. Vì sao? Vì sức nguyện mạnh mẽ đời trước nên Bồ-tát sinh chỗ nào cũng đầy đủ Tam bảo. Các Bồ-tát này nghe pháp ác ở thế giới nào
liền sinh tâm nhàm chán, xa lìa. Các Bồ-tát này tu hạnh tịch tĩnh, tâm không lười biếng, tinh tấn dũng mãnh, dùng các pháp thiện diệt các pháp ác.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa nhờ tất cả nhân duyên như thế nên chắc chắn không sinh vào nơi không thuận tiện.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa dù cho trong mộng cũng không quên mất đại Bồ-đề tâm huống gì lúc thức mà lại quên mất ư? Vì sao? Vì các thiện pháp đều được sinh ra ở tâm này tức tâm Vô thượng Chánh đẳng giác. Nếu không có tâm này thì không có Phật. Nếu không có Phật thì không có giáo pháp, không có giáo pháp thì không có Tăng. Do có tâm này nên có Tam bảo và có trời, người tu thiện, hưởng thọ an vui. Các Bồ-tát thường xa lìa nịnh hót, lừa dối, tâm Bồ-tát thanh tịnh, chân thật nhu hòa, không nghi hoặc đối với Phật pháp. Nếu người muốn lắng nghe, thọ nhận thì Bồ-tát không giấu ý  Nghĩa sâu xa. Bồ-tát xa lìa sự ganh ghét và ác nghiệp tam đồ. Giai đoạn trước, giữa và sau không có tướng thay đổi, hành pháp Đại thừa chẳng trái với lời nói, thấy người đồng học sinh tâm cung kính khuyên siêng tu tập, xưng tán Đại thừa. Đối với thuyết Pháp sư thường tưởng như Phật, thân gần bạn lành, xa lìa bạn ác. Đó là phương tiện thiện xảo của các Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa nên thành tựu tâm Bồ-đề như vậy, nương nơi tâm này đắc Túc trụ trí. Vì sao? Vì đã từng cúng dường vô lượng chư Phật, hộ trì chánh pháp, trì giới thanh tịnh, xa lìa ác nghiệp, hoàn toàn không còn chướng ngại, tâm thường hoan hỷ, tâm siêng tu học, tâm không tán loạn, không thoái thất. Vì sao? Vì tôn trọng chánh pháp nên các Bồ-tát này đã từng cúng dường vô lượng chư Phật. Do tôn trọng chánh pháp nên đã vì người khác giảng thuyết sâu rộng, vì hộ chánh pháp nên chẳng tiếc thân mạng. Thân nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp đều thanh tịnh, do nghiệp thanh tịnh nên lìa các chướng ngại. Do lìa chướng ngại nên tâm thường hoan hỷ, do tâm hoan hỷ nên siêng năng tinh tấn. Tâm tánh chánh trực, niệm trí viên mãn, do niệm trí viên mãn nên biết đời sống quá khứ, một kiếp, mười kiếp, trăm kiếp, ngàn kiếp, cho đến vô số kiếp. Các Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa nên rõ biết như thật về các nơi sinh thời quá khứ,
biết rõ đời trước gần gũi bạn lành nên đối với ba việc nghe, thấy, niệm về chư Phật chẳng quên mất, thường ưa nghe pháp, cúng dường Tăng bảo không lúc nào để thời gian trống rỗng trôi qua. Đối với việc cúng dường, cung kính lễ bái Phật Bồ-tát không bỏ qua lúc nào, đi, đứng, nằm, ngồi luôn luôn học hỏi.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát nhờ trì tịnh giới nên thường được nghe danh tự công đức Bát-nhã ba-la-mật-đa, thường tu tập trợ Bồ-đề phần, không xa lìa ba môn giải thoát, thường xuyên tu tập bốn Vô lượng tâm, thường nghe Vô thượng trí Nhất thiết.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, do nhân duyên đó nên được gần gũi bạn lành.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa dù cho trong mộng còn chưa gần bạn ác huống chi là lúc thức mà lại gần gũi ư? Vì sao? Vì Bồ-tát đối với kẻ phá giới, kẻ đắm trước tà kiến, hạng bất luật nghi, người hành tà mạng, người nói vô  Nghĩa, người lười biếng, người ưa sinh tử, người trái ngược Bồ-đề, người ưa việc thế tục, tuy thường thương xót họ nhưng không ở chung.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa nhờ đó thường xa lìa bạn ác.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa nên được mười thân sai khác của Như Lai. Mười thân đó là gì?
1.Thân bình đẳng.
2.Thân thanh tịnh.
3.Thân vô tận.
4.Thân tu tập viên mãn.
5 Thân pháp tánh.
6.Thân lìa tầm tứ.
7 Thân chẳng  Nghĩ bàn.
8.Thân tịch tĩnh.
9 Thân hư không.
10.Thân diệu trí.
 Bấy giờ Tối Thắng bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa đến địa vị nào mới đạt được mười thân của Như Lai.
Phật bảo Tối Thắng:
–Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa ở trong Sơ địa được thân bình đẳng. Vì sao? Vì thông đạt pháp tánh xa lìa tà vạy, thấy tất cả đều bình đẳng.
Trong địa Thứ hai được thân thanh tịnh. Vì sao? Vì xa lìa sự phạm giới, mất giới thanh tịnh.
Ở trong địa Thứ ba được thân vô tận. Vì sao? Vì lìa dục, tham, sân nên được thắng định.
Trong địa Thứ tư được thân tu tập viên mãn. Vì sao? Vì thường siêng tu tập Bồ-đề phần.
Trong địa Thứ năm được thân pháp tánh. Vì sao? Vì quán các Đế lý chứng đạt pháp tánh.
Trong địa Thứ sáu được thân ly tầm tứ. Vì sao? Vì quán lý duyên khởi, xa lìa tầm tứ.
Trong địa Thứ bảy được thân chẳng  Nghĩ bàn. Vì sao? Vì thực hành đầy đủ trí phương tiện quyền xảo.
Trong địa Thứ tám được thân tịch tĩnh. Vì sao? Vì lìa các phiền não, hý luận.
Trong địa Thứ chín được thân hư không. Vì sao? Vì thân tướng vô tận biến khắp tất cả.
Trong địa Thứ mười được thân diệu trí. Vì sao? Vì tu tập viên mãn Nhất thiết chủng trí.
Khi ấy, Tối Thắng lại bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, như vậy thân Bồ-tát và thân Phật có gì sai khác chăng?
Phật bảo Tối Thắng:
–Tuy thân không sai khác nhưng công đức có sai khác,  Nghĩa ấy như thế nào?  Nghĩa là thân Phật và thân Bồ-tát không có sai khác. Vì sao? Vì tất cả pháp đồng một tánh tướng. Công đức sai khác  Nghĩa là thân Như Lai đầy đủ công đức còn thân Bồ-tát thì chưa được như vậy.
Ta sẽ nói thí dụ cho ông. Thí như bảo châu được trang sức hay không được trang sức thì bảo châu ấy vẫn như nhau. Thân Phật và thân Bồ-tát cũng lại như vậy. Tuy công đức có sai khác nhưng pháp tánh không sai khác. Vì sao? Vì công đức của Như Lai hoàn toàn viên mãn, cùng tận đến mười phương, biến khắp cõi hữu tình, thanh tịnh xa lìa dơ
bẩn, không còn chướng ngại. Công đức của Bồ-tát chưa viên mãn nên vẫn còn chướng ngại. Ví như mặt trăng lúc khuyết, lúc tròn, nhưng tánh trăng vẫn không sai khác. Hai thân cũng vậy, đều kiên cố không thể phá hoại được giống như kim cang. Vì sao? Vì không bị ba độc phá hoại, vì không nhiễm pháp thế tục, vì không bị bức bách bởi các cảnh khổ ở cảnh ác của trời, người, xa lìa hẳn sinh, già, bệnh, chết, có khả năng chế phục ngoại đạo, vượt cảnh giới ma, chẳng hướng đến Độc giác và Thanh văn thừa, do đó không thể bị phá hoại.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa khéo hướng dẫn Trời, Người, A-tố-lạc… ở trong thế gian đều tin cậy. Thí như có người khéo dẫn đường được quốc vương hoặc hàng thân cận vua… hoặc trưởng giả, cư  sĩ đều tin cậy. Các Bồ-tát này cũng lại như vậy, Thanh văn, Độc giác, Bồ-tát, Như Lai đều phải công nhận họ là người dẫn đường giỏi. Thí như có người khéo dẫn đường thì quốc vương, đại thần, Bà-la-môn… đều tôn kính. Cũng vậy, các Đại Bồ-tát đều được Trời, Rồng, Dược-xoa, A-tố-lạc… và bậc hữu học, bậc vô học cúng dường. Như kẻ đi đường mệt mỏi giữa nơi hoang dã nguy hiểm, gặp kẻ dẫn đường có thể được yên ổn. Cũng vậy, các vị Đại Bồ-tát này dùng năng lực phương tiện hướng dẫn hữu tình ra khỏi sinh tử được an ổn.
Như người nghèo khó nương dựa vào trưởng giả giàu có mới thoát khỏi túng thiếu. Ngoại đạo, Bà-la-môn nương vào Bồ-tát mới ra khỏi sinh tử. Như đại trưởng giả của cải vô lượng làm cho mọi người đều được sử dụng. Cũng vậy, hữu tình sinh tử đều phải nương tựa vào các Đại Bồ-tát này. Như đại trưởng giả muốn vượt qua khỏi hiểm nạn phải nhờ nhiều bạn, đầy đủ vật thực ăn uống mới qua khỏi hiểm nạn được. Cũng vậy, các Đại Bồ-tát này muốn ra khỏi hiểm nạn sinh tử chắc chắn phải nhờ phước tuệ bảo vệ các hữu tình mới ra khỏi thế gian đến trí Nhất thiết. Như người đi xa cần đem nhiều của báu mới được lợi lạc. Cũng vậy các Đại Bồ-tát từ biển sinh tử đến trí Nhất thiết cần tu tập thật nhiều của báu, phước, tuệ mới mau chứng trí Nhất thiết. Như người thế gian tham cầu vật chất không hề nhàm chán. Cũng vậy, Bồ-tát ưa cầu thắng pháp tâm không nhàm chán.
Như người dẫn đường cần có bốn việc hơn người: giàu có, địa vị cao, tài giỏi, lời nói có uy tín. Cũng vậy, các Bồ-tát giàu có công đức,
ở địa vị tôn quý, được pháp tự tại, lời nói chắc chắn. Như người biết cách dẫn đường đi đến thành lớn. Cũng vậy, các vị Bồ-tát hướng dẫn hữu tình đến trí Nhất thiết.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa biết rõ con đường nên đi, con đường không nên đi, nơi tà, nơi chánh, nơi cong, nơi ngay, nơi an ổn, nơi nguy hiểm, nơi có nước, nơi không có nước hoặc nơi có nguy hiểm thì đều biết con đường thoát ra. Các Đại Bồ-tát này biết rõ các con đường không hề nhầm lẫn, đã hướng dẫn thì không trái với căn cơ của chúng sinh, vì người cầu Đại thừa nói đạo Vô thượng chẳng nói đạo Độc giác, Thanh văn; vì người cầu Độc giác nói đạo Độc giác không nói đạo Bồ-tát, Thanh văn; vì người cầu Thanh văn nói đạo Thanh văn không nói đạo Bồ-tát, Độc giác; vì người chấp trước ngã nói đạo vô ngã; vì người chấp trước pháp thì nói đạo pháp không; vì người chấp hai bên nói trung đạo; vì người mê loạn nói đạo chỉ, quán để họ hết mê loạn; vì người hý luận nói đạo chân như để họ hết hý luận; vì người chấp trước sinh tử nói đạo Niết-bàn để họ ra khỏi thế gian; vì người theo đường mê nói đạo chân chánh để họ xa lìa đường tà vạy.
Này Thiên vương, đây là Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa biết rõ đường tà, đường chánh để hướng dẫn hữu tình đi ra thông suốt.
 
Phẩm 5: NIỆM TRỤ

 
Bấy giờ, Tối Thắng từ tòa đứng dậy che áo bên vai trái, gối phải chấm đất, chắp tay cung kính bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa có năng lực biết rõ đường chánh, đường tà như vậy thì tâm ấy nương tựa vào đâu?
Phật bảo Tối Thắng:
–Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát này hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thì tâm luôn chân chánh không có mê loạn. Vì sao? Vì Bồ-tát tu tập viên mãn niệm trụ về thân, thọ, tâm, pháp. Hễ có đi vào thành ấp, xóm làng nghe nói lợi dưỡng tâm không tham đắm, nhiễm
trước. Giống như Thế Tôn đã dạy trong giới kinh: “Người khéo chánh niệm thì xa lìa các phiền não.”
Này Thiên vương, Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa khéo tu niệm trụ về thân như thế nào?  Nghĩa là Bồ-tát này dùng trí như thật xa lìa pháp ác bất thiện tương ưng với thân. Quán sát thân này từ đầu đến chân chỉ có các thứ bất tịnh tội lỗi, vô ngã, vô lạc, vô thường, bại hoại, tanh hôi, thúi uế, gân mạch dính liền, gớm ghiếc như vậy ai mà thèm nhìn. Quán thân như vậy rồi thì tham dục, chấp thân, ngã kiến, trong thân không còn, nhờ đó mà có năng lực thuận theo các pháp lành.
Này Thiên vương, Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa khéo tu niệm trụ về thọ như thế nào?  Nghĩa là Bồ-tát này suy  Nghĩ: Các thọ đều khổ nhưng vì hữu tình điên đảo lầm tưởng cho là vui. Phàm phu ngu si cho khổ là vui. Thánh giả chỉ nói tất cả đều khổ, vì muốn đoạn diệt khổ nên cần phải tu tinh tấn và khuyến khích người khác nên tu pháp này. Quán như vậy rồi thường trụ niệm về thọ, không tùy thuận hoạt động của thọ mà phải tu hành đoạn dứt thọ và cũng dạy cho người khác như vậy.
Này Thiên vương, Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa khéo tu niệm trụ về tâm như thế nào?  Nghĩa là Bồ-tát này suy  Nghĩ: Tâm vô thường, người ngu bảo là thường trụ, khổ bảo là vui, vô ngã bảo là ngã, bất tịnh bảo là tịnh. Tâm này không ngừng thay đổi mau chóng là căn bản của tùy miên, là cửa ngõ của cảnh giới ác, là nhân duyên của phiền não, hoại diệt cõi thiện. Tâm này thường sinh tham, sân, si khó tin tưởng. Tâm dẫn đầu các pháp. Nếu biết rõ tâm thì rõ các pháp. Các pháp thế gian đều do tâm tạo. Tâm không tự thấy được tội lỗi, hoặc thiện, hoặc ác đều từ tâm khởi lên. Tâm tánh chuyển nhanh như vòng lửa quay chẳng dừng, như gió, như quáng nắng, như nước chảy mạnh, như lửa phừng cháy. Quán tâm như vậy rồi thì niệm không động khiến tâm tùy theo ta mà không chạy theo tâm. Nếu điều phục tâm tức điều phục các pháp.
Này Thiên vương, Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa khéo niệm trụ về pháp như thế nào?  Nghĩa là Bồ-tát này biết như thật thế gian có các pháp ác bất thiện đó là tham, sân, si và các phiền não. Cần phải tu các pháp để đối trị như tu pháp đối trị tham, sân, si
và các pháp khác để đối trị phiền não. Biết như vậy rồi tức chẳng khởi niệm trở lại chẳng hành những pháp kia và cũng làm cho người khác xa lìa.
Này Thiên vương, Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa đối với cảnh khởi niệm như thế nào?  Nghĩa là Bồ-tát này nếu gặp sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp liền  Nghĩ: “Tại sao đối với pháp không chân thật này mà lại sinh tham ái ư? Đây chỉ là sự đắm trước của phàm phu ngu si, ấy là bất thiện.”
Như Thế Tôn dạy: “Ái thì sinh đắm trước, đắm trước thì sinh mê lầm, do đó không biết pháp thiện, pháp ác. Vì vậy nên đọa vào cảnh giới ác.” Bồ-tát không như vậy nên không rơi rớt, không đắm trước cảnh giới và khiến cho người khác cũng vậy.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa niệm A-lan-nhã.  Nghĩa là Bồ-tát suy  Nghĩ: “A-lan-nhã là chỗ không ồn ào, không người ở, là trụ xứ tịch tĩnh. Trời, Rồng, Dược-xoa, Tha tâm trí đều biết tâm, tâm sở pháp của ta. Ở đây ta không nên khởi tâm tà vạy.” Do suy  Nghĩ vậy nên được xả ly, đối pháp chánh niệm siêng năng tu hành.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa suy  Nghĩ: “Thành ấp tụ lạc là nơi ồn ào chẳng phải chỗ đi lại của người xuất gia, vì vậy không nên đến. Đó là quán rượu, mãi dâm, vương cung, sòng bạc, ca vũ trường, các chỗ như vậy cần phải xa lìa.”
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa nghe lợi dưỡng liền khởi chánh niệm thế này: Vì sinh phước cho người kia nên nhận tài vật này chứ chẳng phải do tham đắm, không do tham ái nên không nhận rồi để keo kiệt, nuôi dưỡng vợ con, cũng không nói ta có tài vật như vậy mà đem giúp khắp cả cho người nghèo cùng, người hành như vậy thì mọi người đều tán thành, rồi ra cũng chẳng hề chấp trước ngà và ngã sở. Lại suy  Nghĩ: “Mọi người đều khen ta có danh tiếng bố thí nhưng thế gian vô thường, mau chóng, hoại diệt tại sao người trí đối với vô thường, không thật, không hằng, không chủ ấy mà lại theo đó hành chấp ngã và ngã sở ư?”
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa niệm đến những cấm giới mà Thế Tôn đã dạy,  Nghĩ rằng: “Chư
Phật ba đời đều học giới này để thành Vô thượng Chánh giác, chứng đại Niết-bàn, biết như vậy rồi nên tinh tấn tu học.”
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa vì giáo hóa hữu tình và tự tu tập, ít muốn vui đủ, mặc áo phấn tảo, tâm thường trong sạch, tín lực vững chắc, thà bỏ thân mạng chứ không phạm giới. Tâm xa lìa kiêu mạn dù mặc áo xấu đi vào thành khất thực nhưng không hổ thẹn, không lười biếng, siêng tu tinh tấn, việc làm chưa xong thì không bỏ dở giữa chừng, đối với y phục phấn tảo không bị lỗi lầm, đối với y phục cũ mục hư nát không khinh chê, chỉ giữ cái đức của mình. Người ly dục mới mặc y phục này được Như Lai khen ngợi, vì ngăn ngừa sự xan tham, cũng không khen mình mặc áo này, hay chê người không mặc. Người thực hành như thế được chư Thiên lễ kính, được Phật tán thán, Bồ-tát hộ trì, Bà-la-môn… đều cung kính cúng dường.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thường tu diệu hạnh thanh tịnh như thế.
Khi ấy, Tối Thắng bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa với hạnh cao thượng cần gì mặc áo phấn tảo này?
Phật bảo:
–Này Thiên vương, các Đại Bồ-tát vì hộ thế gian nên mặc y phục phấn tảo này. Vì sao? Vì thế gian thấy mặc y phục này thì các điều ác đều dứt và sinh điều lành.
Này Thiên vương, ý ông  Nghĩ sao? Bồ-tát tu hạnh cao thượng có như Thế Tôn không?
Tối Thắng bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, Bồ-tát tu hạnh cao thượng trăm ngàn, vạn, ức cho đến vô số cũng không sánh bằng Thế Tôn. Vì sao? Vì Phật là Đấng Pháp Vương đầy đủ trí Nhất thiết nên không có một pháp nào mà không thể chiếu soi.
Này Thiên vương, ý ông  Nghĩ sao? Phật thị hiện khổ hạnh và tán thán công đức tu hạnh Đỗ-đa với tất cả Trời, Rồng, Dược-xoa, Nhân phi nhân… để làm gì?
Tối Thắng bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, Đức Phật thị hiện như thế là giáo hóa các hữu
tình có thể độ được và các Bồ-tát mới phát tâm… chưa dứt được phiền não nên phải nói pháp để đối trị.
Phật dạy:
–Đúng vậy, đúng vậy! Bồ-tát tu hạnh cao thượng mặc y phục phấn tảo cũng lại như vậy. Cho nên Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa đầy đủ phương tiện quyền xảo làm lợi ích cho hữu tình.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa vì thế gian nên chỉ giữ ba y. Vì sao? Vì tâm ít muốn biết đủ nên chẳng cầu nhiều. Vì không tìm cầu nên không chứa cất, không chứa cất nên không mất mát, không mất mát nên không buồn khổ, không buồn khổ nên xa lìa phiền não, lìa phiền não nên không còn đắm trước, không đắm trước thì các lậu tận diệt.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, vì muốn làm lợi lạc hữu tình nên cầm bát vào thành khất thực. Vì sao? Vì các Đại Bồ-tát luôn huân tập tâm đại Bi, quán các hữu tình đa số nghèo khổ, vì muốn cho họ giàu vui nên nhận sự cúng dường. Khi vào thành ấp oai nghi tề chỉnh, tâm ngay thẳng giữ gìn các căn, bước đi từ tốn xem trước chừng sáu gang tay, chậm rãi mà đi, không nhìn ngó hai bên, theo thứ lớp khất thực như pháp không bỏ nhà nghèo, khất thực đúng lượng, không tham cầu nhiều, trong bát cơm ấy sớt một phần bố thí cho kẻ nghèo, cúng dường phước điền. Vì sao? Vì tín thí khó tiêu và vì sự sinh phước.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa chỉ một chỗ ngồi ăn không hề di chuyển. Vì sao? Vì Bồ-tát chỉ một chỗ ngồi là tòa Bồ-đề vi diệu, ma đến quấy nhiễu cũng không làm khuynh động, đối với định tuệ, trí xuất thế, pháp không, thật tế, chân như, như lý Thánh đạo, Nhất thiết chủng trí đều không thay đổi. Vì sao? Vì Nhất thiết chủng trí từ một chỗ mà đắc vậy. Cho nên Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa chỉ một chỗ ngồi ăn vậy.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa dùng phương tiện quyền xảo vì các hữu tình thị hiện khất thực.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thường siêng tu học hạnh A-lan-nhã,  Nghĩa là tu phạm hạnh. Đối với các căn không phát sinh tội lỗi, ưa thích học rộng, siêng tu chánh
hạnh, xa lìa ngã và sự sợ hãi, không đắm trước thân, thường hành tịch tĩnh. Các Bồ-tát này thường ưa xuất gia ở trong chánh pháp, giữ tam luân giới, biết rõ pháp tướng. Như Lai đã từng thuyết giới cho ba hạng người già, trẻ, trung niên đều được thấu hiểu, chẳng duyên ngoại cảnh, chuyên niệm tự tâm, chê pháp thế tục, khen pháp xuất gia, điều phục các căn, không chấp giữ cảnh giới ác, ở nơi A-lan-nhã không ở nơi nạn xứ, chẳng xa chẳng gần xóm làng để khất thực, nơi ấy có suối nước trong, tắm rửa dễ dàng, rừng nhiều hoa quả, không có thú dữ, hang núi yên tĩnh, ít người. Cư trú những nơi thắng xứ như thế đối với pháp đã học đêm ngày ba thời chuyên cần đọc tụng, tiếng chớ cao, thấp, tâm không duyên ngoại cảnh, chỉ chuyên trì ức niệm. Bà-la-môn… có đến chỗ ấy phải niềm nở, vui mừng thăm hỏi, mời ngồi. Quán biết căn tánh để thuyết pháp cho họ được hoan hỷ, tín thọ, vâng làm. Dùng đầy đủ phương tiện khéo léo như vậy làm cho họ xa lìa ngã tâm. Vì vô ngã nên ở nơi vắng vẻ không có sợ hãi, vì xa lìa sợ hãi nên vui hạnh tịch tĩnh. Bồ-tát dùng phương tiện quyền xảo như thế nên thị hiện tu hành ở nơi A-lan-nhã.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa quán biết các hành, suy  Nghĩ: “Các thức ăn uống đều trong sạch thơm tho nhưng do lửa thân tiếp xúc biến thành bất tịnh, hủy hoại hôi hám. Người ngu vô trí luyến ái thân này và đồ ăn uống. Nếu theo thánh trí như thật quán sát thì sinh tâm chán ghét không còn say đắm.”
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, suy  Nghĩ: “Nhiều hành động sân giận thì sẽ gây nghiệp ác, ta phải lìa tâm sân để hướng đến chánh đạo, suy  Nghĩ chân thật chứ chẳng nói suông.”
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, suy  Nghĩ: “Các pháp sinh do nhân duyên, pháp nhân duyên lại từ duyên khởi. Vì sao đối với sinh nhân duyên pháp hư vọng này mà người trí lại tạo tội lỗi?” Bồ-tát đoạn trừ những pháp chướng ngại điều thiện ở trong thân. Nếu chưa dứt trừ những pháp chướng ngại điều thiện mà người khác có làm chướng ngại thiện pháp thì tâm liền buông xả không nên phát sinh vô minh.
Thế nào gọi là pháp chướng ngại điều thiện?  Nghĩa là không
cung kính Phật, Pháp, Tăng và giới thanh tịnh, không kính đồng học, tự cao khinh thường những người lớn, nhỏ, già, trẻ, hướng đến năm dục, quay lưng với Niết-bàn và phát sinh ngã kiến, hữu tình kiến, cho đến tri giả kiến, kiến giả kiến, chấp không rồi khởi lên đoạn kiến, chấp có, rồi khởi lên thường kiến, xa lìa Thánh hiền, gần gũi phàm phu, nương người phá giới, thân gần bạn ác, xa lìa bạn lành, nghe pháp thâm sâu sinh tâm hủy báng. Thân ghét, luật nghi, lời nói không ái ngữ, tâm lại nịnh hót, quanh co, bị phiền não che lấp, tham đắm lợi dưỡng, phát sinh đủ năm mạn:
1 Kiêu mạn vì dòng họ cao quý.
2 Kiêu mạn vì dòng họ giàu sang.
3 Kiêu mạn vì hiểu biết hơn người.
4 Kiêu mạn về đất nước.
5 Kiêu mạn về đồ chúng.
 Thấy việc ác liền giúp sức, gặp việc thiện lại tránh xa, khen ngợi sắc đẹp của đàn bà, con nít, ngoại đạo, không ưa tu tập hạnh A-lan-nhã, không biết ăn uống đúng lúc, tuy có đọc tụng mà chẳng đúng thời, xa lìa Sư trưởng, thấy việc thiện không tôn trọng, thấy việc ác không sợ hãi, như voi không có móc, ngựa không dây cương, buông lung chẳng chế ngự được. Nhiều sân giận, không có từ tâm, thấy người khổ không thương, gặp người bệnh không thăm hỏi, gặp người chết không lo sợ; người ở chỗ có đống lửa lớn mà chẳng mong cầu ra khỏi, việc đáng làm không làm, việc không đáng làm thì làm, việc không đáng suy  Nghĩ thì suy  Nghĩ, việc đáng suy  Nghĩ thì không suy  Nghĩ, việc chẳng mong cầu thì cầu, không ra khỏi bảo đã ra khỏi, chẳng phải đường gọi là đường, chưa chứng đắc cho là chứng đắc; ưa huân tập việc ác lớn, xa lìa việc thiện lớn, hủy báng Đại thừa và người hành Đại thừa, khen ngợi tiểu thừa và người học tiểu thừa; ưa nói lời thô ác, làm loạn, đấu tranh, tâm không từ bi làm cho người khác phải khiếp sợ; nói lời thô bỉ không có một chút chân thật, say mê theo hý luận không thể bỏ được. Các việc như vậy gọi là pháp chướng ngại điều thiện.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa tu tập không hạnh, diệt pháp hý luận, suy  Nghĩ rằng: “Cảnh giới sở quán đều trống không, tâm năng quán cũng chẳng có, không có hai
loại năng quán và sở quán khác nhau. Các pháp một tướng còn gọi là không tướng, suy  Nghĩ như thế thì không còn giữ tướng trong ngoài không thấy thân tâm, cũng không thấy pháp, liên tiếp tu tập chỉ quán theo thứ lớp. Quán là thấy như thật pháp. Chỉ là sự nhất tâm bất loạn. Bồ-tát tu quán hạnh như thế rồi liền được tịnh giới. Vì giới thanh tịnh nên hạnh cũng thanh tịnh. Đây là quán hạnh thanh tịnh của Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa.”
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa hộ trì pháp tạng Vô thượng của Như Lai, nhận lãnh chánh pháp. Vì hộ pháp chứ không vì lợi dưỡng, vì làm cho hạt giống Tam bảo không đoạn dứt chứ không phải vì sự cung kính. Vì muốn hộ trì hạnh Đại thừa chứ không vì danh vọng. Làm chỗ nương tựa cho người không có chỗ nương tựa, làm người cứu giúp cho người không được cứu giúp, làm cho an lạc người không được an lạc, làm cho người không có Tuệ nhãn được Tuệ nhãn. Dạy đạo Thanh văn cho người tu tiểu thừa, chỉ đạo Độc giác cho người tu Trung thừa, chỉ đạo Vô thượng cho người tu Đại thừa. Vì trí Vô thượng nên nghe pháp như thế, chứ không phải vì cầu thừa thấp kém.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa khéo biết rõ các pháp Tỳ-nại-da khác nhau.  Nghĩa là Tỳ-nại-da, hạnh Tỳ-nại-da, Tỳ-nại-da sâu xa, Tỳ-nại-da vi tế, tịnh cùng bất tịnh, có lỗi không lỗi, giới bản, biệt giải thoát, Tỳ-nại-da Thanh văn, Tỳ-nại-da Bồ-tát. Các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa đối với các pháp Tỳ-nại-da như thế đều thấy biết rõ.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa biết rõ tất cả oai nghi tế hạnh khéo học giới pháp của Thanh văn, Độc giác thọ trì. Đã tu giới hạnh mà nếu như thấy oai nghi nào không đúng ý mọi người thì Bồ-tát từ bỏ ngay, không đúng chỗ không hành. Nếu có Sa-môn nào oai nghi giới hạnh đầy đủ thanh tịnh thì nên gần gũi họ. Nếu Bà-la-môn học các hạnh khác thì bảo họ xa lìa, khuyến khích họ tu Tỳ-nại-da. Tu tập giới hạnh thanh tịnh như vậy nên diệt sạch tâm xảo trá, tật đố. Tự hành hạnh bố thí và cũng khuyên người làm theo. Tán thán hạnh bố thí làm cho người khác học theo, thấy người khác bố thí sinh tâm tùy hỷ chớ không có ý niệm nên bố thí cho ta đừng bố thí cho ai khác. Chỉ nên suy  Nghĩ: “Đa số hữu tình đều
bị nghèo thiếu, đói lạnh, khốn khổ, nguyện cho họ đời nay được an vui, vì nghe chánh pháp nên đời sau được an vui. Đời nay ta phải siêng năng tu tập. Nguyện ta cùng hữu tình đều được xuất ly.” Đây là Bồ-tát không có tâm tật đố, tâm luôn bình đẳng với các hữu tình. Nếu hành Bố thí, Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã cho đến trí Nhất thiết tướng đều vì khắp tất cả hữu tình không có tâm phân biệt. Vì sao? Vì pháp tu với hữu tình cùng niệm một cảnh giới là làm cho mau chóng giải thoát, chính mình đã thoát ra khỏi lửa sinh tử thì nguyện cho hữu tình cũng được ra khỏi.
Này Thiên vương, thí như trưởng giả có sáu người con nhỏ dại ông đều yêu thương không có phân biệt. Trưởng giả ở ngoài thấy nhà bị cháy. Ý ông  Nghĩ sao? Khi thấy trưởng giả có suy  Nghĩ như thế này không: Đối với sáu đứa con kia, ta cứu đứa này trước, đứa kia sau?
Bạch Thế Tôn, không có như vậy. Vì sao? Vì người cha luôn đem tâm bình đẳng đối với con cái.
Thiên vương nên biết, vì những kẻ ngu si tham đắm trong sáu đường, đang ở trong nhà lửa sinh tử không biết đường ra thì Bồ-tát đem tâm bình đẳng dùng mọi phương tiện hướng dẫn họ đi ra để được an ổn trong cõi tịch tĩnh.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa đối với pháp cũng vậy vì hộ chánh pháp cúng dường Như Lai, dùng đầy đủ các thứ để cúng dường Như Lai, như thật tu hành để cúng dường Như Lai, làm lợi ích an lạc hữu tình để cúng dường Như Lai, giữ gìn thiện pháp của hữu tình để cúng dường Như Lai, tùy thuận giáo hóa, hướng dẫn hữu tình, hành Bồ-tát đạo, việc làm đi đôi với lời nói, tâm mong cầu Vô thượng giác không hề mỏi mệt, làm như thế mới gọi là cúng dường chư Phật, chẳng phải đem của cải mới gọi là cúng dường. Vì sao? Vì pháp là thân Phật. Nếu cúng dường pháp tức là cúng dường Phật. Chư Phật Thế Tôn đều từ chỗ tu hành như thật mà đến, vì làm lợi ích an lạc cho hữu tình, vì hộ trì thiện pháp, tùy thuận hữu tình. Nếu chẳng làm như vậy là trái với bản nguyện. Lười biếng giải đãi không thể thành tựu tâm Bồ-đề? Vì sao? Vì chí hướng Vô thượng Bồ-đề của Bồ-tát đều từ nơi hữu tình. Nếu không có hữu tình thì Bồ-tát làm sao có thể đắc đạo Vô thượng Bồ-đề.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa
sâu xa tu hành chánh pháp cúng dường Như Lai gọi là chân cúng dường. Cúng dường như thế để diệt tâm ngã mạn, xa lìa thế tục, cạo bỏ râu tóc giống như người đã chết, không còn liên hệ đến cha mẹ, anh em, bà con nội ngoại. Tướng trạng và y phục của các vị đều khác với người đời, dẹp tâm ngã mạn để ôm bình bát vào thành ấp xóm làng, hoặc là đến những nhà nghèo cùng để xin ăn và  Nghĩ rằng: “Mạng sống của ta tùy thuộc vào người khác. Nhờ họ cho ăn, ta mới sống, do đó trừ được tâm ngã mạn.” Lại  Nghĩ rằng: “Ta nên hoan hỷ với tư tưởng của thầy bạn, vì xưa chưa được nghe pháp mà nay được nghe. Nếu thấy người kia sân hận, tranh cãi, nên phải nhẫn nhục, khiêm nhường tránh đi.” Bồ-tát như thế là trừ được tâm ngã mạn.
Thiên vương nên biết, các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thì sinh chánh tín bền chắc. Vì sao? Vì các công đức đời trước đã trồng, căn lành vững mạnh đã đầy đủ nhân lành, thành tựu chánh kiến, nội tâm thanh tịnh, không chạy theo cảnh bên ngoài, tâm hạnh kiên cố chánh trực, không tin theo ngoại duyên, nội tâm thanh tịnh, các căn thông lợi, không có dối trá, đầy đủ Bát-nhã ba-la-mật-đa, xa lìa triền cái, xa lìa bạn ác, gần gũi bạn lành, học hỏi lời hay, tâm không giải đãi, nghe lời thuyết pháp, biết công đức Phật.
Bấy giờ, Tối Thắng bạch Phật:
–Cúi xin Đấng Đại Từ thương xót nói cho chúng con nghe về tướng đại oai thần công đức của Như Lai.
Phật bảo Tối Thắng:
–Này Đại vương, ông hãy lắng nghe và khéo suy  Nghĩ, Ta sẽ nói một phần nhỏ về oai thần công đức của Phật.
Tối Thắng bạch Phật:
–Xin Ngài nói cho!
Phật dạy:
–Này Thiên vương, đức đại Từ của Như Lai vô lượng, vô biên, bao trùm hết hữu tình và cảnh giới hữu tình cho đến mười phương tận hư không giới đều được chiếu phủ trùm khắp không thể so lường được. Đức đại Bi của Như Lai thì hàng Thanh văn, Độc giác không thể có được. Vì sao? Vì pháp bất cộng cho nên không có một hữu tình nào ở mười phương thế giới mà không được đức đại Bi của Như Lai bao trùm. Pháp của Như Lai nói ra rốt ráo không cùng tận khắp. Vì các loài hữu
tình trong mười phương. Trải qua vô lượng kiếp, Đức Như Lai đã dùng vô lượng nhân duyên nói các pháp yếu cũng không cùng tận. Nếu hữu tình dùng mọi ngôn từ cú  Nghĩa để hỏi thì chỉ trong một khảy móng tay Đức Như Lai làm cho tất cả hữu tình đều phân biệt rõ ràng mà không ai có thể bắt bẻ được, vì Đức Như Lai đã đắc cảnh giới tĩnh lự vô ngại, thậm thâm không thể đo lường. Giả sử hữu tình ở các thế giới đều trụ mười địa của Bồ-tát đến trăm ngàn kiếp nhập vào Đẳng trì thù thắng cũng không thể đo lường cảnh định của Như Lai. Thân của Như Lai vô lượng, vô biên. Vì sao? Vì tùy thuận tâm mong thấy của hữu tình nên chỉ trong một niệm Đức Như Lai có thể hiện vô lượng thân khác nhau. Thiên nhãn của Như Lai tối thắng thanh tịnh nên sắc tướng sai khác của tất cả hữu tình, tất cả thế giới và vô vàn các vật loại không đồng nhau, Đức Như Lai đều thấy rõ như xem trái xoài trong lòng bàn tay, những ai có Thiên nhãn cũng không thể sánh kịp. Thiên  nhĩ của Như Lai tối thắng thanh tịnh nên đối với âm thanh khác nhau của tất cả hữu tình và tất cả âm thanh của các vật loại khác thì chỉ trong một niệm Như Lai đều nghe và hiểu rõ ý  Nghĩa của nó. Tha tâm trí của Như Lai thanh tịnh nên đối với mỗi mỗi suy  Nghĩ tạo nghiệp, thọ quả khác nhau của tất cả hữu tình trong tất cả thế giới thì chỉ trong một niệm, trong bốn oai nghi Phật đều biết rõ. Vì sao? Vì Phật thường ở trong định, không có tán loạn.
Thiên vương nên biết, Phật không thất niệm, tâm không tán loạn, căn không duyên các cảnh. Vì sao? Vì xa lìa tập quán phiền não nên thanh tịnh tối thượng, tịch tĩnh vô cấu, có phiền não tức là thất niệm, tán loạn, căn duyên các cảnh khác nhau. Đức Như Lai được vô lậu loại bỏ cấu bẩn được tất cả pháp tự tại bình đẳng, thường ở trong Đẳng trì và Đẳng chí nên Như Lai chỉ trụ một oai nghi, an trú trong Đẳng trì cho đến lúc nhập Niết-bàn. Chúng trời, người… còn chưa thể biết được, huống gì Như Lai đã trải qua vô lượng kiếp, tu tập vô lượng, vô biên Đẳng trì mà trời, người nào có thể biết được. Vì sao? Vì công đức của Như Lai không thể đo lường, không thể tư nghì, không thể quán sát.
Bấy giờ, Tối Thắng bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, con nghe Đức Như Lai trải qua ba vô số kiếp tu hành mới được thành Phật. Vì sao nay nói tu vô lượng kiếp?
Phật dạy:
–Này Thiên vương,  Nghĩa ấy không phải vậy. Vì sao? Vì Bồ-tát hướng đến quả vị Giác ngộ cao tột phải tu vô lượng công đức mới được thành tựu, chẳng phải trải qua chừng ấy kiếp số mà có thể chứng nhập pháp lý bình đẳng, phải tu đến rốt ráo mới thành Phật ư.
Khi ấy, Tối Thắng bạch Phật:
–Lành thay, lành thay! Đức Thế Tôn đã nói hoàn toàn pháp cốt yếu để khuyên tất cả hữu tình phát sinh các căn lành, xa lìa nghiệp chướng, muốn đạt quả Phật, tu Bồ-tát hạnh. Nếu hữu tình nào được nghe oai thần công đức của Như Lai mà sinh tâm hoan hỷ, khen ngợi, tin tưởng thì nên biết hữu tình ấy sẽ mau thành tựu oai thần công đức như Phật. Huống nữa là thọ trì đọc tụng, biên chép, cúng dường, giảng giải cho người khác thì phước đức của người ấy không thể  Nghĩ bàn.
Phật bảo:
–Đúng vậy, đúng vậy! Này Thiên vương, hữu tình kia được Như Lai hộ trì vì trải qua nhiều số kiếp người ấy đã gieo trồng căn lành hoặc ở quá khứ đã cúng dường các Đức Phật nên mới được nghe oai thần công đức của Phật.
Thiên vương nên biết, thiện nam, thiện nữ nào tâm không nghi hoặc trong bảy ngày tắm rửa sạch sẽ, mặc áo mới, cúng dường hương hoa, nhất tâm chánh niệm oai thần và công đức của Như Lai như trước đã nói. Khi ấy Như Lai sẽ từ bi hộ niệm, hiện thân cho thấy, làm cho nguyện được đầy đủ. Nếu thiếu hương hoa… chỉ nhất tâm niệm công đức và oai thần thì khi sắp qua đời sẽ được thấy Phật.
Bấy giờ, Tối Thắng lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, có hữu tình nào nghe nói đại oai thần và công đức của Như Lai như vậy mà không có lòng tin lại còn hủy báng nữa không?
Phật dạy:
–Cũng có,  Nghĩa là có hữu tình nghe nói pháp môn oai thần và công đức của Như Lai như vậy sinh tâm sân hận, bất thiện rồi hủy báng, đối với thuyết Pháp sư mà tưởng là bạn ác. Người ấy sau khi qua đời sẽ đọa địa ngục chịu khổ nhiều kiếp. Nếu có hữu tình nghe nói đại oai thần và công đức của Như Lai như vậy mà vui mừng, tin thọ, tán
thán, ghi nhớ, tưởng thuyết Pháp sư là bạn lành thì sau khi qua đời được sinh lên trời dần dần tiến lên thành Phật.
Bấy giờ, Thế Tôn hiện tướng lưỡi rộng dài bao phủ khuôn mặt cho đến đỉnh đầu, rồi lại bao trùm khắp thân, kế đến che tòa Sư tử, rồi đến che đại chúng Bồ-tát, đại chúng Thanh văn, sau đó mới che Đế Thích, Phạm thiên, Hộ thế, Nhân phi nhân… và khắp cả đại chúng. Khi ấy Như Lai thu tướng lưỡi và bảo đại chúng:
–Đức Như Lai có tướng lưỡi này không có thể nói lời dối trá. Các ông ở trong đại chúng này đối với lời ta đã nói ra đều phải tín thọ thì luôn được an vui.
Khi Phật thuyết pháp như vậy, ở trong đại chúng có tám vạn bốn ngàn Bồ-tát đắc Vô sinh pháp nhẫn, vô lượng hữu tình xa lìa trần cấu, sinh Pháp nhãn thanh tịnh, vô số hữu tình đều phát tâm cầu quả vị Giác ngộ cao tột.
/52
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »