KINH ĐẠI BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA
QUYỂN 586
Phẩm TỊNH GIỚI BA-LA-MẬT-ĐA (3)
Thế nào gọi là thiện xảo đối với duyên khởi?
Nghĩa là các Bồ-tát như thật rõ biết các tự tướng có bao nhiêu nhân duyên, biết rõ như thật các tự tướng có bao nhiêu đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và từ các duyên sinh ra các pháp. Như vậy, gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết các tự tướng có bao nhiêu nhân duyên đều chẳng thể nắm bắt được, như thật rõ biết các tự tướng có bao nhiêu đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết các cộng tướng có bao nhiêu nhân duyên, như thật rõ biết các cộng tướng có bao nhiêu đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên. Như vậy gọi là thiện xảo đối duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết các cộng tướng có bao nhiêu nhân duyên đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ các cộngï tướng có bao nhiêu đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu nhân duyên hoặc thường, hoặc vô thường đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên hoặc thường, hoặc vô thường đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu nhân duyên hoặc lạc, hoặc khổ đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có
bao nhiêu đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên hoặc lạc, hoặc khổ đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu nhân duyên hoặc ngã, hoặc vô ngã đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên hoặc ngã, hoặc vô ngã đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu nhân duyên hoặc tịnh, hoặc bất tịnh đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên hoặc tịnh, hoặc bất tịnh đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu nhân duyên hoặc không, hoặc chẳng không đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên hoặc không, hoặc chẳng không đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu nhân duyên hoặc có tướng, hoặc không tướng đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên hoặc có tướng, hoặc không tướng đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu nhân duyên hoặc hữu nguyện, hoặc vô nguyện đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên hoặc hữu nguyện, hoặc vô nguyện đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu nhân duyên hoặc tịch tĩnh, hoặc chẳng tịch tĩnh đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên hoặc tịch tĩnh, hoặc chẳng tịch tĩnh đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu nhân duyên hoặc xa lìa, hoặc không xa lìa đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật
biết rõ có bao nhiêu đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên hoặc xa lìa, hoặc không xa lìa đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết các tự tướng có bao nhiêu vô minh. Như thật biết rõ các tự tướng có bao nhiêu hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết các tự tướng có bao nhiêu vô minh đều chẳng thể nắm bắt được, như thật rõ biết các tự tướng có bao nhiêu hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết các cộng tướng có bao nhiêu vô minh, như thật rõ biết các cộng tướng có bao nhiêu hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết các cộng tướng có bao nhiêu vô minh đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ các cộngï tướng có bao nhiêu hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử cũng đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu vô minh hoặc thường, hoặc vô thường đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử hoặc thường, hoặc vô thường đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu vô minh hoặc lạc, hoặc khổ đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử hoặc lạc, hoặc khổ đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu vô minh hoặc ngã, hoặc vô ngã đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử hoặc ngã, hoặc vô ngã đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi
là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu vô minh hoặc tịnh, hoặc bất tịnh đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử hoặc tịnh, hoặc bất tịnh đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu vô minh hoặc không, hoặc chẳng không đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử hoặc không, hoặc chẳng không đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu vô minh hoặc có tướng, hoặc không tướng đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử hoặc có tướng, hoặc không tướng đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu vô minh hoặc hữu nguyện, hoặc vô nguyện đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử hoặc hữu nguyện, hoặc vô nguyện đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu vô minh hoặc tịch tĩnh, hoặc chẳng tịch tĩnh đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử hoặc tịch tĩnh, hoặc chẳng tịch tĩnh đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu vô minh hoặc xa lìa, hoặc không xa lìa đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử hoặc xa lìa, hoặc không xa lìa đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với duyên khởi.
Thế nào gọi là thiện xảo đối với chỗ đúng, chỗ sai?
– Nghĩa là các Bồ-tát như thật rõ biết các tự tướng có bao nhiêu chỗ đúng. Biết rõ như thật các tự tướng có bao nhiêu chỗ sai. Như vậy, gọi là thiện xảo đối với chỗ đúng, chỗ sai.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết các tự tướng có bao nhiêu chỗ đúng đều chẳng thể nắm bắt được, như thật rõ biết các tự tướng có bao nhiêu chỗ sai đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với chỗ đúng, chỗ sai.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết các cộng tướng có bao nhiêu chỗ đúng, như thật rõ biết các cộng tướng có bao nhiêu chỗ sai. Như vậy gọi là thiện xảo đối với chỗ đúng chỗ sai.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết các cộng tướng có bao nhiêu chỗ đúng đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ các cộngï tướng có bao nhiêu chỗ sai cũng đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với chỗ đúng, chỗ sai.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu chỗ đúng hoặc thường, hoặc vô thường đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu chỗ sai hoặc thường, hoặc vô thường đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với chỗ đúng, chỗ sai.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu chỗ đúng hoặc lạc, hoặc khổ đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu chỗ sai hoặc lạc, hoặc khổ đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với chỗ đúng, chỗ sai.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu chỗ đúng hoặc ngã, hoặc vô ngã đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu chỗ sai hoặc ngã, hoặc vô ngã đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với chỗ đúng, chỗ sai.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu chỗ đúng hoặc tịnh, hoặc bất tịnh đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu chỗ sai hoặc tịnh, hoặc bất tịnh đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với chỗ đúng, chỗ sai.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu chỗ đúng hoặc không, hoặc chẳng không đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu chỗ sai hoặc không, hoặc chẳng không đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với chỗ đúng, chỗ sai.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu chỗ đúng hoặc có tướng, hoặc không tướng đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu chỗ sai hoặc có tướng, hoặc không tướng đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với chỗ đúng, chỗ sai.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu chỗ đúng hoặc hữu nguyện, hoặc vô nguyện đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu chỗ sai hoặc hữu nguyện, hoặc vô nguyện đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với chỗ đúng, chỗ sai.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu chỗ đúng hoặc tịch tĩnh, hoặc chẳng tịch tĩnh đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu chỗ sai hoặc tịch tĩnh, hoặc chẳng tịch tĩnh đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với chỗ đúng, chỗ sai.
Lại nữa, các Bồ-tát như thật rõ biết có bao nhiêu chỗ đúng hoặc xa lìa, hoặc không xa lìa đều chẳng thể nắm bắt được. Như thật biết rõ có bao nhiêu chỗ sai hoặc xa lìa, hoặc không xa lìa đều chẳng thể nắm bắt được. Như vậy gọi là thiện xảo đối với chỗ đúng, chỗ sai.
Như vậy, Bồ-tát đối với các uẩn, phải tu hành hoàn hảo. Do hoàn hảo nên vì các hữu tình thuyết pháp, làm cho họ chấm dứt các tưởng hữu tình. Bồ-tát khởi tâm thù thắng như vậy là lợi mình và lợi người, tu các trí tuệ vi diệu, tất cả đều dùng đại Bi làm đầu, thường phát khởi tâm tùy thuận hồi hướng tương ưng với trí Nhất thiết trí. Nên biết đây gọi là đầy đủ giới Bồ-tát, đầy đủ tịnh giới Vô thượng. Nếu các Bồ-tát muốn cầu quả vị Giác ngộ cao tột phải siêng năng tu tập Bố thí, Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa, hồi hướng cầu đến trí Nhất thiết trí. Nếu các Bồ-tát dùng sáu pháp Ba-la-mật-đa này, hồi hướng cầu đến trí Nhất thiết trí. Các Bồ-tát này do tịnh giới đây nên thù thắng hơn tất cả Thanh văn, Độc giác.
Lại nữa Mãn Từ Tử, một giới của Bồ-tát giới mới phát tâm cầu quả vị Giác ngộ cao tột so với tất cả hữu tình đều đã thành tựu mười nẻo nghiệp thiện thì giới này hơn gấp trăm ngàn, ức phần.
Lại nữa Mãn Từ Tử, giả sử tất cả hữu tình ở thế gian, đều thành tựu đầy đủ mười nẻo nghiệp thiện thì bao nhiêu giới này so với một giới của các Bồ-tát mới phát tâm cầu quả vị Giác ngộ cao tột thì không bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần nhỏ.
Lại nữa Mãn Từ Tử, giả sử tất cả hữu tình ở thế gian đều thành tựu đầy đủ năm Thần thông trên thì bao nhiêu giới kia đối với một giới
của các Bồ-tát mới phát tâm cầu quả vị Giác ngộ cao tột thì không bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần nhỏ.
Lại nữa Mãn Từ Tử, giả sử tất cả hữu tình ở thế gian, đều an trụ đầy đủ Từ, Bi, Hỷ, Xả thì bao nhiêu giới kia đối với một giới của các Bồ-tát mới phát tâm cầu quả vị Giác ngộ cao tột thì không bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần nhỏ.
Lại nữa Mãn Từ Tử, giả sử tất cả hữu tình ở thế gian đều thành tựu đầy đủ tùy thuận nhẫn không thì bao nhiêu giới kia đối với một giới của các Bồ-tát mới phát tâm về quả vị Giác ngộ cao tột thì không bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần nhỏ.
Lại nữa Mãn Từ Tử, giả sử tất cả hữu tình ở thế gian đều thành tựu đầy đủ tùy thuận nhẫn vô tướng thì bao nhiêu giới kia đối với một giới của các Bồ-tát mới phát tâm cầu quả vị Giác ngộ cao tột thì không bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần nhỏ.
Lại nữa Mãn Từ Tử, giả sử tất cả hữu tình ở thế gian đều thành tựu đầy đủ tùy thuận nhẫn vô nguyện thì bao nhiêu giới kia đối với một giới của các Bồ-tát mới phát tâm cầu quả vị Giác ngộ cao tột thì không bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần nhỏ.
Lại nữa Mãn Từ Tử, giả sử tất cả hữu tình ở thế gian đều thành tựu đầy đủ pháp của bậc Đệ bát, thì bao nhiêu giới kia đối với một giới của các Bồ-tát mới phát tâm cầu quả vị Giác ngộ cao tột thì không bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần nhỏ.
Lúc bấy giờ, Mãn Từ Tử thưa với Xá-lợi Tử:
–Nay, tôi muốn hỏi Tôn giả, có bao nhiêu ý Nghĩa ở Đệ bát địa, xin ngài hứa khả, vì tôi giải thích ý Nghĩa này.
Xá-lợi Tử đáp:
–Tùy theo ý của ngài, hỏi điều gì, tôi sẽ theo đó mà giải thích.
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì thân cận sắc uẩn là Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì xa lìa sắc uẩn là có Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì thân cận thọ, tưởng, hành, thức uẩn là Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì xa lìa thọ, tưởng, hành, thức uẩn là có Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì thân cận nhãn xứ là Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì xa lìa nhãn xứ là có Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì thân cận nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ là Đệ bát
địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì xa lìa nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ là có Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì thân cận sắc xứ là Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì xa lìa sắc xứ là có Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì thân cận thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ là Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì xa lìa thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ là có Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì thân cận nhãn giới là Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì xa lìa nhãn giới là có Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì thân cận nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới là Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì xa lìa nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới là có Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì thân cận sắc giới là Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì xa lìa sắc giới là có Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì thân thân cận thanh, hương, vị, xúc, pháp giới là Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì xa lìa thanh, hương, vị, xúc, pháp giới là có Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì thân cận nhãn thức giới là Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì xa lìa nhãn thức giới là có Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì thân cận nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới là Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì xa lìa nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới là có Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì thân cận nhãn xúc là có Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì xa lìa nhãn xúc là có Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì thân cận nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc là Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì xa lìa nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc là có Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì thân cận các thọ do nhãn xúc làm duyên sinh ra là Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì xa lìa các thọ do nhãn xúc làm duyên sinh ra là có Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì thân cận các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sinh ra là Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì xa lìa các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sinh ra là có Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì thân cận địa giới là Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì xa lìa địa giới là có Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì thân cận thủy, hỏa, phong, không, thức giới là Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì xa lìa thủy, hỏa, phong, không, thức giới là có Đệ bát địa hay sao?
Xá-lợi Tử đáp:
–Cụ thọ, không phải!
Mãn Từ Tử hỏi:
–Nếu vậy, Tôn giả nói những pháp nào là Đệ bát địa? Làm sao để tôi hiểu rõ được cái Nghĩa thú của Tôn giả nói mà thọ trì đúng lý?
Xá-lợi Tử đáp:
–Nếu trong tánh bình đẳng của các pháp dùng trí như thật biết tánh bình đẳng nên chứng tánh bình đẳng. Do trí này nên sự tạo tác đã chấm dứt. Ở trong này, tôi không thấy Đệ bát địa, cũng lại không thấy biết trí bình đẳng. Trong đây không có ngã, không có ngã sở. Sao lại ở trong đó mà có thể hỏi liên tiếp vậy?
Mãn Từ Tử hỏi:
–Vì sao lời nói trước sau của Tôn giả đều trái ngược vậy. Nghĩa là lời nói trước là tất cả tịnh giới của Đệ bát địa đối với một giới của các Bồ-tát khi mới phát tâm cầu quả vị Giác ngộ cao tột thì không bằng một phần trăm, một phần ngàn cho đến một phần nhỏ. Nay lại nói ở trong đó ta hoàn toàn không thấy có Đệ bát địa và trí.
Xá-lợi Tử đáp:
–Lời nói trước của tôi là vì người mới học, không vì người đã nhập tánh bình đẳng. Lời nói trước của tôi là muốn khiến cho hữu tình vào chánh pháp, không vì người đã nhập tánh bình đẳng. Lời nói trước của tôi là muốn hữu tình biết Đại thừa, tu hành vượt qua Nhị thừa, không thuyết thật tánh bình đẳng của các pháp. Lời nói trước của tôi là muốn hữu tình hiểu rõ như thật về sự thù thắng của Phật thừa, Đại thừa và tịnh giới, cho nên nói như vầy: “Giả sử tất cả hữu tình ở thế gian đều thành tựu Đệ bát địa, họ đều có được tịnh giới nhưng đối với một giới của các Bồ-tát khi mới phát tâm cầu quả vị Giác ngộ cao tột thì không bằng một phần trăm, một phần ngàn cho đến một phần nhỏ, chứ không thuyết thật tánh bình đẳng của các pháp, xa lìa ngã và ngã sở. Sao lại trái ngược nhau?
Lại nữa Mãn Từ Tử, tất cả tịnh giới của Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn và A-la-hán, Độc giác đối với một giới của các Bồ-tát khi mới phát tâm cầu quả vị Giác ngộ cao tột thì không bằng một phần trăm, một phần ngàn cho đến một phần nhỏ. Cụ thọ nên biết, có những người muốn làm cho tịnh giới của Thanh văn, Độc giác hơn giới của Bồ-tát. Người kia vì muốn làm cho tịnh giới Thanh văn, Độc giác hơn giới của Như Lai. Nên biết, người kia muốn tranh đua hơn thua với Như Lai. Ví như có người tranh giành với vương tử, nên biết người kia muốn tranh giành với vua. Như vậy, nếu có người muốn làm cho Tịnh giới của Thanh văn, Độc giác hơn giới của Bồ-tát là vì muốn làm cho tịnh giới của Thanh văn, Độc giác hơn giới của Như Lai. Nên biết người kia muốn tranh giành hơn thua với Như Lai. Vì sao? Mãn Từ Tử, vì không thể hơn pháp của các Bồ-tát được, cho nên Bồ-tát là Pháp vương tử chân thật.
Lại nữa Mãn Từ Tử, ví như có người không tay, không chân mà lại nói như vầy:
–Tôi muốn bơi qua bờ biển bên kia.
Lời nói kia hư dối không thật, bởi vì tăng thượng mạn nên nói như thế. Như vậy nếu có Thanh văn, Độc giác nói như vầy:
–Giới của ta hơn giới của Bồ-tát.
Nên biết lời nói kia hoàn toàn không thật. Vì sao? Mãn Từ Tử, vì công đức Bồ-tát như biển lớn, người ngu kia thật sự không có tay chân mà lại nói ta bơi qua khỏi biển lớn. Như vậy, có người chỉ đến Nhị thừa, thật sự không có công đức thù thắng của Bồ-tát, nhưng lại nói ta thù thắng hơn tịnh giới của Bồ-tát. Điều này không có. Vì sao? Mãn Từ Tử, vì tịnh giới của Bồ-tát không có biên giới.
Khi ấy, Mãn Từ Tử liền hỏi Cụ thọ Xá-lợi Tử:
–Do nhân duyên gì mà nói tịnh giới của Bồ-tát không có biên giới?
Xá-lợi Tử đáp:
–Tịnh giới của Bồ-tát giải thoát vô lượng hữu tình phạm giới ác. An lập vô lượng hữu tình giữ giới thanh tịnh.
Lúc đó, Mãn Từ Tử liền hỏi Cụ thọ Xá-lợi Tử:
–Tôn giả đã nói người phạm giới ác là khái niệm thế nào?
Xá-lợi Tử đáp:
–Chấp ngã, ngã sở và các phiền não khác gọi là phạm giới ác. Nghĩa là nắm giữ tưởng hoặc tưởng ngã, tưởng hữu tình, tưởng sinh mạng, tưởng sự sống, tưởng sự nuôi dưỡng, tưởng sĩ phu, tưởng chúng sinh, tưởng thọ giả, tưởng hữu, tưởng vô. Các tưởng như vậy và các phiền não khác là khái niệm về phạm giới ác. Sự hiển lộ tịnh giới của Bồ-tát có thể giải thoát vô lượng hữu tình. Như vậy là đã nói phạm giới ác, số lượng không biên giới.
Lại nữa, tịnh giới của các Bồ-tát làm cho an lập vô lượng hữu tình khiến trụ vào tịnh giới. Thế Bồ-tát an trụ Đại thừa được đắc tịnh giới với số lượng không biên giới. Thanh văn, Độc giác đều không bằng, thù thăng hơn tịnh giới của Thanh văn, Độc giác.
Lại nữa Mãn Từ Tử, các Bồ-tát hơn tất cả Thanh văn, Độc giác Nghĩa là tu Tịnh giới ba-la-mật-đa hồi hướng cầu đến trí Nhất thiết trí.
Lúc bấy giờ, Mãn Từ Tử hỏi Xá-lợi Tử:
–Vì sao tịnh giới hữu lậu của Bồ-tát hơn tịnh giới vô lậu của Nhị thừa?
Xá-lợi Tử đáp:
–Tịnh giới vô lậu của Thanh văn, Độc giác chỉ cầu tự lợi, hồi hướng Niết-bàn. Tịnh giới của Bồ-tát vì độ thoát vô lượng hữu tình hồi hướng đến quả vị Giác ngộ cao tột. Thế nên, tịnh giới hữu lậu của Bồ-tát hơn tịnh giới vô lậu của Nhị thừa.
Lại nữa Mãn Từ Tử, nếu tâm các Bồ-tát có phân biệt giới hạn khi làm lợi ích cho hữu tình nên phát khởi tịnh giới. Sự phát khởi tịnh giới của các Bồ-tát này không hơn được tịnh giới vô lậu của Nhị thừa, không gọi là Tịnh giới ba-la-mật-đa. Nhưng nếu tâm các Bồ-tát không có phân biệt, giới hạn, chỉ vì độ thoát vô lượng hữu tình, cầu đại Bồ-đề nên phát khởi tịnh giới thì sự phát khởi tịnh giới của Bồ-tát này hơn hẳn tịnh giới vô lậu của Nhị thừa, gọi là Tịnh giới ba-la-mật-đa.
Lại nữa Mãn Từ Tử, như mặt trời mọc, phóng ra ánh sáng lớn, làm cho ánh sáng của lửa đom đóm đều chìm mất. Bồ-tát tu hành Tịnh giới ba-la-mật-đa cũng vậy, hồi hướng cầu đến trí Nhất thiết trí, hơn hẳn tịnh giới của tất cả Thanh văn, Độc giác, hồi hướng Niết-bàn.
Lại nữa Mãn Từ Tử, như mặt trăng xuất hiện chiếu ánh sáng lớn, tất cả ánh sáng của ngôi sao đều bị lu mờ. Bồ-tát tu hành Tịnh giới ba-la-mật-đa cũng vậy, hồi hướng cầu đến trí Nhất thiết trí, hơn hẳn tịnh
giới của tất cả Thanh văn, Độc giác, hồi hướng Niết-bàn.
Lại nữa Mãn Từ Tử, nếu khi Bồ-tát nhớ Nghĩ về Như Lai, hồi hướng cầu trí Nhất thiết trí. Do khởi tâm lực tương ưng thù thắng, nên được Tịnh giới ba-la-mật-đa. Bấy giờ, gọi là hành theo chỗ tu hành của mình hơn tất cả Thanh văn, Độc giác.
Bấy giờ, Mãn Từ Tử liền hỏi Cụ thọ Xá-lợi Tử:
–Nếu khi Bồ-tát không hiện khởi tâm trí Nhất thiết, thì khi ấy Bồ-tát được gọi là gì?
Xá-lợi Tử đáp:
–Nếu khi Bồ-tát không hiện khởi tâm trí Nhất thiết. Bấy giờ Bồ-tát được gọi là liên tục an trụ tâm vô ký. Khi ấy, Bồ-tát này gọi là đầy đủ giới Bồ-tát, đối với giới Bồ-tát chưa gọi là hủy phạm, không gọi là xả bỏ tịnh giới Bồ-tát. Nếu khi Bồ-tát không hiện khởi tâm trí Nhất thiết, mà hồi hướng Thanh văn, hoặc Độc giác thì khi ấy, Bồ-tát xả bỏ địa Bồ-tát, mất hành xứ của mình. Nếu các Bồ-tát bất kỳ khi nào hồi hướng địa vị Thanh văn, hoặc Độc giác, thì khi ấy các Bồ-tát này đối với Vô thượng thừa gọi là chết. Tuy chẳng phải chết thật nhưng được gọi là chết. Như thầy huyễn thuật hoặc đệ tử, nắm tay chú bé nhỏ dẫn lên cầu thang cao, nhà ảo thuật cắt thân thể nó ra từng phần vứt xuống. Khi đó mọi người đều nói đứa bé kia đã chết, thương xót buồn khóc, sinh khổ não lớn. Đứa bé này bỗng dưng chết mất, thân thuộc chúng tôi làm sao thấy lại. Bồ-tát cũng vậy, bỏ đại Bồ-đề thoái lui an trụ địa vị Thanh văn, Độc giác, mất trí Nhất thiết nên biết như là chết. Cũng như đứa bé kia tuy không chết nhưng thân thuộc lại tưởng chết.
Lại nữa Mãn Từ Tử, ý ông thế nào? Tịnh giới của Bồ-tát cùng với tịnh giới của phàm phu, Thanh văn, Độc giác có khác nhau không?
Mãn Từ Tử đáp:
–Các giới như vậy, pháp tánh chân như thật không khác nhau.
Xá-lợi Tử hỏi:
–Các giới như vậy, pháp tánh, chân như tuy không khác nhau, nhưng cũng có tướng khác nhau. Tướng khác nhau đó nên nói thế nào?
Mãn Từ Tử đáp:
–Như các Bồ-tát cầu chứng quả vị Giác ngộ cao tột. Phàm phu, Thanh văn, Độc giác không như vậy. Như vậy tịnh giới của Bồ-tát cùng với các giới kia nói có khác nhau.
Xá-lợi Tử:
–Bởi vì tịnh giới của Bồ-tát này hơn tịnh giới của các phàm phu, Thanh văn, Độc giác. Nghĩa là giới của Bồ-tát hồi hướng cầu đến trí Nhất thiết trí, gọi là Tịnh giới ba-la-mật-đa. Giới khác không như vậy, nên nói là khác nhau. Vì sao? Mãn Từ Tử, vì tịnh giới của Bồ-tát hơn thế giới ba lần ngàn và vô lượng, vô biên hữu tình. Trừ tịnh giới của Phật Thế Tôn, đối với tịnh giới khác là đệ nhất tối thắng. Vì sao? Vì tịnh giới của Bồ-tát đưa vô lượng, vô biên hữu tình giải thoát sinh tử và các đường ác. Do nhân duyên này nên tịnh giới của Bồ-tát đối với tịnh giới của các phàm phu, Thanh văn, Độc giác là tối, là thắng, là tôn, là cao, là diệu, là vi diệu, là trên, là không gì trên.
Lại nữa Mãn Từ Tử, như ngọn Tuyết sơn đầy đủ sự hùng vó của ngọn núi. Các núi khác không bằng. Nếu núi nào đầy đủ sự hùng vó đều được gọi là núi chúa, nếu không đủ sự hùng vó thì không được đặt tên là núi chúa. Tịnh giới của Bồ-tát cũng vậy, hồi hướng đến quả vị Giác ngộ cao tột, không xa lìa cầu trí Nhất thiết trí gọi là Tịnh giới ba-la-mật-đa. Tịnh giới của Độc giác, Thanh văn, phàm phu không muốn cầu quả vị Giác ngộ cao tột, xa lìa sự cầu trí Nhất thiết trí, không gọi là Tịnh giới ba-la-mật-đa. Lại nữa Mãn Từ Tử, tịnh giới của các Bồ-tát hơn hẳn tịnh giới của phàm phu, Thanh văn, Độc giác.
Khi ấy, Mãn Từ Tử liền hỏi Cụ thọ Xá-lợi Tử:
–Tịnh giới của chúng Đại Bồ-tát do nhân duyên gì mà hơn hẳn tịnh giới của phàm phu, Thanh văn, Độc giác?
Xá-lợi Tử đáp:
–Tịnh giới của Bồ-tát hơn hẳn là vì lợi lạc tất cả hữu tình, hồi hướng cầu trí Nhất thiết trí, phàm phu, Thanh văn, Độc giác không có vậy. Cho nên tịnh giới của Bồ-tát hơn hẳn tịnh giới của phàm phu, Thanh văn, Độc giác.
Bấy giờ, Mãn Từ Tử khen ngợi Cụ thọ Xá-lợi Tử:
–Lành thay, lành thay! Đúng vậy, đúng vậy, đúng thật như lời ông nói! Khen ngợi tịnh giới của Bồ-tát như thế, làm cho Bồ-tát lại càng siêng năng tinh tấn, thọ trì tịnh giới Bồ-tát. Nhất định Tôn giả
phải nương thần lực của Phật mới nói tịnh giới của các Bồ-tát hơn hẳn tịnh giới của phàm phu, Thanh văn, Độc giác.
Bấy giờ, Phật bảo A-nan-đà:
–Ông nên thọ trì giáo pháp tương ưng với Tịnh giới ba-la-mật-đa của các Đại Bồ-tát, đúng như lời diễn thuyết của Xá-lợi Tử và Mãn Từ Tử. Diễn thuyết như vậy chắc chắn không hư dối. Giả sử có người đem núi Diệu cao bay lên cõi Phạm thế, rồi thả xuống dưới, người kia thả rồi phát lời thành thật chắc chắn:
–Nếu giới Bồ-tát hơn các tịnh giới của phàm phu, Thanh văn, Độc giác thì hãy làm cho núi Diệu cao trụ ở trong hư không. Nói rồi núi ấy liền trụ chắc chắn không rơi xuống. Vì sao? A-nan-đà, trừ giới của Như Lai ra chỉ có giới của các Bồ-tát đối với tịnh giới khác hoặc hữu lậu hoặc vô lậu là tối, là thắng, là tôn, là cao, là diệu, là vi diệu, là trên, là không gì trên.
Khi ấy, Xá-lợi Tử nhờ thần lực của Phật liền thấy cách cõi Phật này ở phương Đông quá trăm ngàn cõi có một cõi Phật. Trong ấy, hiện có Như Lai vì vô lượng trời, người tuyên thuyết chánh pháp. Phật dạy Xá-lợi Tử:
–Ông thấy quá trăm ngàn cõi ở phương Đông có một cõi Phật, hiện có Như Lai vì vô lượng chúng thuyết chánh pháp phải không?
Xá-lợi Tử thưa:
–Bạch Thế Tôn, con đã thấy, nhưng chưa biết vị Phật ở cõi kia hiệu là gì?
Lúc đó, Thế Tôn bảo Xá-lợi Tử:
–Thế giới Phật kia tên là Minh Đăng. Trong ấy, Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác hiện đang thuyết pháp hiệu là Nguyệt Quang. Vị Phật ấy có một đệ tử Thanh văn tên là Hữu Đảnh, có thần thông đệ nhất, dùng sức thần thông qua lại thế giới khác, dùng tay phải nâng lấy núi Diệu cao, bay lên cõi Phạm thế rồi thả xuống. Vị kia vừa thả xuống rồi, phát ra lời thành thật chắc chắn: “Trừ giới của Như Lai ra, chỉ có giới của Bồ-tát đối với tịnh giới khác hoặc hữu lậu hoặc vô lậu là tối, là thắng, là tôn, là cao, là diệu, là vi diệu, là thượng, là tối thượng.” Lời nói như thế không có hư dối thì làm cho núi này trụ ở giữa hư không.” Nói rồi liền thấy núi trụ lại không bị rơi xuống.
Rồi, Thế Tôn hỏi Xá-lợi Tử:
–Ông lại thấy núi Diệu cao kia trụ giữa hư không chẳng bị rớt xuống phải không?
Khi ấy, Xá-lợi Tử bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, con đã thấy.
Thế Tôn lại bảo Xá-lợi Tử:
–Nay, núi kia trụ ở hư không là do nương vào tịnh giới của Bồ-tát. Trừ giới của Như Lai ra, phát lời thành thật chắc chắn hơn giới của phàm phu, Thanh văn… cho nên Ta nói nhất định không hư dối. Đệ tử Thanh văn trong chúng của Đức Phật kia, bằng sức thần thông qua lại thế giới khác, dùng tay phải nắm lấy núi Diệu cao bay để trên cõi Phạm thế rồi thả rớt xuống. Thả rồi lại phát ra lời thành thật chắc chắn. Nói rồi núi kia liền trụ giữa hư không, là chứng tỏ lời Ta nói nhất định không hư dối. Khi đệ tử Thanh văn của Như Lai kia, nương vào giới của Bồ-tát mà phát lời thành thật chắc chắn làm cho núi kia trở về lại chỗ cũ.
Khi Xá-lợi Tử thấy rồi liền khen ngợi:
–Bạch Thế Tôn, thật là rất kỳ lạ! Giới của các Bồ-tát phát ra lời thành thật oai lực khó Nghĩ bàn, tất cả thế gian không ai sánh bằng.
Khi ấy, Xá-lợi Tử liền bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, nếu có người muốn hơn giới của Bồ-tát, nên biết người kia muốn hơn giới của Như Lai. Vì sao? Vì trừ giới của Như Lai ra không có giới nào hơn giới của Bồ-tát. Nếu tu viên mãn tịnh giới của Bồ-tát thì gọi là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác; thế nên giới của Bồ-tát là thù thắng hơn.
Bấy giờ, Mãn Từ Tử liền hỏi Cụ thọ Xá-lợi Tử:
–Khó có người thoái lui tịnh giới phải không?
Xá-lợi Tử đáp:
–Nhất định không có Bồ-tát trụ tâm Bồ-tát rồi lại còn có thoái chuyển. Nếu có thoái chuyển thì chẳng phải Bồ-tát. Như người bắn tên giỏi mà mũi tên không trúng đích nên biết người kia không phải là thợ bắn tên giỏi. Bồ-tát cũng vậy, nếu không phát tâm tương ưng với trí Nhất thiết trí; tuy siêng năng tu hành Bố thí, Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa nhưng không hồi hướng về trí Nhất thiết trí; nên biết người kia không đầy đủ giới của Bồ-tát.
Lại nữa Mãn Từ Tử, nếu các Bồ-tát tu các công đức không biết
làm thế nào để hồi hướng về trí Nhất thiết trí, nên duyên nơi công đức của Thanh văn, Độc giác nói là sự cầu trí Nhất thiết trí. Nên biết, những vị kia, do đó cũng được gọi là đầy đủ giới của Bồ-tát. Vì sao? Mãn Từ Tử, vì vị kia không có phương tiện thiện xảo của Bồ-tát, không hiểu được hồi hướng về trí Nhất thiết trí nên duyên nơi công đức của hàng Nhị thừa cho là sự cầu trí Nhất thiết trí. Trong lòng họ ưa thích không làm tổn hoại, nên cũng gọi là đầy đủ giới của Bồ-tát. Vậy, trì giới Bồ-tát, do có hồi hướng về trí Nhất thiết trí nên được gọi là trì giới của Bồ-tát, hộ trì Tịnh giới ba-la-mật-đa. Người kia, về sau nếu gặp bạn lành, duyên nơi trí Nhất thiết trí chân thật hồi hướng đến quả vị Giác ngộ cao tột, nhất định sẽ chứng đắc trí Nhất thiết trí.