Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Tổng Tập Giới Pháp Xuất Gia (Tập 1 & 2)

Tổng Tập Giới Pháp Xuất Gia (Tập 1 & 2)

Tác giả: Tỷ Kheo Trí Quang. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 2264.

Chương 8: 1. Kinh Phụng Kinh Dị giáo: Hai, Lược Giải (Trang 57 - 220)




(Kính phụng kinh Di giáo)
Hai, lược giải
Mục lục


Tài liệu, tác giả và dịch giả Di giáo kinh luận.................................................................. 61
Mở đầu tụng kinh Di giáo................................................................................................. 63
Mệnh đề và dịch giả kinh Di giáo...................................................................................... 68
Giải thích kinh Di giáo có 7 phần :
Phần một mở đầu.............................................................................................................. 73
Phần hai tu tập công đức thế gian, có 3 tiết :
Tiết 1 tu tập công đức đối trị tà nghiệp, có 4 mục :
Mục 1 giới căn bản thanh tịnh............................................................................................ 85
Mục 2 giới phương tiện thanh tịnh..................................................................................... 87
Mục 3 công đức của giới...................................................................................................... 99
Mục 4 ích lợi của giới........................................................................................................ 102
Tiết 2 tu tập công đức đối trị các khổ, có 3 mục :
Mục 1 đối trị cái khổ vì căn dục phóng túng, có 2 đoạn :
Đoạn 1 đối trị cái khổ vì căn phóng túng....................................................................... 105
Đoạn 2 đối trị cái khổ vì dục phóng túng....................................................................... 114
Mục 2 đối trị cái khổ vì ăn nhiều.................................................................................... 120
Mục 3 đối trị cái khổ vì nhác và ngủ.............................................................................. 128
Tiết 3 tu tập công đức đối trị phiền não, có 3 mục,
Mục 1 đối trị phiền não giận dữ....................................................................................... 135
Mục 2 đối trị phiền não kiêu ngạo.................................................................................. 143
Mục 3 đối trị phiền não dua nịnh.................................................................................... 147
Phần ba thành tựu công đức xuất thế, có 8 tiết :
Tiết 1 thành tựu công đức ít ham muốn.......................................................................... 150
Tiết 2 thành tựu công đức biết vừa đủ............................................................................ 156
Tiết 3 thành tựu công đức siêu thoát............................................................................... 159
Tiết 4 thành tựu công đức tinh tiến................................................................................. 165
Tiết 5 thành tựu công đức không quên chánh niệm...................................................... 168
Tiết 6 thành tựu công đức thiền định.............................................................................. 173
Tiết 7 thành tựu công đức trí tuệ...................................................................................... 177
Tiết 8 thành tựu công đức không hý luận....................................................................... 181
Phần bốn hiển thị công đức sâu xa................................................................................. 185
Phần năm hiển thị chứng nhập quyết định.................................................................... 192
Phần sáu phân biệt chưa nhập thượng chứng, có 3 tiết :
Tiết 1 phân biệt.................................................................................................................. 200
Tiết 2 đoạn nghi................................................................................................................. 204
Tiết 3 lặp lại sự vô thường của pháp hữu vi................................................................... 211
Phần bảy hiển thị vô ngã thanh tịnh.............................................................................. 214
Kết thúc tụng kinh Di giáo................................................................................................ 217


 
Tài liệu chính dùng để dịch giải Kinh này là Phật thùy niết bàn lược thuyết giáo giới kinh (số 389, Chính 12/1110-1112) và Di giáo kinh luận (so61, Chính 26/283-291). Phụ vào thì có Di giáo kinh luận pháp trú ký (Vạn 86/244-277) và Di giáo kinh luận ký (Vạn 86/278-313), Phật di giáo kinh luận sớ tiết yếu (số 1820, Chính 40/844-857) và Phật di giáo kinh giải (Vạn 59/12-20).
Di giáo kinh luận, tác giả là
Thiên thân bồ tát (1). Thiên thân tức là Thế thân, vị ‘‘thiên bộ luận sư’’. Sự giải thích kinh Di giáo của ngài quả thật đặc biệt. Đặc biệt vì học lý mà ngài khai thị tuy đáng nói mà không cần nói lắm, nhưng ngài nói kinh Di giáo là đạo phương tiện của bồ tát (Chính 26/283), lại nói Phật không phụ thế gian (Chính 26/289) thì chỉ ngài Thiên thân mới thấy và nói được như vậy.
Còn dịch giả luận này là ngài Chân đế. Niên đại phiên dịch của ngài là 548-569. ngài là một tiểu Huyền tráng (Siêu 10/16). Luận này là 1 trong các dịch phẩm của ngài, dịch tại Nam Việt (2).
Ghi chú :
 
(1) Có mấy bản chú thích nói là ngài Mã minh, nhưng Chính 26/283 ghi ngài Thiên thân mà không còn chú thích gì nữa. xét văn phong thì nói của ngài Thiên thân đúng hơn.
(2) Vạn 86/278. Về Nam Việt, coi Việt nam sử lược của Trần Trọng Kim, các trang 19, 47, 54 và 56.
Mở đầu việc tụng kinh Di giáo, trước tiên, như thường lệ, nhất tâm kính lạy Tam bảo.
Nhất tâm đảnh lễ Bổn sư Thích ca mâu ni phật, cùng Phật bảo khắp cả pháp giới. Nhất tâm đảnh lễ kinh Giáo huấn vắn tắt của Phật lúc sắp niết bàn, cùng Pháp bảo khắp cả pháp giới. Nhất tâm đảnh lễ đại chúng Tỷ kheo
 
trong đêm Phật sắp niết bàn, cùng Tăng bảo khắp cả pháp giới.
      Tuy nói nhất tâm đảnh lễ Tam bảo như thường lệ, nhưng tôi vẫn nêu lên những sự đặc biệt cho trường hợp tụng kinh Di giáo. Kế đến là những lời mở đầu, nguyên của ngài Thiên thân mở đầu giải thích kinh này.
Kính lạy đức Thế tôn,
biển đông đức vô thượng,
thương xót độ chúng sinh,
nên con xin qui mạng.
      Đây là lạy Phật. Thế tôn, nguyên văn là Tam thế tôn : đấng mà chúng sinh cả 3 thì gian đều tôn kính. Qui mạng là qui về Phật, bằng chính tính mạng của mình, và biểu lộ việc ấy là
 
lạy. Lạy Phật, vì Ngài là "biển công đức vô thượng, thương xót độ chúng sinh".
Pháp tạng sâu là sạch,
tăng biến cho hàng giả
bằng pháp thế xuất thế,
con xin lạy tất cả.
     Đây là lạy Pháp, tức kinh Di giáo. Kinh này là pháp tạng (kho tàng chánh pháp) vừa sâu xa vừa thanh tịnh. Kinh này nội dung có 7 phần, sẽ thấy ở sau, trong đó công đức thế gian và công đức xuất thế là 2 phần chính, nên đặc biệt nêu lên. Pháp tạng như vậy tăng tiến cho hành giả, nên kính lạy tất cả.
Nay con nguyện thọ trì
 
pháp tạng ấy của Phật,
để biết đạo phương tiện
của bồ tát tu tập.

                                   
     Bài này có đổi chút ít. Nguyên của ngài Thiên thân như sau, "Luận này con xây dựng - giải thích nghĩa kinh Phật - là để các Bồ tát - biết được đạo phương tiện". Ấy là để giải thích kinh này. Còn tụng kinh này thì phải đổi như trên. Pháp tạng ấy là chỉ cho kinh Di giáo, với nội dung bao gồm đạo phương tiện của Bồ tát mà ta phải biết.

Biết đạo phương tiện ấy
thì Phật pháp trường tồn,
diệt trừ lỗi phàm thánh,
thành tựu lợi tự tha.
Nam mô Bổn sư Thích ca mâu ni phật.
Đạo phương tiện là những cách diệt trừ lỗi phàm thánh và thành tựu lợi tự tha, tức 2 phần công đức thế gian và xuất thế mà căn bản, quan trọng, đứng đầu, là giữ giới. Nên, biết, và biết thực hành đạo phương tiện ấy, thì Phật pháp trường tồn, nghĩa là Phật pháp được thể hiện và thể hiện lâu dài.

 

 
 
Hai mệnh đề kinh này đều do ngài La thập dịch và ghi chú. Hai mệnh đề như vậy chứng tỏ kinh này là giáo huấn tối hậu của đời Phật.
Thời đại Dao Tần, Tam tạng pháp sư Cưu ma la thập dịch.
Thời đại Dao Tần : 384-417. niên đại phiên dịch của ngài L THẬP LÀ 405-413 (3). Thọ khảo của ngài là 70
 
 

tuổi, viên tịch ngày 13 tháng 4 năm quí sửu (413). Vậy niên đại của ngài là 343-413, có 70 tuổi. đó là lời ghi của chính ngài Tăng triệu, đứng đầu trong tứ thánh của đệ tử ngài La thập (4). Ngài là bậc không cần phải giới thiệu nhiều, chỉ cái tiếng "chúa tể giới phiên dịch" (dịch giới chi vương) cũng đủ (Siêu 6/7). Kinh này là 1 trong các dịch phẩm của ngài.
Ghi chú :
(3) Ghi theo Từ hải, bài Đại sự niên biểu, trang 17, khoảng dưới, dòng 18, và trang 18, khoảng trên, dòng 3. còn Siêu 1/16 ghi 400-412, nhưng 10/27 lại ghi 401-409.
(4) Lời ghi này tìm thấy trong bài "Cưu ma la thập pháp sư lụy" (Chính
52/264). Lời này bổ túc cho mọi sự thiếu sót hay phỏng đoán về thọ khảo của ngài La thập. Thí dụ Siêu 8/7 (chú thích 3) đã đoán ngài 60 tuổi.
Để giải thích kinh này, như đã nói, Thiên thân bồ tát mở đầu bằng 1 d9aon5 chỉnh cú. Nay xin lục lại đầy đủ như dười đây. Và xin chú ý, từ đây sắp đi là sự giải thích của ngài Thiên thân, tức Di giáo kinh luận, mà tôi dịch thẳng, có chỗ dịch lược lời mà không lược ý, và được in cũng bằng một kiểu chữ. Còn lời riêng của tôi chỗ nào cần có thì thành chú thích có đánh số.
Kính lạy đức Thế tôn,
biển công đức vô thượng,
thương xót độ chúng sinh,
nên con xin qui mạng.
Pháp tạng sâu và sạch,
tăng tiến cho hành giả
bằng pháp thế xuất thế,
con xin lạy tất cả.
Luận này con xây dựng
giải thích nghĩa kinh Phật,
là để các Bồ tát
biết được đạo phương tiện.
Biết đạo phương tiện ấy
thì Phật pháp trường tồn,
diệt trừ lỗi phàm thánh,
thành tựu lợi tự tha.

Kinh này xây dựng pháp tu của Bồ tát (5) bằng 7 phần : phần 1 mở  đầu, phần 2 tu tập công đức thế gian, phần 3 thành tựu công đức xuất thế, phần 4 hiển thị công đức sâu xa,

phần 5 hiển thị chứng nhập quyết định, phần 6 phân biệt chưa nhập thượng chứng, phần 7 hiển thị vô ngã thanh tịnh (6).
Ghi chú :
(5) Nên chú ý đặc biệt từ ngữ "pháp tu của Bồ tát". Với từ ngữ này, không những Thiên thân bồ tát quan niệm kinh Di giáo là pháp tu của Bồ tát, mà, trong sự giải thích phần 1 dưới đây, ý ngài còn nói kinh này tóm tắt cốt yếu của chánh pháp mà Phật đã nói từ lần đầu đến lần cuối, và ai nghe cũng được hóa độ, thì chánh pháp ấy toàn là pháp tu của Bồ tát. Thật ra, không những pháp tu của Thanh văn cũng là pháp tu của Bồ tát, mà chính những pháp gọi là nhân
thừa hay thiên thừa lại càng là pháp tu của Bồ tát, nếu được tiếp nhận và tu hành bằng tâm nguyện Bồ tát. Tâm nguyện mới là yếu tố làm cho pháp của Phật thành ra sai biệt nơi người tiếp nhận.
(6) Với 7 phần như vầy, mọi từ ngữ, động tác, cảnh tĩnh, cảnh động, chứ không phải chỉ lời nói, cho thấy toàn kinh Di giáo là pháp thu của bồ tát.
Phần một mở đầu
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, chuyển đẩy bánh xe chánh pháp lần đầu tiên hóa độ tôn giả Kiều trần như, thuyết pháp lần cuối cùng hóa độ tôn giả Tu bạt đà la. Những người có thể hóa độ,
Ngài đã hóa độ tất cả. hôm nay, trong rừng Sa la, giữa cây song thọ, Ngài sắp niết bàn. Bấy giờ là lúc nửa đêm, hoàn toàn yên lặng, không một tiếng động, Ngài đã vì các đệ tử mà nói những điều cốt yếu của chánh pháp (7).
Phần mở đầu này nói sự toàn vẹn cứu cánh. Sự toàn vẹn cứu cánh có 6 :
1. Pháp sư toàn vẹn. Pháp sư ấy là Phật, toàn vẹn với danh hiệu có 3 sắc thái : sắc thái riêng, như kinh nói "Thích ca" ; sắc thái chung, như kinh nói "Mâu ni" ; sắc thái tổng hợp, như kinh nói "Phật". Tựu trung, Thích ca là dòng họ cao quí, biến thành phương tiện tuyệt hảo hóa độ chúng sinh ; Mâu ni là đức tính đồng
nhất của chư Phật, lại biểu thị bản thể thanh tịnh.
   2.     Pháp môn toàn vẹn. Pháp mà pháp sư trên khai thị thật là bạch tịnh, bạch tịnh từ lúc Ngài mới thành đạo đến lúc Ngài sắp niết bàn : 1. pháp bạch tịnh lúc mới thành đạo, như kinh nói "chuyển đẩy bánh xe chánh pháp lần đầu tiên" ; 2. pháp bạch tịnh lúc sắp niết bàn, như kinh nói "thuyết pháp lần cuối cùng" (8).
   3.      Đệ tử toàn vẹn. Là người thọ trì được 2 pháp bạch tịnh, thành tựu ích lợi, chứng tỏ Phật thuyết pháp thật thích thú, như kinh nói "hóa độ tôn giả Kiều trần như" (9) và "hóa độ tôn giả Tu bạt đà la" (10).
    4.    Tổng quát toàn vẹn. là Pháp môn và đệ tử như trên, gồm có 8 sự toàn vẹn, tức 2 sự thọ trì, 2 pháp bạch tịnh, 2 sự ích lợi, 2 sự chứng tỏ Phật thuyết pháp thật thích thú (11) ; 8 sự toàn vẹn này hình thành sự tổng quát toàn vẹn, như kinh nói "những người có thể hóa độ, Ngài đã hóa độ tất cả" (12).
    5.    Đặc tính toàn vẹn. Đặc tính Pháp của Phật nói càng toàn vẹn, với 4 sắc thái sau đây : 1. nhân toàn vẹn, như kinh nói "trong rừng Sa la, giữa cây song thọ" (13) ; 2. nhân chung với quả cũng toàn vẹn, như kinh nói "Ngài sắp niết bàn" ; 3. tổng tướng cũng toàn vẹn, như kinh nói "bấy giờ là lúc giữa đêm" ; 4. 
 
quả cũng toàn vẹn, như kinh nói "hoàn toàn yên lặng, không một tiếng động". Tựu trung, sắc thái thứ 3 tổng tướng toàn vẹn là viễn ly cực đoan mà thành tựu trung đạo. Trung đạo là sắc thái thứ 4 quả cũng toàn vẹn, tức niết bàn mà tự tánh là siêu việt tư duy và ngôn ngữ (14).
    6.  Trình bày toàn vẹn. Là trình bày "tổng tướng" trên, với 1. nhân sai biệt, tức đệ tử hàng đầu, như kinnh nói "Ngài đã vì các đệ tử", và 2. pháp sai biệt, là pháp thế gian với xuất thế, như Kinh nói "nói tóm tắt những điều cốt yếu của chánh pháp" (15).
Ghi chú :
(7) Lời này không những thuật lại một cách tổng quát cuộc đời thuyết  
pháp độ sinh của Phật, mà còn cho ta thấy, đến lúc sắp niết bàn, Phật vẫn tóm lược pháp yếu cho đệ tử : pháp yếu tố quan trọng và đáng cảm biết chừng nào. Hãy tưởng tượng, trong một khhu rừng, giữa một đêm thanh vắng, vị Thầy tận tụy du hóa suốt đời, bây giờ, trước khi kết thúc đời mình, Ngài đã cất tiếng lần chót, để lại những lời giáo huấn tối hậu cho đệ tử, hiện diện cũng như tương lai. Hãy tưởng tượng như vậy, suốt giờ đọc tụng và suốt đời hành trì kinh Di giáo. Bởi vì chính cách kết thúc đời mình như vậy của Phật đã dạy rất nhiều cho ai muốn làm đệ tử của Ngài.
      (8)    Phần này nguyên văn là "khai pháp môn thành tựu", đáng lẽ phải dịch là "Khai thị toàn vẹn". Nói khai
thị thì có nghĩa thuyết pháp nhiều hơn pháp môn được thuyết. Nhưng ngài Thiên thân giải thích thì có vẻ nói pháp môn được thuyết, nhiều hơn sự thuyết pháp. Từ ngữ "lúc mới thành đạo", nguyên văn là " đạo tràng". Đạo tràng nghĩa là nơi thành đạo, nên đạo tràng cũng gọi là bồ đề tràng. Nhưng ở đây chỉ vườn Lộc uyển, nơi Phật chuyển pháp luân khi mới thành đạo (Vạn 86/283).
       (9) Kiều trần như, đủ thì phải nói A nhã Kiều trần như (Ajnata Kaundinya). A nhã là tên, có nghĩa là hiểu (giải), hiểu không tánh (vô tri), hay hiểu bản thể (liễu bản tế). Kiều trần như là họ, nghĩa là khí dụng lửa (hỏa khí), 1 họ của giai cấp Bà la môn. Tôn giả Kiều trần như vị
thượng thủ trong 5 vị Tỷ kheo đầu tiên nghe Phật chuyển pháp luân.
  1. Tu bạt đà la (Subhadra) nghĩa là Thiện hiền, 120 tuổi, ngoại đạo ở thành Câu thi, nơi Phật niết bàn. Thông minh, đã được ngũ thông, nghe Phật sắp niết bàn, tìm đến, được Ngài thuyết pháp, hóa độ cho thành bậc A la hán, nên tôn giả là vị đệ tử cuối cùng của Phật.
  2. Nghĩa là chứng tỏ Phật thuyết pháp không phải vô ích, nói suông.
  3. 8 sự toàn vẹn, như vậy, là sự thọ trì đầu tiên, thọ trì pháp bạch tịnh đầu tiên, được hóa độ đầu tiên, và đầu tiên chứng tỏ Phật thuyết pháp thật thích thú ; 4 sự nữa, đổi chữ đầu tiên ra chữ cuối cùng thì thấy. Tổng
quát toàn vẹn, như vậy, có nghĩa việc xuất thế độ sinh của Phật đã hoàn tất.
    (13)    "Trong rừng Sa la, giữa cây song thọ", nguyên văn là "ư Sa la song thọ gian". Dịch như trên cho êm tai, thật ra dịch "giữa song thọ Sa la" hay "giữa cây đôi Sa la" là đủ. Rừng Sa la mang tên ấy vì có loại cây Sa la (Salavana : kiên cố hay cao viễn) 1 loại cây vừa cao vừa cứng.
    (14)   Đoạn này khó hiểu. Xin giải thích giản dị như sau cho dễ nhận. Đặc tính Pháp của Phật, trong đó có kinh này, là niết bàn. Nghĩa là dẫn đến niết bàn (biểu thị bằng sự sắp niết bàn của Phật) và niết bàn ấy chính là trung đạo (biểu thị bằng thì gian giữa đêm).
Trung đạo niết bàn chính là bản thể ly phân biệt, ly ngôn thuyết (biểu thị bằng sự hoàn toàn yên lặng, không một tiếng động). Như vậy trung đạo niết bàn là đặc tính, mà là đặc tính toàn vẹn, của Pháp do Phật nói.
   (15)     Sự toàn vẹn này càng khó hiểu. Xin giải thích như sau. “Trình bày toàn vẹn”, nguyên văn là phân biệt tổng tướng thành tựu. Tổng  tướng chỉ cho trung đạo niết bàn vừa nói ở trên. Trung đạo niết bàn ấy vốn ly ngôn thuyết và ly phân biệt về nhân và pháp (nên biểu thị bằng thì gian giữa đêm, hoàn toàn yên lặng, không một tiếng động). Vậy mà Phật từ trung đạo ấy nói toám tắt những điều cốt yếu của chánh pháp (pháp) cho đệ tử (nhân), nên gọi là phân biệt (trình bày) : sự
nói như vậy cũng là một sự toàn vẹn của Pháp do Phật nói. Và nói tóm tắt thì sự tóm tắt ấy cũng là một sự toàn vẹn của Pháp do Phật nói. Sự tóm tắt ấy là kinh Di giáo này đây. – ngoài sự giải thích này, “trình bày toàn vẹn” có thể chỉ có nghĩa rất đơn giãn, là trình bày cái “tổng tướng trung đạo” cho người nghe đã toàn vẹn, như đệ tử hàng đầu, và bằng pháp nói cũng toàn vẹn, tức cốt yếu của chánh pháp : sự trình bày như vậy cũng là một sự toàn vẹn, và sự toàn vẹn ấy là kinh Di giáo này đây. – Càng giản dị hơn nữa mà nói, trong lúc giữa đêm, hoàn toàn yên lặng, Phật sắp niết bàn nên nói cốt yếu của chánh pháp, thì lời nói ấy vừa tóm tắt, vừa cuối cùng : không những toàn vẹn mà thật đáng cảm và
 
đáng tôn kính.
Phần hai tu tập công đức thế gian (16), có 3 tiết : tiết 1 tu  tập công đức đối trị tà nghiệp, tiết 2 tu tập công đức đối trị các khổ, tiết 3 tu tập công đức đối trị phiền não (17). Tiết 1 tu tập công đức đối trị tà nghiệp (18), có 4 mục : mục 1giới căn bản thanh tịnh, mục 2 giới phương tiện thanh tịnh, mục 3 công đức của giới, mục 4 lợi ích của giới.
 
            Ghi chú :
           (16)   Thế nào gọi là công đức thế gian, và đối lại, thế nào gọi là công đức xuất thế, thì ngài Thiên thân chỉ tiêu đề mà không giải thích. Các bản chú thích, Vạn 86/253 và Vạn 86/284, định nghĩa cũng không thấy vừa ý. Tựu trung, tuồng như Vạn 86/284 nói có lẽ hợp ý ngài thiên thân hơn, rằng
“chỉ lấy chướng ngại bị đối trị mà gọi là công đức thế gian, cũng như phần sau, chỉ vì các vị thượng nhân mà gọi là công đức xuất thế”.
     (17)     Có vài bản chú thích thấy tiêu đề như thế này, liên tưởng 3 thứ hoặc nghiệp khổ rồi giải thích như thế. Điều này nên xét lại.
     (18)     Tà nghiệp là gì thì mục 2 dưới nữa sẽ nói. Tà nghiệp ấy, năng lực đối trị là giới. Nên tiết 1 toàn nói về giới.
Mục 1 giới căn bản thanh tịnh
Các thầy Tỷ kheo, sau khi như lai diệt độ, các thầy phải tôn trọng tôn kính tịnh giới, như mù tối mà được mắt sáng, nghèo nàn
mà được vàng ngọc. Phải biết tịnh giới là đức thầy cao cả của các thầy. Nếu Như lai ở đời thì cũng không khác gì tịnh giới ấy.
Kinh này luôn luôn nói “các thầy Tỷ kheo, là biểu thị sự viễn ly, lại biểu thị đạo phương tiện của Bồ tát cũng chung với Thanh văn. Nói “sau khi Như lai diệt độ” là biểu thị nghĩa di giáo, tức Pháp không tận diệt. Pháp không tận diệt là pháp thân thanh tịnh, thường làm sự hóa độ cứu cánh cho đời, như kinh nói “các thầy phải tôn trọng tôn kính tịnh giới”. Tịnh giới là tự thể giải thoát của pháp thân không tận diệt của Phật. Y theo pháp thân này mà siêu độ 2 thứ trở ngại: trở ngại vì có phiền
não và trở ngại vì không thiện căn. Trở ngại thứ ngất như mù tối, giới của pháp thân như mắt sáng, như kinh nói “như mù tối mà được mắt sáng”. Trở ngại thứ hai như nghèo nàn, giới của pháp thân như vàng ngọc, như kinh nói “như nghèo nàn mà được vàng ngọc”. Tịnh giới là đức thầy cao cả của sự tu hành, như kinh nói “phải biết tịnh giới là đức thầy cao cả của các thầy”. Vì tịnh giới là pháp duy trì lợi ích như Phật, như kinh nói “nếu Như lai ở đời thì cũng không khác gì tịnh giới ấy”.
Mục 2 giới phương tiện thanh tịnh (19)
Giữ tịnh giới thì các thầy không được buôn, bán, đổi chác,
sắm sửa đất nhà, nuôi người, tôi tớ và súc vật, lo việc gieo trồng, kinh doanh tài bảo. tất cả việc này, hãy tránh như tránh hố lửa. Kể cả việc chặt phá cỏ cây và đào cuốc đất đai. Những việc chế thuốc thang, coi bói tướng, coi thiên văn, đoán thời tiết, tính lịch số, đều không thích hợp với các thầy. Các thầy hãy tiết chế cơ thể, ăn đúng thì giờ, sống bằng cách sống trong sạch, không được tham dự thế sự, lãnh sứ mạng liên lạc. Chú thuật, thuốc tiên, giao hảo quyền quí, và thân thiết với họ, rồi hèn hạ, ngạo mạn, tất cả đều không được làm. Phải tự đoan tâm, chánh niệm cầu độ.
Không được che giấu lầm lỗi, tỏ ra kỳ dị để mê hoặc quần chúng. Đối với bốn sự biến cúng thì phải biết tự lượng và biết vừa đủ. Hễ được hiến cúng thì không nên tích trữ.
Giới phương tiện thanh tịnh là để hộ vệ giới căn bản thanh tịnh. Vậy hộ vệ căn bản ấy như thế nào? Căn bản ấy là những gì?
Hộ vệ căn bản ấy như thế nào, là một, tránh những việc tăng tội lỗi như phàm phu; và hai, tránh những việc tổn chánh trí như ngoại đạo.
Một, tránh những việc tăng tội lỗi như phàm phu, thì có 11 việc: (1)
Mưu mô thủ lợi, như kinh nói “buôn”. (2) Hiện diện thủ lợi, như kinh nói “bán”. (3) Giao dịch thủ lợi, như kinh nói “đổi chác”. (4) Chổ ở quá cầu yên ổn, như kinh nói “sắm sửa đất nhà”. (5) Thêm vây cánh, như kinh nói “nuôi người”. (6) Khó có đức khiêm tốn, như kinh nói “nuôi tôi tớ”. (7) Chăn nuôi cầu lợi, như kinh nói “nuôi súc vật”. (8)Đa sự, như kinh nói “lo việc gieo trồng”. (9) Thu góp, như kinh nói “kinh doanh tài bảo”. (10) Không cảnh giác, như kinh nói “tất cả việc này hãy tránh như tránh hố lửa”. (11) Trái uy nghi và hại sinh vật, như kinh nói “kể cả việc chặt phá cỏ cây và đào cuốc đất đai”.
Tất cả 11 việc tăng tội lỗi như
thế này, Bồ tát tu hành phải cấp tốc tránh xa như tránh hố lửa, như kinh nói “tất cả việc này hãy tránh như tránh hố lửa”.
Hai, tránh những việc tổn chánh trí như ngoại đạo, là những kiến thức phân biệt của thế gian. Kiến thức phân biệt ấy có 5, như kinh nói “những việc chế thuốc thang, coi bói tướng, coi thiên văn, đoán thời tiết, tính lịch số, đều không thích hợp với các thầy”. Lời này ngăn chặn những kiến thức khác biệt chánh trí(20).
Căn bản ấy là những gì, thì căn bản ấy là một, giới thể, tức tự thể giải thoát của pháp thân; và hai, thể hiện giới thể là thân giới, khẩu giới và ý giới. Bồ tát tu hành
phải biết ngoài 3 giới này không có giải thoát nào nữa.
            Thân giới có 5 : 3 sự đối trị và 2 sự không nên làm. Ba sự đối trị là : (1) Đối trị sự cầu hồ kẻ khác rồi phóng túng, như kinh nói “tiết chế cơ thể”. (2) Đối trị sự bồi dưỡng trong mình mà không chán, như kinh nói “ăn đúng thì giờ”. (3) Đối trị sự truy cầu nơi người bằng trí thuật của mình, như kinh nói “sống bằng cách sống trong sạch” (21).
            Hai sự không nên làm là : (1) Không nên làm việc đa đoan, vì bản thể là yên tĩnh, như kinh nói “ không được tham dự thế sự”. (2) Không  nên làm việc nhẹ thể, vì bản thể là tôn quí, nhưu kinh nói không được lãnh sứ
mạng liên lạc.
            Năm sự trên đây là 5 thứ thân giải thoát : một là thân giải thoát mặt ngoài, hai là thân giải thoát mặt trong, ba là thân giải thoát theo đặc tính của giải thoát, bốn là thân giải thoát việc đa đoan, năm là thân giải thoát việc khác biệt (22). Năm thứ này, một là tổng hợp, còn lại là chia ra mà thôi (23).
            Khẩu giới có 2 sự tà ngữ không nên có, là một, tà ngữ theo tà pháp, và hai, tà ngữ theo tà nhân (24).
            Tà ngữ theo tà pháp là (1) tà thuật, như kinh nói “chú thuật”, (2) tà dược, như kinh nói “thuốc tiên”.
            Tà ngữ theo tà nhân là (1) giao
hảo với quyền quí nên ăn nói với họ một cách hèn hạ, (2) thân thiết với họ rồi ăn nói vời người khác một cách ngạo mạn, như kinh nói “giao hảo quyền quí, và thân thiết với họ, nên hèn hạ, ngạo mạn”.
            Ý giới có 6 câu, chia ra 3 sự đối trị và 3 sự không nên có.
            Ba sự đối trị là : (1) Đối trị sự hay thấy lỗi người, hại sự tự tịnh tâm mình, tức câu thứ 1 “phài tự đoan tâm”. (2) Đối trị sự tư duy lầm lỗi, làm cho mình không vượt khỏi cương vị thấp kém, tức câu thứ 2 “chánh niệm cầu độ”. (3) Đối trị sự không tự hạn chế và biết vừa đủ đối với đồ dùng, tức câu thứ 5 “đối với 4 sự hiến cúng thì phải biết tự lượng
và biết vừa đủ”. Bốn sự hiến cúng có 2 : (a) Bốn sự hiến cúng cho thân, là đồ ăn, đồ mặc, đồ nằm và thuốc thang ; (b) Bốn sự hiến cúng cho tâm, là tâm không cho ai chung với, tâm không biết vừa đủ và xả bỏ, tâm trái với 2 tâm này, tâm có đồng đều cả 3 tâm (25). Những kẻ mê muội thác loạn luôn luôn nhận và dùng 4 sự hiến cùng này, không biết hạn chế. Phải có định mới biết hạn chế, phải có tuệ mới biết vừa đủ (26).
            Ba sự không nên có là : (1) Không nên làm bẩn tịnh giới, bằng cách không nhận giữ mọi sự dơ bẩn tâm lý, tức câu thứ 3 “không được che giấu lầm lỗi”. (2) Không nên vô cớ bày tỏ thắng hạnh của mình, làm
 
cho kẻ khác không lý giải chính xác, tức câu thứ 4 “không được tỏ ra kỳ dị để mê hoặc quần chúng”. (3) Không nên để sự ham hố che lấp tâm tính bằng sự tích trữ đồ dùng, tức câu thứ 6 “hễ được hiến cúng thì không nên tích trữ”.
            Ghi chú :
     (19)   Mục này là mục chính trong tiết 1 đối trị tà nghiệp. Tà nghiệp chính là những điều mà mục này cấm chỉ. Cấm chỉ tà nghiệp thì gọi là giới phương tiện thanh tịnh. Điều cần lưu ý, căn bản tà nghiệp là thân khẩu ý, nhưng cũng chính thân khẩu ý tiếp thụ giới thể và giữ giới thì tà nghiệp bị đối trị. Lưu ý điều này mới hiểu sự giải thích sau đây của Thiên thân bồ tát.
    (20)   Cấm những việc này vì đa số là tà kiến (kiến thức bất chính) mà còn là tà mạng (mưu sinh bất chính). Như vậy những việc này tránh là tránh phần tà kiến và tà mạng mà thôi, vì, ví dụ chế thuốc là một phần trong y minh của ngũ minh. Về tà mạng, coi ghi chú 21.
    (21)    Ba sự đối trị của thân giới nhắm vào sự sống (với ăn, mặc, nằm, thuốc). Cách sống trong sạch là chánh mạng. Chánh mạng là đối với người xuất gia, và chỉ đối với người xuất gia mà thôi, khất thực đúng phép, đại khái là xin ăn (và đồ để sống) đủ sống, và sống để hành đạo. Trái với chánh mạng (cách sống chân chính) là tà mạng (cách sống bất chính). Tà mạng
có 4 : (1) ăn cúi, là cúi xuống gieo trồng ruộng vườn, hòa chế thuốc thang mà sống ; (2) ăn ngước, là ngước lên coi thiên văn, đoán thời tiết mà sống ; (3) ăn phương, là liên lạc 4 phương, xu mị quyền thế mà sống ; (4) ăn góc, là bôn ba 4 hướng, chú thuật bói toán mà sống (Vạn 86/288).
    ( 22)   Khác biệt là khác biệt với việc chính của sự tu hành.
    (23)   “Một là tổng hợp” là giải thoát mặt ngoài (tức trên đã nói tiết chế cơ thể, đối trị sự cầu hồ kẻ khác rồi phóng túng). Tuy thân giới có 5 việc (3 sự đối trị và 2 sự không nên làm), nhưng tất cả đều do động cơ vì cơ thể mà vọng ngoại. Nên, tiết chế cơ thể để hết vọng ngoại cầu hồ, thì tổng hợp cho mọi sự về thân giới.
     (24)   Tà nhân ở đây là những kẻ quyền quí.
     (25)   Tâm không cho ai chung với, là sân ; tâm không biết vừa đủ và xả bỏ, là tham ; tâm trái với 2 tâm trên, là si (vô ý thức) ; tâm có đồng đều 3 tâm trên, là đẳng phần (Vạn 86/257).
     (26)   Nên thêm “phải có định thì kẻ thác loạn mới biết hạn chế, phải có tuệ thì kẻ mê muội mới biết vừa đủ”. Lại nên thêm, “ cũng như phải có giới thì kẻ ham hố 4 sự hiến cúng cho thân mới biết tự lượng và vừa đủ, rằng mình nên dùng bao nhiêu, và chỉ được dùng bao nhiêu”.
Mục 3 công đức của giới
       Là nói giới căn bản và giới tùy
tùng (27) đều chính thuận giải thoát, sinh mọi công đức.
            Đó là Như lai nói tóm tắt về sự giữ giới. Giới thì chánh thuận với căn bản của sự giải thoát, nên Như lai mệnh danh Ba la đề mộc xoa. Nhờ giới mà phát sinh thiền định, và trí tuệ có năng lực hủy diệt thống khổ.
            Giới tùy tùng là giới điều, không thể nói đầy đủ mà chỉ nói tóm tắt, như kinh nói “đó lá Như lai nói tóm tắt về sự giữ giới” (28).
            “Giới thì chánh thuận”. lời này nói về nghĩa của chữ giới tùy tùng. Tùy tùng là tùy tùng giới căn bản và tùy tùng cái mà giới căn bản thành
tựu. Tùy tùng giới căn bản là chánh thuận giới căn bản, tức giới thể, như vừa rồi đã nói (29). Còn tùy tùng cái mà giới căn bản thành tựu, thì cái ấy là cái nhân giải thoát về sau, mà bây giờ nhờ giới mới phát sinh, như kinh nói “căn bản của giải thoát”. Như vậy, giới là bản thể giải thoát, có năng lực chánh độ, như kinh nói “Như lai mệnh danh Ba la đề mộc xoa”. Chánh độ là siêu độ cái ác của 3 nghiệp mà thành tựu 3 nghiệp giải thoát.
            Giới phát sinh công đức là công đức hữu sắc giải thoát, công đức vô sắc giải thoát, và công đức siêu việt giải thoát (30), đều do giới phát sinh, như kinh nói “nhờ giới mà phát sinh
thiền định, và trí tuệ có năng lực hủy diệt thống khổ”.
            Ghi chú :
     (27)   “Giới tùy tùng” là giới phương tiện nói trên.
     (28)   Không những chỉ nói tóm tắt, mà như đã thấy ở mục 2, chỉ nói những điều nhẹ và sâu, thì biết những điều nặng và thô càng phải giữ hơn nữa.
     (29)   Tức mục 2 đã nói.
     (30)   Hữu sắc giải thoát là giải thoát dục hữu, tức tứ thiền ; vô sắc giải thoát là giải thoát sắc hữu, tức tứ định ; siêu việt giải thoát là giải thoát tam hữu, tức tuệ (Vạn 86/258).
Mục 4 ích lợi của giới
Thế nên, các thầy Tỷ kheo, hãy giữ tịnh giới, đừng cho vi phạm, thiếu sót. Ai giữ tịnh giới thì người đó có thiện pháp. Không có tịnh giới thì mọi thứ công đức không thể phát sinh. Do đó mà biết tịnh giới là chỗ yên ổn nhất, làm nơi trú ẩn cho noi thứ công đức.
            Có 5 sự khuyên tu lợi ích của giới : Một, khuyên đừng để mất giới tự thể, như kinh nói “hãy giữ tịnh giới”. Hai, khuyên đừng bỏ mất giới phương tiện, như kinh nói “đừng cho vi phạm, thiếu sót”. Ba, khuyên viễn ly lỗi lầm của 3 nghiệp, mà 3 nghiệp thường tập hợp công đức (31) như kinh nói “ai giữ tịnh giới thì người đó có
thiện pháp”. Bốn khuyên nhận thức 3 nghiệp lắm lầm lỗi thì 3 nghiệp ấy không lúc nào sinh được công đức, như kinh nói “không có tịnh giới thì mọi thứ công đức không thể phát sinh”. Năm, khuyên Bồ tát giữ giới đã thấy sự đắc thất trong 3 giới (32) mình tu rồi thì hãy trú ở trong chỗ yên ổn, đừng ở chổ bất ổn, như kinh nói “do đó mà biết tịnh giới là chổ yên ổn nhất, làm nơi trú ẩn cho mọi thứ công đức”, đây mới là lời khuyên chính về sự tu theo lợi ích của giới.
            Ghi chú :
    (31)  Câu này cũng như đoạn trước nói siêu độ cái ác của 3 nghiệp mà thành tựu 3 nghiệp giải thoát. Nghĩa là nói về thân giới, khẩu giới, ý giới.
     (32)    Ba giới, coi lại ghi chú 31 (Vạn 86/258).
Tiết 2 tu tập công đức đối trị các khổ, có 3 mục: mục 1 đối trị cái khổ vì căn dục phóng túng, mục 2 đối trị cái khổ vì ăn nhiều, mục 3 đối trị cái khổ vì nhác và ngủ. tu tập công đức đối trị các khổ, thì khổ ấy có 3 cái như vậy. Ba cái khổ như vậy phải do cái vui tam muội đối trị (33).
Mục 1 đối trị cái khổ vì căn dục phóng túng, có 2 đoạn: đoạn 1 đối trị cái khổ vì căn phóng túng, đoạn 2 đối trị cái khổ vì dục phóng túng.
Đoạn 1 đối trị cái khổ vì căn phóng túng
Các thầy Tỷ kheo, đã ở trong tịnh giới thì phải chế ngự năm thứ giác quan, không cho phóng
túng vào trong năm thứ dục lạc. Như kẻ chăn trâu, cầm gậy mà coi giữ, không cho phóng túng, phạm vào lúa má của người. Phóng túng năm thứ giác quan, thì không chỉ có năm thứ dục lạc, mà có thể sẽ không còn giới hạn nào nữa, không thể cấm chế. Như con ngựa hung hãn mà không được chế ngự bằng giây cương, thì sẽ mang người lao xuống hầm hố. Giặc cướp làm hại, khổ chỉ một đời, còn giặc giác quan họa đến nhiều kiếp: tai hại rất nặng, các thầy không thể không cẩn thận. thế nên người có trí thì chế ngự mà không không theo, giữ như giữ giặc, không cho
phóng túng. Giả sử phóng túng năm thứ giác quan, thì cũng không bao lâu ta sẽ thấy chúng tàn diệt tất cả.
Căn phóng túng thì vừa là khổ, vừa là nguyên nhân của khổ (34). Đối trị cái khổ ấy bằng phương tiện của tam muội, tức sự nhiếp niệm (35) do giữ giới thanh tịnh mà có, như kinh nói “đã ở trong tịnh giới thì phải chế ngự 5 thứ giác quan” (36).
Nhưng căn mà chỉ nói 5 căn là chia biệt sắc căn khác với ý căn (ý là tâm hay dục, đoạn 2 sau đây sẽ nói), cũng có nghĩa 5 căn trong ý căn. Do đó mà sự đối trị cũng có 2 thứ: Thứ nhất, đối trị sự phóng túng do tác ý (động niệm) mà hiện hành.
Thứ hai, đối trị sự phóng túng không do tác ý (bất động) mà chỉ do tập quán nhiệm vận hiện hành. Đối trị sự phóng túng thứ nhất là do giới niệm (phương tiện của tam muội) và chánh trí (quán trí của tam muội), còn đối trị sự phóng túng thứ hai là do chánh trí liên tục hiện tiền. Như vậy, giới niệm đối trị sự phóng túng thứ nhất, còn chánh trí đối trị cả 2 sự phóng túng.
Trước hết nói về sự đối trị của giới niệm, đối trị sự phóng túng thứ nhất do tác ý mà hiện hành. Như đã nói, phương tiện của tam muội là chánh niệm do tịnh giới đem lại, nên gọi chung là giới niệm; có giới niệm thì lợi ích không mất, như kinh nói
“không cho phóng túng vào trong 5 thứ dục lạc, như kẻ chăn trâu, cầm gậy mà coi giữ, không cho phóng túng, phạm vào lúa má của người”. Trong lời này, thân giới thanh tịnh thì sắc căn hết phóng túng, như trâu bị chăn giữ; chánh niệm thành tựu thì ý căn hết hoành hành, như cầm gậy coi giữ; giới niệm thành tựu thì phương tiện và công đức của tam muội không mất, như lúa má không bị xâm phạm. Trái lại, giới niệm không có thì tổn hại tăng lên đến nỗi khó mà đối trị, như kinh nói “phóng túng 5 thứ giác quan thì không những chỉ có 5 thứ dục lạc, mà có thể sẽ không còn giới hạn nào nữa, không thể cấm chế”; nhưng
không đối trị được thì tai hại càng hơn nữa, như kinh nói “như con ngựa hung hãn mà không được chế ngự bằng giây cương, thì sẽ mang người lao xuống hầm hố”; tai hại này nặng đến nỗi khổ vô số kiếp, nên phải thận trọng ngay từ bây giờ, như kinh nói “giặc cướp làm hại, khổ chỉ một đời, còn giặc giác quan họa đến nhiều kiếp: tai hại rất nặng, các thầy không thể không cẩn thận”.
Bây giờ nói về sự đối trị của chánh trí. Chánh trí có 2 sự đối trị: Một, đối trị sự phóng túng thứ nhất do tác ý mà hiện hành. Chánh trí là quán trí của tam muội, vậy sự phóng túng này là thứ chướng ngại nặng nề cho chánh trí, nên kinh nói “người có
trí thì chế ngự mà không theo”; phải giữ như giữ kẻ giết mình, nên kinh nói “giữ như giữ giặc, không cho phóng túng”. Hai, đối trị sự phóng túng thứ hai không do tác ý mà chỉ do tập quán nhiệm vận hiện hành. Sự phóng túng này nhẹ mà sâu, chỉ do tập quán mà có. Tập quán có (nghĩa là quán trí gián đoạn) thì nó có, tập quán không (nghĩa là quán trí hiện tiền) thì nó không. Như vậy, sự phóng túng này không cần tác ý mới hiện hành, mà giả sử quán trí gián đoạn là nó nổi lên, nên kinh nói “giả sử phóng túng 5 thứ giác quan”. Nhưng nó không có tư thế tự cón khi quán trí hiện tiền, nên kinh nói “cũng không bao lâu”. Vì lẽ bản chất
của nó không thể đối diện thấy nhau với quán trí, nên kinh nói “ta sẽ thấy chúng tàn diệt tất cả”. Nếu vậy, quán trí có thì phóng túng không, sao còn nói thấy? Nói thấy là căn cứ lúc quán trí hiện tiền: lúc ấy sự phóng túng không thấy có nữa, nghĩa là nó đã bị diệt vì quán trí (37).
Ghi chú:
     (33)    Lời này cho thấy khổ là gì, và đối với cái gì. Khổ là vì chướng ngại tam muội. Khổ ấy chỉ đối với tam muội, với người muốn và đang tu tam muội.
     (34)    “Vừa là khổ, vừa là nguyên nhân của khổ” là đảo ngược nguyên văn “khổ nhân khổ quả”. Tuy nhiên, dịch như vậy chỉ là theo kiến thức
thông thường. Kiến thức này tuồng như không đúng lắm với thâm ý ở đây. Do đó, tôi muốn dịch “trong nguyên nhân đã khổ mà trong kết quả cũng khổ”. Căn là dục phóng túng, cố nhiên kết quả sẽ khổ, điều ấy không cần phải nói. Điều cần nói, là ngay bây giờ, ngay trong nguyên nhân, chính 2 thứ này (và 2 thứ sau là ăn nhiều, nhác ngủ) trở ngại sự tu tập, đặc biệt là tu tập tam muội: cái khổ mà ngài Thiên thân nói là cái khổ này đây.
     (35)    Nhiếp niệm là tập trung tư tưởng và ký ức lại. Như vậy nhiếp niệm là chánh niệm, và 2 danh từ này tùy văn mà dùng, chứ nghĩa không khác nhau. “Tu bạt đà la, nếu các vị Tỷ kheo ai tự thu nhiếp được thì thế gian này không phải tróng không,
không có La hán (Chính 1/25).
     (36)     Từ đây sắp xuống, có vài chỗ phải đệm vài chữ cho dễ hiểu. Việc này chỉ làm trong đoạn này.
     (37)    Đoạn nguyên văn này của Di giáo kinh luận thật khó hiểu. Tôi dịch có đệm theo sự hiểu biết của Vạn 86/292. Sự hiểu biết này nếu chính xác thì khá xuất sắc. Và như thế là giải thích theo quán trí. Nếu không tìm hiểu câu kinh cuối cùng theo quán trí, thì câu ấy chỉ có nghĩa nói đến sự vô thường mau chóng và toàn bộ của 5 căn mà thôi.
Đoạn 2 đối trị cái khổ vì dục phóng túng
Các thầy Tỷ kheo, năm thứ giác quan do tâm chủ động, vì
vậy mà các thầy lại phải thận trọng chế ngự tâm mình. Tâm còn đáng sợ hơn cả rắn độc, thú dữ, giặc thù, lửa dữ bùn cháy lan tràn cũng chưa đủ để ví dụ cho tâm. Như một kẻ tay bưng bát mật mà chuyển động chạy nhảy, chỉ thấy bát mật chứ không thấy hố sâu, như thế không khác gì voi điên mà không có móc sắt, vượn khỉ mà được cây rừng, thì sẽ hung hăng nhảy vọt, khó mà ngăn cản ; các thầy phải cấp tốc tỏa chiết, đừng cho phóng túng. Phóng túng tâm ra thì làm tan nát việc thiện của người. Chế ngự tâm lại mọt chỗ thì không việc gì không thành. Thế nên, các thầy
Tỷ kheo, hãy nỗ lực tinh tiến mà chiết phục tâm mình.
Dục là những tính khác nhau của tâm. Dục phóng túng cũng vừa là khổ, vừa là nguyên nhân của khổ (38). Sự phóng túng của các sắc căn là do dục mà có, như kinh nói “5 thứ giác quan do tâm chủ động". Dục phóng túng như vậy là nguồn gốc phát sinh tội lỗi nơi mình và cho người, nên phải nỗ lực và đối trị, như kinh nói “vì vậy mà các thầy lại phải thận trọng chế ngự tâm mình".
Nỗ lực mà đối trị, vì dục phóng túng làm trở ngại cho tam muội. Tam muội có 3 sắc thái: chuyên nhất tư duy, yên tĩnh điêu luyện, sinh nhiều công đức; bị 3 sắc thái của dục làm
trở ngại: dục lắm thứ, dục náo động, dục tác hại.
Dục lắm thứ là như kinh nói “tâm còn đáng dợ hơn cả rắn độc, thú dữ, giặc thù, lửa dữ bùn cháy lan tràn cũng chưa đủ để ví dụ cho tâm". Lắm thứ là 4 tính tham vân vân khác nhau. Tu tập sự chuyên nhất tư duy của tam muội phải sợ 4 tính ấy hơn sợ những ví dụ đáng sợ và chưa đủ để ví dụ nói trên (39).
Dục náo động là như kinh nói “như một kẻ tay bưng bát mật mà chuyển động chạy nhảy, chỉ thấy bát mật chứ không thấy hố sâu, như thế không khác gì voi điên mà không có móc sắt, vượn khỉ mà được cây rừng, thì sẽ hung hăng nhảy vọt, khó mà
ngăn cản; các thầy phải cấp tốc tỏa chiết, đừng cho phóng túng". Trong lời này, "chuyển động" là chuyển thức động trong các căn ; mà lại động lẹ như "vượn khỉ" ; "chỉ thấy bát mật chứ không thấy hố sâu" là có mắt mà mắt đờ ra, không thấy tương lai (40) ; "hố sâu" là sự trở ngại trong tương lai : (1) trở ngại vì chổ sinh bất lợi cho sự tu hành (2) trở ngại vì khi tu hành các hạnh thì bị các khổ làm cho hư hỏng (41) ; như "voi điên" là dục náo động sa xuống hố sâu nói trên ; "cấp tốc tỏa chiết" là ép nó yên tĩnh ; "đừng cho phóng túng" là buộc nó điêu luyện (42).
Dục tác hại là như kinh nói "phóng túng tâm ra thì làm tan nát
 
việc thiện của người".
Sự chuyên nhất tư duy của tam muội đối trị dục lắm thứ, như kinh nói "chế ngự tâm lại một chỗ". Sự yên tĩnh điêu luyện của tam muội đối trị dục náo động, như kinh nói "hãy nỗ lực tinh tiến mà chiết phục tâm mình". Sự sinh nhiều công đức của tam muội đối trị dục tác hại, như kinh nói "không việc gì không thành".
Ghi chú :
    (38)    Coi lại ghi chú 34.
   (39)    Bốn tính là tham, sân, si, đẳng phần. Có những ý kiến phối hợp đúng thứ tự 4 ví dụ (Vạn 86/260, Vạn 59/15). Có những ý kiến nói rắn độc ví dụ cho sân, thú dữ ví dụ cho si, giặc thù ví dụ cho tham, lửa dữ ví dụ
cho đẳng phần (Chính 40/849, Vạn 86/292).
   (40) Mắt đờ ra, nguyên văn có bản chép đắng (mắt đờ ra), có bản chép ế (mắt bị màn mắt che). Chép đắng sát ý hơn.
   (41) Ý nói tu hành mà không điêu luyện tự tâm thì chỉ khốn khổ, khó thành (Vạn 86/292).
   (42) Đoạn này ngài Thiên thân đảo 2 ví dụ vượn khỉ và voi điên. Còn "kẻ tay bưng bát mật mà nhảy vọt, chỉ thấy bát mật chứ không thấy hố sâu" thì ngài lấy làm một sự việc của dục náo động, không còn là ví dụ nữa (Vạn 86/292).
Mục 2 đối trị cái khổ vì ăn nhiều
Các thầy Tỷ kheo, thọ dụng đồ ăn thức uống, hãy coi như việc uống thuốc, ngon không ham, dở không bỏ, vừa đủ duy trì cơ thể cho khỏi đói khát. Như ong lấy hoa, chỉ lấy mùi vị mà không tổn thương hương sắc, người xuất gia cũng vậy. Thọ dụng cúng phẩm của người vừa khỏi đói khát thì thôi, không được ham cầu cho nhiều, phá vỡ thiện niệm của họ. Hãy bắt chước kẻ khôn ngoan, biết lượng sức lực con trâu của mình chịu đựng nhiều ít, không dùng quá sức đến nỗi kiệt lực.
Ăn nhiều thì trở ngại tam muội. Ăn có 2 : thân ăn và tâm ăn (43). Một, thân ăn mà nhiều thì khó đạt
đến sự đình chỉ (44), cách xa thiền định. Hai, tâm ăn thì dùng phương tiện trong pháp chống trái Dục giới mà đối trị, đó là "tam muội ít ăn" (45), lại có tam muội thể hiện tuệ giác tối thượng làm cho hết đi, đó là "tam muội không ăn" (46). Hai thứ tam muội như vậy có 6 công đức thành tựu : (1) Đối trị ham ăn, như kinh nói "Các thầy Tỷ kheo, thọ dụng đồ ăn thức uống, hãy coi như việc uống thuốc". (2) Quan niệm bình đẳng, như kinh nói "ngon không ham, dở không bỏ". (3) Cứu cánh đối trị, như kinh nói "vừa đủ duy trì cơ thể cho khỏi đói khát thì thôi". Điều này có nghĩa pháp thân bình đẳng thể hiện quan niệm bình đẳng, bởi vì chỉ pháp
thân mới cứu cánh không đói khát. (4) Thí dụ bình đẳng, là quan niệm bình đẳng trên lại được kinh ví dụ "như ong lấy hoa, chỉ lấy mùi vị mà không tổn thương hương sắc, người xuất gia cũng vậy". "Không tổn thương" có nghĩa quan niệm bình đẳng là phép quán không phá hoại các pháp (47). (5) Ăn không vô ích, như kinh nói "thọ dụng cúng phẩm của người, vừa khỏi đói khát thì thôi". (6) Ý thức tự lượng (48), như kinh nói "không được ham cầu cho nhiều, phá vỡ thiện niệm của họ". "Ham cầu cho nhiều" là tâm ăn (49) mà nhiều thì tam muội phải mất. Cái ví dụ "biết lượng sức lực con trâu" là ví dụ cho ý thức tự lượng : (a) biết
lượng định trong thì gian phương tiện, và (b) biết thích ứng trong thì gian thành tựu (50). Như vậy thì hết cái lỗi ăn nhiều. Sáu công đức trên đây thành tựu 2 thứ tam muội :  thứ 1, thứ 5 và thứ 6 là tam muội ít ăn ; thứ 2, thứ 3 và thứ 4 là tam muội không ăn (51).
Ghi chú :
    (43) Thân ăn là đoàn thực, nhai nuốt thực phẩm bình thường. Tâm ăn là thực (tâm), xúc thực và tư thực (tâm sở) tiếp nhận mùi vị đối cảnh. Cả 2 sự thân ăn và tâm ăn đều có tác dụng bồi dưỡng căn thân, nên gọi là ăn. Định nghĩa này cũng của ngài Thiên thân, trong Câu xá. Ăn có 4 thứ, giới hạn của 4 thứ ăn, tại sao ăn
chỉ nói 4 thứ, hay hiệu năng của 4 thứ ăn, xin coi Vạn 86/293 đã trích dẫn Câu xá. Riêng thân ăn mà nhiều và bậy, thì ít nhất cái khổ cũng có 5 : đại tiện mãi, tiểu tiện luôn, ngủ nhiều, người nặng nề, khó tiêu hóa (Vạn 86/294).
    (44) Nguyên văn là "nan chỉ tức". Vạn 86/261 giải thích rằng thân không điều hòa thì tâm hồn trầm hay tán loạn. Theo thiển kiến, nếu nói nan điều tức là khó điều hòa hơi thở thì đúng nhất trong trường hợp ở đây. Nhưng nguyên văn đã nói nan chỉ tức thì đành dịch là khó đạt đến sự đình chỉ, với cái nghĩa thân ăn mà nhiều thì khó đình chỉ những sự cách xa thiền định, trong đó có hơi thở chưa điều hòa.
 
     (45) Nguyên văn không có câu này. Nói sót câu này là rất đúng.
     (46) Đoạn này cho thấy đối trị thân ăn và đối trị tâm ăn phần Dục giới là tam muội ít ăn, còn đối trị tâm ăn phần còn lại là tam muội không ăn.
     (47) Phá hoại, ở đây nghĩa là phủ nhận.
     (48) Ý thức tự lượng, nguyên văn là tri thời, dịch rõ là biết tự lượng định trong thời gian ăn.
     (49) Nếu thêm vào chữ tâm ăn thành "tâm ăn trong thân ăn" thì rõ nghĩa.
     (50) Thì gian phương tiện là sắp ăn, thì gian thành tựu là ăn. Biết lượng sức lực co trâu, và biết dùng
vừa sức nó, là ví dụ người xuất gia hãy biết lượng sức thí chủ hay sức tam muội, là biết lượng định trong thì gian phương tiện ; rồi ăn vừa khỏi đói để tu hành tam muội, là biết thích ứng thì gian thành tựu. Người xuất gia có 5 quán pháp khi ăn, 2 quán pháp đầu là biết lượng định, còn 3 quán pháp sau là biết thích ứng.
    (51) trong 6 công đức, thứ 1 ăn như uống thuốc, thứ 5 ăn để khỏi đói, thứ 6 ăn không ham nhiều, nân thành tựu tam muội ít ăn ; còn thứ 2 quán bình đẳng, thứ 3 quán thành thì pháp thân hiển lộ, thứ 4 ví dụ về quán bình đẳng, liên hợp biểu thị tuệ giác tối thượng, nghĩa là thành tựu tam muội không ăn (Vạn 86/294).
Mục 3 đối trị cái khổ vì nhác và ngủ
Các thầy Tỷ kheo, ban ngày thì nổ lực thực tập thiện pháp, không để thì giờ lướt mất, đầu đêm cuối đêm cũng đừng phế bỏ, giữa đêm lại phải tụng niệm để tự tiêu trừ điều ác, sinh trưởng điều thiện.  Đừng vì lý do ngủ nghỉ mà để đời mình trôi đi, không được một chút ích lợi. Hãy nhớ ngọn lửa vô thường đốt cháy thế gian, để sớm cầu tự độ, đừng ham ngủ nghỉ. Giặc phiền não thường rình giết ta, dữ hơn kẻ thù, tại sao ta có thể ngủ nghỉ mà không tự cảnh giác ? Phiền não ngủ trong tâm, cũng như rắn hổ mang màu đen nằm ngủ trong 
nhà, các thầy phải dùng móc sắt giữ giới mà cấp tốc móc kéo nó ra. Rắn ngủ ra rồi mới nên yên tâm ngủ nghỉ. Không ra mà ngủ thì tật là kẻ không biết hổ thẹn. – Sự hổ thẹn là phục sức đẹp nhất trong mọi thứ phục sức. Như cái móc sắt, sự hổ thẹn có năng lực chế ngự mọi thứ phi pháp của con người. Thế nên, các thầy Tỷ kheo, hãy luôn biết hổ thẹn, sỉ nhục, đừng bao giờ, dầu chỉ tạm thời mà thôi, được phép quên mất đức tính ấy. Mất hổ thẹn là mất công đức. Có hổ thẹn là có thiện pháp, không hổ thẹn thì không khác gì cầm thú.
Đối trị cái khồ vì nhác và ngủ là tinh tiến tư duy và tịnh giới. Nhưng nhác và ngủ mà nói chung, vì nhác là tâm nhác nhớm, còn ngủ là thân mỏi mệt, 2 thứ này thuận nhau cọng thành một cái khổ, nên trong 5 thứ chướng ngại thiền định, 2 thứ này nói chung (52). Ngủ có 3 thứ, là do ăn, do giờ và do tâm (53).
Ngủ do ăn và do giờ thì đối trị bằng tinh tiến, nghĩa là tranh thủ thời giờ mà đối phó với cái mà vô thỉ đến giờ chưa hủy bỏ được, lại còn đề cao sự khó được của thánh đạo, như kinh nói “Các thầy Tỷ kheo, ban ngày thì nổ lực thực tập thiện pháp, không để thì giờ lướt mất, đầu đêm cuối đêm cũng đừng phế bỏ, giữa đêm
lại phải tụng niệm để tự tiêu trừ điều ác, sinh trưởng điều thiện.  Đừng vì lý do ngủ nghỉ mà để đời mình trôi đi, không được một chút ích lợi”.
Những lời kinh còn lại là huấn thị ngủ do tâm thì đối trị bằng tư duy và bằng tịnh giới. Một, đối trị ngủ do tâm bằng tư duy, là quán xét sự sinh diệt phá hoại 5 uẩn, như kinh nói “hãy nhớ ngọn lữa vô thường đốt cháy thế gian”. Rồi cần định và tuệ để vượt qua cái phải vượt qua, như kinh nói “ để sớm cầu tự độ, đừng ham ngủ nghỉ”. Nên phải quán sát sự tác hại thường xuyên của âm giới nhập, để ý thức sự đáng sợ mà cầu tự chánh giác, như kinh nói “Giặc phiền não thường rình giết ta,
 
dữ hơn kẻ thù, tại sao ta có thể ngủ nghỉ mà không tự cảnh giác”. Hai, đối trị ngủ do tâm bằng tịnh giới, thì giới này la tâm giới tương ưng với định, mới trị được 6 tâm duyên cảnh, vốn trấn ở trong tự tâm và đáng sợ như rắn độc, như kinh nói “phiền não ngủ trong tâm, cũng như rắn hổ mang màu đen nằm ngủ trong nhà”. Tâm giới trị nó là như kinh nói “các thầy phải dùng móc sắt giữ giới mà cấp tốc mốc kéo nó ra”. Như thế mới siêu thoát, yên ổn, như kinh nói “rắn ngủ ra rồi mới nên yên tâm ngủ nghỉ”.
            Bây giờ nói sự yên ổn giả tạo, sự yên ổn của cương vị thấp kém, không có đối trị, như kinh nói “không ra
mà ngủ thì thật là kẻ không biết hổ thẹn”. Hổ thẹn là pháp đặc biệt nhất trong các pháp đối trị, giúp hành giả tự thanh tịnh và thanh tịnh kẻ khác, như kinh nói “sự hổ thẹn là phục sức đẹp nhất trong mọi thứ phục sức ; như cái móc sắt, sự hổ thẹn có năng lực chế ngự mọi thứ phi pháp của con người”. “Đẹp nhất” là biểu thị sự hổ thẹn của tâm giới hơn giới khác. “Thế nên, các thầy Tỷ kheo, hãy luôn luôn biết hổ thẹn, sỉ nhục, đừng bao giờ, dầu chỉ tạm thời mà thôi, được phép quên mất đức tính ấy”, là khuyên tu thắng pháp hổ thẹn, tu luôn luôn. Vì nếu rời thắng pháp này thì tự hại, như kinh nói “mất hổ thẹn là mất công đức”. Kinh lại còn
cho thấy có không thì lợi hại như thế nào, như kinh nói “có hổ thẹn là có thiện pháp, không hổ thẹn thì không khác chi cầm thú”.
            Ghi chú :
   (52)  Năm chướng ngại thiền định : tham dục, sân giận, nhác ngủ, trạo hối (náo động hối hận) nghi ngờ (Vạn 86/295 dẫn Câu xá).
   (53)  Ngay sau câu này, ngài Thiên thân có cước chú ngủ do ăn và do giờ thì A la hán cũng có, nhưng cái ngủ ấy của A la hán không do tâm, nên không che khuất thiền định.
Tiết 3 tu tập công đức đối trị phiền não, có 3 mục, đối trị 3 phiền não chướng ngại, bằng cách chỉ rõ phương pháp đối trị ấy : mục 1 đối trị phiền não
giận dữ, mục 2 đối trị phiền não kiêu ngạo, mục 3 đối trị phiền não dua nịnh.
Mục 1 đối trị phiền não giận dữ
            Các Thầy Tỷ kheo, nếu ai cắt xả thân thể các thầy ra từng đốt, các thầy cũng phải tự kiềm chế tâm mình, đừng cho giận dữ. Lại phải giữ lấy miệng lưỡi, đừng để phát ra lời tiếng không tốt. Tâm giận dữ nổi lên là tự hại đạo nghiệp, hư mất công đức. Đức tính của Nhẫn, giữ giới và khổ hạnh không thể sánh bằng. Thực hành đức Nhẫn mới được mệnh danh là bậc thượng nhân có sức. Kẻ nào không thể tiếp nhận cái độc nhục mạ một cách
hoan hỷ như uống nước cam lộ, kẻ ấy không thể được ca tụng là người nhập đạo có trí. Tại sao, vì giận dữ thì phá hủy hết thảy thiện pháp và danh tiếng đáng quí, hiện tại vị lai không ai muốn nhìn. Sự giận dữ hơn cả ngọn lửa ác liệt, vì thế mà các thầy phải đề phòng một cách thường trực, đừng cho xâm nhập tâm trí. Giặc cướp công đức không chi hơn giận dữ. Thế gian hưởng thụ dục lạc, không phải là kẻ hành đạo, không có phương pháp để tự khống chế, thế nên giận dữ thì còn có thể tha thứ được. còn người xuất gia hành đạo là kẻ loại bỏ dục vọng, vậy mà giận dữ
thì thật bất đáng ; không khác gì giữa bầu trời mây trong mát mà sấm sét lóe lửa là điều không thích hợp.
            Đối trị giận dữ bằng an khổ đạo ( kham nhẫn đạo) và an lạc đạo (chân như quán).
            An khổ đạo (kham nhẫn đạo) là Bồ tát trú ở trong sự kham nhẫn thì nhẫn được mọi thứ khổ não bất cứ nặng nhẹ, như kinh nói “các thầy Tỷ kheo, nếu ai cắt xả thân thể các thầy ra từng đốt, các thầy cũng phải tự kiềm chế tâm mình, đừng cho giận dữ” ; lời này biểu thị sự thành tựu huyễn hóa pháp thân (54). Lại thực hành khẩu hạnh thanh tịnh, tức thường nói nhu hòa, như kinh nói “lại
phải giữ lấy miệng lưỡi, đừng để phát ra lời tiếng không tốt”. Lý do là vì ý thức được sự trở ngại đạo nghiệp tự lợi lợi tha, như kinh nói “tâm giận dữ nổi lên là tự hại đạo nghiệp, hư mất công đức”. Nhẫn thì công đức và trí tuệ, 2 tâm hạnh ấy của Nhẫn đều được thanh tịnh, nên đối chiếu với các hạnh tùy thuộc của Nhẫn, Nhẫn cao hơn, như kinh nói “đức tính của Nhẫn, giữ giới và khổ hạnh không thể sánh bằng” ; trong lời này, khổ hạnh là công đức tam muội đối trị các khổ, [còn giữ giới là công đức giữ giới đối trị tà nghiệp : đó là 2 hạnh tùy thuộc của Nhẫn]. như vậy là đem 3 nghiệp thanh tịnh, và sự đối chiếu cao hơn, để biểu thị thực hành án
khổ đạo (55).
            An lạc đạo (chân như quán) là thành tựu quán trí, sức mạnh của thượng nhân, như kinh nói “thực hành đức nhẫn mới được mệnh danh là bậc thượng nhân có sức mạnh”. Đó là thuận hiển. Kinh còn phản hiển nữa : không có sức mạnh của thượng nhân là vì không có trí tuệ quán chiếu, như kinh nói “kẻ nào không thể tiếp nhận cái độc nhục mạ một cách hoan hỷ như uống nước cam lộ, kẻ ấy không thể được ca tụng là người nhập đạo có trí”. Trong câu này, “không thể tiếp nhận một cách hoan hỷ” là vì không có đức tin để nhập vào quán trí ; “cái độc nhục mạ” là vì không y như pháp môn vô sinh mà
tiếp nhận, nên nhục mạ mới thành độc ; “nước cam lộ” là ví dụ cho đặc tính của pháp môn vô sinh ; còn “nhập đạo” thì đạo ấy là bản thân trí tuệ.
            Bây giờ kinh lai nói đến tội lỗi để khuyến khích sự đề phòng thường xuyên, như kinh nói “tại sao”, vì giận dữ thì phá hủy hết thảy thiện pháp và danh tiếng đáng quí, hiện tại vị lai không ai muốn nhìn”. Trong lời này, “hết thảy thiện pháp” là trí tuệ tự lợi ; “danh tiếng đáng quí” là thiện pháp lợi tha ; “không ai muốn nhìn” là quả báo xấu trong thì gian này và thì gian khác. Do đó, sự đề phòng có 2 : (a) đề phòng cho trí tuệ tự lợi khỏi bị lửa giận dữ xâm nhập,
như kinh nói “sư giận dữ hơn cả ngọn lửa ác liệt, vì thế mà các thầy  phải đề phòng một cách thường trực, đừng cho xâm nhập tâm trí” ; (b) đề phòng cho thiện pháp lợi tha khỏi bị giặc giận dữ cướp mất, như kinh nói “giặc cướp công đức không chi hon giận dữ”.
            Sau hết, kinh nòi thế nhân đối với 2 sự thích ý và trái ý đều nhận và dùng
(56), nên chưa thể siêu thoát, như kinh nói “thế gian hưởng thụ dục lạc, không phải là kẻ hành đạo, không có phương pháp để tự khống chế, thế nên giận dữ thì còn có thể tha thứ được” ; trong lời này, “không có phương pháp” là không có sự thanh tịnh để đối trị. Còn xuất gia
thì cả 2 sự thích ý và trái ý đều phải siêu thoát, như kinh nói “ còn người xuất gia hành đạo là kẻ loại bỏ dục vọng, vậy mà giận dữ thì thật bất đáng”. Những lời còn lại là ví dụ cho sự không nên có trên đây của người xuất gia, như kinh nói “không khác chi giữa bầu trời mây trong mát mà sấm sét lóe lửa là điều không thích hợp”.
            Ghi chú :
   (54)   “Huyễn hóa pháp thân”, tham chiếu Vạn 86/264 và Vạn 86/297. Theo thiển hiến, đoạn này ngài Thiên thân nói thân bị hại mà nhẫn được, thì thế là thành tựu huyễn hóa pháp thân. Như thế có nghĩa chính cái thân huyễn hóa là pháp thân, vì như thế là thân
huyễn hóa thực hiện pháp thân bằng đức Nhẫn, vì thân huyễn hóa như thế chính là ngũ phần pháp thân, và vì như thế là thân huyễn hóa tự thể hiện bản thể chân như pháp thân.
   (55)   Đoạn kinh này có 4 câu, câu 1 là thân hạnh thanh tịnh, câu 2 là khẩu hạnh thanh tịnh, câu 3 là ý hạnh thanh tịnh, câu 4 là đối chiếu cao hơn.
   (56)   Nhận dùng sự thích ý là tham lam những sự thích ý, nhận dùng sự trái ý là giận dữ những sự trái ý.
Mục 2 đối trị phiền não kiêu ngạo
            Các thầy Tỷ kheo, hãy tự xoa đầu mình, đã bỏ sự trang sức và đồ tốt đẹp, mình mặc áo hoại sắc,
tay cầm đồ thích ứng, khất thực để sống ; tự thấy như vậy mà kiêu ngạo còn nổi lên, thì phải cấp tốc tỏa chiết. Tăng thêm kiêu ngạo là điều mà thế nhân còn không nên có, huống chi người xuât gia nhập đạo là kẻ vì giải thoát, tự giáng mình xuống mà đi khất thực?
            Đối trị kiêu ngạo bằng tâm lý không tự tôn thắng. Sự đối trị cấy có 7 câu sau đây : Một, chỗ cao nhất của mình, mình phải tỏa chiết trước hết, bằng sự tự biết thường xuyên, như kinh nói “các thầy Tỷ kheo, hãy tự xoa đầu mình”. Hai, còn chỗ khác thì không dùng sự trang sức và đồ tốt đẹp (57), như kinh nói “đã bỏ sự
trang sức và đồ đẹp”. Ba, với y phục thì đối trị cái tâm lý mặc cho đẹp (58), như kinh nói “mình mặc áo hoại sắc”. Bốn, đồ mình dùng thì thường tự nắm lấy, như kinh nói “tay cầm đồ thích ứng”. Năm, với sự cần dùng khác, không sử dụng phương tiện phát sinh tội lỗi, mà chỉ như kinh dạy “khất thực để sống” :khất thực chính là cách tự điều phục. Sáu, trí tuệ thành tựu, với sự tự quán sát thường xuyên, như kinh nói“tự thấy như vậy”.  Bảy, sự đối trị cũng thành tựu, vì chế ngự cả sự nổi lên rất nhỏ, như kinh nói “mà kiêu ngạo còn nổi lên thì phải cấp tốc tỏa chiết”.
            Những câu kinh còn lại, là đối chiếu để nói sự tự điều phục, đừng
kiêu ngạo kẻo trở ngại mọi công đức trước sau (59), như kinh nói “tăng thêm kiêu ngạo là điều mà thế nhân còn không nên có, huống chi người xuất gia nhập đạo là kẻ vì giải thoát, tự giáng mình xuống mà di khất thực ?”.
            Ghi chú :
   (57)  Sự trang sức là như mão đội. Đồ đẹp là như ngọc đeo vân vân (Vạn 86/298).
   (58)  Với y phục mà màu sắc y nguyên, màu sắc chính (Vạn 86/298).
   (59)  Là xuất gia nhập đạo và giải thoát (Vạn 86/266). Hay là xuất gia và nhập đạo. Nhập đạo, đạo là bản thân trí tuệ. Còn giải thoát là mục đích của xuất gia nhập đạo (Vạn 86/300).
Mục 3 đối trị phiền não dua nịnh
            Các thầy Tỷ kheo, tâm lý dua nịnh quanh co trái ngược đạo pháp, thế nên các thầy phải chất trực tâm mình. Phải ý thức dua nịnh quanh co chỉ để dối trá, mà người nhập đạo thì không thể như vậy. Vì thế mà các thầy cần phải ngay thẳng tâm mình, lấy đức tính chất trực làm căn bản.
            Đối trị dua nịnh bằng tâm chất trực căn bản. Dua nịnh là miệng và ý tự mâu thuẫn nhau và mâu thuẫn với đạo pháp (60). Như kinh nói “các thầy Tỷ kheo, tâm lý dua nịnh quanh co trái ngược đạo pháp”. Nên phải đối trị cái chướng ngại vì mâu thuẫn đạo pháp đó, như kinh nói “thế nên các
thầy phải chất trực tâm mình”. Bởi vì trong đạo pháp không thể có sự mâu thuẫn như vậy, như kinh nói “phải ý thức dua nịnh quanh co chỉ để dối trá, mà người nhập đạo thì không thể như vậy” ; trong lời này, “dối trá” là lòng với miệng cùng lúc mà dùng không thật.
            Những câu kinh còn lại nói về tâm chất trực : tâm ấy là căn bản của đạo tâm, như kinh nói “vì thế mà các thầy cần phải ngay thẳng tâm mình, lấy đức tính chất trực làm căn bản” (61).
            Ghi chú :
       (60)  Nguyên văn câu này, Chính 26/287 chép “ư khẩu ý trung tự vi vi bỉ cố”.
Tôi nghĩ chép như vậy đúng 
hơn. Nhất là đối chiếu với đoạn dưới, ngài Thiên thân định nghĩa là lòng và miệng cùng lúc mà dùng không thật. Theo đó thì lòng muốn mộ đường, miệng nói một nẻo, bằng sự quanh co này mà thủ lợi. nhưng nguyên văn mà cả 2 bản chú thích Di giáo kinh luận cùng chép thì khác : ư thân khẩu ý trung tự vi bỉ cố. Nghĩa là cả thân miệng ý đều mâu thuẫn với đạo pháp. Nghĩa này được chú thích rằng sự dua nịnh lộ cả ra nơi 3 nghiệp : thân khúm núm, miệng chuốt lời, lòng mưu toan, nhưng lòng là căn bản nên kinh chỉ nói tâm lý dua nịnh (Vạn 86/266 và 300)
    (61)   Tất cả chữ “đạo” trong mục này, kinh cũng như luận, đều có nghĩa là bản thân trí tuệ mà mục 1 đã nói,
tức trí tuệ chứng nhập thánh đạo (Vạn 86/300).
            Phần ba thành tựu công đức xuất thế. Công đức xuât thế cũng gọi là công đức thượng nhân. Công đức thượng nhân có 8 (62). Các bậc thượng nhân thường dùng 8 công đức này để tự giác, tự soát, hầu nuôi lớn phương tiện và thành tựu cứu cánh (63). Tám công đức chia thành 8 tiết : tiết 1 thành tựu công đức ít ham muốn, tiết 2 thành tựu công đức biết vừa đủ, tiết 3 thành tựu công đức siêu thoát, tiết 4 thành tựu công đức tinh tiến, tiết 5 thành công đức không quên chánh niệm, tiết 6 thành tựu công đức thiền định, tiết 7 thành tựu công đức trí tuệ, tiết 8 thành tựu công đức không hý luận. (64)
            Tiết 1 thành tựu công đức
                        ít ham muốn (65)
Các thầy Tỷ kheo, phải biết kẻ ham muốn nhiều, thì vì nhiều sự cầu lợi nên khổ não cũng nhiều. Còn ít ham muốn thì không cầu hồ, không dục vọng, nên không có cái họa đó. Chỉ có như thế mà thôi, sự ít ham muốn cũng đã phải thực tập, huống chi sự ấy còn đem lại đủ các công đức. Người ít ham muốn thì không dua nịnh quanh co để cầu được lòng người, cũng không bị các giác quan lôi kéo. Thực hành đức tính ít ham muốn thì lòng bình thản, không lo sợ, gặp cảnh ngộ nào cũng thấy thừa thãi, không  bao giờ có cảm giác thiếu thốn. Có ít ham muốn là có niết bàn.
Đó là hạnh ít ham muốn.
Công đức thứ nhất mà thượng nhân thành tựu là không cầu. Không cầu là vì biết tội lỗi của sự ham muốn nhiều. Việc biết ấy có 5: Một, biết ham muốn nhiều thì đủ cả 3 chướng là hoặc nghiệp khổ, như kinh nói “phải biết kẻ ham muốn nhiều thì vì nhiều sự cầu lợi, nên khổ não cũng nhiều”; lời này cho thấy sự luân chuyển không ngừng của 3 chướng. Hai, biết sự ít ham muốn đối trị thì viễn ly cả 3 chướng, như kinh nói “còn ít ham muốn thì không cầu hồ, không dục vọng, nên không có cái họa đó”. Ba, biết ít ham muốn là cái nhân tập hợp cái quả là vô lượng diệu hạnh, như kinh nói “chỉ có như
thế mà thôi, sự ít ham muốn cũng đã phải thực tập, huống chi sự ấy còn đem lại đủ các công đức”. Bốn, biết cứu cánh của sự ít ham muốn là cứu cánh không còn 3 chướng, như kinh nói “người ít ham muốn thì không dua nịnh quanh co để cầu được lòng người, cũng không bị các giác quan lôi kéo”. Năm, biết kết quả của ít ham muốn là thành tựu 3 đức bát nhã vân vân, như kinh nói “thực hành đức tính ít ham muốn thì lòng bình thản, không lo sợ, gặp cảnh ngộ nào cũng thấy thừa thãi, không bao giờ có cảm giác thiếu thốn. Có ít ham muốn là có niết bàn” (66).
Ghi chú:
      (62) Vạn 86/300 nói 8 công đức
này liên hệ và tương đồng với 10 pháp của Đại niết bàn (Chính 12/526) thì xét ra thật chính xác. Sau đây là 8 công đức đối chiếu với 10 pháp:
 
 
 

Chú ý: (a) trong 8 công đức, ghi luận là Di giáo kinh luận; (b) xuất xứ 10 pháp Đại niết bàn  là Chính 12/526, ở đó tự giải rõ và tắt; (c) 8, 9,10, của Đại niết bàn chỉ là 8 của Di giáo.
    (63)   Chính câu này, và câu đầu ở công đức thứ 8 sau đây: “đã nói những công đức nuôi lớn phương tiện rồi, bây giờ nói công đức thành tựu cứu cánh”, chứng tỏ ngài Thiên thân chia 8 công đức ra làm 2: 7 thứ trước là nuôi lớn phương tiện, 1 thứ chót là thành tựu cứu cánh.
    (64)   Tất cả chữ thành tựu ở đây

nghĩa là tu hành.
    (65)  Trong Di giáo kinh luận, ngài Thiên thân gọi là công đức không cầu. Nay xin để đúng văn kinh.
    (66)    Phối hợp 3 đức với đoạn kinh này, có ý kiến nói như sau. Lòng bình thản là bát nhã (bình thản là vô phân biệt trí). Không lo sợ là giải thoát. Thừa thải không thiếu là pháp thân (Vạn 86/301).
Tiết 2 thành tựu công đức biết vừa đủ
Các thầy Tỷ kheo, muốn giải thoát khổ não thì các thầy hãy cứu xét sự biết vừa đủ. Chính sự biết vừa đủ là giàu sang, vui thú và yên ổn. Biết vừa đủ thì nằm trên đất cũng thấy vui thích,
không biết vừa đủ thì ở thiên đường cũng vẫn bất mãn. Không biết vừa đủ thì giàu mà nghèo, biết vừa đủ thì nghèo mà giàu. Không biết vừa đủ thì luôn luôn bị cả năm dục lạc lôi kéo, làm cho người biết vừa đủ phải xót thương. Đó là hạnh biết vừa đủ.
Công đức thứ hai của thượng nhân là thành tựu sự biết vừa đủ. Sự biết vừa đủ đối trị cả nguyên nhân và kết quả của khổ, như kinh nói “muốn giải thoát khổ não thì các thầy hãy cứu xét sự biết vừa đủ”; chữ não trong chữ khổ não là nói phiền não do khổ mà phát sinh. Sự biết vừa đủ là nhân mà cũng là quả thanh tịnh, vì thành tựu đối trị,như kinh nói
“chính sự biết vừa đủ là giàu sang, vui thú và yên ổn”.
Như vậy thì biết vừa đủ khác gì ít ham muốn? Ít ham muốn là siêu thoát đối với cái chưa phải của mình, biết vừa đủ là siêu thoát đối với cái đã là của mình (67).
Kinh này lại nói 3 sự khác nhau giữa biết vừa đủ và không biết vừa đủ: Một, đối với thế giới thì hưởng thụ khác nhau, như kinh nói “biết vừa đủ thì nằm trên đất cũng thấy vui thú, không biết vừa đủ thì ở trên thiên đường cũng vẫn bất mãn”. Hai, đối với cảnh ngộ cũng tiếp nhận khác nhau, như kinh nói “không biết vừa đủ thì giàu mà nghèo, biết vừa đủ thì nghèo mà giàu”. Ba, đối với hậu quả
thì không cả tư lợi và có tư lợi lợi tha khác nhau, như kinh nói “không biết vừa đủ thì luôn luôn bị cả năm dục lạc lôi kéo, làm cho người biết vừa đủ phải xót thương” (68).
Ghi chú:
   (67)   Câu xá luận nói, “ với đồ đã có ức vì không tốt không nhiều, là không thích đủ; với đồ chưa có mong tốt mong nhiều là không ít muốn. thích đủ và ít muốn đối trị 2 sự đó nên khác nhau” (Chính 29/117).
   (68)   “Bị cả 5 thứ dục lạc lôi kéo” nên tự lợi cũng không có. “Người biết vừa đủ phải xót thương” là đã tự lợi mà còn lợi tha (Vạn 86/302).
Tiết 3 thành tựu công đức siêu thoát
Các thầy Tỷ kheo, muốn cầu yên tĩnh, vô vi và an lạc, thì các thầy hãy thoát ly mọi sự ồn ào và bối rối, ở đơn độc và ở một cách thư thái. Người ở yên tĩnh thì chúa trời Đế thích và chư thiên đều tôn kính. Vì thế mà các thầy hãy thoát ly đồ chúng của mình, và đồ chúng của người, ở đơn độc, thư thái và thanh vắng, dùng “tư duy tu” mà cắt đứt gốc rễ đâu khổ. Nếu thích đồ chúng thì sẽ bị đồ chúng quấy phá, như cây đại thọ mà cả bầy chim chóc tập hợp lại thì vẫn bị cái họa khô gãy. Thế gian ràng buộc mà chìm ngập thống khổ, thì cũng không khác gì voi già mà sa
xuống bùn lầy, hết mong thoát khỏi. Đó là hạnh siêu thoát.
Công đức thứ 3 của thượng nhân là siêu thoát, ý nghĩa bao gồm trong 3 môn: tự tánh  siêu thoát, là bản thể vốn siêu thoát; tu tập siêu thoát, là siêu thóa bằng phương tiện; tiếp nhận kiến chấp, là sẽ thường bị buộc ràng.
Tự tánh  siêu thoát là đối trị 4 chướng: (1) đối trị chướng ngại vì ngã, như kinh nói “các thầy Tỷ kheo, muốn cầu yên tĩnh, vô vi và an lạc”; trong lời này, yên tĩnh là vô ngã vô không, vô vi là vô tướng không, an lạc là vô nguyện không. (2) đối trị chướng ngại vì ngã sở, tức 5 chúng rối loạn, mất hết thứ tự (69), như
như kinh nói “các thầy hãy thoát ly mọi sự ồn ào và bối rối”. (3) đối trị chướng ngại 2 thứ không ngã và không ngã sở, như kinh nói “ở đơn độc và ở một cách thư thái”. (4) đối trị chướng ngại công đức vô vi, tức công đức đứng đầu mà chư thiên rất kính trọng, như kinh nói “người ở yên tĩnh thì chúa trời Đế thích và chư thiên đều tôn kính”.
            Tu tập siêu thoát là siêu thoát  ngã và ngã sở bằng cách không còn tập hợp nguyên nhân để phát sinh ra nữa, như kinh nói “vì thế mà các thầy hãy thoát ly đồ chúng của mình, và đồ chúng của người”. Như thế thì thành tựu cái tuệ phương tiện, tức trú ở đúng như chân như của các pháp,
 
như kinh nói “ở đơn độc, thư thái và thanh vắng”. Rồi thành tựu cái trí thiện trạch (70), nghĩa là siêu thoát cái nhân phát khởi, như kinh nói “dùng tư duy tu mà cắt đứt gốc rễ đâu khổ”.
Tiếp nhận kiến chấp là ngược với 2 sự siêu thoát trên. Nên tiếp nhận kiến chấp là thích tập hợp ngã và ngã sở, phát động sự quấy phá tâm cảnh (71) của mình của người, như kinh nói “Nếu thích đồ chúng thì sẽ bị đồ chúng quấy phá”. Kiến chấp tập hợp phát động là tự hại, như kinh ví dụ “cây đại thọ mà cả bầy chim chóc tập hợp lại thì vẫn bị cái họa khô gãy”. Và không thể siêu thoát khi hoặc nghiệp khổ luân
chuyển sinh khởi, như kinh ví dụ “thế gian ràng buộc mà chìm ngập thống khổ, thì cũng không khác gì voi già mà sa xuống bùn lầy, hết mong thoát khỏi”.
            Ghi chú:
“Năm chúng rối loạn, mất hết thứ tự”, ý kiến Vạn 86/302 có bằng cớ nhất. Năm chúng là Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, Thức xoa, Sa di, Sa di ni. Biết như vậy là vì Đại niết bàn đã nói 4 chúng khi nói về tịch tịnh (siêu việt) (Chính 12/526). Nói 4 chúng là gồm cả tại gia và xuất gia. Di giáo dạy các vị Tỷ kheo nên chỉ nói 5 chúng xuất gia. Thứ nữa, 5 chúng cũng là 5 uẩn. “Rối loạn mất thứ tự” là ham ngã sở (5 chúng) thì thân tâm rối loạn, quán
(69) hạnh mất thứ lớp. Năm chúng mà nói là ngã sở vì ngã sở có 3 : ngọc vàng của ta, thuộc hạ của ta, nhà cửa của ta. Năm chúng là thuộc hạ của ta.
(70) Thiện trạch là chọn lọc và quyết đoán (trạch) một cách đúng như sự thật (thiện).
(71) Tâm cảnh, tâm là tâm trí, cảnh là hoàn cảnh.
Tiết 4 thành tựu công đức tinh tiến
Các thầy Tỷ kheo, nổ lực tinh tiến thì không có việc gì khó khăn. Thế nên các thầy phải thực hành sự nỗ lực tinh tiến. Nước nhỏ mà chảy mãi thì có thể xuyên thủng cả đá. Nếu người hành đạo mà hay biếng nhác phế
bỏ, thì cũng như kéo lửa chưa nóng mà đã ngừng, dầu thiết tha có lửa, lửa cũng khó mà có được. Đó là hạnh tinh tiến.
            Công đức không biết mỏi mệt là không giống sự siêng năng của ngoại đạo, lại có khả năng khéo bước tới mọi thứ pháp hạnh, bước tới một cách thành tựu sự không thoái chuyển, như kinh nói "các thầy Tỷ kheo, nổ lực tinh tiến thì không có việc gì khó khăn". Chính vì tinh tiến thành tựu sự không thoái chuyển mà phải thực tập, nuôi lớn, như kinh nói "Thế nên các thầy phải thực hành sự nỗ lực tinh tiến". Kinh lại dùng thí dụ để nói tinh tiến không ngừng, không nghỉ, thì rất có sức trong sự
thành tựu, như kinh nói "Nước nhỏ mà chảy mãi thì có thể xuyên thủng cả đá".
Bây giờ kinh nói tội lỗi của sự lười nhác. Lười nhác thì không thể tinh tiến thường trực, nên niệm xử (72) phải thoát mất, định tuệ phải bất thành, như kinh ví dụ "nếu người hành đạo mà hay biếng nhác phế bỏ, thì cũng như kéo lửa chưa nóng mà đã ngừng, dầu thiết tha có lửa, lửa cũng khó mà có được".
Ghi chú :
            (72) Niệm xử là niệm trú. Đọc niệm xứ không sai lắm nhưng không chính xác. Niệm xử là 4 pháp niệm xử.
Tiết 5 thành tựu công đức
không quên chánh niệm
            Các thầy Tỷ kheo, cầu thiện tri thức, cầu thiện hộ trì và cầu thiện hỗ trợ, đều không bằng không quên chánh niệm. Không quên chánh niệm thì giặc phiền não hết cách xâm nhập tâm trí. Thế nên các thầy hãy luôn luôn tập trung chánh niệm lại nơi tâm trí. Mất chánh niệm là mất công đức. Nếu chánh niệm có sức lực vững mạnh, thì dẫu phải vào trong đám giặc ngũ dục, cũng không bị chúng sát hại ; tựa như tướng sĩ lâm trận mà mặc áo giáp lát đồng, thì không còn sợ
hãi gì nữa. Đó là hạnh không quên chánh niệm.
công đức không quên chánh niệm đứng đầu các hạnh, vì lẽ có năng lực phá được cái oán nặng nề có từ vô thỉ. Các hạnh, tóm tắt có 3 : hạnh cầu người giúp văn pháp, như kinh nói "cầu thiện tri thức" ; hạnh cầu người giúp tư pháp, như kinh nói  "cầu thiện độ trì" ; hạnh cầu người giúp tu pháp, như kinh nói "và cầu thiện hỗ trợ". Nhưng đối với các hạnh này, sự không quên chánh niệm đứng đầu và hơn cả, như kinh nói  "không bằng không quên chánh niệm". Vì chính sự này có năng lực ngăn chận cái oán nặng nề có từ vô thỉ, làm cho cái oán đó không hại được thiện căn (73),
Như kinh nói "không quên chánh niệm thì giặc phiền não hết cách xâm nhập tâm trí" ; trong lời này, "phiền não" là sự mê hoặc làm loạn trong tâm trí, còn "giặc" là nó cùng ngoại cảnh tập hợp phát sinh tội lỗi. Lại khuyên thực tập chánh niệm để chánh niệm trước sau đều thành tựu, loại bỏ sự không thỉ chung (74), như kinh nói "thế nên các thầy hãy luôn luôn tập trung chánh niệm lại nơi tâm trí". Bởi vì không thỉ chung là có nghĩa chánh niệm đã mất, như thế là thành tự nhiều lầm lỗi, như kinh nói "mất chánh niệm là mất công đức". mà chánh niệm thành tựu thì công đức phải nhiều, vì có thể tùy thuận thế gian môn mà tập hợp các hạnh, như   
kinh nói "Nếu chánh niệm có sức lực vững mạnh, thì dẫu phải vào trong đám giặc ngũ dục, cũng không bị chúng sát hại". Kinh lại ví dụ "tựa như tướng sĩ lâm trận mà mặc áo giáp lát đồng, thì không còn sợ hãi gì nữa".
Ghi chú :
(73) Vạn 86/269 và 304 đều nói "3 thiện căn" là vô tham vô sân vô si, đối lại, "cái oán nặng nề có từ vô thỉ" là 3 bất thiện căn tham sân si. Thiển kiến tôi thấy khác. "Ba thiện căn" ở đây có thể là sự cầu văn, tư, tu. Văn tư tu là 3 tuệ, nhưng ở đây nói sự cầu người cho 3 tuệ ấy. Còn "cái oán  nặng  nề" là gì, thì ngài Thiên thân
nói rõ ngay nơi câu văn ở dưới, khi cắt nghĩa từ ngữ "giặc phiền não". Oán đó làm hại văn tư tu mà chỉ có chánh niệm mới ngăn chận được. Chữ oán ở đây là chống đối, thù nghịch. Với những điều này, tự nhiên chánh niệm là gì, cũng được rõ nghĩa : chánh niệm là tư duy và ký ức được tập trung vào chánh pháp mà mình văn, tư, tu. Không có chánh niệm thì sự văn tư tu chánh pháp, dầu cầu được người giúp cho, cũng vẫn khó có, mà có rồi cũng không giữ  và thành được. Chánh niệm đúng đầu và hơn cả các hạnh cầu người giúp văn tư tu là vì lý do này đây.
            (74) "Không chỉ chung" ở đây là trước nhớ sau quên : quên chánh niệm là mất công đức.
Tiết 6 thành tựu  công đức thiền định
            Các thầy Tỷ kheo, tập trung tâm lại thì tâm sẽ ở trong thiền định. Tâm ở trong thiền định thì có thể thấu triệt trạng thái chuyển biến của vũ trụ. Vì thế mà các thầy phải luôn luôn tih tiến, nỗ lực thực tập thiền định. Thiền định được thì tâm hết tán loạn. Tiếc nước thì phải đắp đê sửa bờ cho khéo, hành giả cũng vậy, hãy vì nước trí tuệ mà thực tập thiền định để giữ cho nó khỏi chảy mất. Đó là hạnh thiền định.
            Công đức thiền định của thượng nhân là tứ thiền, tứ định, vân vân, do sự tập trung chánh niệm mà phát
sinh như kinh nói "các thầy Tỷ kheo, tập trung tâm lại thì tâm sẽ ở trong thiền định". Tại sao tập trung tâm thì phát sinh định ? Vì tập trung tâm là đối trị cái tâm đi khắp những chỗ nó có thể biết đến, kế đó, đối trị phần vừa và phần yếu của cái tâm ấy (75), tức 2 phần chỉ tiếp nhận hiện cảnh ;  khi sự đối trị 3 phần này của tâm (76) được thành tựu thì gần với thiền định. Thiền định thành tựu thì tác dụng hiệu quả của phương tiện đối trị sẽ có, như kinh nói "tâm ở trong thiền định thì có thể thấu triệt trạng thái chuyển biến của vũ trụ". Nếu nhác mà không thực tập các phương tiện đối trị thì thành chướng ngại, nên kinh khuyến cáo "vì 
thế mà các thầy phải luôn luôn tinh tiến, nỗ lực thực tập thiền định". Nhác mà không thực tập thiền định là (a) vì không được ổn định, (b) vì không biết mùi vị, (c) vì không biết sợ hãi. Phương tiện đối trị 3 cái nhác ấy để thực tập thiền định là (a) tinh tiến mà tiết lượng trong sự ăn và nằm, lại điều hòa hơi thở vào ra ; (b) tinh tiến mà nhận thức thiền định có thần thông, tuệ giác, lại cùng tận nguồn gốc đau khổ, đủ mọi sự hi hữu lớn lao ; (c) tinh tiến mà ý thức sinh lão bịnh tử và 4 ác đạo mình chưa siêu thoát. Khi thiền định thành tựu thì không còn phải đối trị gì nữa, như kinh nói "thiền định được thì hết tán loạn". kinh lại còn ví dụ
để cho thấy khéo tu thiền định thì sẽ thượng thượng tăng tiến, thư kinh nói "tiếc nước thì phải đắp đê sửa bờ cho khéo, hành giả cũng vậy, hãy vì nước trí tuệ mà thực tập thiền định để giữ cho nó khỏi chảy mất".
            Ghi chú :
(75) Có một điều cần lưu ý là tuy nói phần vừa và phần yếu, và đối lại, phần trên là phần mạnh, nhưng càng yếu lại càng sâu.
(76) Vạn 86/270 và 305 đều ghi nguyên văn là "nhị chủng", không như chính 26/289 ghi "tam chủng". Nhưng ghi tam chủng đúng hơn. Tam chủng (3 phần) nhưng chỉ có 2 loại : phần mạnh là loại duyên khắp các cành quá khứ hiện tại vị lai, phần vừa và phần    
yếu là loại chỉ duyên hiện cảnh. Có lẽ thấy ngài Thiên thân chia ra 2 loại như vậy mà chép nhị chủng.
Tiết 7 thành tựu công đức trí tuệ
            Các thấy Tỷ kheo, có trí tuệ thì hết đam mê, luôn luôn tự thức tỉnh và tự dò xét, không để lầm lỗi có thể có được, như thế là trong chánh pháp của Như lai, người ấy có khả năng thực hiện giải thoát. Không như thế thì đã không phải xuất gia, lại không phải thế tục, không còn biết gọi là gì. Trí tuệ chân thật là chiếc thuyền chắc nhất vượu biển sinh lão bịnh tử, là ngọn đèn sáng nhất đối với hắc ám vô minh, là
thần dược cho mọi kẻ bịnh tật, là búa sắc chặt cây phiền não. Vì thế mà các thầy hãy dùng các tuệ văn tư tu chứng để tự tăng tiến ích lợi. Có trí tuệ soi chiếu, thì dẫu mắt thịt, cũng vẫn là kẻ thấy rõ nhất. Đó là hạnh trí tuệ.
            Công đức trí tuệ là siêu thoát được sự chướng ngại đối với chân thật nghĩa và thế gian sự (77), như kinh nói “Các thấy Tỷ kheo, có trí tuệ thì hết đam mê”. Trí tuệ khó có, nên phải thường xuyên tu tập, như kinh nói “luôn luôn tự thức tỉnh và tự dò xét, không để lầm lỗi có thể có được”. Khó được mà được, thì sẽ được chính nơi đệ nhất nghĩa (78) mà siêu thoát, như kinh nói “như thế là
trong chánh pháp của Như lai, người ấy có khả năng thực hiện giải thoát ”. Nên phi tự tánh tuệ (79) thì xuất thế hay thế gian đều không qui định được, như kinh nói “không như thế thì đã không phải xuất gia, lại không phải thế tục, không còn biết gọi là gì”. Kinh lại dùng 4 ví dụ để ví dụ  4 của trí tuệ là văn, tư, tu, chứng, như kinh nói “Trí tuệ chân thật là chiếc thuyền chắc nhất vượu biển sinh lão bịnh tử, là ngọn đèn sáng nhất đối với hắc ám vô minh, là thần dược cho mọi kẻ bịnh tật, là búa sắc chặt cây phiền não. Vì thế mà các thầy hãy dùng các tuệ văn tư tu chứng để tự tăng tiến ích lợi” ; trong lời này, “trí tuệ chân thật” là
 
trí tuệ đích thực có khả năng đối trị. Trong 4 công đức, công đức thứ 4 là hơn hết trong mọi sự tự tăng tiến. Lại nữa, tu tập 4 công đức trí tuệ ấy thì ngay nơi nhãn xứ (80) vẫn có khả năng giác chiếu, như kinh nói “có trí tuệ soi chiếu, thì dẫu mắt thịt, cũng vẫn là kẻ thấy rõ nhất”.
            Ghi chú :
(77) Chân thật nghĩa và thế gian sự là như sở hữu tánh và tận sở hữu tánh. Vạn 86/271 và 305 đều nói là lý và sự, hay chân đế và tục đế. Còn chướng ngại đối với 2 thứ này là mê lý và lý sự.
(78) Đệ nhất nghĩa : chân thật nghĩa.
(79) Tự tánh tuệ : trí tuệ chứng chân thật nghĩa.
(80) Nhãn xứ là 1 trong 12 xứ. Nói nôm na là mắt thịt.
Tiết 8 thành tựu công đức không hỳ luận (81)
            Các thầy Tỷ kheo, nếu hý luận đủ thứ thì tâm trí rối loạn. Như vậy, tuy đã xuất gia mà chưa được siêu thoát. Thế nên, các thầy Tỷ kheo, hãy từ bỏ tức khắc sự hý luận rối loạn tâm trí. Các thầy muốn thực hiện cái vui tịch diệt, thì chỉ có cách cấp tốc diệt trừ cái họa hý luận. Đó là hạnh không hý luận.
            Đã nói “công đức nuôi lớn phương tiện” rồi, bây giờ nói “công đức thành tựu cứu cánh” (82). Công đức thành tựu cứu cánh của thượng nhân là tự tánh
siêu thoát, không thuộc pháp đối trị. Còn cái trí tứ cú (83) sai biệt chính là chướng ngại, vì thuộc năng phân biệt và sở phân biệt, như kinh nói “các thầy Tỷ kheo, nếu hý luận đủ thứ thì tâm trí rối loạn ”. Cái trí tu tập thánh đạo cũng chưa phải tự tánh siêu thoát, như kinh nói “như vậy, tuy đã xuất gia mà chưa được siêu thoát ”. Nên kinh còn 2 câu khuyên tu tập sự siêu thoát để thành tựu sự không hý luận : (a) siêu thoát tương đối, là có công đức sai biệt, như kinh nói “thế nên, các thầy Tỷ kheo, hãy từ bỏ tức khắc sự hý luận rối loạn tâm trí” ; (b) siêu thoát tuyệt đối, là không công đức sai biệt, như kinh nói “các thầy muốn thực hiện cái vui tịch diệt
 
thì chỉ có cách cấp tốc diệt trừ cái họa hý luận”. Như vậy là công hạnh thành tựu, thì tự tánh khác với chính công hạnh ấy, nên kinh nói “đó là hạnh không hý luận”.
            Ghi chú :
            (81) Đề này đúng ra  phải nói là thành tựu cái “công đức thành tựu cứu cánh”. Thành tựu cứu cánh, nguyên kinh văn là không hý luận. Hý luận, nghĩa đen là bàn chơi. Hý luận diễn biến từ sự bàn cãi chơi đùa đến sự thảo luận vô ích, đến vấn đề đặt sai vấn đề, cuối cùng thì chính là sự thảo luận, và đặt vấn đề, thực chất đã không như thực. Chính cái nghĩa sau này cho thấy, tất cả những gì thuộc phạm vi tư duy(tư) mô tả (nghị), nói
theo từ ngữ khác, thuộc “tâm hành xứ” và “ngôn ngữ đạo”, đều là hý luận. Vậy không hý luận là “bất tư nghị”, là “ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt” ; đó là cứu cánh hay tự tành siêu thoát như ở đây nói, là giải thoát niết bàn như Đại niết bàn nói, là Không của Bát nhã nói, là Trung đạo của Trung luận nói. Hiểu như vậy mới hiểu kinh luận Di giáo trong đoạn này.
            (82) Ngài Thiên thân qui nạp 8 công đức của thượng nhân thành 2 loại : loại nuôi lớn phương tiện, là 7 công đức trước ; loại thành tựu cứu cánh, là 1 công đức chót.
            (83) Tứ cú, nghĩa đen là 4 câu, có nghĩa là 4 mặt diễn dịch. Tứ cú là hý luận. Hý luận là ngôn ngữ của tư tưởng. Thực chất của tư tưởng là đối
chiếu, diễn dịch : có - không - cũng có cũng không - không phải có không phải không (hoặc một - khác - cũng một khác). Nhưng sự đối chiếu diễn dịch không ngừng ở đây, mà từ căn bản tứ cú này còn xa thêm nữa, nên mới có từ ngữ tứ cú bách phi. Tư tưởng, và ngôn ngữ của tư tưởng, như vậy, gọi là hý luận. Trí tuệ thuộc lĩnh vực hý luận này gọi là “trí tứ cú”, gọi là phân biệt, là tà kiến, không thể gọi là trí tuệ.
Phần bốn hiển thị công đức sâu xa
            Các thầy Tỷ khéo, đối với mọi thứ công đức, các thầy hãy thường xuyên nhất tâm tu tập, tránh sự phóng dật như tránh
giặc thù. Thể hiện lòng đại bi, Như lai đã nói chánh pháp ích lợi một cách cứu cánh. Các thầy chủ còn nổ lực mà thực hành. Hoặc trong rừng núi, hoặc cạnh đầm vắng, hoặc dưới đại thọ, các thầy hãy ở một cách thư thái, trong tịnh thất nhỏ, nhớ và chiêm nghiệm chánh pháp đã tiếp nhận, đừng để quên mất. Hãy tự cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập, đừng để đời mình sẽ chết đi một cách vô ích, và sau này sẽ phải lo sợ hối hận. Như lai như vị lương y, biết bịnh mà chỉ thuốc, còn uống hay không, không phải lỗi của lương y. Lại như người dẫn đường rất
tốt, chỉ dẫn đường tốt cho người, nhưng nghe rồi mà không đi, thì không phải lỗi của người dẫn đường.
            Hiển thị công đức sâu xa là 2 công đức cứu cánh hiển thị 2 công  đức sâu xa : Một, phía Thế tôn, công đức cứu cánh là phân biệt thuyết pháp, hiển thị sự thường thuyết của công đức sâu xa là phi phân biệt thuyết pháp. Hai, phía Bồ tát, công đức cứu cánh là tu tập thế đế, hiển thị sự thường tu của công đức sâu xa là đệ nhất nghĩa tâm tu (84). Ttrong 2 phía này, “các thầy Tỷ kheo, đối với mọi thứ công đức, các thầy hãy thường
xuyên nhất tâm tu tập” ; sự thường tu như vậy, có nghĩa phải tránh, như tránh giặc thù, những hành vi tương tự hay mâu thuẫn với sự nhất tâm, như kinh nói “tránh sự phóng dật như tránh giặc thù”. Còn “thường thuyết” là tâm đại bi không giới hạn thường xuyên lợi ích bằng sự cứu cánh giới hạn (85), như kinh nói “thể hiện lòng đại bi, Như lai đã nói chánh pháp ích lợi một cách cứu cánh”.
            Bây giờ nói rõ về sự “thường tu”, thì có 7 sắc thái : (1) tu cách nào, là tu một cách siêng năng thường trực, như kinh nói “các thầy chỉ còn nổ lực mà thực hành” ; (2) tu ở đâu, là tu ở những chỗ vô sự, như kinh
Nói “hoặc ở trong rừng nói, hoặc cạnh đầm vắng, hoặc dưới đại thọ, các thầy hãy ở một cách thư thái, trong tịnh thất nhỏ” ; (3) tu cái gì, là tu tập sự “niệm pháp” chân thật và duy nhất, như kinh nói “nhớ và chiêm nghiệm chánh pháp đã tiếp nhận” ; (4) tại sao tu, là tu cho chánh pháp ấy hiện tiền, như kinh nói “đừng để quên mất” ; (5) tu với phương tiện gì, thì như kinh nói “hãy cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập” ; (6) nếu yên nghỉ một cách dễ chịu nơi pháp tương tự mà thôi, là cách xa tâm thượng thượng tăng tiến, vì thế mà kinh đã phải khuyến khích “đừng để đời mình sẽ chết đi một cách vô ích” ; (7) vì muộn rồi mới
biết hối thì cũng không kịp nữa, như kinh nói “và sau này sẽ phải lo sợ hối hận”.
            nay nói rõ về “phân biệt thuyết pháp”, tức công đức cứu cánh của Thế tôn. Công đức cứu cánh ấy có 2 : (1) thuyết hóa pháp cứu cánh, như kinh nói “Như lai như vị lương y, biết bịnh mà chỉ thuốc, còn uống hay không, không phải lỗi của lương y” ; (2) chỉ độ pháp cứu cánh, như kinh nói “lại như người dẫn đường rất tốt, chỉ dẫn đường tốt cho người, nhưng nghe rồi mà không đi thì không phải lỗi của người dẫn đường” (86). Trong 2 lời này, “uống hay không uống, di hay không đi”, chứng tỏ Thế tôn không lỗi, và ngay trong thế gian thường 
tình, Ngài cũng đã không phụ chúng sinh.
            Ghi chú :
  (84)  Phi phân biệt thuyết pháp là thể hiện đại bi, thuyết pháp không giới hạn : đó là sự thường thuyết của công đức sâu xa. Công đức này được hiển thị bởi công đức cứu cánh là phân biệt thuyết pháp : thuyết pháp trọn vẹn theo giới hạn của căn cơ. Đệ nhất nghĩa tâm tu là xứng hợp với tự tánh, tu tập không phóng dật : đó là sự thường tu của công đức sâu xa. Công đức này được hiển thị bởi công đức cứu cánh là tu tập thế đế : tu tập trọn vẹn sự đối trị của công đức. Đó là cắt nghĩa theo văn của kinh và luận tiếp ngay ở dưới, và phần nhiều lấy ý
của Vạn 86/306.
   (85)  Nghĩa là giới hạn căn cơ như thế nào, tâm đại bi không giới hạn của Phật cũng lợi ích cho căn cơ ấy một cách trọn vẹn.
   (86) Hóa pháp : Chánh pháp đối trị bịnh tật phiền não. Độ pháp : chánh pháp vượt qua cương vị thấp kém. Đó là 2 công dụng của chánh pháp, không phải là 2 loại chánh pháp.
Phần năm hiển thị chứng nhập quyết định
Các thầy Tỷ kheo, đối với bốn chân lý, các thầy còn hoài nghi chỗ nào thì có thể chất vấn tức khắc, không được giữ sự hoài nghi mà không cầu giải đáp. Thế
tôn nói lên ba lần như vậy, nhưng không ai chất vấn. Vì lẽ chư Tăng không có ai còn hoài nghi gì nữa. Bấy giờ tôn giả A nâu lâu đà quán sát tâm trí chư Tăng, rồi bạch với Ngài, bạch đức Thế tôn, mặt trăng có thể làm cho nóng lên, mặt trời có thể làm cho lạnh đi, nhưng bốn chân lý mà đức Thế tôn đã dạy thì không thể làm cho khác đi được. Ngài dạy khổ thì thật là khổ, không thể làm cho vui lên ; tập là nguyên nhân của khổ thì không còn có nguyên nhân nào khác nữa ; diệt là khổ diệt vì nguyên nhân đã diệt, mà nguyên nhân diệt thì kết quả cũng diệt ; đạo
là phương pháp diệt khổ nên thật là đạo, không có đạo nào khác hơn. Bạch đức Thế tôn, đối với bốn chân lý, các vị Tỷ kheo đây đã quyết định, không còn hoài nghi gì nữa.
            Chứng nhập quyết định, là đối với chân lý mình chứng nhập, đã quyết định, hết nghi. Điều này được nói đến bằng 3 môn : phương tiện khai thị, hoàn thành đầy đủ, phân biệt trình bày.
            Phương tiện khai thị là khai thị chân lý, vì chân lý là căn bản mà hành giả quán sát và khởi hạnh, như kinh nói “các thầy Tỷ kheo, đối với chân lý”. Trong 4 chân lý, coi còn nghi hay hết nghi đối với cả 2 phần
Vô tác hữu tác (87), như kinh nói “các thầy còn hoài nghi chỗ nào thì có thể chất vấn tức khắc, không được giữ sự hoài nghi mà không cầu giải đáp” ; trong lời này, “chất vấn tức khắc” là vì 2 sự đã sắp cứu cánh, như phần 4 vừa nói (88) ; “đừng giữ sự hoài nghi ” là đối với phần vô tác của chân lý thì thấy rõ, đối với phần hữu tác của chân lý thì thực hành, những gì trái với 2 phần như vậy đều không được tồn nghi.
            Hoàn thành đầy đủ thì có 3 sự biểu thị : một, pháp luân đầy đủ, vì 3 lần nói đến chân lý, như kinh nói “Thế tôn nói lên 3 lần như vậy” ; hai, chứng nhập đầy đủ, như kinh nói  “nhưng không ai chất vấn” ; ba, đoạn
trừ đầy đủ như kinh nói “vì lẽ chư Tăng không có ai còn hoài nghi gì nữa”.
            Phân biệt trình bày là bậc trong hàng đầu của chư Tăng biết tâm trí và hành trì của chư Tăng đã thành tựu quyết định, lại thấu triệt chân lý đã chứng nhập và phân biệt trình bày với đức Thế tôn, như kinh nói “bây giờ tôn giả A nâu lâu đà (89) quán sát tâm trí chư Tăng rồi bạch với Ngài, bạch đức Thế tôn, mặt trăng có thể làm cho nóng lên, mặt trời có thể làm cho lạnh đi, nhưng 4 chân lý mà Ngài đã dạy thì không thể làm cho khác đi được. Ngài dạy khổ thì thật là khổ, không thể làm cho vui lên ; tập là nguyên nhân của
khổ thì không còn có nguyên nhân nào khác nữa ; diệt là khổ diệt vì nguyên nhân đã diệt, mà nguyên nhân diệt thì kết quả cũng diệt ; đạo là phương pháp diệt khổ nên thật là đạo, không có đạo nào khác hơn. Bạch đức thế tôn, đối với 4 chân lý, các vị Tỷ kheo đây đã quyết định, không còn hoài nghi gì nữa”.Trong lời này, “mặt trời mặt trăng lạnh nóng”  là quán hạnh ngược hay xuôi gì cũng không biến đổi được 4 chân lý. “Khổ thật khổ, không thể làm cho vui” là Phật dạy khổ thì thấy thật khổ, cũng như dạy vui (diệt) thì thấy thật vui, không thể biến đổi. “Không có nguyên nhân nào khác nữa” là khổ chỉ do nhân của khổ (tập), cũng như
vui (diệt) chỉ do nhân của vui (đạo) ; lại còn cho thấy diệt và đạo đồng là tự tánh quán (90). “Đã quyết định” là đối với nhân quả khổ vui (91) đã thấy rõ, thực hành và chứng nhập một cách quyết định. “Không còn hoài nghi” là không chứng nhập một cách nào khác, cũng không còn thừa lại một điều gì chưa chứng nhập.
           Ghi chú :
  (87)  Vô tác hữu tác, cứ như ở dưới ngài Thiên thân nói, phần trên thì thấy rõ, phần dưới thì thực hành, thì có thể nghĩ mà biết được. Trong phần sáu dưới nữa, ngài còn nói về 2 thứ này, càng làm rõ nghĩa hơn.
  (88)  Hãy lấy câu này mà hiểu thêm về 2 công đức cứu cánh trong
phần bốn ở trên.
   (89)  A nâu lâu đà (Anuruddha : Vô diệt như ý) là em con chú của Phật, 1 trong 10 đại đệ tử của Ngài, con của Cam lộ phạn vương. Mới xuất gia, ham ngủ, Phật rầy là súc sinh. Tôn giả nghe thế, 7 ngày đêm không ngủ nên mắt mù. Phật dạy cho, tu được thiên nhãn đệ nhất. Nhờ phước bố thí quá khứ, hiện đại như ý, đến đâu ai cũng hoan hỷ, cần gì thì như của nhà (Vạn 86/308, Bảo 1425).
   (90)  Câu này có 2 sự giải thích. Vạn 86/274 nói diệt và đạo toàn là vô lậu trí, nên nói đồng là tự tánh quán (có nghĩa vô lậu trí là thể tánh của diệt và đạo). Còn Vạn 86/309 thì nói 2 câu trên (nói về khổ và tập) là quán xuôi 4 chân lý, còn 2 câu dưới (nói về
diệt và đạo) là quán ngược 4 chân lý. Lời kinh về diệt và đạo chứng tỏ diệt và đạo vốn vô tánh nên thể hiện tự tánh và bản tịch. Thể hiện tự tánh bản tịch nên diệt được khổ và tập, như vậy khổ và tập cũng là vô tánh nên bị diệt, nhưng không phải thể hiện tự tánh bản tịch nên luận không nói đồng là tự tánh quán.
    (91)  Nhân khổ là tập, quả khổ là khổ, nhân vui là đạo, quả vui là diệt, đó là 4 chân lý với 2 hệ nhân quả.
Phần sáu phân biệt chưa nhập thượng chứng, có 3 tiết : tiết 1 phân biệt, tiết 2 đoạn nghi, tiết 3 lập lại sự vô thường của tiết hữu vi.
            Tiết 1 phân biệt
            Chư Tăng lúc ấy, những người
tu học chưa hoàn tất, nghe Phật nói diệt độ thì còn bi cảm. Những người mới vào chánh pháp, nghe Phật nói liền được hóa độ, như trong đêm tối mà điện chớp sáng là thấy ngay đường đi. Còn những người tu học đã hoàn tất, đã vượt qua biển khổ, thì chỉ nghĩ rằng đức Thế tôn diệt độ sao mà mau chóng như vậy.
            Phân biệt chưa nhập thượng chứng là để đoạn trừ nghi hoặc cho họ. có 3 sự phân biệt chưa nhập thượng chứng để nói về sự chưa chứng nhập thượng thượng pháp giới : Một, trong phần tu đạo, tu tập phần hữu tác của chân lý, thì chưa chứng nhập thượng thượng pháp giới, như kinh nói “chư
Tăng lúc ấy, những người tu học đã hoàn tất (92), nghe Phật diệt độ thì còn bi cảm”. Hai, trong phần kiến đạo, triệt kiến phần vô tác của chân lý, thì tuy quyết định, mau chóng, nhưng chưa được giống như tu đạo, cách thượng thượng pháp giới còn xa hơn nữa, như kinh nói “những người mới vào chánh pháp, nghe Phật nói liền được hóa độ”; phần này kinh văn còn dùng ví dụ để nói về sự mau chóng quyết định của kiến đạo, như kinh nói “như trong đêm tối mà điện chớp sáng là thấy ngay đường đi”. Ba, khác với 2 phần trên, trong phần vô học đạo, tuy đã được vô công dụng nhưng đối với thượng thượng pháp giới vẫn còn sự nghi
hoặc rất nhỏ, lại có nghĩa khác nữa, trong cương vị của họ, họ thấy Phật diệt độ mau chóng, như kinh nói “còn những người việc làm đã hoàn tất, đã vượt qua biển khổ, thì chỉ nghĩ rằng đức Thế tôn diệt độ sao mà mau chóng như vậy” (93).
            Ghi chú :
   (92)  Tu học chưa hoàn tất, dịch sát là việc làm chưa hoàn tất, và địa vị này cũng gọi là hữu học. Đối lại là tu học đã hoàn tất, dịch sát là việc đã hoàn tất, và địa vị này cũng gọi là vô học.
   (93)  Thứ tự của 3 hạng trên đây là kiến đạo, tu đạo, vô học đạo. Kinh văn nói tu đạo trước, nhưng không có ý gì (Vạn 86/309).
Tiết 2 đoạn nghi
Do đó, tôn giả A nâu lâu đà tuy đã bạch Phật, rằng chư Tăng ai cũng thấu triệt bốn chna6 lý, nhưng đức Thế tôn muốn làm cho tất cả điều được kiên định, nên vẫn đem tâm đại bi mà huấn dụ thêm nữa. Các thầy Tỷ kheo, không nên buồn rầu ; nếu Như lai ở đời lâu đến một đại kiếp đi nữa, thì sự kết hợp nào rồi cũng phải tan rã. Kết hợp không phải tan rã là điều không thể có được. Chánh pháp tư lợi lợi tha đã có đầy đủ. Như lai sống cho lâu cũng không còn ích lợi gì nữa. Ai có khả năng tiếp nhận hóa độ,
thì ở trên như thiên hay ở trong nhân loại, Như lai đã hóa độ tất cả. Ai chưa thể tiếp nhận hóa độ thì Như lai cũng đã tạo yếu tố hóa độ cho họ. từ nay về sau, đệ tử của Như lai hãy triển chuyển thực hành. Như thế là pháp thân của Như lai thường trú bất diệt.
            Đoạn nghi là đoạn cho họ cái nghi đối với lĩnh vực tối thượng (94). Trước hết nói về sự thành tựu đã có trong cương vị của họ, như kinh nói “do đó, tôn giả A nâu lâu đà tuy đã bạch Phật, rằng chư Tăng ai cũng thấu triệt 4 chân lý”. Nhưng Phật muốn làm cho họ thượng thượng thành tựu, cứu cánh không thoái chuyển đối với pháp họ đã chứng
nhập, và điều đó là do tâm đại bi của Ngài tinh thuần thâm thiết, không giữ riêng thượng thượng pháp giới, như kinh nói “nhưng đức Thế tôn muốn làm cho tất cả đều được kiên định, nên vẫn đem tâm đại bi mà huấn dụ thêm nữa”.
            Huấn dụ như thế nào ? Ngài nói lĩnh vực hữu vi thì mình người đều tan rã (mình người là người nói người nghe khác nhau), như kinh nói “Các thầy Tỷ kheo, không nê buồn rầu ; nếu Như lai ở đời lâu đến một đại kiếp đi nữa, thì sự kết hợp nào rồi cũng phải tan rã. Kết hợp mà không tan rã là điều không thể được”. Lại nói về tính thường trú bất diệt của chánh pháp (95), như
kinh nói “chánh pháp tự lợi lợi tha đã có đầy đủ”. Lại nói việc lợi tha, Ngài đã làm một cách cứu cánh, không còn điều gì nữa, như kinh nói “Như lai sống cho lâu cũng không còn ích lợi gì nữa”. Lại nói việc tự lợi cho mỗi hạng người, Ngài cũng đã làm một cách cứu cánh, không còn điều gì nữa, như kinh nói “ai có khả năng tiếp nhận hóa độ, thì ở trên chư thiên hay ở trong nhân loại, Như lai đã hóa độ tất cả”. Lại nói ai chưa tu tập, thì y theo chánh pháp bất diệt mà làm yếu tố được hóa độ, như kinh nói “ai chưa thể tiếp nhận hóa độ, thì Như lai cũng đã tạo yếu tố hóa độ cho họ” ; lời này còn có nghĩa khác nữa, là ai chưa được hóa   
độ trong thượng thượng pháp giới, thì y theo chánh pháp thường trú để được hóa độ.
            Sau hết Phật nói về sự trú trì bất hoại (96). Sự này có 2 : Một, trú trì phần nhân, tức không phá hỏng sự thường tu (tu tập không gián đoạn), như kinh nói “từ nay về sau, đệ tử của Như lai hãy triển chuyển thực hành”. Hai, trú trì phần quả, tức là không phá hỏng sự thường hiển (hiển lộ không ẩn khuất) như kinh nói “như thế là pháp thân của Như lai thường trú bất diệt” (97). Điều cần biết, là chính 2 sự trú trì bất hoại này biểu thị thượng thượng pháp giới có năng lực đoạn nghi (98).
            Ghi chú :
(94)   Cái nghi đối với lĩnh vực tối thượng là sự hoài nghi đối với thượng thượng pháp giới.
(95)   Thường trú bất diệt của chánh pháp, như sẽ thấy dưới đây một chút, có 2 : nói về giáo pháp thì giáo pháp ấy bất diệt, nghĩa là tồn tại lâu dài ; nói về lý tánh của giáo pháp (pháp thân) thì lý tánh ấy thường trú, nghĩa là siêu việt thí gian (Vạn 86/310).
(96)   Trú trì bất hoại, theo thiển ý, ở đây có nghĩa là duy trì chánh pháp bằng 2 sự không phá hỏng mà tiếp đây sẽ nói đến.
(97)   Nói đơn giản, trú trì bất hoại lá giữ cho không hỏng, thì nên dịch : Một, trong nhân, giữ cho không hỏng sự thường tu… Hai, trong quả, giữ cho 
không hỏng sự thường hiển…
   (98)  Như vậy thì có thể biết cái nghi mà tiết này nói, có 3, của 3 hạng người mà tiết 1 phân biệt, nhưng nên đổi thứ lớp cho hợp lý như sau : Một, hạng mới kiến đạo, có thể nghi Phật diệt độ, mình biết y vào đâu để tu tập. Hai, hạng tu đạo, có thể nghi Phật diệt độ rối, mình biết y vào đâu để tu tập cho hoàn tất. Ba, hạng vô học đạo, có thể có 2 cái nghi : (a) Phật diệt độ rồi, mình y vào đâu để, đối với thượng thượng pháp giới, được hoàn tất cùng cực ; (b) Phật diệt độ, chỉ là con mắt họ thấy như thế, nên không những nghi rằng tại sao Phật mà còn diệt độ, lại còn than tại sao Phật diệt độ mau chóng. Tất cả cái nghi này, 2 sự trú trì bất hoại sẽ làm
tan biến hết : suy xét thì thấy.
            Tiết 3 lặp lại sự vô thường
của pháp hữu vi
Thế nên, các thầy Tỷ kheo, phải ý thức toàn bộ cuộc đời là chuyển biến vô thường, có kết hợp thì có tan rã, đừng lo buồn gì cả. Ngược lại, cuộc đời như thế thì các thầy phải nổ lực tinh tiến để sớm cầu tự độ, đem ánh sáng trí tuệ diệt trừ hắc ám vô minh. Vũ trụ quả thật mong manh, không được thứ chi bền bỉ. Như lai được diệt độ cũng như trừ được cơn bịnh khủng khiếp. Đây là vật tội ác và đáng bỏ, giả hiệu là thân thể mà lại chìm ngập
 
Trong biển cả già bịnh sống chết, như thế người có trí tuệ ai lại không hoan hỷ khi trừ bỏ được thân này như trừ bỏ kẻ thù ?
            Tại sao lặp lại sự vô thường của pháp hữu vi ? Là vì khuyên khích, đối với pháp hữu vi ấy, hãy tu tập mọi sự đối trị, phát sinh cái hạnh yểm ly, để chính nơi pháp hữu vi mà thực hiện giải thoát, như kinh nói “thế nên, các thầy Tỷ kheo, phải ý thức toàn bộ cuộc đời chuyển biến vô thường, có kết hợp thì có tan rã, ngược lại, cuộc đời như thế thì các thầy phải nổ lực tinh tiến để sớm cầu tự độ”. Lại chỉ thị cho thấy như thật quán về vô ngã mà được thành tựu, thì có năng lực diệt
trừ căn bản của kiến chấp ngã và ngã sở, như kinh nói “đem ánh sáng trí tuệ diệt trừ hắc ám vô minh” ; vì lẽ các pháp âm giới nhập thật là không thật, như kinh nói “ vũ trụ quả thực mong manh, không một thứ chi bền bỉ”. Chính đức Thế tôn, vị thầy cao cả độ thoát thế gian, đích thân chứng minh sự đáng yễm ly, như kinh nói “Như lai được diệt độ thì cũng như trừ được cơn bịnh khủng khiếp”. Ngài lại huấn thị, sự tuyệt đối đáng yểm ly ấy duy trí tuệ mới diệt trừ được, và điều này khuyến khích tu tập sự diệt trừ của trí tuệ, tức dùng sự tương đối thực hiện sự tuyệt đối, như kinh nói “đây là vật tội ác và đáng bỏ, giả hiệu là thân thể mà lại chìm ngập   
trong biển cả già bịnh sống chết, như thế người có trí tuệ ai lại không hoan hỷ khi trừ bỏ được thân này như trừ bỏ kẻ thù ?”.
Phần bảy hiển thị vô nghĩa thanh tịnh (99)
            Các thầy Tỷ kheo, hãy thường nhất tâm, nỗ lực cần cầu tuệ giác giải thoát. Toàn thể vũ trụ, dầu pháp biến động hay pháp bất động, đều là trạng thái bất an và tan rã. Thôi, các thầy hãy yên lặng, không nên nói nữa. Thì giờ sắp hết, Như lai muốn diệt độ. Trên đây là những lời giáo huấn tối hậu của Như lai.
            Mọi thứ kiến chấp là đối với 5
uẩn, có những kiến chấp mà thực chất chỉ là vọng tưởng, và đó là sự chướng ngại mà đối trị phải như kinh nói “các thầy Tỷ kheo, hãy thường nhất tâm”. Nhưng cái tuệ như tha6t5cua3 sự nhất tâm khó mà có được, nên phải như kinh nói “nổ lực cần cầu tuệ giác giải thoát”. Ngoài cái tuệ như thật này, mọi pháp tương đối (tức pháp danh tướng ) đều vô thường, như kinh nói “toàn thể vũ trụ, dầu pháp biến động hay pháp bất động, đều là trạng thái bất an hay tan rã” ; trong lời này, “biến động và bất động” là trạng thái động và tĩnh khác nhau của cả tam giới. Vô ngã thanh tịnh là thể hiện sự tịch diệt ngay trong bản tánh tịch diệt cùng  
cực sâu xa, như kinh nói “thôi, các thầy hãy yên lặng, không nên nói nữa. Thì giờ sắp hết, Như lai muốn diệt độ. Trên đây là những lời giáo huấn tối hậu của Như lai”. Trong đoạn này, “yên lặng không nói” là 3 nghiệp thanh tịnh : chính đó là đồ chứa đựng thích hợp với bản tánh vô ngã thanh tịnh ; “giáo huấn tối hậu” là biểu thị cái nghĩa di giáo : nghĩa di giáo ấy, vì là di chúc của chính Phật, nên đặc biệt hơn hết trong pháp trú trì (100).
            Ghi chú :
Tiêu đề này, đủ theo nguyên văn thì phải nói là “vô ngã thanh tịnh siêu thoát mọi thứ kiến chấp”, hoặc “siêu thoát mọi thứ kiến chấp thực
  (99)  hiện vô ngã thanh tịnh”.
  (100)  “Pháp trú trì” là pháp bảo (pháp) tồn tại (trú trì) ở thế gian. Nhưng cũng có nghĩa là sự duy trì (trú trì) làm cho Tam bảo (pháp : toàn bộ Phật pháp) tồn tại ở thế gian.
Dưới đây là kết thúc việc tụng kinh Di giáo.
Nam mô Bổn sư Thích ca mâu ni phật.
Niệm danh hiệu đức Bổn sư rồi hồi hướng. Phần này có 5 bài chỉnh cú, do tôi soạn ra, dựa vào văn và ý của Di giáo kinh luận.
Đệ tử chúng con
kính tụng di giáo
của đức Thế tôn
lúc sắp niết bàn.
Kinh Di giáo này
là pháp tối thượng
trong những khả năng
duy trì Phật pháp.

Bài thứ 2 cốt nói kinh Di giáo là phương tiện tối thượng trong những phương tiện duy trì Phật pháp.

Đệ tử chúng con
nhờ phước quá khứ
mới được xuất gia
và tụng kinh này.
Nguyện cầu chúng con
giới hạnh an toàn,
lại cầu chư Tăng
giới pháp thanh tịnh.
Làm cho Phật pháp
tồn tại lâu dài,
tự lợi tự tha,
chứng pháp tối thượng.

            Pháp tối thượng là thượng thượng pháp giới hay thượng thượng pháp. Muốn chứng pháp tối thượng ấy, tức muốn tự lợi tự tha, thì phải duy trì Phật pháp. Muốn duy trì Phật pháp. Muốn duy trì Phật pháp. Muốn nghiêm trì Giới pháp thì trì tụng và hành trì giáo huấn tối hậu của Phật là tha thiết nhất. mà mỗi nửa tháng, sau khi bố tát, tụng kinh này thì thế là Phật lại trở về với chúng ta. “Như lai không mất đi đâu cả, mỗi nửa tháng Như lai trở về một lần” (Vạn 86/276 dẫn kinh Ngũ bách vấn,

nguyên văn là Ngã bất diệt độ, bán nguyệt nhất lai).
            Nhất tâm đảnh lễ Bổn sư Thích ca mâu ni phật, cùng Phật bảo khắp cả pháp giới. Nhất tâm đảnh lễ kinh Giáo huấn vắn tắt của Phật lúc sắp niết bàn, cùng Pháp bảo khắp cả pháp giới. Nhất tâm đảnh lễ đại chúng Tỷ kheo trong đêm Phật sắp niết bàn, cùng Tăng bảo khắp cả pháp giới.


 
/31
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »