Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Tổng Tập Giới Pháp Xuất Gia (Tập 1 & 2)

Tổng Tập Giới Pháp Xuất Gia (Tập 1 & 2)

Tác giả: Tỷ Kheo Trí Quang. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 2264.

Chương 21: 2. Sáu Giới Pháp Xuất Gia: Sáu, Sa Di Ni Giới: Lược Giải (Trang 1641 - 1766)




Lược giải
Mục lục
 


Tài liệu........................................................................................................................................... 1645
Dịch giải Bản yếu lược về giới luật
và uy nghi của sa di ni, có:
Lược giải nhan đề......................................................................................................................... 1647
Chương trước phần giới luật, có 2 tiết:
           Tiết 1 lời nói đầu................................................................................................................ 1648
           Tiết 2 10 giới luật, có 10 thứ:........................................................................................... 1655
               Thứ 1 giới sát sinh......................................................................................................... 1655
               Thứ 2 giới trộm cấp....................................................................................................... 1658
               Thứ 3 giới dâm dục....................................................................................................... 1660
               Thứ 4 giới nói dối.......................................................................................................... 1662
               Thứ 5 giới uống rượu.................................................................................................... 1664
               Thứ 6 giới mang hương, hoa, ngọc.............................................................................. 1666
               Thứ 7 giới ngồi giường cao, lớn................................................................................... 1668
               Thứ 8 giới hát múa tấu nhạc........................................................................................ 1670
               Thứ 9 giới nắm giữ vàng ngọc..................................................................................... 1672
               Thứ 10 giới ăn lúc phi thời........................................................................................... 1673
Chương sau phần uy nghi, có 2 tiết:
           Tiết 1 lời nói đầu................................................................................................................ 1674
           Tiết 2 22 uy nghi, có 22 thứ:............................................................................................ 1679
               Thứ 1 kính Tam bảo...................................................................................................... 1679
               Thứ 2 kính đại sa môn.................................................................................................. 1682
               Thứ 3 thờ thầy................................................................................................................ 1685
               Phụ lục về hạ an cư....................................................................................................... 1697
               Thứ 4 theo thầy đi ra..................................................................................................... 1703
               Thứ 5 nhập chúng.......................................................................................................... 1707
               Thứ 6 theo chúng thọ thực........................................................................................... 1713
               Thứ 7 lễ bái ................................................................................................................... 1721
               Thứ 8 học tập kinh điển............................................................................................... 1725
               Thứ 9 nghe pháp............................................................................................................ 1728
               Thứ 10 vào tự viện........................................................................................................ 1731
               Thứ 11 vào nhà thiền với đồng chúng........................................................................ 1733
               Thứ 12 làm việc............................................................................................................. 1735
               Thứ 13 và nhà tắm ........................................................................................................ 1737
               Thứ 14 vào nhà xí......................................................................................................... 1937
               Thứ 15 nằm ngủ............................................................................................................. 1741
               Thứ 16 quanh lò lửa...................................................................................................... 1746
               Thứ 17 ở trong phòng................................................................................................... 1747
               Thứ 18 đến nhà đàn việt............................................................................................... 1750
               Thứ 19 khất thực........................................................................................................... 1755
               Thứ 20 vào chỗ dân cư................................................................................................. 1757
               Thứ 21 mua đồ............................................................................................................... 1759
               Thứ 22 làm gì cũng không được tự ý.......................................................................... 1760
Tài liệu
 
            Tiểu phẩm này nằm trong Vạn 106/344-355, không có chú giải. Nguyên văn lại biên tập văn dịch từ thời đại Hậu Hán (25-220) Đông Tấn (317-420) và Bắc Kinh (401-439), vừa xưa, vừa chưa chính. Do đó, việc dịch và âm thích thật khó khăn. Ấy là chưa kể, tuồng như nguyên văn có một ít chữ sai hay sót mà không thể dò đâu để chữa.
            Tài liệu mà sách này dùng, nguyên
văn sách này có tự kê. Xét thấy có : một,  Sa di ni ly giới văn, số 1474, Chính 24/937-938, thuộc Hậu Hán lục ; hai, Sa di nil y giới văn, số 1475, Chính 24/938-939, thuộc Đông Tấn lục ; ba, Đại ái đạo tỷ kheo ni kinh, số 1478, Chính 24/945-955, phụ Bắc Kinh lục ; bốn, Tùy luật uy nghi, của Phần thứ hai Tỷ kheo ni, thuộc Tứ phần luật ; năm, Sa di luật nghi yếu lược, của ngài Châu hoằng (tiểu phẩm 7)
            Năm tài liệu ghi trên đây, 3 tài liệu đầu đã mất tên dịch giả. Ngoài 5 tài liệu này, còn 1 tài liệu nữa, dò kỹ thấy tác giả sử dụng không ít, nhưng tác giả không nói đến, đó là Sa di thập giới uy nghi lục yếu (tiểu phẩm 9). Trong 5 tài liệu tác giả kê ra, và 1 tài liệu tác giả không nói đến, đều
là tài liệu tôi sử dụng để dịch và âm thích sách này.
            Về tác giả sách này thì cũng là tác giả sách Tỳ ni. Hãy coi lược ghi về ngài ở sách ấy.
 


         (Bản lược giải này vẫn đánh số giả định (1), (2), v.v… để dễ dò dễ đọc mà thôi.
Lược giải nhan đề
            (1) Phạn tự “Sa di ni”, xứ này dịch nghĩa tức từ nữ, là đình chỉ việc ác, thi hành từ bi : đình chỉ những sự ô nhiễm của thế tục mà từ bi tế độ chúng sinh. Cũng
dịch cần sách nữ, cũng dịch cầu tịch  nữ. Còn “luật nghi” là 10 giới luật và các uy nghi.
            Sa di ni là dịch âm mà lại gọi tắt chữ Sramanerika. Dịch nghĩa thì có 3. Một, tức từ nữ : nữ nhân đình chỉ việc ác, thi hành từ bi. Hai, cần sách nữ : nữ nhân được Bậc tinh cần (Tỷ kheo ni) sách lệ. Ba, cầu tịch nữ : nữ nhân mong cầu Niết bàn. Luật nghi : 10 giới luật và 22 uy nghi. Sa di ni luật nghi yếu lược : bản sách yếu lược về giới luật và uy nghi của cấp bậc Sa di ni.
            Chương trước phần giới luật, có 2 tiết :
                        Tiết 1 lời nói đầu
            (2) Trong sa di ni giới văn, 
 
Phật dạy, 16 tuổi sắp lên mới nên làm Sa di  ni. Vốn không tì vết, dơ bẩn ; trinh tiết và lương thiện thì nguyên vẹn đầy đủ, không bị mỉa mai sỉ nhục, và cha mẹ thuận cho, mới được xuất gia. Vốn không trinh tiết lương thiện, không nên xuất gia. Gái đá, hay bị  nhiễm trùng [ không thể chữa lành], không nên xuất gia. Vì phụ nữ thì cái thói bốc đồng làm cho tâm tính khó giữ duy nhất, thích thú chốc lát, ý xấu lại nổi lên, y như bong bóng nước cái nổi cái mất, không có nhất định, nên phải khéo quan sát mới có thể độ cho ni.
Gái đá : phụ nữ bị bịnh gynatresis (Từ hải 2994 và 857). Bị nhiễm trùng, nguyên văn nặc bịnh, Khang hy từ điển chỉ nói bị trùng ăn.
   (3)   Lại nữa, Phật xét thấy loài người, và trên suốt 28 tầng trời, dưới đến 18 tầng địa ngục, toàn là khổ sở, không có yên vui, nên qui định giới luật để huấn thị hậu sinh. Do đó, tín nữ thế phát xuất gia thì trước thọ 10 chi cấm giới, gọi là đồng pháp sa di ni ; kế đó, cho 2 năm để xét nghiệm và học tập 6 pháp, gọi là thức xoa ma na. Chờ số tuổi đầy đủ, sự học trong sáng, có thể đứng vào hàng ngũ Á tăng, thì ở trong 2 bộ đại tăng mà xin thọ tỳ kheo
 
ni giới.
            28 tầng trời : Dục giới có 6, Sắc giới có 18, Không giới có 4. Riêng con số 18 của Sắc giới là thuyết của Thượng tọa bộ và Đại thừa (Bảo 51). 18 địa ngục. Địa ngục (nại lạc ca : naraka, hay nê lê : niraya) đúng ra phải nói là chỗ không thể vui, chỗ đầy khí cụ khổ. Mười tám địa ngục xuất từ kinh Thập bát nê lê. Xét ra có thể là 8 địa ngục cực nóng và 8 địa ngục cực lạnh mà dịch và cắt nghĩa chưa chỉnh (Bảo 1067). 10 chi cấm giới là giới Sa di  ni. Chi là chi nhánh, Sa di ni giới có 10 chi nhánh, nên gọi là 10 cấm giới. Đồng pháp sa di ni, đồng pháp là ứng pháp, là Sa di ni hợp cách, tuổi từ 14 đến 19, có khả năng chấp lao phục dịch, tu tập thiền tụng,
 
theo thầy học tập. Để xét nghiệm là xét nghiệm có thai hay không, chí hạnh có chắc hay không. 6 pháp, gọi là Thức xoa ma na : doi Tỳ ni. Á tăng, á là dưới 1 bậc ; á tăng là Tỷ kheo ni : Tỷ kheo ni dưới Tỷ kheo một bậc, nên gọi là á tăng. 2 bộ đại tăng là đại tỷ kheo và đại tỷ kheo ni.
    (4)   Trên đây thật là sự qui định chính thức của Phật. Gần đây, giới luật ni bộ lạc mất tôn chỉ, cái thói thời đại đi xuống quá xa, đến nỗi gọi là Sa di ni mà đối với giới luật của mình lãnh thọ vẫn chưa am tường. Rồi kẻ kiêu mạn thì phần nhiều khinh thường 2 bộ đại tăng, người ngu tối thì hoàn toàn đánh mất
 
các môn tế hạnh, nên muốn làm rực rỡ nền pháp hóa để tiếp độ ni đồ, thì cũng thật là điều khó thể mong mỏi. Nhân đó, tôi chọn lấy 10 giới mà tóm tắt thuyết minh những sự chế chỉ, để làm cho người sơ học biết phương trời mà họ phải hướng tới.
            Tế hạnh : cử động tinh tế, phù hợp kinh luật. Pháp hóa (đạo hóa) : sự hóa cải của Pháp. Chế chỉ : chế định giới luật, cấm chỉ tội ác.
            (5) Những người xuất gia với tâm chí tốt, hãy thiết y tuân hành, thận trọng đừng để vi phạm. Như vậy mới gần thì làm thềm làm thang cho Thức xoa ma
 
na và Tỷ kheo ni giới, xa thì làm rễ làm gốc cho Bồ tát giới. Rồi nhân giới sinh định, nhân định phát tuệ, ngõ hầu thành tựu thánh đạo, không phụ chí hướng lúc mới xuất gia. Ai thích xem cho rộng thì nên tự cứu xét tinh tường toàn bộ [ các sách nói về Sa di ni] trong Luật tạng. Điều chương 10 giới dưới đây là y theo bản văn trong hộp chữ Tùy của Luật tạng mà sao chép ra, không thêm bớt gì cả.
            Những người xuất gia với tâm chí tốt là như ngài Nam sơn nói, sợ sự lắm khổ của 4 ma, chán cái không thường của 3 cõi, từ kẻ chí ái là lục thân, bỏ đồ thâm trước là ngũ dục,
 
 
không vì danh lợi lôi kéo, không vì vua chúa bức bách, không vì cầu sống tà mạng, không vì nhác nhớm cầu an, không vì nợ nần trốn tránh, mà chỉ vì giải thoát sinh tử, vì thành tựu bồ đề, đem chánh tín và xuất gia (Vạn 106/181 dẫn). Bản văn trong hộp chữ Tùy của Luật tạng, là tài liệu 1, tức Sa di ni giới kinh, số 1474, Chính 24/937-938, thuộc Luật bộ. Đó là nói theo Đại tạng kinh bản Đại chính tân tu. Còn Đại tạng kinh thời đại của tác giả thì tài liệu naỳ nằm trong hộp mà chữ đánh dấu là chữ Tùy, cũng thuộc Luật bộ.
Tiết 2 10 giới luật, có 10 thứ:
Thứ 1 giới sát sinh
  (6)   Giới của Sa di ni là không  
 
 
được sát sinh, mà từ mẫn chúng sinh như cha mẹ thương con, thương đến cả cái loài nhuyễn động, như thương con mới sinh. Không sát sinh là thế nào? Là giữ thân miệng ý. Thân thì không giết người, vật, cho đến loài bò ngoằn ngoèo, thở bức tức; bằng cách không tự tay giết, không bảo người giết, thấy giết không ăn, nghe giết không ăn, nghi giết không ăn, biết giết vì mình lại càng không ăn. Miệng thì không nói phải giết, phải hại, trả thù; cũng không được nói chết khoái, giết khoái, con này mập, con kia gầy, thịt này nhiều, thịt kia ít. Ý cũng không nghĩ, phải chi có giặc
giết nó thì khoái biết mấy. Thương mọi chúng sinh như thương tủy của mình, như cha mẹ, như con cái, như bản thân, không khác chi cả. Nhất tâm thương xót chúng sinh một cách phổ cập, bình đẳng, và thường đặt chí nguyện vào đại thừa, đó là giới phải học tập đầu tiên của Sa di ni.
            Nhuyễn động, là quyên phi nhuyễn động. Từ hải 2568 và 2587, nói quyên là phi, nghĩa là bay, hình dung sự bay của loài trùng có cử động này; nhuyễn là động, nghĩa là động, hình dung sự động của loài trùng có cử động này. Bảo 2421 cũng nói, quyên phi là trùng bay, nhuyễn động là trùng
 
giòi. Miệng thì… kia ít: miệng thì không nói phải giết nó đi! phải hại nó đi! phải trả thù nó!... nó chết: khoái quá! nó bị giết: khoái quá! thịt con này nhiều ghê! thịt con kia ít thế! Nhất tâm thương chúng sinh một cách phổ cập, bình đẳng. Cách giải thích 10 giới sa di ni của sách này hay lấy 10 pháp số tương đương. Đây là giới thứ nhất, tương ứng với nhất tâm. Nhất tâm ở đây là lòng thương coi chúng sinh như con một, là long thương coi chúng sinh với mình cùng một bản thể.
Thứ 2 giới trộm cướp
(7) Giới của Sa di ni là không được trộm cướp. Một tiền sắp lên, cho đến một lá cỏ, một hạt gạo
 
nhỏ, cũng không được lấy. Người chủ đồ vật không tự tay đưa cho thì mình không tự tay được lấy. Miệng không nói đến sự lấy, ý không nghĩ đến sự lấy. Mắt không ham sắc, tai không mê tiếng, mũi không trộm hơi, lưỡi không cắp mùi, thân không ham áo, ý không cuỗm dục. Sáu căn không đam mê, bằng cách thường đứng trong tuệ giác phương tiện, thì gọi là không trộm cướp, đó là giới của sa di ni.
            Mắt không ham sắc… cuỗm dục là 6 căn không trộm 6 cảnh. Câu này nói về 2 pháp, tương đương giới thứ 2. Hai pháp là nội lục xứ (6 căn) và ngoại lục xứ (6 cảnh). Tuệ giác
 
phương tiện là quyền trí (tuệ). Quyền trí là phương tiện có trước thật trí (để thật hiện trí ấy), lại có sau thật trí (để hoạt dụng trí ấy). Mật giáo nói thật trí là đài hoa của hoa sen tâm thể, quyền trí là cánh hoa của hoa sen tâm thể ấy, Lời này huấn thị rõ cách sống (đứng) trong quyền trí là như thế nào. Lục căn sống bằng lục trần là trôm cướp, là bùn lầy. Muốn khỏi bị bùn lầy vấy bẩn, vùi lấp, thì hãy sống như hoa sen vậy, đó là sống bằng quyền trí.
            Thứ 3 giới dâm dục
(8)Giới của Sa di ni là không được dâm dật. Không được dâm dật là thế nào? là nhất tâm thanh khiết. Thân không làm dâm
dật, miệng không nói dâm dật, ý không nghĩ dâm dật, như gió lướt không gian không vướng mắc đâu cả. Mắt không nhìn sắc dâm, tai không nghe tiếng dâm, mũi không ngửi hơi dâm, lưỡi không nói lời dâm, thân không làm việc dâm, ý không nghỉ điều dâm. Quán thân là tứ đại, vốn không thật có, lại xét chính tứ đại ấy, tức đất nước lửa gió, cũng không phải bản ngã, không phải sinh thể, không phải tồn tại, không phải sinh mạng, vậy dâm dật cái gì, vướng mắc vào đâu ? Nên chí nguyện sống bằng ba giải thoát môn là không, vô tướng, vô nguyện, đó là giới
của Sa di ni.
            Mắt không nhìn sắc dâm… ý không nghĩ điều dâm là nói lục căn tam nghiệp đều thanh khiết. Không phải bản ngã là vô ngã. Không phải sinh thể là vô nhân. Không phải tồn tại là vô thọ. Không phải sinh mạng là vô mạng. Ba giải thoát môn là 3 cái cửa giải thoát. Một là không (bản thể không thật). Hai là vô tướng (hiện tượng không thật). Ba là vô nguyện (tác dụng không thật).
                        Thứ 4 giới nói dối
            (9) Giới của Sa di ni là không được nói hai lưỡi, nói thô ác. Mà nói năng phải từ hòa, minh bạch. Không thấy đừng nói thấy, không
nghe đừng nói nghe ; thấy việc xấu thì không loan truyền, nghe điều bậy cũng không tuyên bố. Lời ác thì tránh liền, thường làm 4 vô lượng tâm. Không nói bậy, nói là nói về đạo pháp. Không được nói việc thế tục, không bàn việc quái tặc của vua quan. Thường tán than kinh pháp và giới pháp chính của Bồ tát giới, chí nguyện ở đại thừa chứ không làm theo học lý nhỏ hẹp. Với chí nguyện ấy mà làm 4 vô lượng tâm, đó là giới của Sa di ni.
            Từ hòa minh bạch, nguyên văn là an tường, Từ hải 877 nói là nói và làm thung dung, mực thước. 4 vô lượng tâm (tứ đẳng) là 4 tâm rộng
lớn : Từ là cho vui. Bi là cứu khổ. Hỷ là mừng thấy người hết khổ được vui. Xả là không chấp trước 3 tâm trên, lại có nghĩa xả bỏ ý thức thân thù. Đạo pháp : cái pháp dẫn đến đại lộ Niết bàn, cái pháp của tuệ giác bồ đề. Giới này nói thiếu cái gọi đại vọng ngữ. Nhưng nói “chí nguyện đại thừa, làm 4 vô lượng tâm” thì khá đặc biệt : nói dối không gì hơn là con Phật mà chí nguyện và việc làm không như Phật.
                        Thứ 5 giới uống rượu
            (10) Giới của Sa di  ni là không được uống rượu. Bằng cách không được ham rượu, không được nếm rượu. Rượu có ba mươi sáu lỗi. Lỗi đạo, phá nhà, nguy thân, mất mạng, hết thảy đều do rượu. Kéo
bên đông, dắt bên tay, nắm bên nam, vướng lên bắc. Không thể tụng kinh, không kính Tam bảo ; khinh dễ thầy bạn, bất hiếu mẹ cha ; không gặp đạo lớn, tâm không trí thức : nên đừng uống rượu. Muốn thoát ngũ âm, ngũ dục và ngũ cái, được chứng ngũ thông, được vượt ngũ đạo, đó là giới của sa di ni.
            Kéo bên đông… vướng bên bắc : tả kẻ say rượu. Rượu có 36 lỗi. Muốn thoát ngũ âm… vượt ngũ đạo, những pháp số này dễ tra và dễ hiểu. Ngũ âm là ngũ ấm, nhưng đọc âm thì đúng hơn : âm đây là chữ âm trong chữ âm dương.
Thứ 6 giới mang hương , hoa, ngọc
            (11) Giới của Sa di ni là không được cầm nắm hương và hoa để xông ủ và trang sức cho mình ; áo chăn giày dép không được có năm màu sắc chính ; không được lấy các thứ ngọc làm chuỗi ngọc cho mình ; không được mặc gấm, gấm thêu năm màu, lụa mỏng có hoa, là dệt bằng tơ mỏng, the lụa có bông hoa, và sa trun. Không được nhìn phục sức y như the lụa có bông hoa ; phải mặc pháp phục bằng vải thô, với màu xanh, đen, mộc lan, và mặc áo trong nê hoàn, thấp đầu mà đi. Muốn trừ lục suy thì phải lấy giới pháp
 
làm hương thơm, cầu học chánh pháp sâu xa làm ngọc thật, lấy ba mươi hai tướng tốt làm chuỗi ngọc, lấy tám mươi tướng phụ đã được bởi gieo trồng thiện căn mà làm đồ khoác đồ mặc. Nguyện 6 thần thông tự tại vô ngại, sáu ba la mật dẫn dắt mọi người, đó là giới của Sa di ni.
            Màu xanh, đen, mộc lan, gọi là hoại sắc. Xanh : như màu xanh của đồng nổi lên. Đen : như màu khói hương nhuộm mực. Mộc lan : vàng xẫm hay đỏ đục ; đây là màu chính của pháp y. Áo trong nê hoàn :  Nam tông là tấm vải quấn dưới, Bắc tông là quần. Nhưng đó là của Tỷ kheo và Sa di, gọi là nê hoàn (nivasana), còn của
 
Tỷ kheo ni và Sa di ni gọi là quyết tu la (kusula). Lục suy (lục tặc) là 6 căn 6 trần. Làm suy tổn thiện pháp nên gọi là suy; nội công ngoại kích mà cướp tài sản chánh pháp, mà giết tuệ mạng, nên gọi là tặc.
            Thứ 7 giới ngồi giường cao, lớn
            (12) Giới của Sa di ni là không được ngồi giường ghế cao làm bằng vàng bạc, dùng chăn gấm có bông hoa và đủ cả năm màu, dùng áo lụa đỏ hồng, và tua dải trước hay sau mão mà tất cả đều được đính các thứ ngọc. Không được nghĩ đến những thứ ấy. Không được bảo tìm kiếm giường, giường vừa mà dà, và chiếu, tất
 
cả đều thuộc loại tốt; tìm kiếm cái quạt vẽ đủ năm màu sắc; cái phất bằng lông đuôi chim thượng hảo hạng. Không được mang vòng cổ tay và nhẫn ngón tay. Chánh tín, giữ giới, tự hổ, thẹn người, san sẻ, học rộng, lý giải [đủ 7 thánh tài]. Nhất tâm tinh chuyên, thường cầu tam muội lấy làm giường phản; tâm không dao động, tuệ giác tự tại, lấy làm tọa cụ. Bảy giác chi không dao động, chí nguyện ở bồ đề tâm, đó là giới của Sa di ni.
            Chánh tín… lý giải là 7 thánh tài. Nhưng Hoa văn nói “thất giác” khiến phải hiểu 7 giác chi, mà như vậy là sai. Tuệ giác tự tại: tuệ giác
đã được vô công dụng (không cần tác ý và dụng công mà vẫn nhiệm vận liên tục). Bồ đề tâm (đạo tâm): tâm chí vô thượng bồ đề.
            Thứ 8 giới hát múa tấu nhạc
            (13) Giới của Sa di ni là không được nghe cái tiếng hát múa, tấu nhạc, vỗ tay, đánh nhịp. Không được tự làm, cũng không bảo người. Thường tự tu thân, thuận hành chánh pháp, không theo tà hạnh. Nhất tâm mà quy y Phật, tụng kinh, thực hành tám chánhđạo, và lấy đó làm cái vui Phật pháp, không  theo cái vui thế tục. Cái vui Phật pháp như vậy là do nghe kinh pháp thì tư duy, vào
sâu nghĩa lý cao lớn. Chính mình không bịnh thì không được cỡi xe, ngựa, voi. Nên nghĩ đến sự cử động nhẹ nhàng, tức sự thông suốt của tám thứ thần thông bất khả tư nghị, lấy đó làm xe cộ để vượt thoát tám nạn, đó là giới của Sa di ni.
            Pháp lạc: cái vui Phật pháp. Tục lạc: dục lạc, cái vui ngũ dục. Tám thứ thần thông bất khả tư nghị, là 8 thần biến (theo luận Trí độ) hay 8 tự tại (theo kinh Niết bàn). Tám thần biến, coi Bảo 151, điều bát đại biến hóa. Tám tự tại, coi Bảo 122, điều bát đại tự tại ngã. Tám nạn: coi Bảo 149, điều bát nạn.
Thứ 9 giới nắm giữ vàng ngọc
            (14) Giới của Sa di ni là không được chứa dồn bảo vật, bằng cách không được tự tay mình lấy, không được bảo người lấy. Thường tự tin chuyên, lấy pháp làm ngọc quí, lấy kinh làm cao tột, lấy nghĩa làm nhiệm mầu, lấy sự lý giải không vô tướng vô nguyện làm căn bản, đạt đến ba cửa giải thoát ấy chứ không thích tham dục. Muốn rời xa chính thứ bức não thì trú ở trong Phật pháp cho lâu, không cùng không tột, không có giới hạn, cũng không đứng lại, đó là giới của sa di ni.
            Bảo vật là thất bảo: vàng, bạc,
lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não. Chín thứ bức não (cửu não): coi Bảo 167.
Thứ 10 ăn lúc phi thời
            (15) Giới của Sa di ni là ăn không trái giờ. Thường ăn đúng giờ, không được trái chừng đỗi. Sau lúc mặt trời đứng bóng, không được ăn nữa. Dẫu có cái vị ngọt ngon vô cùng cũng quyết định không ăn lại, không bảo người ăn, tâm cũng không nghĩ đến. Giả sử có thức ăn tự nhiên và tột bậc, cũng không được ăn. Trưởng giả hay quốc vương, sau lúc đứng bóng mà cúng cho, cũng không ăn. Trọn đời đến chết,
không vi phạm giới này. Thường tư duy thiền định; còn mọi thức uống ăn, dầu dùng đến cũng chỉ đủ để giữ mạng sống mà thôi. Muốn làm cho mọi người thấu hiểu chí nguyện sâu xa, thực hiện mười lực để làm thức uống ăn, đó là giới của Sa di ni.
            Cũng chỉ đủ để giữ mạng sống, dịch hết chữ là “cũng hạn chế, chỉ đủ để sống”. mười lực (10 đại năng lực), coi Bảo 202.
            Chương sau phần uy nghi, có 2 tiết:
                 Tiết 1 lời nói đầu
                 (16) Phật quy định, ni chúng thì giới luật càng phải nghiêm như đại tăng, lý do là vì chánh pháp
của Phật liên hệ đến họ mà tăng hay giảm. Xét rõ thánh điển, sẽ thấy sự quy định ấy tự minh bạch như vậy. Đến như Sa di ni mà tự họ không biết việc họ phải làm, thì không cho lãnh thọ giới pháp cận viên, vì việc đại tỷ kheo ni lại càng khó làm. Phải bảo họ học thuộc, thấu hiểu đã, mới cho lãnh thọ giới pháp cụ túc này. Nhưng họ kho6nng thấu hiểu mà vẫn tức thì truyền thọ cho họ giới pháp cụ túc, thì người ta sẽ bảo Phật pháp dễ tu, Á tăng dễ làm. Ví lý do ấy, Sa di ni trước hết phải tôn trọng sự huấn thị trên đây.
 
Chánh pháp của Phật liên hệ đến họ mà tăng hay giảm, là dì của Phật, bà Đại ái đạo (Đại thắng sinh chủ: Mahaprajapati, biệt hiệu Kiều đàm di: Gotami) xin Phật cho bà, và nữ nhân được xuất gia, Phật đã nói, nếu cho nữ nhân xuất gia thì phạn hạnh trong Phật pháp không được lâu dài (Chính 24/945). Giới pháp cận viên, giới pháp cụ túc, đều là biệt danh của Tỷ kheo giới và Tỷ kheo ni giới. Cận viên nghĩa là “thân gần Niết bàn”, dịch nghĩa chữ upasampanna. Cụ túc nghĩa là “yu72 bỏ hết thẩy thân nghiệp ngữ nghiệp nên từ bỏ” (Câu xá 14, Chính 29/13). Giới điều cụ túc giới là 250 cho Tỷ kheo và 348 cho Tỷ kheo ni, nhưng cụ túc giới không phải căn cứ giới điều này, mà phải nói là
vô lượng, vì chính yếu của cụ túc giới là từ bỏ mọi tội lỗi đối với tất cả cảnh giới (Bảo 1285).
            (17) Những điều tắc dưới đây, từ trong kinh Đại ái đạo, văn Sa di ni giới, và tùy luật uy nghi của Phần thứ hai nói về Tỷ kheo ni, tỉa bớt mà rút ra. Thêm nữa, trong sách Sa di luật nghi yếu lược của ngài Vân thê, phàm điều gì Sa di ni có thể thông dụng thì cũng lượm lặt mà tập hợp. Vì lẽ ni chúng thời kỳ mạt pháp lòng lắm giải đãi, nghe nhiều thì chán, lại sợ văn tự sống sít, do đó, tôi tước bớt phồn toái mà tóm lấy cốt yếu, nhưng vẫn phân loại để tiện cho việc đọc và học. Tựu
trung, có chỗ nào chưa đủ, tôi theo ý nghĩa mà phụ thêm một vài điều. Ai thích xem cho rộng thì nên tự cứu xét toàn văn các sách [trên đây].
            Mạt pháp: thời kỳ cuối cùng. Sự tồn tại của Phật pháp sau khi Phật diệt độ, chia ra 3 thời kỳ : chánh pháp là thời kỳ nguyên chất, nghĩa là có giáo lý, có hành trì ; mạt pháp là thời kỳ cuối cùng, chỉ có giáo lý. Đó là sự giải thích của Pháp hoa huyền tán. Về thì gian, cổ lai đều dùng thuyết thời kỳ 1 có 500 năm, thời kỳ 2 có 1.000 năm, thời kỳ 3 có 10.000 năm.
 
Tiết 2 22 uy nghi, có 22 thứ :
         Thứ 1 kính Tam bảo
            (18) Phải thường kính Phật hết long, không theo tà giáo, đem đầu não đặt sát đất, thường tự sám hối tội ác đời trước. Thường kính Pháp, tâm dồn nơi đạo pháp, từ hiếu với khế kinh. Thường kính Tăng, long bình tĩnh, không từ bỏ, chí thành tin tưởng * Không được nhân việc nhỏ mà giận bỏ Tam bảo * Không được mang tượng Phật đến chỗ đại tiểu tiện. Không được mang giày dép dơ  bẩn vào trong điện Phật và tháp Tăng * Bắt đầu từ lúc xuất gia thọ giới, cuối cùng đến lúc kết thúc đời
sống, giờ khắc nào cũng thường xuyên tập trung sự nghĩ nhớ lại nơi Tam bảo *
                        Từ hiếu với khế kinh: thương và hiếu thảo với Phật pháp. Lòng bình tĩnh, không từ bỏ: không dao động, không phản bội.
            (19) Sớm tối lạy Phật phát nguyện, nguyện sinh ra ở đâu cũng đủ tướng trượng phu, đồng chân xuất gia, liền biết thân cận Tam bảo mà cúng dường phụng sự. Trước cận trú nữ và đàn việt, phải tán than công đức của Tam bảo, làm phát sinh và tăng thêm tính tâm cho họ * Mặc một cái áo, ăn một bữa cơm, uống một chén
 
nước, đều luôn luôn không quên ơn Phật; khi mang áo giày mới phải lạy Phật trước, lúc hưởng thụ uống ăn phải cúng Phật trước, thường hổ thẹn mà khởi niệm tri túc.
            Đồng chân: dịch nghĩa chữ kumarabhuta. Kumara: đồng ấu 8 tuổi. Bhuta: chân chất. Đồng chân là tên khác của cấp bậc Sa di (Bảo 2122). Cận trú nữ, cận trú là thân cận Tam bảo mà tạm trú, tức tại gia thọ 8 giới; cận trú nữ là cận trú mà phái nữ. Đàn việt: Tam tạng pháp sư Nghĩa tịnh nói rất rõ như sau, trong tác phẩm Nam hải ký qui truyện của ngài. Đàn na bát để (danapati) dịch là thí chủ. Đà na là thí. Bát để là chủ.
Vậy nói đàn việt là không chính xác. Tứ ngữ này đã bỏ chữ na, lại chuyển chữ đà ra đàn, rồi bỏ chữ bát để mà thêm chữ việt, ý nói do thực hành đàn mà vượt qua (việt) nghèo nàn… Uống một chén nước, nước, nguyên văn là tương: nước xay hay hầm các thứ trái hạt mà chắt lọc ra, tức là tương phi thời. Tri túc : biết đủ, biết vừa đủ ; cũng gọi là hỷ túc : thích đủ, thích vừa đủ. Tri túc là đối với đồ đã có, không ức vì không nhiều không tốt.
                        Thứ 2 kính đại sa môn
            (20) Không được gọi là tên chữ của đại tăng hai bộ * Không được lén nghe đại tăng hai bộ thuyết giới * Không được nói chuyền lầm lỡ của đại tăng hai bộ. Không được
 
 
thấy đại tăng hai bộ đi qua mà không đứng dậy, trừ lúc đọc kinh, lúc bịnh, lúc cắt tóc, lúc ăn cơm, lúc làm việc tăng chúng * Không được cố nói lời nói khác lạ để xúc não đại tăng hai bộ. Không được vì tức giận mà phỉ bang vô căn cứ đối với tăng hai bộ *
            Sa môn (Srmana), là danh xưng nguyên không riêng gì tăng sĩ Phật giáo. Phật giáo cũng như ngoại đạo, ai xuất gia thì gọi là Sa môn. Dịch nghĩa xưa nhất là tức (đoạn trừ), sau này dịch là cần tức (tinh cần đoạn trừ thói ác). Tên chữ là pháp danh, pháp tự. Nên gọi tên ấy với chữ đại đức hay trưởng lão ở trước, không được gọi tên không. Thuyết giới : bố tát tụng giới
và giảng diễn đại giới. Xúc não : xúc phạm, gây phiền não. Tức giận mà phỉ bang vô căn cứ :  chỉ vì tức giận mà phỉ bang một cách vô căn cứ.
            (21) Không được đối với đại tăng hai bộ mà khiêu khích, xúi dục bên kia bên này. Không được cố làm phiền não đại tăng hai bộ bằng cách làm bộ hỏi kinh hỏi luật * Không được mắng chửi đại tăng hai bộ. Không được đi trước mặt đại tăng hai bộ. Không được khinh lờn đại tăng hai bộ, cố ý giỡn cười trước mặt, nhái giọng nói, hình dáng và bước đi của các ngài. Không được rình chỗ khuất để nhìn đại tăng hai bộ đi qua mà chỉ trỏ sau lưng. Khi đi, nếu
gặp đại tăng hai bộ thì phải ở chỗ thấp, cúi đầu, đứng một bên, kính nhường các ngài đi rồi mới đi.
            Ở chỗ thấp là đang đi xe mà trụt xuống mặt đường. Nhưng nghĩa đó không đúng bằng đang đi mà tránh xuống chỗ thấp và một bên đường.
            Thứ 3 thờ thầy
            (22) Chiêm ngưỡng hòa thượng, xà lê, như chiêm ngưỡng Phật * Phải kính thầy, thường gần gũi thầy để hành trì đúng pháp đúng luật. Phải giữ đúng huấn dụ của thầy, với sự kính thuận thường xuyên * Thường nên dậy sớm, đừng dậy sau thầy ; tự cảnh giác
 
tâm mình, đừng để thầy phải gọi dậy. Sáng sớm, khi thức dậy, phải trước hết súc miệng và gột rửa sạch sẽ, mặc pháp y lạy Phật lạy Pháp rồi lui ra lạy thầy. Muốn vào cửa, trước hết nên đàn chỉ ba lần. Khi lạy thầy thì lạy cách sáu thước xưa, hỏi thăm sức khỏe rồi đi lui mà ra cửa. Thầy ngồi thiền không nên lạy, thầy kinh hành không nên lạy, thầy thọ thực, thầy đánh răng, thầy rửa tắm, thầy ngủ nghỉ, vân vân, không nên lạy. Muốn lạy mà thầy ngăn cản thì nên thuận theo mạng lịnh của thầy, đừng lạy. Thầy đóng cửa, không nên ở ngoài cửa mà lạy ; muốn vào cửa mà lạy thì
 
phải đàn chỉ ba lần, thầy không trả lời thì nên đi *
            Hòa thượng, tiếng Phạn chính là Upadhyaya, còn vùng Vu điền gọi là Khosha, là tiếng gọi thầy, ông thầy có trí tuệ, dạy bảo đệ tử : vì nghĩa này mà dịch nghĩa là lực sinh (người làm cho đạo lực của đệ tử phát sinh) hay dịch là thân giáo sư (người mà đệ tử thân cận thọ giáo) (Bảo 1501 và 2726). Xà lê là gọi tắt chữ A xà lê (Acarya), dịch nghĩa là quĩ phạm sư : người có thể dạy cho đệ tử các pháp thức. Vì nghĩa này mà cũng có người dịch là giáo thọ. Xa lê có 5 : một, xuất gia xà lê, là người mình xuất gia ; hai, thọ giới xà lê, là người mình thọ giới ; ba, giáo thọ xà lê, là người dạy uy nghi cho mình ; bốn, thọ kinh xà lê,
là người mình học kinh ; năm, y chỉ xà lê, là người mình nương ở. (Bảo 1468). Năm xà lê có thể phải 5 vị làm, cũng có thể chỉ 1 hay 2 vị làm đủ cả. Đàn chỉ có khi là gảy móng tay, có khi 4 ngón của 2 bàn tay đập vỗ nhau, có khi ngón tay gõ cửa hay vào vật phát tiếng, thậm chí có khi cùng loại với đánh hắng, dậm chân, Ở đây đàn chỉ là gõ cửa nếu có cửa, là nhẹ nhàng lễ phép lên tiếng như niệm Phật. Đi lui mà ra là từ từ và ý tứ đi thụt lui mà ra, chứ không quay lưng lại mặt thầy mà đi.
            (23) Nếu bảo đổ đồ bất tịnh thì không nên nhổ nước miếng, không nên giận tức * Phải chân thành đối với thầy, long ngay thẳng,
 
chắc thật. Hãy từ hiếu với thầy, quấn quýt bên thầy, không rời bữa ăn giấc ngủ * Đi trong quốc gia, thấy sự quái lạ thì nên trình bạch với thầy, hỏi thầy sự quái lạ ấy. Theo thầy học kinh, phải nghiêm chỉnh tâm trí, cùng tột chân thật, thân tâm miệng ý không khác chút nào * Thầy bảo đi đến chỗ nào thì nên đi mau về mau ; nếu có ai hỏi, sa di ni, thầy của cô còn không, thì nên yên lặng đi thẳng, không được trả lời cho họ biết * Giả sử có tội ác, thì phải liền liền đến thầy thú tội, nói ra rồi không còn tội trạng nữa * Hoàn toàn tin tưởng nơi thầy ; nếu ai nói thầy
có lỗi thì nên tránh liền cho họ thôi đi * Cầm đồ uống đồ ăn của thầy đều nên bưng hai tay. Ăn rồi, dọn đồ thì phải từ từ * Hầu thầy, không được đứng đối diện, không được đứng chỗ cao, không được đứng quá xa ; phải đứng sao để thầy nói nhỏ mình nghe được, khỏi phí sức thầy *
            Đồ bất tịnh, ở đây là đồ đại tiểu tiện, ống nhổ, vân vân. Nói ra rồi không còn tội trạng nữa, là như ngài Châu hoằng viết, tận tình phát lộ, chân thành hối cải, lại được thanh tịnh.
            (24) Nếu xin hỏi Phật pháp thì phải sửa ý, lễ bái, chắp tay nghe
 
kỹ, suy nghĩ vào sâu. Nếu hỏi việc thường của trú xứ thì không cần lễ bái, chỉ đứng ngay thẳng cạnh thầy, cứ thật trình bày. Nếu thầy mệt mỏi thì cơ thể hay tâm trí, bảo đi thì nên đi, không được long dạ không vui, hiện ra sắc mặt * Không được ngồi chơi chỗ ngồi của thầy, và nằm chơi giường thầy, dùng chơi áo mão của thầy, vân vân * Thầy đau ốm thì lo liệu từ đầu đến cuối. Phòng thất, chăn niệm, thuốc thang, cháo cơm vân vân, nhất nhất chú ý coi sóc * Cầm áo, đưa giày, giặt bẩn, sấy phơi, vân vân, thì dạy đủ cả trong Luật, ở đây không phiền sao chép.
Việc thường trú của trú xứ là việc bình thường, hàng ngày và thường lệ của trong chùa.
            (25) Phàm hầu thầy, thầy không bảo ngồi thì không dám ngồi, không hỏi thì không dám thưa, trừ mình có việc muốn hỏi. Phàm đứng hầu thì không được dựa vách, tựa ghế, mà nên mình ngay thẳng, chân tề chỉnh, đứng cạnh thầy * Thầy có sai khiến gì thì nên kịp thời làm cho xong, không được trái,  nhác, hay khinh thường * Phàm ngủ nghỉ, không được trước thầy, trừ lúc có bịnh, bạch thầy cho phép nghỉ ngơi. Ai hỏi tên thầy, nên nói trên chữ x dưới chữ x * Không được kiễng chân,
tréo lưng, an nhiên nằm ngồi trước mặt thầy. Như thầy bảo ngồi thì khi thầy đứng dậy, mình phải tức tốc đứng dậy * Giữ đồ của thầy như giữ thân mạng của mình, không được theo ý riêng mà tự cho người * Không được nhìn thầy bằng con mắt ác cảm *
            (26) Không được rời thầy ở riêng. Nếu thầy mạng chung, nếu thầy có duyên sự đi xa mà không được đi theo, thì phải lạy bạch thầy bổn sư hỏi nên y chỉ thầy nào. Phải đúng mạng lịnh của thầy, y chỉ mà ở, và tất cả lại làm giống với cách thờ thầy, không khác chi cả. Nếu thầy
không chỉ thị mà mạng chung ngay, thì phải lại chọn bậc lương đạo y chỉ mà ở. Nếu thầy phá giới, phá kiến, bị đại tăng y pháp y luật mà trị, đuổi, thì cũng phải tìm riêng vị minh sư, y chỉ mà ở, không được buông thả tự chuyên *
            Ở riêng : tự ý ở nơi mình muốn. Thầy bổn sư, bổn sư, nghĩa đen là thầy gốc, thầy căn bản. Như Bổn sư của cả Phật giáo là đức Thích ca. Còn ở đây bổn sư là thầy thế độ. Thầy y chỉ là y chỉ xà lê. Lương đạo : vị dắt dẫn tốt, dẫn dắt đến chỗ cao tột. Phá giới : thọ giới rồi mà vi phạm giới ấy. Phá giới có 5 sự hại, là tự hại, trí giả trách cứ, tiếng xấu lan
tràn, gần chết hối hận, chết đọa ác đạo. Phá kiến : phá hủy chánh kiến, nên phá kiến tức là tà kiến. Phá giới chỉ là phạm giới đã thọ, còn phá kiến thì từ căn bản, chính tư tưởng đã phản, đã chống lại giáo lý của Phật pháp. Y pháp y luật, pháp là luật, y như phép trong Luật đã dạy. Trị đuổi : đuổi mà trị Tỷ kheo hay Tỷ kheo ni phá giới, nhất là phá kiến. Có 3 cách : một, đuổi ra, là đuổi ra khỏi chỗ ở, chờ kẻ ấy sám hối đúng phép mới cho về lại ; hai, đuổi thầm, là mọi người không giao thiệp nói chuyện với kẻ ấy ; ba, đuổi đứt, là Tỷ kheo hay Tỷ kheo ni quá xấu, phạm tội nặng mà không chịu sám hối, thì xóa tên, vĩnh viễn đuổi khỏi chỗ ở. Minh sư : vị thầy sang suốt, biết rõ sự lý.
Tự chuyên, nguyên văn là tự dụng, Từ hải 2392 nói là tự cho tài trí mình đáng ỷ thị mà hành động toàn theo ý mình.
            (27) Không được y chỉ Tỷ kheo tăng mà ở. Không được cùng sa di ở chung. Không được theo thầy ở chỗ du ngoạn, chỗ vườn hoa. Không được theo thầy ở miếu thần, am mộ. Nếu thầy ở, thì phải lạy mà khuyên can như Luật đã dạy * Lúc hạ an cư thì phải theo thầy ở gần khu vức Đại tỷ kheo, không được ở khu vức không có Tỷ kheo ở mà hạ an cư * Hoặc thầy có cho gì thì nên cung kính đảnh lễ mới nhận ; nếu thứ mình đã có thì nên nói có, không được
 
vọng nhân.
            Miếu thần: miếu thờ quỉ thần, nơi cúng tế rượu thịt. Am mộ là am trong nghĩa trang. Hạ an cư : coi Phụ lục dưới đây.
  Phụ lục về hạ an cư
            Hạ an cư là an cư mùa hạ. Sau đây là những điều về an cư mà cấp bậc Sa di phải biết.
  1. Danh xưng . – An cư, an là thân tâm lắng lại, cư là kỳ hạn mà ở.
  2. Lý do .- An cư vì 2 lý do : một, phòng mùa mưa đi ra đạp chết cỏ, trùng, và hai, để yên tĩnh tu dưỡng. An cư nguyên là hành sự của giáo đồ Bà la môn mà Phật điều chỉnh thành thì gian tu tập quan trọng của
 
Tăng Ni.
3.   Thì gian . – Cựu dịch có 3 kỳ : tiền an cư, khởi cự 16/4 ; hậu an cư, khởi sự 16/5 ; trung an cư, khởi sự quãng giữa. Tân dịch chỉ có 2 kỳ : khởi sự 16/5 là tiền an cư, khởi sự 16/6 là hậu an cư. Ngày khởi sự hiện được Bắc tông theo nhất là 16/4. Cũng có xứ hay có người an cư vào mùa đông (16/9- 16/12), gọi là kiết đông.
4.   Mùa an cư. -  Có 3 tháng, tức 90 ngày, nằm trong mùa hạ, nên gọi là hạ an cư. Tại Ấn, mùa này mưa nên gọi là vũ an cư. Vì an cư mùa hạ nên gọi hạ an cư, khởi sự từ hạ an cư nên gọi là kiết hạ (hay gọi là nhập hạ,) an cư gọi là tọa hạ, kết thúc an cư gọi là giải hạ (hay gọi là giải chế),
và quan trọng là sau đó có được 1 tuổi nên gọi la hạ lạp.
5.   Kiết giới an cư. – Kiết giới nghĩa là ấn định khu vức. Tăng chúng 2 bộ tập hợp an cư riêng, và khởi sự an cư bằng cách kiết giới, gọi là kiết giới an cư. Phải kiết giới cho rõ, ấn định khu vức mà nói rõ đông tây nam bắc đến đâu. Vì đi ra khỏi khu vức ấy thì gọi là phá hạ.
6.   Cấm túc an cư. – Trong mùa an cư, không ra khỏi kiết giới, gọi là cấm túc an cư. Trừ duyên sự của Tam bảo và cha mẹ thì có thể tác pháp thọ nhất mà đi.
7.    An cư tự tứ. -  An cư rồi, giải hạ bằng sự tự tứ. Tự tứ (pravarana), có nghĩa tự đưa mình ra để tùy ý tăng
chúng nêu tội mình phạm mà sám hối. Tự tứ cử hành ngày 16/7 (hay 16/8 theo tân dịch).
8.   Tự tứ thọ tuế. – Nghĩa là tự tứ mà nhận tuổi mới. Người xuất gia, sau khi thọ đại giới, năm nào đến mùa an cư cũng phải an cư. Sau mỗi mùa an cư, làm lễ tự tứ rồi, được kể là có 1 tuổi của người xuất gia, tuổi ấy, vì sau khi kiết hạ nên gọi là hạ lạp ; vì tính từ khi thọ đại giới nên gọi là giới lạp ; vì là tuổi theo Phật pháp, tính 1 mùa an cư chứ không phải tính 1 năm, nên gọi là pháp lạp. Lễ tự tứ cũng như lễ giao thừa, nên trong kinh luật lấy ngày 16/7 làm ngày đầu tuổi cho ngũ phần pháp thân của Tỷ kheo và Tỷ kheo ni (Chính 54/251). Và chính cái tuổi giới lạp hay
hạ lạp này ấn định vị thứ trong giới xuất gia, chứ không phải tuổi đời, nên vị thứ ấy gọi là lạp thứ.
            9. Hạ lạp.- Lạp nghĩa là săn : săn thú để tế cúng tổ tiên vào dịp cuối năm, gọi là lạp. Như vậy lạp là tiếng gọi lễ cúng tất niên, là tiếng có nghĩa cuối năm. Lạp lại nghĩa là giao tiếp : giao tiếp giữa năm cũ và năm mới nên gọi lạp. Như vậy, lạp là tiếng còn để gọi lễ giao thừa. Mà lễ tất niên hay lễ gia thừa của người xuất gia là lễ tự tứ. Nên văn tự Phật giáo mượn chữ lạp để gọi tuổi của người xuất gia, được có sau khi tự tứ, rằng hạ lạp, giới lạp, hay lạp. Cũng có ngài dịch là tuế (không gọi là lạp) nên gọi là sự tự tứ là thọ tuế, thọ tân tuế : nhận tuổi, nhận tuổi mới.
 
10.   Cấp bậc Sa di liên hệ an cư như thế nào. – An cư là việc của Tỷ kheo và Tỷ kheo ni. Cấp bậc Sa di chỉ tùy hành để học tập và kiếm phước, không kể tuổi hạ.
Sau hết, điều quan trọng phải nói và phải biết, đó là trong kinh, nhất là các bộ A hàm, đều kể lại sự chữa vá pháp y của Phật khi sắp hết an cư, lại kể Ngài chữa vá để chuẩn bị lên đường du hóa ngay sau khi tự tứ thọ tuế. Điều đó chỉ dẫn cho thấy an cư vì tránh mưa là thế nào, thế nào là an cư để tịnh tu, và nhất là sau đó tinh tiến du hóa như thế nào. Đó mới là những gì đích thực của sự an cư.
            Tài liệu về phụ lục này là Chính
54/251, nhất là Phật học đại từ điển, với 10 điều tất cả. Sách Giới đàn tăng cũng có tham khảo.
                        Thứ 4 theo thầy đi ra
            (28) Không được ghé qua nhà người khác. Không được dừng ở bên đường cùng người nói chuyện. Không được ngoái nhìn hai bên, mà nên cúi đầu, mắt nhìn ngang tầm mắt, đi theo sau thầy * Đến nhà đàn việt, nên đứng một bên thầy, thầy dạy ngồi mới ngồi. Đến tự viện khác, thầy lạy Phật hoặc mình lạy, đều không được tự ý đánh khánh. Thầy thọ trai thì phải đứng hầu xuất sinh, thọ trai xong lại phải đứng hầu thâu nhận
đồ hiến cúng *
            Nhà người khác là không phải nhà thầy vào. Vậy, đi với thầy, thì dẫu qua nhà mình cũng không bỏ thầy mà ghé vào, dầu chỉ ghé qua mà thôi. Xuất sinh : xuất cơm của mình mà cho chúng sinh. Coi lại Tỳ ni. Đồ hiến cúng, nguyên văn là sấn, cũng đọc là san, tự điển là đồ hiến cúng cho người xuất gia. Nhưng thật ra sấn là gọi tắt chữ đạt sấn, dịch âm chữ daksina, dịch nghĩa là hữu thủ (tay phải), là lấy tay phải nhận đồ hiến cúng, nhất là hiến cúng y, của thí chủ hiến cúng, sau khi hiến cúng trai soạn. Do đó, đạt sấn chính là tài thí (cho đồ). Xuất gia thì thọ trai nhận đồ rồi, phải tụng một vài bài kệ liên hệ sự cho, gọi là thí tụng (danagatha hay
 
daksinagatha) ; đó là pháp thí (cho pháp). Như vậy là chuyển tài thí ra pháp thí, nên Tỳ ni đã nói “tài pháp nhị thí đẳng vô sai biệt”. Bài này cũng chính là thí tụng.
            (29) Nếu có duyên cớ, ra đi không có thầy thì phải cùng ba người đi chung. Hoặc phải cùng vị ni sư lớn đi chung.  Nếu cùng ưu bà di đi chung thì phải mang pháp y mà đi. Mang pháp y thì phải tề chỉnh. Không được đi mà vắt trái y ra phía sau. Không được đi mà y quấn cổ. Không được đi mà nhảy. Không được đi mà chéo tay sau lưng. Không được đi mà lắc mình. Không được đi mà vung cánh tay. Không được đi
 
mà giỡn cười *
            (30) Đi theo sau thầy, không được dẫm lên bóng của thân hình thầy * Bên đường, gặp hoa trái, không được tự ý hái lấy * Theo thầy đi về xa gần, không được oán rằng khổ quá, lộ vẻ mệt nhọc. Trên đường nếu gặp con trai thì không được nhìn và nhớ; phải quán không, tu cái tưởng bất tịnh. Trên đường nếu thấy sự kỳ lạ của thế tục thì không được buột miệng khen đẹp.
            Quán không: quán các pháp toàn không thực thể, vì đều là duyên sinh (Bảo 1279). Cái tưởng bất tịnh là bất tịnh quán, giành cho kẻ bước vào chính     
 
tu mà tham nhiều, đặc biệt nhất là nên coi Câu xá luận (Chính 29/117).
            Thứ 5 nhập chúng
            (31) Không được tranh chỗ ngồi. Không được trên chỗ ngồi mà gọi với nhau, nói hay cười * Trong chúng có ai mất uy nghi, nên ẩn ác dương thiện. Không được khoe cái mệt để tỏ cái công của mình * Không được cùng Đại tỷ kheo hay Đại tỷ kheo ni ngồi chung. Không được coi tướng hình dáng mà cười * Không được lớn tiếng hỉ mũi, nôn ọe, khạc nhổ. Không được bốn phía tháp Phật mà đại tiện tiểu tiện, làm cho hơi thối bay vào tháp. Không được hướng 
về phía tháp Phật mà đại tiện tiểu tiện. Không được hướng về phía tháp Phật mà duỗi cẳng mà ngồi * Khi uống trà nước, không được dùng một tay còn lại mà thi lễ. Không được nói nhiều, cười nhiều, và ngáp thì phải lấy tay áo bưng miệng *
            Nhập chúng là khởi cư với chúng. Khởi cư là mọi sự động tĩnh hằng ngày. Như vậy nhập chúng là cư trú và sinh hoạt chung với tăng chúng. Một tay còn lại mà thi lễ là vô lễ, mất dạy. Muốn xá chào thì phải để đồ xuống, sử dụng cả 2 tay.
            (32) Hoa chúng Phật thì lấy thứ nở tròn, và không được ngửi trước. Loại trừ thứ héo mới cúng        
thứ mới. Thứ héo cũng không được bỏ xuống đất dẫm đạp lên, mà nên đặt ở chỗ khuất * Nên vì Đại tỷ kheo ni mà cung cấp tăm duong chi, nước rửa vân vân, tùy sức có thể làm là nên làm, không được cầu an mà nên cầu cái phước thù thắng * Nếu nghe gọi thì tức khắc niệm Phật mà trả lời, không được nói có đây hay có tôi đây * Phàm nhặt của rơi thì phải bạch vị Tỷ kheo ni chủ sự * Phàm lên điện Phật, phải nghiêm kính hình dung và cử chỉ, không được buông thả tự tiện * Không được dùng lời lẽ thô độc mà giễu chọc nhau, không được bày cho người nói lời
 
Không tốt *
Chỗ khuất, ở đây là chỗ không có người đi, không phải chỗ dơ bẩn. Niệm Phật mà trả lời, là có khi nói Nam mô A di đà phật , có khi nói Mô Phật. Tùy lúc mà nói, sao cho đừng quê, sao cho thuần hậu. Niệm Phật trong trường hợp này là nhắc mình và nhắc người gọi mình nhớ đến Phật, nên rất quan trọng. Tỷ kheo ni chủ sự là tri sự. Tri sự là kiết ma đà na (karmadana). Tri sự là biết việc tăng chúng. Lại dịch là duyệt chúng: làm đẹp dạ tăng chúng. Ngài Nghĩa tịnh dịch là thọ sự: người đem việc của tăng chúng trao cho người phụ trách. Tri sự là 1 trong 3 chức: tự chủ, thương tọa và tri sự.
(33) Không được ngồi nhìn đại chúng làm việc mệt nhọc, mà mình trách, nhác, cầu an * Không được lấy riêng của chiêu đề như tre cây, hoa trái, rau lá, mọi thứ đồ uống đồ ăn, mọi thứ đồ vật vân vân * Phàm tự xưng thì nên nói hai chữ pháp danh, không được nói ta hay nói xx * Không được nhân việc nhỏ mà tranh chấp. Nếu việc lớn khó nhẫn thì cũng phải tâm bình tĩnh, khí ôn hòa, lấy lẽ thảo luận; không được thì từ mà đi. Nếu nổi giận, nói thô, thì không phải là Sa di ni * Vào đại tăng đường, trước lạy tượng thánh tăng, kế làm lễ mười phương tăng chúng. Nếu
thấy Thức xoa ma na và Sa di thì cũng nên thi lễ.
            Chiêu đề (caturdesa) nghĩa là 4 phương, tức tăng chúng 4 phương (tăng chúng mười phương, tăng chúng khắp nơi). Nhưng năm 424, Ngụy Thái vũ lập già lam, gọi bằng tên chiêu đề, từ đó chiêu đề là dị danh của tư viện. Pháp danh : tên theo Phật pháp, tức tên của bổn sư cho lúc mới xuất gia. Đại tăng đường : tăng đường lớn. Tăng đường, cũng gọi thiền đường : nhà tăng chúng tu thiền ; cũng gọi trai đường : nhà tăng chúng thọ thực. Lập trai đường riêng tăng đường là việc của hậu thế. Tượng thánh tăng : Một, tượng tôn trí chính giữa tăng đường, tức tượng ngài Văn thù (chùa
đại thừa) ; hay tượng các ngài Kiều trần như, Tân đầu lô, các ngài Đại ca diếp, Tu bồ đề (chùa tiểu thừa). Hai, tượng ngài Tân đầu lô, đặc biệt thiết ra lúc trai tăng. Ba, tượng tất cả thánh giả đoạn hoặc chứng chân (Bảo 2301). Ở đây nói nghĩa Một và Hai.
            Thứ 6 theo chúng thọ thực
            (34) Nghe tiếng kiền chùy là phải chỉnh đốn y phục * Lúc ăn, chú nguyện thì phải cung kính * Xuất sinh thì cơm không quá bảy hạt, bún không quá một tấc, bánh không quá cỡ móng tay, nhiều là tham, ít là lẫn ; ngoài ra, rau lá và đậu hủ không xuất sinh. Phàm khi xuất sinh, hãy niệm thầm bài kệ sau đây :
Chúng quỉ thần các người,
nay tôi cho cúng phẩm.
Cúng phẩm này khắp cả,
quỉ thần cùng hưởng thụ *

Sắp ăn uống, phải làm năm quán tưởng : một, xét kể công lao nhiều ít và ước lượng lý do của thực phẩm ; hai, nghĩ kỹ đức hạnh của mình đủ hay thiếu để ứng thọ sự cúng dường ; ba, đề phòng tâm lý, tránh những tội lỗi mà tham sân si vẫn làm chủ yếu ; bốn, chính vì lấy thực phẩm làm dược phẩm tốt để trị liệu thân hình khô yếu ; năm, vì thành đạo nghiệp mới ứng thọ thực phẩm này *

     Kiền chùy (ghanta) : vật đánh ra tiếng, là bảng, chuông, khánh, làm bằng gỗ, đá, đồng, sắt, đánh để làm hiệu triệu tập tăng chúng. Chú nguyện là chú nguyện bằng sự tụng của cúng dường, xướng tăng bạt, và kiết trai (Vạn 106/158 và 218). Ngày xưa, các vị Tỷ kheo thọ thỉnh ngọ trai mà đến và về đều yên lặng nên bị chê trách, bạch Phật, Phật dạy từ nay, lúc thọ thực, nên nói lên cái ý thức cúng dường. Do đó mà có sự chú nguyện ra tiếng. Xuất sinh : đã cắt nghĩa. Vạn 106/158 dẫn kinh luật, nói ăn không được ăn hết, mà phải để lại cho đến một vắt, để cho các loài người và không phải người. Ăn mà không cho là bà con của ma, không phải đệ tử của Phật. Bánh (man đầu) : bột ủ lên bọt
rồi đem hấp, tròn mà phồng lên, gọi là man đầu. Cái tên man đầu cũng có sự tích. Khổng Minh đánh Mạnh Hoạch, không theo tục xứ mọi ấy giết người lấy đầu tế thần, mà sai người trộn thịt bò dê heo và bọc lại bằng bột, bắt giống đầu người mà tế, người sau nhân đó gọi là man đầu (Từ hải 3220). Nay ở đây, ý chỉ nói bánh làm bằng bột, và không cứ bề ngoài giống cái gì. Quán tưởng ở đây chỉ có nghĩa đơn giản là xét nghĩ. Về 5 quán, hãy coi Tỳ ni.
            (35) Không được la rầy đồ ăn tốt xấu. Không được lấy đồ ăn cho riêng, hoặc trích cho chó * Người đến thêm đồ ăn, không được bảo không dùng ; nếu no
 
rồi thì phải lấy tay từ khước * Không được lấy móng tay gãi đầu, làm cho gió thổi hắt mạt vụn rơi vào trong bát của người ngồi bên cạnh. Không được ngậm đồ ăn mà nói. Không được cười bàn chuyện tạp. Không được nhai đồ ăn ra tiếng * Muốn khêu răng, phải lấy tay áo che miệng. Trong đồ ăn hoặc có sâu kiến, nên kín đáo che giấu đi, đừng để người ngồi đơn  bên cạnh thấy, sinh nghi ngại * Phải ngồi ăn một lần mà thôi, không được ăn xong, rời chỗ ngồi rồi, lại ngồi ăn nữa. Không được ăn xong, lấy ngón tay vét chén bát mà ăn * Phàm ăn, không được quá mau, không được quá
chậm. Người đi thêm đồ ăn chưa đến, không được sinh phiền não. Hoặc có cần gì thì yên lặng dùng ngón tay mà trao ý, không được lớn tiếng gọi to. Không được khua chén bát ra tiếng * Không được ăn rồi dậy trước * Nếu trái qui chế tăng chúng, nghe bạch kiền chùy, không được kháng cự bất phục * Trong cơm có lúa thì bỏ vỏ mà ăn. Không được thấy mĩ vọ thì sinh tham tâm, phóng túng miệng mà ăn. Không được ăn riêng tăng chúng *
            Đơn, đọc đúng là đan, là chỗ ngồi, nên gọi là tòa hay sang (giường), của mỗi tăng nhân trong thiền đường. Vì mỗi chỗ có bảng dán đơn tên mỗi
người nên gọi là đơn vị, gọi tắt là đơn. Cũng gọi là thiền sang, ngang thì 3 và rộng thì 7, thước xưa. Bạch kiền chùy : đánh kiền chùy để bạch sự việc. Bằng cách đánh kiền chùy 1 tiếng, huyên náo im bặt rồi, bạch chúng “Pháp diên long tượng chúng, đương quán đệ nhất nghĩa!” (Tăng chúng oai đức như rồng voi, hiện diện trong pháp hội này ! Hãy quán sát nghĩa lý bậc nhất!) : thế gọi là bạch kiền chùy. Kế đó, vị trưởng lão đối thoại với tăng chúng. Một trong những việc vị trưởng lão đối thoại là cử tội khi trong tăng chúng có kẻ phạm tội. Xong, người bạch kiền chùy lại đánh 1 tiếng nữa, bạch “Đế quán Pháp vương pháp : Pháp vương pháp như thị !” (Quán sát cho kỹ pháp của đấng Pháp
vương : pháp của đấng Pháp vương là  như vậy !) : như thế gọi là kiết kiền chùy. Người bạch kiền chùy phải là người trang trọng, biết phép. Như chính ngài Văn thù đã bạch kiền chùy khi đức Thế tôn thăng pháp tóa.
            (36) Khi thọ thực, tay trái bưng bát, tay phải dựa mà giữ bát * Nghi thức thọ thực chưa hoàn tất, không được dậy trước ; phải đợi kiết trai, đồng chúng mà dậy * Sau giờ ngọ, không được vọng nhớ sự ăn. Phải chận tham tâm, kính tuân giới luật, thà chết chứ không ăn phi thời * Không được tự cất đồ ăn đêm. Không được cất đồ ăn đêm cho người khác. Không được bày cho Sa di ni
khác ăn phi thời.
            Khi thọ thực, tay trái bưng bát, tay phải dựa mà giữ bát, câu này, nhờ tác giả đã viết tương tự trong Tỳ ni, nên biết là câu nói tắt. Đáng lý còn phải nói để ngăn hơi hôi của mình, nâng bát ngang mi, đưa muỗng hướng ra ngoài, tụng nghi thức cúng dường, để bát xuống. xuất sinh, xướng tăng bạt, 3 muỗng có tiết tấu, 5 quán đừng mâu thuẫn, vân vân. Cất đồ ăn đêm, còn có nghĩa cất đồ ăn ngày trước để ngày sau ăn.
                        Thứ 7 lễ bái
            (37) Lễ bái, không được chiếm chỗ chính giữa điện Phật, không được hướng tới
 
trước đầu người ấy mà đi tắt * Phàm chắp tay, không được mười ngón so le, không được trống rỗng ở giữa, không được đưa ngón tay cắm vào lỗ mũi, phải để tay ngang ngực, cao thấp đúng chỗ * Không được lễ bái không phải lúc ; muốn lễ bái không phải lúc thì phải đợi lúc mọi người yên tĩnh * Thầy lạy Phật, không được cùng thầy lạy ngang nhau, mà phải theo sau thầy và lạy cách xa. Thầy xá lạy người, không được cùng thầy đồng xá lạy. Ở trước thầy, không được cùng đồng bậc lạy nhau. Ở trước thầy, không được nhận người lạy. Tay mình cầm kinh tượng thì không được
 
lạy người * Phàm lễ bái, phải tinh thành mà quán tưởng. Giáo lý liệt kê bảy cách lạy, không thể không biết *
            Trú trì, trú là ở, trì là giữ, là ở đời mà giữ pháp. Theo nghĩa này, Phật thì tượng tranh, Pháp thì kinh sách, Tăng thì xuất gia, đều là trú trì, vì đều ở trong thế gian mà duy trì Phật pháp. Nhưng chữ trú trì ở đây, và thường dùng, thì chỉ là 1 chức vụ trong 1 ngôi chùa : vị chủ chùa gọi là trú trì. Đó là việc khởi xướng của thiền gia. Vị trú trì ấy còn được tôn gọi là trưởng lão, cũng gọi là Thiện tri thức theo nghĩa của thiền gia. Nên trú trì ở đây là mỗi người ở một địa phương, nối tiếp tuệ mạng của Phật
(Bảo 1185). Cũng nên biết trú trì là 1 trong 2 chức Tăng cang và Trú trì mà triều Nguyễn tôn phong (Tăng cang và Trú trì cho quốc tự, Trú trì cho chùa tư). Đồng bậc : đồng cấp bậc sa di với nhau. Quán tưởng là chú ý mà xét nghĩ về ấn tượng hiện nơi tâm trí (Bảo 2990). Bảy cách ly : coi Tỳ ni.
            (38) Sau khi ăn cháo, ăn cơm, phải đánh răng, gột rửa sạch sẽ, mới làm việc lễ kính * Không được mặc áo ngắn lạy người khác, cũng không được mặc áo ngắn nhận đàn việt lạy ; trường hợp nào cũng phải thường mặc ca sa man điều * Đến nhà tục thăm người thân, thì không được lạy thân nhân bà con thế tục, chỉ chí
thành chắp tay thăm hỏi.
            Thứ 8 học tập kinh điển
            (39) Phải trước học mười giới luật và các uy nghi của Sa di ni, sau học kinh, không được trái vượt thứ tự ấy. Phàm học kinh nào thì phải bạch thầy trước, kinh ấy xong thì lại bạch thầy mà học kinh khác * Không được tay dơ mà cầm kinh điển. Không được dùng miệng thổi bụi trên kinh. Không được trên bàn kinh mà để quyển pho bừa bãi. Không được trên bàn kinh mà cất để trà mạt, tạp vật * Đối với Kinh như đối với Phật * Không được mượn kinh của người để coi mà không
trả, lại không gia tâm quí trọng để đến nỗi hư hỏng *
            Kinh, dịch đủ là khế kinh (khế lý khế cơ), cũng như Luận dịch đủ là bản mẫu (xuất sinh pháp nghĩa), Luật dịch đủ là điều phục (thuần hóa ba nghiệp). Vì hợp lý hợp cơ nên dịch chữ Kinh, điều này khỏi nói. Điều phải biết là chữ Kinh có nghĩa chính, có nghĩa phụ. Nghĩa chính thì kinh là chỉ dọc, xâu kết với vĩ là chỉ ngang. Lấy cái nghĩa sợi chỉ xâu kết mà dịch là kinh, là có nghĩa kinh xâu kết chánh pháp cho khỏi mất và xâu kết chúng sinh cho khỏi đọa. Nghĩa phụ thì kinh có 3 nghĩa : một, kinh là lẽ thường (đối lại là quyền), bất biến ; hai, kinh là kinh sách thánh hiền ; ba, kinh là đi qua : đi qua tuệ giác của Phật mà có ra.
            (40) Không được cười lời trong kinh luật * Phàm lúc đọc kinh luật thì trước lạy kinh luật ba lạy, mới hai tay thỉnh quyển kinh luật ấy đến nơi bàn đọc ; sắp mở quyển ra để đọc thì trước hết phải chắp tay tụng bài kệ khai kinh ; đọc và xếp quyển lại rồi, vẫn thỉnh quyển ấy đem để thờ cúng trước tượng Phật, làm lễ ba lạy mới lui ra. Bàn đọc kinh luật thì phải lau sạch sẽ và đốt hương trong lò * Không được đem sách Sa di nu luật nghi để trên kinh luật đại thừa. Không được đem mão để trên cuốn kinh luật. Không được hai người cùng giỡn cười mà đọc kinh luật. Khi đọc
kinh luật thì không được vỗ bàn, cong mình, kiễng chân, chồng gót. Không được đọc lớn tiếng động chúng. Không được nằm độc ra tiếng.
Thứ 9 nghe pháp
            (41) Phải chỉnh đốn y phục. Nhìn ngang tầm mắt, tới thẳng pháp đường. Ngồi, tất phải thẳng và nghiêm. Không được nói bậy. Không được ho và nhổ * Phàm nghe pháp, phải nghe mà nghĩ, nghĩ mà tu, không được chuyên nhớ danh ngôn để cung cấp cho việc đàm luận. Không được chưa lãnh lãnh hội, vào tai ra miệng * Đến chỗ thuyết pháp,
 
trước lạy pháp tòa ba lạy mới ngồi, nghe rồi, đứng dậy vẫn lạy ba lạy, đứng ra một bên, hầu vị thuyết pháp xuống pháp tòa, mới về chỗ của mình * Không được đi lại vô lễ, ngồi lâu sinh chán.
            Đàm luận, nguyên văn là đàm bính. Bính, nghĩa đen là cán, chuôi. Từ hải 2689 nói, cổ nhân thanh đàm, đa số nắm cán đuôi cho chủ. Chủ là con hươu chúa. Đuôi có phẩy sạch bụi, nên xưa hay lấy làm phất trần (và do đó hay gọi phất trần là chủ vĩ). Người xưa đàm luận hay cầm cái cán của phất trần, nên sau này gọi sự đàm luận là đàm bính. Nhưng Vạn 106/221 và Từ hải 3338 đều nói, bầy hươu nhìn đuôi con chủ vẫy bên nào thì đi hay
 
chạy bên đó để tránh bị hại. Đuôi con chủ có đặc tính bảo vệ tính mạng bầy hươu như thế, nên cổ nhân giảng đạo, cầm nó vừa làm phất trần, vừa muốn đồ đệ hãy tuân theo sự chỉ huy của đạo lý (như bầy hươu tuân theo sự chỉ huy của đuôi con chủ), do đó, sau này gọi sự đàm luận là đàm chủ, đàm bính. Vào tai ra miệng: nghe vào lỗ tai là nói ra lỗ miệng mà thôi. Vạn 106/160 và 221 dẫn lời cổ nhân nói, sự học của quân tử là vào trong tai, để trong long, bủa rat ay chân, bày nơi động tĩnh, còn sự học của tiểu nhân thì vào trong tai, ra nơi miệng, quãng cách giữa tai miệng chỉ 4 tấc, thì làm sao đủ để làm đẹp cả cái thân 7 thước? Lạy pháp tòa, lạy, cũng có thể hiểu là dịch là xá.
Thứ 10 vào tự viện
            (42) Phàm vào cửa chùa, không được đi chính giữa. Phải ven theo bên trái bên phải mà đi. Ven bên trái thì trước bước chân trái, ven bên phải thì trước bước chân phải * Không được vô cớ lên đại điện dạo chơi. Không được vô cớ lên tháp. Vào điện tháp, phải đi vòng quanh theo chiều bên phải, không được đi vòng quanh theo chiều bên trái. Không được trong điện tháp mà hỷ nước mũi, nhổ nước miếng. Nhiễu tháp thì hoặc ba vòng, bảy vòng, cho đến mười vòng, trăm vòng, và phải biết số vòng ấy * Không được đem nón gậy vân vân dựa vào vách
điện Phật. Không được mang guốc gỗ và giày không sạch vào trong điện, tháp. Không được trong điện Phật mà coi hình coi tướng tượng Phật. Không được trong điện tháp mà ngồi duỗi chân. Không được lên tháp, hướng ra cửa sổ cửa vách mà nhìn ngắm.
            Ven bên trái thì trước bước chân trái, ven bên phải thì trước bước chân phải, là nói sự cực kỳ cẩn trọng. Vào điện tháp, phải đi vòng quanh theo chiều bên phải, không được đi vòng quanh theo chiều bên trái, được ngài Trí húc nói rõ: phải từ nam qua tây qua bắc qua đông. Phải biết số vòng là như sự đếm trong 6 sự của sổ tức quán, đếm là
nhớ, chú ý để tâm không được lãng vào tình trạng vô ký hay tệ hơn nữa là nghĩ bậy. Giày không sạch, không chỉ có nghĩa là không rửa sạch, mà giày đi, đối với điện tháp, đã là không sạch. Coi hình coi tướng tượng Phật là bình phẩm tượng Phật.
     Thứ 11 vào nhà thiền
              với đồng chúng
            (43) Không được lớn tiếng to lời. Nhẹ tay thả sáo phải đỡ tay phía sau. Không được kéo giày ra tiếng. Không được ho khan ho đàm lớn tiếng * Phàm rửa mặt, không được sử dụng nhiều nước. Súc miệng nhổ nước, phải  cúi đầu đưa nước xuống, không được phun nước tạt ướt người * Không được
 
đối với ba pháp y mà cẩu thả thiếu sót. Không được sắm nhiều y phục, nếu có thừa thì nên bỏ ra mà cho. Không được mặc y phục và dùng đồ trang sức vân vân giống với đàn bà con gái thế tục. Không được dùng dải trắng buộc lưng * Không được tay không sạch mà đắp y * Không được đem đèn của Phật dùng riêng cho mình. Thắp đèn, phải lấy lồng che kín, đừng để loại phi trùng gieo vào *
            (44) Không được đi dạo * Không được cùng người kết làm bà con bạn bè * Không được ở chỗ khuất khỏa thân, tự mân mê thân thể.
 
Không được soi gương xoa mặt, kẻ mắt, vẽ mày * Lên đơn xuống đơn đều phải nhẹ nhàng, đừng làm người trên đơn bên cạnh động niệm. Không được trên đơn may vá áo chăn.
                        Thứ 12 làm việc
            (45) Phải thương tiếc vật của tăng chúng. Phải tùy giáo lịnh của vị trí sự, không được trái, bướng * Phàm rửa rau, phải ba lần đổi nước. Phàm múc nước, trước phải sạch tay * Phàm dùng nước, phải nhìn kỹ có trùng không trùng, nếu có trùng thì lấy là dày lọc đi mới dùng; mùa đông lạnh lắm thì không được lọc
nước sớm, phải chờ mặt trời mọc. Phàm đốt bếp, không được đốt củ thối mục * Phàm làm đồ ăn, không được để bẩn trong móng tay *
            Để bẩn trong móng tay, dịch đúng nguyên văn là mang theo cái bẩn trong móng tay. Phật không cho để móng tay, dài lắm cũng chỉ bằng hạt lúa mạch (Vạn 106/166 và 226).
            (46) Phàm đổ bỏ nước dơ, không được đổ ra đường đi, không được cao tay dơ lên đổ xuống bắn ra; phải cách đất bốn năm tấc từ từ đổ bỏ nước ấy. Phàm quét đất, không được quét ngược gió, không được dồn đất bụi vào sau cánh cửa * Giặt áo trong, trước hết
 
phải nhặt bỏ rận chấy. Những tháng hè, dùng chậu nước rồi, phải lật úp xuống làm cho khô ráo, nếu để ngửa ra là sinh trùng * Không được nước sôi đang nóng mà rót bắn trên đất.
Thứ 13 vào nhà tắm
            (47) Không được cùng ưu bà di tắm rửa chung. Không được cùng tỳ sử tắm rửa chung. Không được cùng trẻ con tắm rửa chung * Trước, lấy nước nóng rửa mặt. Rồi từ trên đến dưới, từ từ mà rửa. Không được tinh nghịch, lấy nước nóng tạc người khác. Không được trong nhà tắm mà tiểu giải. Không được tự nhìn chỗ ẩn của
 
hình thể. Không được cùng người nói cười * Phàm có ghẻ nhọt, ghẻ lở, thì nên tắm sau; hoặc có ghẻ nhọt đáng sợ, càng nên tránh đi. Không được mặc ý tắm rửa lâu, trở ngại người sau * Cởi áo mặc áo nên thung dung tự tại * Cần nước nóng để nguội hay còn nóng thì y lệ mà đánh mõ dài, không được gọi lớn.
            Tinh nghịch,  nguyên văn là thô táo. Đọc thô táo là sai. Táo, bộ túc, là lấc cấc, vội vàng. Còn tháo, bộ mễ, là gạo mới xay (tính tình y nguyên, chưa thuần hóa). Tì sử: tớ gái. Mõ dài là đục thủng gỗ hay đốt tre mà thành. Nhưng ở đây là loại nhỏ, không phải lớn như mõ làng, mõ quan.
             Thứ 14 vào nhà xí
            (48) Muốn đại tiện tiểu tiện thì đi ngay, đừng đợi trong cơ thể bức bách mà thản thốt. Trên sào tre treo áo trực chuyết thì phải gấp xếp cho tề chỉnh, lấy khăn tay hoặc dây lưng buộc áo ấy, một là làm dấu nhận biết, hai là phòng rơi xuống đất. Phải cởi đổi giày dép, không được mang giày dép sạch vào nhà xí * Không được cùng người đi chung một lần trong nhà xí. Không được vào trong nhà xí đàn ông * Đến nhà xí, phải đàn chỉ hoặc dặng hắng, để cho người ở trong đó biết. Không được thúc bách người ở trong đó cho họ phải ra. Đã lên
 
nhà xí, lại phải đàn chỉ ra tiếng, làm cho loài không phải người trong nhà xí biết *
            Áo trực chuyết là áo nhật bình của xứ ta ngày nay. Đàn chỉ, ở đây là 4 ngón tay của 2 bàn tay đánh vào nhau, tức gần như vỗ tay.
            (49) Không được cúi đầu nhìn xuống. Không được cầm cỏ vẽ đất. Không được rán hơi ra tiếng. Không được cách vách cùng người nói chuyện. Không được nhổ nước miếng vào vách * Tiện lợi hoàn tất, phải trước hết rửa sạch, kế đó rửa tay; chưa rửa tay thì không được cầm nắm đồ vật. Chưa rửa sạch và rửa tay, thì gặp
 
người không được thi lễ; phải nghiêng mình tránh họ. Không được ven theo đường vừa đi vừa buộc áo, dải.
            Không được nhổ nước miếng vào vách, nói chung, nhổ gì và nhổ vào đâu cũng cấm. Chỉ được nhổ xuống chỗ đại tiểu tiện. Nhưng đại tiểu xong thì phải dội rửa chỗ ấy cho thật sạch, trước khi rời nhà xí. Tiện lợi hoàn tất, phải trước hết rửa sạch, kế đó rửa tay. Rửa sạch, nguyên văn là tẩy tịnh. Tiện lợi rồi, quan trọng là tẩy tịnh, rửa tay, súc miệng, mà tẩy tịnh quan trọng nhất. Coi Tỳ ni.
                        Thứ 15 nằm ngủ
            (50) Ở đâu, ngủ không trước
 
người, dậy không sau người * Không được cùng đại Tỷ kheo ni ngủ đồng phòng. Không được cùng sa di ni đồng sự và thức xoa ma na chung giường, nếu không có giường khác thì không được chung chăn, nếu không có chăn khác thì phải ai cũng mặc áo lót mình *  Không được vào trong tháp Phật mà ngủ, trừ vì giữ gìn tháp ấy. Nằm ngủ nên xoay đầu về phía Phật. Nên nằm cong lưng, không được duỗi cẳng, không được ngả ngửa, co duỗi. Không được hở hang tự lộ. Không được để tay gần chỗ bất tịnh * Phàm treo giày, tất, áo nhỏ vân vân, không được quá đầu và mặt người *
 
Không được cùng người trên đơn bên cạnh nói chuyện, động chúng * Thiện kiến luật nói, khi sắp ngủ thì trước phải tưởng nhớ Phật, tưởng nhớ Pháp, tưởng nhớ Tăng, tưởng nhớ giới luật, tưởng nhớ chư thiên, tưởng nhớ vô thường; trong 6 sự tuong3 nhớ như vậy, tùy đó mà tưởng nhớ.
            Sa di ni đồng sự là đồng một việc làm của Sa di ni hay đồng học một thầy. Nằm cong lưng, mấy chữ này còn thiếu. Phải nói rõ hơn: nằm nghiêng bên phải, đứng mình nhưng hơi cong lại, 2 chân chồng nhau, tay phải đỡ tai và má phải, tay trái duỗi theo trên mình. Đó là cách nằm gọi là cát tường. Niệm Phật, niệm Pháp,
 
niệm Tăng, niệm giới, niệm thiên, niệm vô thường, đó là lục niệm. Nhưng pháp số lục niệm thường kể là: Một, niệm Phật, là niệm Phật đầy đủ 10 đức hiệu, có đại từ bi, đại quang minh, thần thông vô lượng, có thể cứu bạt khổ não cho chúng sinh, và mình mong muốn được như Phật. Hai, niệm Pháp, là niệm 3 tạng 12 loại của Phật nói có công đức lớn, làm thuốc thần vĩ đại cho mọi chúng sinh, và mình không muốn chứng được pháp ấy để đem cho tất cả. Ba, niệm Tăng, là niệm Tăng là đệ tử của Như lai, được pháp vô lậu, đầy đủ giới định tuệ, có thể làm ruộng phước tốt cho thế gian, và mình mong muốn tu cái hạnh của Tăng. Bốn, niệm giới, là niệm giới hạnh có năng lực lớn, có thể trừ khử cái ác của
chúng sinh và các pháp bất thiện, và mình mong muốn tinh tiến giữ giới ấy. Năm, niệm thí, là niệm hạnh bố thí có công đức lớn, có thể trừ khử cái bịnh nặng nề về sự tham lẫn của chúng sinh, và mình mong muốn đem sự bố thí ấy nhiếp hóa mọi người. Sáu, niệm thiên, là niệm chư thiên dục giới sắc giới và không giới, họ hưởng thụ khoái lạc tự nhiên là do quá khứ đã tu thiện căn giữ giới và bố thí, và mình cũng muốn tu đủ các thiện căn như vậy… Lục niệm như vậy là thuyết chung của đại thừa tiểu thừa. Duy niệm thiên thì đại thừa tiểu thừa nói khác nhau. Đại thừa, theo kinh Niết bàn, nói thiên có 3 loại, là (a) sinh thiên, là chư thiên trong tam giới; (b) tịnh thiên, là hiền thánh của tam thừa; (c)
Đệ nhất nghĩa thiên, là niết bàn (Bảo 641). Ở đây, thay vì niệm thí, nguyên văn trên nói niệm vô thường: đó là cái khác chút ít, nhưng rất quan trọng. Chiêm nghiệm lấy cũng có thể thấy được sự quan trọng ấy.
                        Thứ 16 quanh lò lửa
            (51) Không được giao đầu tiếp tai nói chuyện. Không đượcgảy búng cáu bẩn vào trong lửa. Không được hơ sấy giày tất * Không được hơ lửa quá lâu, trở ngại người sau. Hơi ấm, liền nên về chỗ.
            Không được gảy búng cáu bẩn vào trong lửa, mà Luật còn cấm bỏ vào lửa những thứ lông tóc, móng tay,
mũi dãi, da máu, bánh trái, thuốc độc.
                        Thứ 17 ở trong phòng
            (52) Chào hỏi nhau, phải biết lớn nhỏ. Tứ phần luật nói, Sa di nên lấy năm sinh làm thứ tự, nếu năm sinh ngang nhau thì nên lấy năm tháng xuất gia làm thứ tự. Tuy nhiên, hãy lấy đức tính khiêm tốn hòa nhã mà làm cao thượng. Sa di ni cũng vậy * Muốn cầm lửa đèn vào, phải bảo trước trong phòng biết, rằng tôi cầm lửa đèn vào; muốn tắt lửa đèn, phải hỏi trước người cùng phòng còn dùng nữa không. Không được dùng miệng thổi tắt lửa đèn, mà nên từ từ hạ tim làm cho tắt đi.
Sau khi tắt đèn không được lớn tiếng tụng niệm *
            (53) Nếu có bịnh nhân thì nên từ tâm coi sóc từ đầu đến cuối. Có người ngủ thì không được đụng đồ ra tiếng, và lớn tiếng nói cười * Không được vô cớ vào phòng khác * Không được ho nhổ xuống nền đất sạch và bốn phía tường vách trong phòng * Không được cùng bạn hý luận, nói việc thế gian, không cấp bách.
            Nếu có bịnh nhân thì nên từ tâm coi sóc, vì đức Thế tôn dặn đi dặn lại, rằng muốn hiến cúng Như lai thì phải cung dưỡng người bịnh. Ngài lại nói 5 tư cách phải có của sự chăm sóc bịnh nhân (coi Tỳ ni). Đức Thế tôn
lại nói bài kệ sau đây, trong kinh Thiện sinh: “Hãy săn sóc bịnh tật , thăm hỏi người nguy khốn; thiện ác có quả báo, như trồng hạt được trái. Như lai thì là cha, còn Phật pháp là mẹ, đồng học là an hem, do đó được giải thoát” (Vạn 106/169 và 230 dẫn). Hý luận nghĩa đen là bàn chơi, là nói bàn phi lý, vô nghĩa. Lại bất kể hữu lý hay phi lý, hễ nói bàn là hý luận rồi. Như kẻ làm trò, loạn tâm mà động tác thân và miệng đủ cách, chỉ thích ý người coi mà sự việc không thật, động tác của kẻ vọng kiến cũng vậy, nên gọi là hý luận. Do đó, hý luận là ngôn luận của ái và kiến (Bảo 2790). Việc thế gian không cấp bách, đối với người xuất gia, việc cấp bách là sinh tử sự đại, là giải quyết
vấn đề sinh tử. Ngoài ra không có gì gọi là cấp bách cả.
Thứ 18 đến nhà đàn việt
            (54) Có chỗ ngồi khác mới nên ngồi, không được ngồi tạp. Không được ngoái nhìn hai bên. Không được cùng tớ gái nói riêng với nhau * Người ta hỏi kinh thì phải biết lúc, thận trong đừng làm cái việc nói không phải lúc. Thuyết pháp chon am tử thì không được thấp tiếng nói thầm. Không được nói nhiều. Không được nói dối trá chánh pháp của Phật, đáp rối loạn lời hỏi của người, tự khoe đa văn, cầu họ cung kính. Không được trá hiện uy nghi, giả trang
thiền tướng *
            Đa văn: nghe nhiều, tức học rộng. Trá hiện uy nghi, uy nghi là cử động đáng kính và khuôn phép; làm bộ có uy nghi ấy, gọi là trá hiện uy nghi. Giả trang thiền tướng, thiền tướng là hình dáng điềm tịnh, siêu thoát; làm bộ có thiền tướng ấy gọi là giả trang thiền tướng.
            (55) Chủ nhân thiết trai, dẫu không phải pháp hội, cũng đừng bỏ nghi thức. Không được đến ngồi dưới bếp mà ăn. Không được ngồi xen tiệc rượu * Không được ở trong nhà vắng hoặc ở chỗ khuất, cùng nam tử ngồi với nhau, nói với nhau. Không được thư từ qua lại, và mượn nhờ vân
vân * Không được đưa biếu lễ vật, học đòi sự giao hảo của người đời. Không được cùng người đời kết làm cha mẹ, chị em, an hem. Không được lo liệu việc nhà của người * Không được nói lỗi lầm trong tăng chúng *
            Pháp hội: tập hợp để thuyết Pháp, cúng Phật, trai Tăng. Ở đây là trai Tăng. Nghi thức là nghi thức thọ trai.
            (56) Đến nhà tục thăm người thân, phải trước hết vào nhà chính lạy Phật, hoặc đến trước tượng thánh trong nhà nghiêm chỉnh chắp tay, thứ đến cha mẹ bà con vân vân, nhất nhất thăm
 
hỏi. Không được hướng về cha mẹ nói những việc như cái nghiêm của phép thầy, cái khó của xuất gia, cô lieu đạm bạc, gian nan khổ sở, vân vân; nên vì cha mẹ mà nói Phật pháp, làm cho cha mẹ phát sinh tín tâm và tăng trưởng phước đức. Không được cùng thân tộc, thiếu niên vân vân, ngồi lâu đứng lâu, nói tạp giỡn cười * Không được cùng ưu ba di coi hình thể của nhau mà cả cười. Không được một mình đứng sau nhà người. Đừng phạm cái lỗi đi đêm * Nếu trời tối, ngủ lại, phải dùng riêng một giường, ngồi nhiều nằm ít, nhất tâm niệm Phật; việc xong về liền, không
được lưu luyến.
            Tượng thánh, như tượng Quan công, Thánh Trần, v/v. Niệm Phật: tưởng nhớ đến Phật qua 3 cách: niệm danh hiệu của Ngài, quán tưởng tướng hảo của Ngài, tưởng niệm công đức (phẩm chất) của Ngài. Cách thứ ba là niệm 10 đức hiệu của Ngài, kê và dịch như sau: (1) Như lai: bậc Đến như chư Phật; (2) Ứng cúng: bậc Thích ứng hiến cúng; (3) Chánh biến tri : bậc Biết đúng và khắp ; (4) Minh hạnh túc : bậc Đầy đủ sự sáng ; (5) Thiện thệ : bậc Khéo qua niết bàn ; (6) Thế gian giải : bậc Lý giải vũ trụ ; (7) Vô thượng sĩ : bậc Không ai trên nữa ; (8) Điều ngự trượng phu : bậc Thuần hóa mọi người ; (9) Thiên nhân sư : bậc Thầy cả trời người ; (10)
 
 
Phật : bậc Tuệ giác hoàn toàn ; (11) Thế tôn : bậc Tôn cao nhất đời. Đức hiệu có 10 mà thành 11 : 1- 10 là 10 đức hiệu riêng, đức hiệu 11 là chung (vì có 10 đức hiệu nên gọi là đấng Thế tôn). Tôi nghĩ rằng lối niệm Phật công đức của Ưu bà tắc giới kinh, Chính 24/1051, và lối niệm Phật pháp thân của Nhiếp đại thừa luận, Chính 31/150, đều xuất từ lối niệm 10 đức hiệu này. “Tâm mà tưởng niệm Phật thì tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật”, “Ai niệm Phật thì người ấy là hoa sen trong loài người” (Phật ngôn, trong Quán kinh).
                        Thứ 19 khất thực
            (57) Nên cùng bậc lão thành đi chung. Nếu không có bậc lão
 
thành đi chung thì phải biết chỗ có thể đi * Đến cửa ngõ của người, phải xét kỹ cử động, không được để mất uy nghi. Nhà không có phụ nữ thì không được vào cửa * Nếu muốn ngồi, trước hết phải xem kỹ chỗ ngồi : có khí giới không nên ngồi, có đồ quí không nên ngồi * Muốn nói kinh, phải biết lúc đáng nói, lúc không đáng nói * Không được nói cho tôi đồ ăn thì làm cho người được phước. Không được khẩn khoản nài nỉ. Không được nói nhiều về nhân quả, mong họ cho nhiều * Không được hay đến nhà thí chủ thân tình hoặc chỗ am viện thân tình mà đòi hỏi thực phẩm.
Đến cửa ngõ của người, phải xét kỹ cử động, không được để mất uy nghi, đúng ra lúc nào cũng phải như vậy, không phải đến cửa ngõ mới như vậy.
                        Thứ 20 vào chỗ dân cư
            (58) Có lý do cần thiết, là việc của Tam bảo và thăm bịnh vân vân, mới vào ; không có lý do cần thiết thì không được vào. Tức như có vào thì cũng kiếm người đúng phép làm bạn đi theo * Không được đi như chạy. Không được đi mà lay động cánh tay. Không được đi mà nhìn qua hai bên những người và vật ; nên mình thẳng, mắt bằng, nhìn ngay
 
mà đi. Không được đi mà cùng thiếu niên nói cười. Không được đi mà cùng nam nhân trước sau theo nhau. Không được đi mà cùng nam tăng trước sau theo nhau. Không được đi mà cùng người say người cuồng trước sau theo nhau *
            Người đúng phép : người đủ tư cách hợp với giới pháp (Bảo 1093).
            (59) Gặp tôn túc, thân thức, thì nên đứng chỗ thấp hoặc đứng một bên, chào hỏi trước. Gặp những sự kỳ lạ như trò chơi, ảo thuật vân vân, đều không nên xem. Hoặc gặp quan quyền, bất luận lớn nhỏ, đều nên tránh đi.
Gặp kẻ đánh nhau cãi nhau, cũng nên tránh xa, không được đứng ngó * Phàm gặp nước hố, nước lỡ, không được nhảy qua ; có đường khác thì nên đi vòng quanh, không có đường khác mà mọi người cùng nhảy qua thì được * Không được về chùa khoa trương những sự kỳ lạ đã thấy.
            Tôn túc, thân thức. Tôn túc là bậc xuất gia tuổi cao, đức lớn. Thân thức là người tại gia nhưng là đại thiện tri thức. Mình là Sa di ni thì phải kính nhường.
                        Thứ 21 mua đồ
            (60) Đừng tranh đắt rẻ. Nếu bị người xúc phạm thì phương tiện
 
tránh đi, đừng theo mà mưu cầu giá rẻ. Đã hứa mua vật của ai, thì dẫu vật của người khác rẻ hơn, cũng đừng bỏ vật ấy lấy vật này, làm cho chủ vật ấy tức giận * Thận trọng, đừng bảo lãnh kẻo dẫn đến lầm lỡ và mắc nợ.
                        Thứ 22 làm gì cũng không được tự ý
            (61) Ra vào đi về, phải bạch thầy trước. Sắm pháp y mới, phải bạch thầy trước ; mặc pháp y mới, phải bạch thầy trước. Cạo đầu, phải bạch thầy trước. Tật bịnh uống thuốc, phải bạch thầy trước. Làm việc tăng chúng, phải bạch thầy trước. Muốn có đồ
 
riêng thuộc loại giấy bút, phải bạch thầy trước. Tụng kinh tan kệ, phải bạch thầy trước *
            Pháp y, ở đây, sắm để dùng là man y ; sắm cất để chuẩn bị thọ đại giới là 3 pháp y. Tụng kinh tán kệ, nguyên tại Ấn, hễ vịnh pháp ngôn thì gọi là pathaka. Qua Tàu, vịnh kinh gọi là tụng kinh, vịnh kệ gọi là phạn bối. Bối là dịch âm và gọi tắt pathaka (bối nặc), Phạn là Phạn độ (Ấn độ) : phạn bối là vịnh kệ theo cách của Ấn, nên tôi dịch là tán kệ. Tán kệ mà gọi là tán, là vì 3 lý do : một, pathaka dịch nghĩa là tán thán : tán thán Tam bảo ; hai, tiếng tán có âm điệu ; ba, các bài kệ cũng có âm vận. Tán kệ
tại Tàu do thi nhạc hào Tào Thực sang chế, do tam tạng cư sĩ Chi Khiêm và tam tạng pháp sư Khang Tăng Hội tiếp tục. Thi nhạc hào Tào Thực là con thứ 3 của Tào Tháo, người hậu diệp thế kỷ 2 và tiền diệp thế kỷ 3, có thiên tài về văn, thi, nhạc. Đi chơi núi Ngư sơn, nghe tiếng nước chảy của hang núi mà tự cảm ra được, chế thành phạn bối. Có nơi nói, nghe tiếng tụng kinh từ hang xa dội ra tuyệt mỹ, phỏng mà chế ra phạn bối. Chi khiêm, cư sĩ, quá xứng đáng được gọi là tam tạng cư sĩ. Qua Tàu thời Tam quốc, niên đại dịch kinh là 223-253, có biệt hiệu được xưng tặng là Trí nang (Đãy trí). Về phạn bối thì có truyền Phạn bối tam khế. Khang Tăng Hội người Khang cư, đời đời ở Thiên trúc, sau
cha vì buốn bán mà dời ở Giao chỉ (bắc bộ Việt nam). Tịnh thông Tam tạng, qua Tàu thời Ngô Tôn Quyền. Ông này dựng chùa Đại báo ân và ngài dịch kinh ở đó. Niên đại: ?-280, về phạn bối thì chính ngài làm Nê hoàn phạn bối.
            (62) Ai đem đồ cho mình, phải bạch thầy trước, thầy cho nhận mới nhận; mình đem đồ cho ai, phải bạch thầy trước, thầy chấp thuận mới cho. Ai mượn đồ, phải bạch thầy trước, thầy chấp thuận mới cho mượn; mình mượn đồ của ai, phải bạch thầy trước, thầy chấp thuận mới mượn * Bạch thầy, thầy chấp thuận hay không chấp thuận, đều phải làm lễ.
Thầy không chấp thuận, không được có ý giận hờn * Không được đứng nơi cửa mà trông ngắm, và lấy ngón tay cắm vào trong miệng.
            Không được đứng nơi cửa mà trông ngắm, và lấy ngón tay cắm vào trong miệng là tả sự vơ vẩn. Nhưng không hiểu vì sao tác giả để câu này ở đây. Vị trí câu này nên dời lại mục nhập chúng. Và dầu để ở đâu, người xuất gia, trong đó có Sa di ni, phải tự luyện làm sao chon gay trong trạng thái “vô ký” cũng không vơ vẩn đến như vậy, thì sự tinh tiến và tự chủ đã có thể gọi là có sức.
 
                                                                        *
            “Con là ưu ba di, tên xx, xin tác
 
bạch. Con lãnh chịu cái thân uế ác này là bị sung vào hàng ngũ tồi tệ. Con không chịu nổi đời sống hèn hạ nên khắc phục bản thân, tự ý hối cải, nguyện làm đệ tử xuất gia của Phật, lãnh thọ giới pháp của Ngài, trọn đời phụng trì” (Sa di ni giới văn, Chính 24/938).
 
 

 
/31
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »