Năm, lược giải từ ngữ
"Phát bồ đề tâm"
Mục lục
Một, giải thích "bồ đề" :
1. danh nghĩa cũa bồ đề........................................................................................................ 2208
2. loại biệt của bồ đề............................................................................................................. 2210
3. tự tánh của bồ đề................................................................................................................ 2211
4.tương ưng của bồ đề........................................................................................................... 2213
5. năng sinh của bồ đề........................................................................................................... 2215
6. sở đoạn của bồ đề.............................................................................................................. 2216
7. sở duyên của bồ đề............................................................................................................ 2218
8. sở y của bồ đề..................................................................................................................... 2220
9. sở khởi của bồ đề............................................................................................................... 2221
10. sở tác của bồ đề............................................................................................................... 2222
Hai, giải thích "bồ đề tâm" :
1. tâm cầu bồ đề gọi là bồ đề tâm........................................................................................ 2223
2. tâm có bồ đề gọi là bồ đề tâm.......................................................................................... 2224
3. bồ đề là tâm gọi là bồ đề tâm.................................................................................................. 2224
Ba, giải thích "phát bồ đề tâm" :
1. tự tánh phát......................................................................................................................... 2226
2.tự trợ phát............................................................................................................................. 2228
3. thiện căn phát..................................................................................................................... 2228
4. đẳng lưu phát...................................................................................................................... 2229
5. đoạn chứng phát................................................................................................................. 2229
Bài này tác giả là Thái hư đại sư, nằm trong Thái hư toàn thư, tập 9, các trang 755-766. Bài này tôi động đến 4 lần. Năm 1946 dịch tại chùa Phúc chính, Ninh bình. Năm 1947 dịch lại cạnh mẹ tôi, tại khu tản cư Quảng bình, cả 2 lần này bản thảo đều mất. Năm 1950 lược thuật đăng Viên âm, rồi in trong Tâm ảnh lục. Nay viết phỏng lại trong sách này, phụ lục cho tiểu phẩm 3. vì là phụ lục nên tôi không giải thích, dầu bài này đáng giải thích nhất.
Nhờ bài này, người học Phật sẽ biết vì sao nói bồ đề tâm mà như nói về
chân như, nói về thiện pháp, nói về tâm tánh, nói về Phật quả. Nên bài này phải được đọc, dạy và học cho kỹ.
Phát bồ đề tâm là căn bản của việc học Phật, nhưng bồ đề là gì, bồ đề tâm là thế nào, phát bồ đề tâm cách nào, cả 3 câu hỏi vẫn cần phải giải thích.
Một, giải thích "bồ đề"
-
danh nghĩa của bồ đề
Danh nghĩa của bồ đề tức là định nghĩa về chữ ấy. Bồ đề là dịch âm Phạn tự bodhi. Dịch nghĩa chữ này, nhiều chỗ nói phái cũ dịch là đạo, phái mới dịch là giác. Nhưng cũ là ai, không thấy nói rõ, còn mới thì chính là ngài
Huyền tráng.
Chữ đạo có 2 nghĩa : nghĩa thông thường là đường đi, nghĩa triết lý là đức lý (bản thể siêu việt). Bồ đề mà dịch là đạo, là lấy cái nghĩa đức lý, và đức lý ấy chính là sở y của bồ đề sẽ nói ở nghĩa thứ 8.
Bồ đề mà dịch là giác, là cái giác trong chữ giác ngộ. Tuy giác là nghĩa đen của bồ đề, nhưng không bao hàm được nghĩa đức lý, huống chi còn có thể lẫn lộn với cảm giác, ảo giác, tri giác, ác giác, là những cái giác trái với bồ đề. Tất cả cái giác này, đối vói bồ đề, đích thị gọi là mê. Do
Dó, bồ đề là giác, nhưng cái giác chống mê, hết mê, cái giác thuần, chính, mới là nghĩa của chữ bồ đề.
Vì nghĩa của chữ bồ đề như trên đây nên ngài La thậpđã dịch là vô thượng trí tuệ : tuệ giác siêu việt (Trí độ luận cuốn 44), và ngài Tăng triệu cho biết không có chữ nào hơn để dịch, vì bồ đề là cái chân lý giác ngộ bản thể siêu việt một cách chính xác (Duy ma kinh chú).
2. loại biệt của bồ đề
Loại biệt của bồ đề là phân loại về tuệ giác ấy. Bồ đề là giác, giác thì phải hết mê. Nên
giác hiện hành thì mê phải tiêu diệt. Do đó mà phải là tuệ giác của liệt vị thánh giả hết mê mới là bồ đề. Ngoài ra, không có tuệ giác của ai được gọi bằng danh hiệu này. Thánh giả hết mê có thể phân ra ba, nên bồ đề có 3 loại khác nhau, đó là Thanh văn bồ đề, Độc giác bồ đề, Vô thượng bồ đề.
3. tự tánh của bồ đề
Tự tánh hay tự thể tướng, ở đây nghĩa là bản thân. Bản thân bồ đề, theo tam thừa cọng pháp, tức là cả 3 loại bồ đề, thì nó là vô lậu tuệ (tuệ là tuệ tâm sở, tuệ ấy đã không còn ô nhiễm nữa gọi
là vô lậu tuệ). Còn theo đại thừa bất cọng pháp, tức riêng vô thượng bồ đề, thì là 4 trí thanh tịnh.
Lấy 4 trí thanh tịnh làm bồ đề thì thật tam thừa thánh giả chưa được gọi là bồ đề, vì lẽ Thanh văn và Độc giác chưa phải biến tri, còn Bồ tát chưa phải vô thượng, mà phải là vô thượng chánh biến giác của Phật địa mới thật là bồ đề. Như vậy, nói tam thừa bồ đề chỉ là bình đẳng tướng, nói vô thượng bồ đề mới là thù thắng tướng. Thù thắng tướng có nghĩa viên mãn cả 4 trí, còn bình đẳng tướng có nghĩa chỉ được
một phần của diệu quán sát trí trong 4 trí ấy. Lấy diệu quán sát trí mà nói bồ đề thì cả tam thừa đều được gọi là bồ đề, nhưng lấy cả 4 trí mà nói bồ đề thì chỉ Phật địa mới được gọi là bồ đề mà thôi.
Lấy 4 trí làm bồ đề, nghĩa này Thiên thai tông gọi là "thật trí bồ đề".
Tuy nhiên, lấy 4 trí làm bản thân bồ đề chỉ là thuyết của Duy thức. Ngoài thuyết ấy, Câu xá luận nói là 2 trí, Mật tông nói là 5 trí, đặc biệt và quan trọng, trí độ luận nói là 3 trí.
4. tương ưng của bồ đề
Tương ưng của bồ đề là nói về phụ thuộc của tuệ giác ấy. Ai nấy đều biết,toàn bộ tâm thức chia ra 4 hệ thống, là đệ bát thức, đệ thất thức, đệ lục thức, tiên ngũ thức. Bốn hệ thống củ "thức" khi chuyển thành "trí" thì có 4 hệ thống gọi là 4 trí : đại viên cảnh trí (đệ bát thức) bình đẳng tánh trí (đệ thất thức) diệu quán sát trí (đệ lục thức) thành sở tác trí (tiền ngũ thức). Nói tương ưng của bồ đề là nói tâm vương và tâm sở của 4 trí ấy.
Như trên đã nói, bản thân của 4 trí đích thị là "vô lậu tuệ". Khi chuyển thức thành trí thì, vì đề
cao "trí", nên dầu vô lậu tuệ vốn chỉ là tuệ tâm sở trong 5 tâm sở biệt cảnh, vẫn giáng "thức" xuống làm tâm vương tương ưng của nó, đưa nó lên làm chủ và gọi là "trí".
Tâm vương tâm sở tương ứng với 4 trí, thì trí não cũng có 21 thứ tương ưng : tâm vương, tức thức của nó, là 1 ; tâm sở, biệt cảnh còn 4, biến hành có 5, thiện pháp có 11.
5. năng sinh củ bồ đề
Năng sinh là những cái có khả năng phát sinh, tức là duyên. Bồ đề hiện hành là do tiêu diệt mê, vậy nó cũng là pháp duyên sinh.
Duyên sinh bồ đề, như các pháp khác, cũng có 4 duyên : Nhân duyên, là chủng tử của vô lậu tuệ (loại bản hữu). Tăng thượng duyên, là thiện hữu (Phật, Bồ tát, sư trưởng, đồng học) và thánh giáo (Phật pháp). Đẳng vô gián duyên, là sự liên tục dẫn sinh vô lậu tuệ của hữu lậu tuệ. Sở duyên duyên là cảnh thánh đã quán và cảnh khổ đã thấy nghe. Bốn duyên chỉ là tổng mục. Chi tiết của duyên sinh bồ đề còn nhiều nữa, như kinh luận đã nói không ít.
6. sở đoạn của bồ đề
Sở đoạn là những thứ bi tiêu
diệt, gọi là chướng. Được bồ đề nghĩa là được thánh quả. Do đó, dầu sự được thánh quả của các vị hữu học vẫn có thể gọi là được bồ đề. Nên sơ quả sắp lên của nhị thừa, sơ địa sắp lên của đại thừa, đều do bồ đề tiêu diệt chướng của nó mà thực hiện. Chướng ấy là gì, và trí nào diệt chướng nào ? Một, ở nhị thừa, phiền não chướng là sở đoạn, bồ đề trí phần sinh không là năng đoạn. Hai, ở đại thừa, sơ địa thì phần phân biệt của phiền não chướng và sở tri chướng là sở đoạn, còn năng đoạn là bồ đề gồm cả sinh không và pháp không ; đến Phật địa thì chủng
tử của 2 chướng là sở đoạn, còn năng đoạn là cả 4 trí của bồ đề.
Luận nói, bồ đề, bồ đề đoạn và bồ đề xứ, đều gọi là bồ đề. Bồ đề là tự tánh và tương ưng của nó (tức nghĩa thức 3 và nghĩa thứ 4 ở trên), bồ đề đoạn là sở đoạn của nó (tức nghĩa thứ 6 ở đây), bồ đề xứ là sở duyên của nó (yu7c1 nghĩa thứ 7 ở dưới).
Khi 2 chướng đã đoạn, có nghĩa đã đoạn hoặc, hoặc đoạn thì nghiệp mất, và khổ (sinh tử luân hồi) cũng dứt.
7. sở duyên của bồ đề
Sở duyên là những đối cảnh được biết, gọi là cảnh. Như đã
nói, 4 trí bồ đề tương ưng với tất cả tâm vương tâm sở, vậy hết thảy đối cảnh của tâm vương tâm đều là sở duyên của bồ đề, nghĩa là bồ đề thì không pháp nào mà không biết. Bồ đề lại còn biết tự tánh (bản thân) của nó, vì nó là pháp vô lậu. Như vậy, tâm vương tâm sở vô lậu của các bậc Vô thượng chánh biến tri có khả năng giác ngộ tất cả, nghĩa là tất cả các pháp đều là đối cảnh sở duyên của 4 trí bồ đề. Tuy nhiên, vẫn có một chút khác biệt trong đó, là thành sở tác trí chỉ duyên tục không duyên chân, còn 3 vị trí kia thì tự tha đều biết, chân tục đều ngộ. Do đó mà trí của Phật
thì đã biến tri cảnh giới của mình, lại biến tri cảnh giới chúng sinh, cả đến chân như cũng là sở duyên của vô phân biệt trí của Phật.
8. sở y của bồ đề
Sở y là chỗ y cứ, tức bản thể của bồ đề. Bồ đề là pháp do duyên sinh, thì cũng là pháp do duyên diệt, có nghĩa bồ đề cũng sinh diệt trong từng sát na. Thế nhưng bồ đề sinh diệt mà vẫn liên tục, là nhờ thân chứng chân như, tức bản thể bất sinh diệt. Bồ đề lại không sát na nào không tương ưng với chân như, nên bồ đề luôn luôn hiện hành
Bản thề chân như mà bồ đề y cứ, Thiên thai tông gọi là "chân tánh bồ đề".
10. sở khởi của bồ đề
Sở khởi là những cái được phát khởi ra. Những cái mà bồ đề phát khởi là những gì Phật địa hiện khởi. Những cái ấy là thân độ của Phật địa. Thân là thân thể, độ là quốc độ của thân. Thân độ của Phật địa gồm có tự thọ dụng (tự thọ dụng đại thừa pháp lạc) có tha thọ dụng (cho thập địa bồ tát) có thắng ứng hóa (cho các thánh giả khác) có liệt ứng hóa (cho cả phàm thánh). Thứ 1 là thù thắng tướng của đại
thừa, các thứ 2, 3 và 4 là bình đẳng tướng quán thông nhân quả, đại thừa tiểu thừa.
11. sở tác của bồ đề
Sở tác, nghĩa là việc làm. Việc bồ đề làm chính là việc làm của Phật mà Pháp hoa đã nói là khai thị tuệ giác của Phật cho chúng sinh ngộ nhập. Vì việc làm này, kinh Địa tạng nói Phật làm đến cả núi sông, luận Khởi tín nói Phật làm đến cả tôi tớ. Như vậy, chúng sinh mà đoạn chướng chứng quả, tất cả toàn do năng lực phương tiện xuất từ đại bi nguyện lực của Phật, có nghĩa toàn là năng lực của bồ đề
Nghĩa này, cùng nghĩa thứ 9 ở trên, Thiên thai tông gọi là phương tiện bồ đề.
Hai, giải thích "bồ đề tâm"
Trong loại biệt của bồ đề (nghĩa thứ 2) đã nói tam thừa toàn là bồ đề, thế nhưng ở đây chỉ căn cứ Vô thượng bồ đề mà giải thích về bồ đề tâm.
-
tâm cầu bồ đề gọi là bồ đề tâm
Tâm cầu Vô thượng bồ đề gọi là bồ đề tâm, thì tâm ấy là thệ nguyện, tức dục tâm sở trong 5 tâm sở biệt cảnh. Dục tâm sở không cầu bồ đề của Thanh văn, Độc giác và Bồ tát, mà chỉ cầu Vô thượng bồ đề, nên gọi là bồ
đề tâm. Và như vậy thì chữ phát trong từ ngữ phát bồ đề tâm có nghĩa là lập : lập cái chí nguyện mong cầu vô thượng bồ đề, gọi là phát bồ đề tâm. Đó là cái nghĩa đầu tiên và quan trọng nhất về sự phát bồ đề tâm của người học Phật.
2. tâm có bồ đề gọi là bồ đề tâm
Tâm có bồ đề gọi là bồ đề tâm, thì tâm ấy chỉ cho tất cả tâm vương tâm sở tương ưng với bồ đề : tất cả tâm này có cái tuệ giác bồ đề, nên gọi là bồ đề tâm.
3. bồ đề là tâm gọi là bồ đề tâm
Bồ đề là tâm gọi là bồ đề tâm, nghĩa này có 3
tâm chỉ cho tất cả tâm vương tâm sở tương ưng với bồ đề, còn bồ đề chỉ cho tuệ tâm sở : trong tất cả 4 hệ thống tâm vương tâm sở của 4 trí, hệ thống nào cũng có tuệ tâm sở, nên hệ thống nào cũng gọi là bồ đề tâm. Thứ hai, tâm vẫn chỉ cho tất cả tâm vương tâm sở, bồ đề vẫn chỉ cho tuệ tâm sở : tuệ tâm sở cũng là tâm nên gọi là bồ đề tâm. Nghĩa này không đáng chú ý. Thứ ba, tâm vẫn chỉ cho tất cả tâm vương tâm sở, còn bồ đề chỉ cho sư năng duyên, đặc tính của tâm vương tâm sở. Đặc tính này chính là cái mà ta gọi là linh giác : tâm vương tâm sở có cái linh giác bồ
đề nên gọi là bồ đề tâm.
Ba, giải thích "phát bồ đề tâm"
Chữ phát có nhiều nghĩa : phát sinh, phát khởi, phát hiện, phát triển, phát minh... Làm thế nào để phát khởi cái chí nguyện mong cầu Vô thượng bồ đề ? Lại làm sao để phát sinh cho đến phát minh tuệ giác bồ đề ? Nói chung, làm cách nào để phát bồ đề tâm ? Dưới đây giải thích về 5 cách ấy.
-
tự tánh phát
Tự tánh phát là bản thân bồ đề tự phát. Cách này có 2. Thứ nhất, bản thân ấy là đặc tính lonh giác của hết thảy tâm vương
tâm sở. Linh giác tự phát triển thì sẽ thành toàn giác, gọi là tự tánh phát bồ đề tâm. Điều đáng nói, đặc tính tâm vương tâm sở là linh giác, nên khi còn phiền não, đặc tính ấy cũng vẫn y nguyên, phiền não chỉ là hiện tượng thác loạn, như bịnh cũng là của cơ thể, nhưng chỉ là hiện tượng bất thường. Do đó mà linh giác bồ đề của tâm không phát triển thì tâm không bao giờ ổn định được. Thứ hai, bản thân ấy là chủng tử vô lậu, loại bản hữu, của tất cả tâm vương tâm sở. Tất cả tâm vương tâm sở vô lậu, gọi là bồ đề ; chủng tử vô lậu phát khởi hiện hành vô lậu, gọi là tự tánh phát
bồ đề tâm.
2. tư trợ phát
Tư trợ nghĩa là hỗ trợ. Tự tánh bồ đề mà phát được là nhờ sự hỗ trợ. Sự hỗ trợ này có 2. Thứ nhất là thiện hữu, là sự giáo hóa của chư Phật và Bồ tát. Thứ hai là thánh giáo, là sự huân tập của đa văn đối với giáo lý trong ba tạng. Cả 2 yếu tố này hỗ trợ cho sự phát bồ đề tâm, nên gọi là tư trợ phát.
3. thiện căn phát
Các thiện căn được thiện hữu giáo hóa và thánh giáo huân tập mà phát sinh và phát triển, các thiện căn ấy tác động và hỗ trợ
cho thiện tuệ thành vô lậu tuệ, vô lậu tuệ thành vô thượng bồ đề, đó là thiện căn phát bồ đề tâm.
4. đẳng lưu phát
Đẳng lưu nghĩa là bản thân tự liên tục phát triển. Bản thân bồ đề là vô lậu tuệ. Vô lậu tuệ do hữu lậu tuệ dẫn ra, nghĩa là chính bản thân vô lậu tuệ tự phát triển từ hữu lậu đến vô lậu, phát triển cho đến thành vô thượng bồ đề, gọi là đẳng lưu phát.
5. đoạn chứng phát
Là phát bồ đề tâm bởi sự đoạn chướng chứng nhân. Trải qua
các địa vị tu chứng, hễ đoạn chướng chứng chân bao nhiêu, thì vô lậu hiện hành, nghĩa là bồ đề phát hiện, bấy nhiêu. Do đó, đoạn chứng phát là sơ địa thì phát hiện, các địa thì phát triển, cho đến Phật đia thì cứu cánh đoạn chứng nên thành cứu cánh phát bồ đề tâm.
Tiểu phẩm này, tôi không lược giải (kể cả ghi chú), quả thật có ý để kích thích sự tự học hỏi của lớp người sau tôi, Trí quang.