Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Tổng Tập Giới Pháp Xuất Gia (Tập 1 & 2)

Tổng Tập Giới Pháp Xuất Gia (Tập 1 & 2)

Tác giả: Tỷ Kheo Trí Quang. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 2264.

Chương 31: 3. SáuTiểu Phẩm Hộ Giới: Sáu, Kinh Bát Đại Nhân Giác (Trang 2231 - 2264)



Sáu, kinh Bát đại nhân giác
Mục lục

 

Đầu đề, tài liệu và dịch giả............................................................................................................ 2235
Dịch giải kinh Tám điều thượng nhân giác ngộ,
có 3 phần :
Phần một : mở đầu.......................................................................................................................... 2242
Phần hai : liệt kê............................................................................................................................. 2243
           Điều giác ngộ một tự lợi 1 : tu niệm xử............................................................................. 2243
           Điều giác ngộ hai tự lợi 2 : tu thiểu dục............................................................................ 2245
           Điều giác ngộ ba tự lợi 3 : tu tri túc................................................................................... 2246
           Điều giác ngộ bốn lưỡng lợi 1 : tu tinh tiến...................................................................... 2248
           Điều giác ngộ năm lưỡng lợi 2 : tu trí tuệ......................................................................... 2249
           Điều giác ngộ sáu lợi tha 1 : tu bố thí............................................................................... 2251
           Điều giác ngộ bảy lợi tha 2 : tu ly nhiễm.......................................................................... 2254
           Điều giác ngộ tám lợi tha 3 : tu chịu thay......................................................................... 2258
Phần ba : kết thúc........................................................................................................................... 2260
 


Giác ngộ cùng gọi là giác tri, là 2 từ ngữ mà nguyên văn kinh này đã dùng, diễn tả tuệ giác tối thượng chứ không phải trí tuệ bình thường, trong tu nhân, diễn tả sự tư duy, ít nhất là sự ý thức sâu xa, chứ không phải cái biết hời hợt. Thượng nhân là đổi chữ đại nhân, và chiếu theo nguyên văn lời kết thúc, thì từ ngữ ấy chỉ cho chư Phật, Bồ tát. Kinh này trích lục Phật ngôn mà tập thành, không phải là một

pháp thoại tức một bản kinh. Do đó mà có bản ghi "hiền thánh đất Ấn biên tập" (Chính 17/715). Tôi ước lượng có thể chính dịch giả trích và dịch thành kinh này.
            Tài liệu chính dùng để dịch giải kinh này là Phật thuyết bát đại nhân giác kinh (Chính 17/715) Bát đại nhân giác kinh lược giải (Vạn 59/112) lược sớ (Vạn 59/113) và giảng ký (Thái hư toàn thư 6/75).
            Thời đại Hậu Hán, Tam tạng pháp sư nước An tức là An Thế cao dịch.
            An tức là quốc gia thuộc đông phần Thông lĩnh, nay là 1 phần của Ba tư và 1 phần của A phú hãn.
            Về ngài Thế cao, người mà chính
 
ngài Đạo an đã nói nếu kịp bái kiến thì không khác gì yết kiến thánh nhân (Chính 55/95 và 50/324), tôi căn cứ những tài liệu sau đây mà ghi tóm tắt : Xuất tam tạng tập ký (Chính 55/95), Lương cao tăng truyện (Chính 50/324), tài liệu trên tác giả là Tăng hộ, tài liệu dưới tác giả là Tuệ hạo, toàn là những vị bác học đời Lương vũ đế. Đặc biệt là Siêu 2/9, 5/5, 6/2, 3/5 và 15, 10/9 và 23. Sau đây là bảng kê tóm tắt về ngài Thế cao, theo các tài liệu ấy.
            Tên : An Thanh, An Thế cao, An hầu (vì là vương tử của chánh hậu, lại nổi tiếng, nên hay được gọi bằng tên này).
            Niên đại đến Trung hoa và dịch
 
kinh : 147 – 170. Đó là Lương Khải Siêu ghi (Siêu 10/23). Cao tăng truyện dẫn lời ngài Đạo an thì 148-171 (Chính 50/324). Ngài người An tức (nay là Ba tư), mà bấy giờ hải vận giữa Ấn Hoa ở trong tay người xứ này. Ngài đến Quảng đông, bằng đường biển (Siêu 2/9).
            Thân thế : chánh cung thái tử nước An tức, nhường ngôi vua cho chú mà xuất gia.
            Cá tính : rất hiếu hạnh.
            Kiến thức : bác học, tinh thiên văn và khí tượng, giỏi y dược và châm cứu.
            Linh tính : biết cả tiếng cầm thú.
            Phật học : bác lãm kinh tạng,
 
 
tinh luận học và thiền học.
            Phiên dịch : vào Trung hoa mới học, và học rất mau, rất tinh, về tiếng và chữ của xứ này, và "dịch ra hơn ba mươi bộ kinh", (lời ngài Đạo an ghi, Chính 50/324).
            Giá trị dịch phẩm : ngài Đạo an nói, ngài quí căn bản, không hoa dạng  (Siêu 9/10 dẫn Xuất tam tạng tập ký). "Trước sau truyền dịch đa số lầm lẫn, duy của ngài dịch đứng đầu tất cả" (Chính 50/324 và 55/95, Siêu 10/9 nói nguyên là lời ngài Đạo an). Rõ ràng mà không hoa dạng, chân chất mà không quê kệch, ai đọc cũng không chán (Chính 55/95 và 50/323). Ngài Đạo an lại nói, nếu kịp bái kiến thì không khác gì yết kiến thánh nhân (Chính
 
 
 
           
55/95 và 50/324 đều dẫn, lại cùng thêm "các vị tiên đức minh đạt đều ca tụng mà chiêm nghiệm").
            Tăng cách : giới đức tinh nghiêm, cùng tận lý tánh, tự biết nghiệp duyên, lắm nhiều thần tích, đời không lường nổi (Chính 55/95 và 50/323).
            Tiên tri : dịch An ban thủ ý kinh rồi, phong đề 4 năm sau sẽ được mở ra. Ngày người ta mở quả đúng 4 năm. Lời phong đề nói, tôn đạo ta có cư sĩ Trần tuệ, truyền thiền kinh có tỷ kheo Tăng hội, thì quả có 2 người này hiểu và chú thích kinh ấy (Chính 50/324). Đan cử việc nhỏ này, những việc khác xin lược.
            Tự biết túc nghiệp, hoan hỷ tìm mà chịu : truyện kể đến 3 việc, trong
 
 
 
đó 2 việc thì Chính 50/323 và 55/95 đều kể, còn 1 việc thì Chính 50/324 ghi. Việc này như là ngài sắp đặt để kết thúc đời mình. Ngài nhờ người bán rương, thuê một người giúp việc, đặt tên Phước thiện, và nói là "thiện tri thức của ta". Quả nhiên người này sau đâm bên hông của ngài và ngài mất. Những việc tự biết túc nghiệp, hoan hỷ tìm mà chịu như vậy, truyện ghi và cho thấy nhờ đó mà cảm hóa nhiều người, kể cả những kẻ báo oán. Đây là điều đặc biệt và đáng cảm nhất của ngài Thế cao.
            Vị trí lịch sử : đích thực du nhập giáo lý Phật giáo vào Trung hoa, phải tôn ngài Thế cao đứng đầu. Ngài mới là người đáng gọi là dịch kinh trước hết. Kinh sách ngài dịch, kể cả thật
 
và giả, hiện có trên 30 bản. Ngài là vị tổ Khai sơn của Phật giáo Trung hoa : sự kiện lịch sử này ngày càng được xác nhận và đề cao.
*
         Kinh này rất ngắn, gồm có 3 phần : phần một mở đầu, phần hai liệt kê, phần ba kết thúc.
    Phần một : mở đầu
Là con của Phật
thì cả ngày đêm
hết lòng chân thành
mà tụng và nghĩ
tám điều giác ngộ
của các thượng nhân.
         Thượng nhân là Phật, Bồ tát. Nhưng 8 điều giác ngộ của thượng
 
 
 
nhân, có nghĩa là muốn trở thành bậc thượng nhân thì phải tụng, nhớ và làm 8 điều ấy.
    Phần hai : liệt kê
         Liệt kê 8 điều giác ngộ thành 3 hạnh : hạnh tự lợi có 3, là tu niệm xử, tu thiểu dục, tu tri túc ; hạnh lưỡng lợi có 2, là tu tinh tiến, tu trí tuệ ; hạnh lợi tha có 3, tu là tu bố thí, tu ly nhiễm, tu chịu thay.
         Điều giác ngộ một
         tự lợi 1 : tu niệm xử
Thứ nhất giác ngộ
nhân sinh vô thường,
vũ trụ nguy biến.
Bốn đại khổ không,
năm uẩn vô ngã,
sinh diệt biến ảo,
 
không có chủ thể.
Tâm là nguồn ác,
thân là rừng tội.
Quán sát như vậy
thoát dần sinh tử.

            Đây là hạnh chánh niệm. Chánh niệm. Chánh niệm được đặt trước hết, có nghĩa muốn "thoát dần sinh tử" thì ký ức và tư duy phải được tập trung vào sự chiêm nghiệm thực trạng của bản thân và ngoại vật. Năm uẩn vô ngã là sắc (cảm giác khách quan hóa) thọ (cảm giác) tưởng (ấn tượng) hành (diễn tiến) thức (chủ thể của tất cả). Vô ngã thì ngã là chủ tể (chủ động và điều động), vô cái ngã được chấp ấy thì gọi là vô ngã. Ngã được chấp có 2 loại : một, cho chính 5 uẩn là ngã ;

hai, cho có cái ngã ngoài 5 uẩn. Nhưng 5 uẩn chính là con người (và thế giới của con người) ; nói 5 uẩn hợp lại thành con người, không chính xác bằng nói con người nếu phân tích ra thì là 5 uẩn. Con người (5 uẩn) tự nó là một hệ thống diễn biến, chứ không phải là "cái ngã được chấp". Như vậy, "5 uẩn vô ngã thì không chấp nhận nhất thần giáo (cho chủ thể 5 uẩn là thượng đế), cụng không chấp nhận duy vật luận (cho đương thể 5 uẩn là biện chứng).
Điều giác ngộ hai
tự lợi 2 : tu thiểu dục
Thứ hai giác ngộ
muốn nhiều là khổ.
Sinh tử cực nhọc
 
 
là vì ham muốn.
Nếu ít ham muốn,
cũng không bôn ba,
thì thân và tâm
tự tại tất cả.

Đây là hạnh ít ham muốn. Ít muốn hay ít ham muốn (thiểu dục) là đối với cái mình chưa có, không cầu có cho nhiều và tốt. Di giáo nói "người ít ham muốn thì không dua nịnh quanh co để cầu được lòng người, cũng không bị các giác quan lôi kéo". Không dua nịnh quanh co để cầu được lòng người là không bôn ba, không bị các giác quan lôi kéo là thân và tâm tự tại tất cả.

Điều giác ngộ ba
tự lợi 3 : tu tri túc
Thứ ba giác ngộ
lòng không biết đủ
thì chỉ có được
một việc mà thôi,
là nhiều mong cầu,
tăng thêm tội ác.
Bồ tát ngược lại,
thường nghĩ vừa đủ,
an phận thanh bần,
giữ gìn đạo hạnh,
chỉ duy tuệ giác
mới là sự nghiệp.

Đây là hạnh biết vừa đủ. Biết đủ hay biết vừa đủ (tri túc) cũng gọi là thích vừa đủ (hỷ túc), là đối với cái mình đã có không ức vì không tốt không nhiều. Với những huấn từ "an phận thanh bần, giữ gìn đạo hạnh, chỉ duy tuệ giác mới là sự nghiệp", kinh
 

này nói về sự biết vừa đủ thật vắn tắt mà đầy đủ, rõ ràng và cảm động.
Điều giác ngộ bốn
lưỡng lợi 1 : tu tinh tiến
Thứ tư giác ngộ
nhác thì đọa lạc,
nên thường tinh tiến
để phá phiền não,
phá cho tan nát
bốn loại ma quân,
thoát khỏi lao ngục
của cả giới uẩn.
Đây là hạnh tinh tiến. Tinh tiến nghĩa là nỗ lực đi tới một cách chuyên nhất. Tinh tiến đối trị ma quân phiền não. Ma quân có 4 : phiền não, ngũ uẩn, sự chết và ma vương. Cả 4 loại này gọi là ma, là vì làm chết sinh
mạng, tuệ mạng và thiện căn. Tuy ma có 4 mà phần chính là phiền não. Phá phiền não là phá cả 4 ma quân. Giới uẩn, giới lá 18 giới, uẩn là 5 uẩn, pháp số nào cũng nói về con người và thế giới của con người. Giới với uẩn mới đích thực là lao ngục nhốt con người vào đó, một cách trọn vẹn, bền chắc và lâu dài, mà phải tinh tiến hành đạo mới mong phá nát.
Điều giác ngộ năm
lưỡng lợi 2 : tu trí tuệ
Thứ năm giác ngộ
ngu si là gốc
sinh tử luân hồi.
Do đó Bồ tát
học rộng nghe nhiều,
tăng trưởng trí tuệ,
thành tựu hùng biện,
giáo hóa tất cả
bằng pháp đại thừa.

            Đây là hạnh trí tuệ. Luân hồi là sự diễn biến của 5 uẩn, có một sự hình dung như sau : A - A' - A'' - A''' – An – anB - B' - B'' - B''' – Bn – bnC... (Siêu 4/17 dẫn). A - A' - A'' - A''' là sát na vô thường, An – anB là nhất kỳ vô thường ; gồm cả sát na và nhất kỳ vô thường như vậy gọi là luân hồi. Bồ tát là bồ đề tát hỏa. Bồ đề là tuệ giác, tát hỏa là dũng mãnh : dũng mãnh nguyện cầu tuệ giác tối thượng, gọi là bồ tát. Trí tuệ có 3 : văn tuệ (xét theo văn) tư tuệ (xét theo văn và nghĩa) tu tuệ (xét theo nghĩa). Nghe nhiều (đa văn) là văn tuệ, tăng
 

trưởng trí tuệ là tư tuệ là tu tuệ. Hùng biện chính văn là biện tài (tài hùng biện), có 4 thành tố : thông suốt văn tự của giáo pháp (pháp vô ngại) thông suốt ý nghĩa của giáo pháp (nghĩa vô ngại) thông suốt ngữ văn của chúng sinh (từ vô ngại) thông suốt thuyết trình cho chúng sinh (biện vô ngại). Thứ 4, biện vô ngại cũng gọi là lạc thuyết (không phải ưa nói, mà là nói một cách vui lòng). Điều giác ngộ năm này nói tu tập và hoạt dụng tuệ giác mà nói rõ là giáo hóa tất cả bằng pháp đại thừa : hãy chiêm nghiệm điều ấy.
Điều giác ngộ sáu
lợi tha 1 : tu bố thí
Thứ sáu giác ngộ
nghèo thì nhiều oán,
 
kết thêm tội lỗi
một cách ngang trái.
Do đó Bồ tát
thực hành bố thí,
bình đẳng nghĩ đến
kẻ oán người thân,
không nhờ lỗi cũ
không ghét người ác.

Đây là hạnh bố thí. Nghèo thì nhiều oán, kết thêm tội lỗi một cách ngang trái là nghèo thì không giúp gì cho ai được để họ khỏi oán, nghèo thì gây thêm tội lỗi một cách bất đắc dĩ. Tội lỗi, chính văn là ác duyên, có nghĩa là yếu tố tội lỗi, là cảnh ngộ bất hảo, là sự ác cảm. Nghèo thì thấm thía và đáng sợ như vậy nên phải bố thí. Nghèo cũng bố thí được,
 
 

vì bố thí có 3. một, tài thí là cho người bằng của. Của có 2 loại : (a) của ở ngoài, là tiền bạc của cải, gọi là ngoại tài ; (b) của ở trong, là thân thể sức lực, gọi là nội tài. Hai, thí là cho người bằng Phật pháp : giảng giải, ấn tống. Ba, vô ý thí, là cho người sự không sợ hải, tức che chở lúc hoạn nạn, giải cứu lúc nguy biến. Vậy bố thí không nhất thiết phải có tiền bạc của cải. Không phải cho tiền bạc của cải mới là bố thí. Mà ngoài tiền bạc của cải, ta còn có tư tưởng, có sức lực, có đảm lược, có uy đức, có nhiều lắm. Lại càng có nhiều cơ hội để mà cho. Huống chi người có của thì mình có công. Phật đã nói nhiều lắm, rằng bố thí và tùy hỷ được phước như nhau mà có khi còn được nhiều hơn. Nhưng
sự cho mà được gọi là bố thí, và được phước của sự bố thí, thì phải là cho mà chân thành, khiêm tốn, cầu phước chứ không phải ban ơn. Đến như cái hạnh bình đẳng trong cái hạnh bố thí mà kinh này huấn dụ thì thật tuyệt hảo, không phải quá lý tưởng. "Bình đẳng nghĩ đến kẻ oán người thân, không nhớ lỗi cũ, không ghét người ác" : thiết tha và thiết thực biết bao nhiêu.
Điều giác ngộ bảy
lợi tha 2 : tu ly nhiễm
Thứ bảy giác ngộ
năm thứ dục lạc
đích thị tội lỗi.
Nên tuy ở đời,
cũng không đam mê
lạc thú thế tục,
thường nhớ y bát,
chí nguyện xuất gia,
thanh bạch giữ đạo,
phạn hạnh cao xa,
trải lòng từ bi
ra khắp tất cả.

         Đây là hạnh ly nhiễm. Dục lạc có 2 pháp số. Pháp số chính là sắc, thanh, hương, vị, xúc mà mình cho là "có vị". Pháp số nữa là tài (của cải) sắc (sắc đẹp) danh (danh vọng) thực (ăn) thụy (ngủ). Trí độ luận mệnh danh ngũ dục là những mũi tên hoa (hoa tiễn). Điều cần nói, chỉ ở trong Dục giới, và với cơ thể, tâm thức và ngoại cảnh như chúng ta mới thấy dục là lẽ sống mà thôi. Thêm nữa, dục, theo Duy

thức học, không hoàn toàn xấu, nghĩa là không phải chỉ khuynh hướng về ngũ dục. Dục đủ cả ác, thiện và vô ký (trung tính). Sự phát bồ đề tâm, đầu tiên và căn bản, chính là dục. Phát là lập chí, phát huy, bồ đề là tuệ tâm sở thuộc thiện tính, tâm là dục tâm sở thuộc thiện tính : cái Dục lập chí mong cầu và phát huy cái tuệ bồ đề, gọi là phát bồ đề tâm. Như vậy nói cho chính xác thì tu hành là thay đổi khuynh hướng của Dục, và tu thì không những cần tu mà quan trọng nhất là tu được. Y bát là y hoại sắc và bát ứng khí. Phạn hạnh là hạnh của Phạn thiên, diễn biến thành 2 nghĩa nữa là hạnh đoạn dâm dục và hạnh đại niết bàn. Pháp số của hạnh Phạn thiên là từ bi hỷ xả. Nói "phạn hạnh
cao xa, trải lòng từ bi ra khắp tất cả" thì không những nói từ bi hỷ xả mà còn nhấn mạnh đến ly dục niết bàn : nghĩa là gồm đủ tất cả phạn hạnh. Điều giác ngộ bảy này dạy riêng cho Phật tử tại gia. Phật tử tại gia nên tâm niệm xuất gia, nên sống theo cái hạnh ly nhiễm : "cái hạnh hoa sen". Sống như vậy mà ở trong cảnh ngộ mà cũng không nhiễm, không chết chìm trong cảnh ngộ đó. Tuy nhiên, điều giác ngộ này có thể có kẻ lợi dụng, cho rằng tâm niệm xuất gia là đủ, không biết rằng "nếu không vĩnh ly gia đình và ngũ dục thì không thể nào hưng thịnh Tăng bảo, bảo trì Phật pháp". Nhưng trái lại, "xuất gia mà không thanh bạch giữ đạo, phạn hạnh cao xa, trải lòng từ bi ra khắp tất cả,
thì đó là "ăn trộm biểu tướng của Phật, tội thêm một lớp nữa" (Trí húc, Vạn 59/112). Cũng nên biết, điều giác ngộ bảy này ói là lợi tha của Phật tử tại gia thì vẫn chưa đủ ý, mà phải nói là cái hạnh hướng thượng, cái hạnh hoa sen, của Phật tử tại gia.
Điều giác ngộ tám
lợi tha 3 : tu chịu thay
Thứ tám giác ngộ
sinh tử bùng cháy,
khổ não bất tận,
phát tâm đại thừa
cứu vớt tất cả,
nguyện thay chúng sinh
chịu vô lượng khổ,
làm cho chúng sinh
thực hiện cứu cánh
cái vui cao cả.

Đây là hạnh chịu thay. Chịu thay nghĩa là chịu khổ cho người, vì người, nên gọi đủ là đại thọ chúng sinh khổ : chịu thay khổ não cho chúng sinh hay vì chúng sinh. Đại thọ chúng sinh khổ đi đôi với tác bất thỉnh hữu (làm người bạn không đợi chúng sinh mời mà vẫn đến với chúng sinh). Đại thọ chúng sinh khổ là giới thứ 3 trong 3 đại thừa giới. Đặc điểm của sự đại thọ chúng sinh khổ là chung sống trong cảnh khổ, mà có lúc còn áp dụng cái gọi là nghịch hành pháp môn, và dĩ nhiên vẫn phải chịu khổ báo. Nhưng chịu như vậy là chịu thay cho người, vì người. Mà có chịu thay như vậy mới là Bồ tát hạnh, mới thành Phật. Nên chịu thay chính là đại bi đại nguyện

của Bồ tát.
Phần ba : kết thúc
Tám điều như vậy
là sự giác ngộ
của các thượng nhân
chư Phật Bồ tát,
đem sự tinh tiến
thực hành chánh đạo,
đem tâm từ bi
thực thi tuệ giác,
nương thuyền pháp
thân đến bờ niết bàn,
trở lại sinh tử
độ thoát chúng sinh,
bằng cách vận dụng
tám điều như trên
khai hóa hết thảy,
làm cho tất cả
giác ngộ cái khổ
sinh tử luân hồi,
để rồi từ bỏ
năm thứ dục lạc,
tu sửa tâm tánh
bằng các chánh đạo.
Nếu là con Phật
thì nên trì tụng
tám điều như vậy,
diệt vô lượng tội
trong từng ý nghĩ,
bước tới bồ đề,
mau thành chánh giác,
triệt hẳn sinh tử,
thường trú an lạc.

Lời tổng kết này có 2 đoạn. Đoạn thứ nhất nói về năng lực tự lợi lợi

tha, trong nhân cũng như trong quả : Phật thành Phật là do 8 điều giác ngộ này, mà Phật độ thoát chúng ta cũng bằng 8 điều giác ngộ này. Đoạn thứ hai khuyến khích trì tụng, về 8 điều giác ngộ này. Điều cần nói, là đừng nói rằng tụng mà không làm thì tụng làm gì. Hãy tụng đi đã. Chỉ kẻ nào tụng kinh, kẻ đó mới biết hiệu năng của pháp hành này bất khả tư nghị đến như thế nào. Còn kẻ mà kinh còn không tụng thì kẻ đó không nên nói gì hết.
 
 

Tổng hợp giới pháp xuất gia tập 2 do Trí quang thượng nhân dịch giải. Chịu trách nhiệm xuất bản : Đỗ Thị Phấn. Biên tập : Đức Huy. Sửa bản in : Anh Khoa. Nhà xuất bản Văn hóa Sài gòn, số 90 Ký Con, phường Nguyễn Thái Bình, quận 1, TP.HCM. In số lượng 1000 cuốn, tại Công ty in Trần Phú, 71-75 Hai Bà Trưng, Quận I, TP.HCM. Số đăng ký kế hoạch xuất bản : 619-2009/CXB/09-16/VHSG. In xong và nộp lưu chiếu quý III năm 2010.

 
/31
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »