Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Tổng Tập Giới Pháp Xuất Gia (Tập 1 & 2)

Tổng Tập Giới Pháp Xuất Gia (Tập 1 & 2)

Tác giả: Tỷ Kheo Trí Quang. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 2264.

Chương 25: 3. Sáu Tiểu Phẩm Hộ Giới: Hai, Tỳ Ni Nhật Dụng: Lược Giải (Trang 1931 - 2022)




Lược giải
Mục lục

 
Tài liệu..................................................................................................1937
Tác giả..................................................................................................1939
Dịch giải Những điều nhật dụng thiết yếu
của giới luật, có 4 chương
Chương một những điều thiết yếu phải học
và đa số phải làm của sa di,
có 13 tiết, 45 mục :
Tiết 1 thức dậy, có mục 1-3 :
Mục 1 sáng sớm thức dậy................................................................... 1941
Mục 2 đánh hồng chung..................................................................... 1942
Mục 3 nghe hồng chung..................................................................... 1944
Tiết 2 sửa y phục, có mục 4 :
Mục 4 mặc y phục............................................................................... 1945
Tiết 3 xuống đi, có mục 5-7 :
Mục 5 xuống đơn................................................................................. 1947
Mục 6 bước đi không hại sâu bọ....................................................... 1947
Mục 7 ra khỏi nhà............................................................................... 1948
Tiết 4 vệ sinh, có mục 8-13 :
Mục 8 vào nhà xí................................................................................. 1948
Mục 9 rửa sạch..................................................................................... 1950
Mục 10 khử bẩn................................................................................... 1950
Mục 11 rửa tay..................................................................................... 1951
Mục 12 rửa mặt.................................................................................... 1954
Mục 13 uống nước............................................................................... 1955
Tiết 5 pháp y, đồ nằm, có mục 14-17
Mục 14 pháp y 5 điều......................................................................... 1956
Mục 15 pháp y 7 điều......................................................................... 1957
Mục 16 pháp y lớn.............................................................................. 1957
Phụ lục : pháp y không điều.............................................................. 1959
Mục 17 đồ nằm.................................................................................... 1960
Tiết 6 lên chùa, có mục 18-21 :
Mục 18 lên đạo tràng.......................................................................... 1962
Mục 19 tán dương Phật....................................................................... 1964
Mục 20 lạy Phật................................................................................... 1966
Mục 21 chân ngôn đảnh lễ khắp cả.................................................. 1966
Tiết 7 cúng nước, có mục 22-24 :
Mục 22 cúng tịnh bình........................................................................ 1969
Mục 23 chân ngôn súc tịnh bình....................................................... 1970
Mục 24 chân ngôn đổ nước vào tịnh bính....................................... 1970
Tiết 8 thọ trai, có mục 25-35 :
Mục 25 thọ trai.................................................................................... 1972
 
 
 
 
Mục 26 xuất cho chúng sinh........................................................................................... 1976
Mục 27 thị giả đưa ăn...................................................................................................... 1978
Mục 28 kết thúc sự thọ trai............................................................................................. 1987
Mục 29 rửa bát Ứng khí................................................................................................... 1989
Mục 30 mở bát Ứng khí................................................................................................... 1989
Mục 31 nhận đồ cúng dường.......................................................................................... 1990
Mục 32 lấy tăm dương chi............................................................................................... 1990
Mục 33 nhấm tăm dương chi.......................................................................................... 1991
Mục 34 súc miệng............................................................................................................ 1992
Mục 35 lấy tích trượng.................................................................................................... 1993
Tiết 9 ngủ, có mục 36 – 37 :
             Mục 36 bày đơn ngồi thiền............................................................................................ 1995
             Mục 37 ngủ nghỉ.............................................................................................................. 1996
Tiết 10 lấy nước, có mục 38 :
             Mục 38 lấy nước.............................................................................................................. 1997
Tiết 11 đối với Phật, có mục 39 – 41 :
             Mục 39 tắm tượng Phật................................................................................................... 2000
             Mục 40 tán dương Phật................................................................................................... 2001
             Mục 41 nhiễu quanh tháp Phật...................................................................................... 2001
Tiết 12 chăm sóc bịnh nhân, có mục 42 :
             Mục 42 chăm sóc bịnh nhân.......................................................................................... 2004
Tiết 13 vài việc cần và thường, có mục 43 – 45 :
             Mục 43 cắt tóc................................................................................................................. 2007
             Mục 44 tắm gội................................................................................................................ 2008
             Mục 45 rửa chân.............................................................................................................. 2009
 
 
Chương hai giới tướng sa di....................................................................................................... 2010
Chương ba Sa di phải đủ 5 đức,
                      Phải biết 10 pháp số.............................................................................................. 2012
Chương bốn Sa di phải hiểu 4 giới tướng :
             Tiết 1 giới tướng Sa di ni................................................................................................ 2016
             Tiết 2 giới tướng Thức xoa ma na.................................................................................. 2017
             Tiết 3 giới tướng Ưu bà tắc............................................................................................. 2018
             Tiết 4 giới tường Bát quan trai....................................................................................... 2019
 

 

 
Tài liệu
 
            Tài liệu dùng dịch và phụ chú tiểu phẩm này là Tỳ ni nhật dụng thiết yếu, có nguyên chú (Vạn 106/65-69), Tỳ ni nhật dụng thiết yếu hương nhũ ký (Vạn 106/70-119). Thử ngoại, tài liệu tham khảo thì có Tịnh hạnh phẩm của kinh Hoa nghiêm (Chính 10/69-72) và các bản dị dịch, Tỳ ni nhật dụng lục (Vạn 106/53-64), Sa môn nhật dụng (Vạn 106/120), Bách trượng thanh qui, Khổ hải phù nang (Vạn 106/53).
            Xét kỹ thì sách này thoát thai từ Nhật dụng lục (Vạn 106/53-64). Điều có
 
Thể xác định nữa là sách này chịu ảnh hưởng của Sa di luật nghi yếu lược (phần uy nghi), của Bách trượng thanh qyi (đặc biệt chương đại chúng, Chính 48/1136 ; nhất là phần sa di đắc độ hay thập chi chánh quỹ, Chính 48/1136 ; phần Nhật dụng quỹ phạm, Chính 48/1144 ; chương Pháp khí, Chính 48/1155) – mặc dầu Bách trượng thanh qui là cả một vấn đề. Điều có thể nói chắc chắn, thời đại ngài Bách trượng là thế kỷ 8, thế kỷ mà Mật tông cực thịnh ở Tàu : Thiện vô úy, Kim cang trí, Bất không, Nhất hạnh, 4 vị tổ Mật tông ấy cùng trong thế kỷ này cả. Như vậy, dầu muốn dầu không, ngài Bách trượng vẫn phải sử dụng phần nào chú ngữ vào qui chế sinh hoạt mà ngài thiết lập cho tăng ni, dầu là tăng ni Thiền tông.
 
Tác giả
 
            Tác giả Tỳ ni nhật dụng thiết yếu là ngài Độc thể. Sau đây là lược ghi về ngài, can7 cứ Vạn 106/74 :
            Chỗ ở : núi Bảo hoa, khai sáng bởi Bảo chí đại sĩ, tức Chí công, đời Lương vũ đế, nên gọi là Bảo. Niên đại : 3/3 tân sửu 1601 – 22/1 kỷ mùi 1679. Pháp tự : Kiến nguyệt. Thân thế : họ Hứa, người Điền nam, sau nhập tịch Giang nam ; cha được phong Chiêu vũ tướng quân, nên tập tước của ngài là Chỉ huy sứ. Đặc đểm : khi nhỏ đã khéo vẽ, nhất là vẽ tượng Quan âm đại sĩ. Thân cao, đỉnh co
nhục kế, tiếng như chuông, diện mạo giống tượng Phật. Xuất gia : vào tuổi 27, với Lượng như pháp sư. Học tu : đọc phẩm Thế chúa diệu nghiêm của kinh Hoa nghiêm mà có tỉnh ngộ. Thọ cụ túc giới với Tam muội luật sư, nhưng vẫn tầm cứu Luật tạng, gặp chỗ nghẽn tắc thì lạy Phật cầu hiểu, rồi tịnh tọa một lát thì thông suốt. Thân tu Bát châu tam muội, 90 ngày đêm không nằm không ngồi, 2 lần như vậy. Hoằng pháp và hoằng giới : 8 lần chủ tọa đạo tràng, hơn 70 lần khai giới đàn. Trước thuật : coi Vạn 106/74 liệt kê, đa số thuộc luật học, và tiểu phẩm này là một. Tuổi : 79 tuổi, trong đó có 44 tuổi giới, 33 tuổi hạ.



Sách này có nguyên chú (Nc) của tác giá, và phụ chú (Pc) của tôi. Sách có 4 chương : chương một những điều thiết yếu phải học và đa số phải làm của Sa di, chương hai 10 giới tướng Sa di, chương ba Sa di phải tu 5 đức, phải biết 10 pháp số, chương bốn Sa di phải hiểu 4 giới tướng. Chương một những điều thiết yếu phải học và đa số phải làm của Sa di, có 13 tiết 45 mục.

Tiết 1 thức dậy, có mục 1-3 :
Mục 1 sáng sớm thức dậy
Ngủ nghỉ mới thức
nên nguyện chúng sinh

 

            tất cả tri giác
             nhìn khắp mười phương
            Nc.- Kinh luật đều qui định, hàng đệ tử xuất gia của Phật đầu đêm cuối đêm phải tinh cần tu tập Phật pháp, đừng ham ngủ nghỉ, nhác và phóng túng. Nên khi tỉnh dậy thì hãy niệm bài kệ này.
            Pc.- Tất cả trí giác nhìn khắp mười phương, rõ thì phải dịch : được cái biết của nhất thế trí, đoái khắp mười phương. Đoái, vừa có nghĩa đoái tưởng, vừa có nghĩa đoái nhìn. Nghĩa đoái tưởng là chính và quan trọng.
            Mục 2 đánh hồng chung
            Nguyện tiếng chuông này
            vượt mọi biên giới,
 
núi sắt u ám
cũng nghe được cả ;
căn cảnh thanh tịnh
chứng tánh viên thông,
hết thảy chúng sinh
cùng thành chánh giác.

            Nc.- Sớm và tối, đến giờ đánh hồng chung, hãy đến trước hồng chung, chí thành, chắp tay, tụng bài kệ này rồi, tay mới đánh chuông, trong khi đó miệng tụng đức hiệu của Phật, hoặc tụng tên kinh đại thừa, hoặc tụng mật chú, làm cho hết thảy hữu tình nghe tiếng hết khổ, cùng được giải thoát.
            Pc.- Núi sắt u ám là đại ngục. Căn cảnh, sát thì phải dịch nghe trần ; nghe là 1 trong 6 căn (giác quan), trần là cảnh, và ở đây là tiếng,

1 trong 6 cảnh (đối cảnh). Chứng tánh viên thông là thể chứng bản tánh không cục bộ của căn cảnh.
Mục 3 nghe hồng chung
Nghe tiếng chuông,
phiền não nhẹ,
trí tuệ hơn,
bồ đề sinh,
thoát địa ngục,
vượt hầm lửa,
nguyện thành Phật,
độ chúng sinh.
            Án già ra đế da sa ha (3 lần).
            Nc.- Sớm cũng như tối, trong khi đi, đứng, ngồi, nằm, hễ nghe hồng chung thì tụng thầm bài chú kệ chú này. Cổ đức nói : Nghe chuông nằm không
dậy, thiện thần hộ pháp giận, hiện tại giảm phước tuệ, đời sau làm thân rắn. Còn những kẻ nhác tu tập các hạnh tham thiền và tụng niệm thì quả báo cảm ra như thế nào, có cả trong kinh luật, nay không dẫn hết.
            Pc.- Trí tuệ với bồ đề là một. Hầm lửa là địa ngục. Chú là chân ngôn, tổng trì, không thể dịch và giải (Bảo 1474 và 1360).
            Tiết 2 sửa y phục, có 4 mục :
            Mục 4 mặc y phục
            Nếu mặc áo trên,
nên nguyện chúng sinh,
được thiện căn tốt,
đến bờ bên kia.
Nếu mặc quần dưới,
nên nguyện chúng sinh,
mặc các thiện căn,
đầy đủ hổ thẹn.
Sửa áo buộc dải,
nên nguyện chúng sinh,
kiểm buộc thiện căn,
không để rơi mất.

Nc.- Mặc hay thay áo, tùy mấy lần, mỗi lần đều niệm thầm bài kệ trên đây. Không phải chỉ buổi sáng, 1 lần mặc 1 lần niệm rồi thôi.

Pc.- Được thiện căn tốt, đến bờ bên kia, rõ và đúng, phải dịch được thiện căn thù thắng (rất hơn), đến bờ bên kia của chánh pháp. Hổ thẹn (tàm quí) là tự thẹn và thẹn với người.
Tiết 3 xuống đi, có mục 5-7
Mục 5 xuống đơn
Từ buổi sáng sớm
suốt đến buổi tối,
hết thảy sinh vật
nên tự tránh giữ ;
nếu rủi mất mạng
dưới chân của tôi,
tôi nguyện tức thì
được sinh cảnh Phật.
Án dật đế luật ni sa ha (3 lần).

            Nc.- Gõ ngón tay 3 lần, niệm thầm bài Kệ trên đây.
            Pc.- Đơn là giường nằm của người xuất gia. Mỗi người 1 đơn nằm, cao rộng khá hạn chế.
            Mục 6 bước đi không hại sâu bọ
            Cất bước chân lên,

nên nguyện chúng sinh,
vượt biển sinh tử,
đủ mọi thiện pháp.
Án địa lị nhật lị sa ha (3 lần).
            Mục 7 ra khỏi nhà
            Từ nhà đi ra,
nên nguyện chúng sinh,
vào sâu trí Phật,
thoát hẳn ba cõi.
Tiết 4 vệ sinh, có mục 8-13 :
Mục 8 vào nhà xí
            Đại tiện tiểu tiện, nên nguyện chúng sinh, xả tham sân si, loại trừ tội lỗi.
            Án ngận lỗ đà da sa ha (3 lần).

Nc.- Muốn đại tiểu tiện thì nên đi ngay, đừng để trong người bức bách mà thoảng thốt. Phải cởi và đổi giày hay những đồ khác đi dưới chân. Không được mang giày sạch vào nhà xí. Đến nhà xí, phải 3 lần đan 2chi3, có 2 nghĩa : một, để người trong đó biết, nhưng không được thúc bách người trong đó phải ra ; hai, sợ có quỉ ăn đồ dơ, làm như vậy để chúng tránh đi. Lên chỗ đại tiện tiểu tiện lại phải 3 lần đàn chỉ, niệm thầm bài kệ trên đây.
            Pc.- Đàn chỉ, hiểu là gảy móng tay, tôi ngờ không phải là nghĩa ở đây. Ở đây là gõ ngón tay vào vật khác (như gõ cửa) hay ngón tayd9anh1 vào nhau (tức vỗ tay). Ngoài đàn chỉ như vậy, còn có dặng hắng, dậm đất
ra tiếng (Vạn 106/123). Để người trong đó biết, người ở trong, nếu có, cũng làm như vậy để người ngoài biết.
Mục 9 rửa sạch
Việc xong đến nước,
nên nguyện chúng sinh,
mau chóng đi đến
trong pháp xuất thế.
          Án thất lị bà hê sa ha (3 lần).
Mục 10 khử bẩn
Tẩy rửa mình bẩn,
nên nguyện chúng sinh,
thanh tịnh thuần hóa,
tuyệt đối không dơ.
Án hạ nẵng mật lật đế sa ha (3 lần).
Nc.- Đọc 3 lần, rồi dùng 2 ngón tay, phía sau, của tay trái mà rửa [hậu môn].
Mục 11 rửa tay
Lấy nước rửa tay,
nên nguyện chúng sinh,
được tay thanh tịnh,
nhận giữ Phật pháp.
Án chủ ca ra da sa ha (3 lần).
            Nc.- Niệm bài kệ này 3 lần. Rồi nếu chỉ tiểu tiện thì chỉ dùng nước rửa tay 1 lần là sạch. Nếu đại tiện thì sau khi khử bẩn phải rửa tay. Dùng tro, đất nhuyễn, tạo giác (chùm kết) phì tạo (xà phòng), đúng phép mà rửa.
            Pc.- Việc vệ sinh, nhất là đại tiện xong, quan trọng nhất là việc tẩy tịnh.
 
Sau đây là nguyên văn của Luật giải, nơi phần uy nghi, bài 13, nói việc vào nhà vệ sinh.Ttrước khi đại tiện, phải lấy bình thêm nước cho đầy, để chỗ tẩy tịnh. Như không có chỗ tẩy tịnh thì có thể xách vào nhà vệ sinh. Đại tiện xong, trước hết dùng vật thường lệ mà lau. Sau đó rửa bằng nước. Bằng cách dùng ngón tay vô danh và ngón tay út của tay trái, xát rửa cho sạch. Rồi nắm tay trái lại, còn tay phải vén áo, mở cửa, xách bình ra. Đến chỗ rửa tay, phải dùng tro, đất (nay là xà phòng) rửa tay trái 7 lần, kế rửa cả 2 tay cũng 7 lần. Nhớ chừa một ít nước để rửa cả trong và ngoài bình, và đẩ lại chỗ cũ. Về phòng, lấy nước sạch súc miệng 3 lần. Như thế việc đại tiện mới xong. Việc        
 
ấy chép rõ trong đại luật. Làm thầy phải chỉ dạy đúng cách cho đệ tử. Phật dạy, tẩy tịnh như vậy có lợi ích lớn. Phàm người xuất gia, qui y với Như lai, lấy Như lai làm thầy, thì ai cũng phải tẩy tịnh. Nếu không tẩy tịnh đúng cách thì không nên nhiễu tháp, kinh hành, lạy Phật, tụng Kinh, không được lạy người, cũng không được nhận người lạy, không được thọ thực, không được ngồi giường tăng chúng, không được nhập chúng, kinh chú thọ trì toàn không hiệu nghiệm. Nếu trau Tăng, chép Kinh, tạo Tượng, sẽ được phước ít và mỏng. Các người hãy y theo giáo huấn của Như lai. Đừng tự dối mình mà để sự dơ bẩn. Đừng nhác hay buông thả, giữ cái thói hạ cấp, để rồi phải sa đọa ác đạo.
            Việc vệ sinh, căn cứ những điều trên đây, trước hết thấy rõ đại tiện tiểu tiện không phải chỗ vệ sinh thì cấm hẳn. Ngày nay chỗ vệ sinh tương đối tiện nghi, nên sự tẩy tịnh cũng dễ dáng nên càng phải giữ kỹ. Đại tiện xong, lau giấy rồi rửa nước, phải rửa cho sạch với xà phòng giành riêng. Kế đó phải rửa tay cho sạch, bắt buộc phải rửa với xà phòng và rửa nhiều lần. Rồi súc miệng. Chủ ý là sao cho sạch hậu môn, sạch tay, sạch miệng. Lại phải chú ý làm sạch mình mà không được để bẩn chỗ vệ sinh. Ngài Hoằng tán có nói 1 câu rất đúng kinh nghiệm, rằng xin tẩy tịnh năm sáu lần rồi biết liền cái lỗi không tẩy tịnh (Vạn 106/123).
          Mục 12 rửa mặt
Lấy nước rửa mặt,
nên nguyện chúng sinh,
được pháp thanh tịnh,
hết hẳn dơ bẩn.
Án lam sa ha (21 lần).
Mục 13 uống nước
Phật nhìn một bát nước,
tám vạn tư vi sinh,
nếu không trì chú này,
như ăn thịt chúng sinh.
Án phạ tất ba ra ma ni sa ha (3 lần).

Pc.- Tám vạn tư là thành ngữ tả số nhiều bậc trung. Uống nước là ăn thịt vi sinh rồi. Nhưng biết rõ như vậy để hiểu rằng, đời sống là biểu hiện của nghiệp quả thì đụng đâu tội đó.
 

Như vậy thì phải vận dụng đời sống thế nào cho ngày càng thoát ly nghiệp quả.
Tiết 5 pháp y, đồ nằm,
có mục 14-17 :
Mục 14 pháp y 5 điều
Lành thay áo giải thoát,
áo ruộng phước tối thượng,
nay tôi kính tiếp nhận,
đời đời không rời bỏ.
Án tất đà da sa ha (3 lần).
Nc.- Phạn ngữ An đà hội, dịch nghĩa là tác cụ y (áo làm việc). Có 5 điều, 1 dài 1 ngắn. Chấp lao phục vụ trong chùa, ra vào qua lại ngoài đường, hãy mặc pháp y này, với sự niệm kệ chú như trên.
Mục 15 pháp y bảy điều
Lành thay áo giải thoát,
áo ruộng phước tối thượng,
nay tôi kính tiếp nhận,
đời đời thường khoác mặc.
Án độ ba độ ba sa ha (3 lần).

Nc.- Phạn ngữ, Uất đa la tăng, dịch nghĩa là nhập chúng y (áo nhập chúng). Có 7 điều, 2 dài 1 ngắn. Phó trai, nghe giảng, trì tụng, tọa thiền, lễ Phật, lễ tháp, lễ hòa thượng, thượng tọa, và chư tăng hòa tập, tất cả lúc ấy hạy mặc pháp y này với sự niệm kệ chú như trên.

Mục 16 pháp y lớn
Lành thay áo giải thoát,
áo ruộng phước tối thượng
 
phụng hành lịnh Như lai,
hóa độ cho tất cả.
Án ma ha ca bà ba tra tất đế sa ha (3 lần).

Nc.- Phạn ngữ Tăng già lê, dịch nghĩa là tạp toái y (áo xen vụn). Là pháp y có 9 phẩm 3 bậc. Bậc thấp có 3 phẩm : thấp nhất là 9 điều, thấp vừa là 11 điều, thấp cao là 13 điều, cùng 2 dài 1 ngắn. Bậc vừa có 3 phẩm : vừa thấp là 15 điều, vừa vừa là 17 điều, vừa cao là 19 điều, cùng 3 dài 1 ngắn. Bậc cao có 3 phẩm : cao thấp là 21 điều, cao vừa là 23 điều, cao nhất là 25 điều, cùng 4 dài 1 ngắn. Dái nhiều ngắn ít là biểu thị thánh thêm phàm bớt. Vào vương cung, thăng tòa thuyết pháp, vào làng khuất

thực, hàng phục ngoại đạo, hãy mặc pháp y này với sự niệm kệ chú như trên.
Phụ lục : pháp y không điều
Lớn thay áo giải thoát, 
áo ruộng phước vô tướng,
mặc kính đúng giới hạnh,
hóa độ mọi chúng sinh.
Pc.- Ngài Hoằng tán nói trong Luật giải, rằng 3 pháp y là của tỷ kheo, nói để Sa di biết trước, chứ không phải cho họ khoác mặc. Sa di thì khoác man y,và trong Đại tạng tự có bài kệ như trên. Tra cứu thì man y Phạn ngữ là Bát ta (patta), dịch nghĩa là man y. Hình thức là tấm vải trơn, lớn bằng pháp y, nhưng không cắt ra rồi may lại thành điều (Bảo 2437).
 
Mục 17 đồ nằm
Ngọa ngụ ni sư đàn,
nuôi lớn lúa tâm tánh,
mở ra lên thánh địa,
phụng hành lịnh Như lai.
Án đàn ba đàn ba sa ha (3 lần).

Nc.- Phạn ngữ Ni sư đàn, dịch nghĩa là ngọa cụ, tọa cụ, tùy tọa y, sấn túc y. Dài 2 gang rưỡi của Phật, rộng 2 gang của Phật. Không được đem làm 3 y, không được tịnh thí, hay làm lộn xộn vào việc lấy củi, cỏ, đựng đồ. Chỉ được dùng trải ngồi. Đi đường, đến chỗ ngồi thì trải ra và ngồi. Luật thập tụng nói mới thì 2 lớp, cũ thì 4 lớp, không được nhận ni sư đàn 1 lớp. Trong luật, lý do chế ra      

là vì thân, vì y và vì đồ nằm. Hành sự sao nói, vì thân là sợ lúc ngồi mặt đất có thể bị thương tổn, vì y là sợ không có chiếu hay đồ gì lót thì 3 y dễ hỏng, vì đồ nằm là sợ lúc thân không sạch thì bẩn giường phản của chư Tăng. Luật lại dạy, ni sư đàn mới hãy lấy cái cũ viền 4 bên cho loạn màu đi, làm là phải viền. Căn bản luật và Ký qui truyện không cho phép dùng trải ra mà lạy. Nếu suy luận vì y nên trải ra mà lạy thì cũng không hại gì.
Pc.- Ngọa cụ, Đường dịch là phu cụ, đúng hơn. Phu cụ là đồ trải ra khi ngồi, khi nằm, trải ra mặt đất để giữ y giữ thân, lại trải ra trên đồ nằm để giữ đồ ấy. Phu cụ mà nói dài 2 gang rưỡi và rông 2 gang của tay
Phật, thì tay người trung bình 1 gang là 2 tấc, 2 gang rưỡi là 5 tấc, 2 gang là 4 tấc ; tay Phật gấp 3, vậy phu cụ dài 1m50 rộng 1m20. Nuôi lớn lúa tâm tánh là chuyển mà dịch, với ý nghĩa nuôi lớn công đức (lúa) của tâm tánh. Nhưng dịch sát thì phải nuôi lớn phẩm chất (tánh) công đức (lúa) của tâm. Thánh địa : địa vị giải thoát của chư vị thánh giả.
Tiết 6 lên chùa, có mục 18-21 :
Mục 18 lên đạo tràng
Được nhìn thấy Phật,
nên nghuyện chúng sinh,
được mắt vô ngại,
thấy hết chư Phật.
Án a mật lật đế hồng phấn  
 
tra (3 lần).
Pc.- Đạo tràng là bồ đề tràng, giác tràng, có 5 nghĩa nên biết. Một, nơi Phật thành đạo, gọi là đạo tràng (tức Kim cang tòa dưới Bồ đề thọ, bên sông Ni liên thiền, thuộc xứ Ma kiệt đà). Hai, Pháp làm cho thành đạo, cũng gọi là đạo tràng, như nói trực tâm là đạo tràng. Ba, chỗ thờ cúng Phật, cũng gọi là đạo tràng, chỗ ấy chùa là một. Bốn, chỗ tu hành cũng gọi là đạo tràng, chỗ ấy chùa cũng là một. Năm, chỗ tự tập bái sám, cũng gọi là đạo tràng, chỗ ấy chùa cũng gọi là một. Vì chùa là 1 đạo tràng vừa quan trọng vừa thường xuyên vừa nhiều nghĩa, nên năm 613, Trung hoa đã có quyết định đổi chùa gọi là đạo tràng (Bảo 2368,1912, 2681).
 
Mục 19 tán dương Phật
Đấng Pháp vương vô thượng,
ba cõi không ai bằng,
Đạo sư của trời người,
Từ phụ của tứ sinh,
một niềm mà qui y,
diệt sạch nghiệp vô số,
ca tụng hay tán thán,
ức kiếp không cùng tận.
Pc.- Pháp vương : vua của các pháp, tự tại đối với các pháp. Đạo sư : thầy dẫn đạo, dẫn người nhập vào tuệ giác của Phật. Từ phụ : cha từ bi. Tứ sinh : 4 loại chúng sinh phân theo cách sinh : sinh bằng thai (thai sinh) sinh bằng trứng (noãn sinh) sinh bằng thấp khí (thấp sinh) sinh bằng biến hóa (hóa sinh). Diệt sạch nghiệp vô         
số, dịch rõ : có khả năng diệt được cái nghiệp 3 a tăng kỳ kiếp. A tăng kì kiếp : thời kỳ vô số. Bồ tát tu hành trải qua 3 thời kỳ vô số, với 50 cấp độ mới hết mọi nghiệp mà thành chánh giác : trải qua 10 tín, 10 trú, 10 hạnh, 10 hướng (và 4 da hành) là hết thời kỳ vô số thứ nhất ; qu sơ địa đến thất địa là hết thời kỳ vô số thứ hai ; qua bát địa đến hết thập địa của 10 địa là hết thời kỳ vô số thứ ba – Sở đoạn của 3 thời ký này là đoạn ngã chấp phần phân biệt là hết thời kỳ một, đoạn ngã chấp câu sinh và pháp chấp phần phân biệt là hết thời kỳ hai,  đoạn pháp chấp phần câu sinh là hết thời kỳ ba. Ba phần sở đoạn này gọi là "cái nghiệp 3 a tăng kỳ kiếp".
 
Mục 20 lạy Phật
Trên trời dười trời
không ai chư Phật,
mười phương thế giới
cũng không sánh bằng ;
vũ trụ có gì
con nhìn thấy hết,
tất cả không ai
không gì chư Phật.
Mục 21 chân ngôn
đảnh lễ khắp cả
Án phạ nhật ra hộc (3 lần).

Nc.- Mỗi 1 lạy Phật là 1 lần tán Phật. Phải tinh thành quán tưởng và cả 5 bộ phận cơ thể đều gieo xuống sát đất. Giáo lý liệt kê 7 thứ lạy, không thể không biết. Một, lạy ngã       
 
 

mạn, là chiếm vị thứ, không biết cung kính, tâm dông ngoại cảnh, 5 bộ phận không sử dụng đủ phép, chỉ như cái chày giã cối cất lên đổ xuống mà thôi. Hai, lạy xướng họa, là uy nghi hơi chỉnh mà lòng không lắng tưởng, thấy người thì thân nhẹ lạy gấp, người đi thì thân mỏi tâm mệt, tâm thì tán loạn, chỉ có miệng xướng lạy mà thôi. Ba, lạy thân tâm cung kính, là nghe xướng danh hiệu của Phật thì tức khắc nhớ tưởng đến Phật, thân tâm đều cung kính, tinh thành chứ không chán và nhác. Bốn, lạy phát trí thanh tịnh, là thấu triệt Phật là tùy tâm biến thể, lạy một đức Phật là lạy tất cả đức Phật, lạy một lạy là lạy cả pháp giới, bỏi lẽ pháp thân chư Phật vốn viên dung. Năm, lạy khắp nhập     
pháp giới, là tự quán các pháp thân tâm, từ xưa đến nay, từ gốc đến ngọn, không rời pháp giới, Phật với ta tánh vốn bình đẳng, nay lạy một đức Phật tức là khắp lạy tất cả đức Phật trong toàn thể pháp giới. Sáu, lạy chánh quán, là lạy Phật của mình, không còn vin Phật khác, tại sao, vì lẽ hết thảy chúng sinh đều có Phật tánh, bình đẳng chánh giác. Bảy, lạy thật tướng bình đẳng, là trên có lạy có quán, tự tha khác nhau, còn ở đây một cách lạy Phật này không tự không tha, phàm thánh nhất như, thể dụng bất nhị, nên ngài Văn thù đã nói, người lạy Phật và Phật được lạy, cà hai bản thể vốn vắng lặng.
Tiết 7 cúng nước, có mục 22-24 :
 
Mục 22 cúng tịnh bình
Tay cầm tịnh bình,
nên nguyện chúng sinh,
trong ngoài không dơ,
sạch bóng tất cả.
Án thế già lỗ ca sất hàm sất sa ha (3 lần).

Nc.- Bính, Phạn ngữ quân trì (Kundika). Ký qui truyện nói, quân trì có 2 thứ, một, sứ hay đất là dùng sạch, hai, đồng hay sắt là dùng bẩn. Nay nói là nói về bình sạch. Tỷ kheo mỗi ngày, sáng sớm, tụng kinh chú xong, dùng bình sạch đựng nước sạch, cúng trước tượng Phật tượng Bồ tát. Khi lấy bình đựng nước  thì hãy quán tưởng tôn dung chư Phật Bồ tát, lạy đủ nghi thức, rồi đứng dậy lấy bình
 

với sự tụng thầm kệ chú trên đây.
            Mục 23 chân ngôn súc tịnh bình
Án lam sa ha (21 lần)
Nc.- Lạy Phật rồi, đem bình đến chỗ nước sạch, tay trái vén y, tay phải cầm bình, từ từ trước lấy nước súc 3 lần, mỗi lần tụng thầm 7 biến chú trên đây. Nước súc bình đừng đổ lại trong nước sạch, phải đổ bỏ ra ngoài.
Mục 24 chân ngôn đổ nước
vào tịnh bình
Án phạ tất bát ra na ni sa ha (3 lần).
Nc.- Súc sạch, hết dơ rồi, đổ đầy nước sạch vào tịnh bình, với sự niệm thần chú trên đây.
Nẵng mô tô rô bà da, đát tha           
nga đa da, đát điệt tha. Án, tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, sa bà ha (3 lần).
Nc.- Đến trước Phật, quì thẳng, tay trái cầm bình, tay phải kiết ấn Phổ cúng dường, tụng chú đại bi 7 biến, lạy Phật mà lui. Chiều xuống, việc trút nước cũng kiết ấn như trước, trước tụng chú đại bi 7 biến, Bát nhã tâm kinh và chú Vãng sinh đều 7 biến, rồi ra ngoài rót tản nước xuống đất, tay kiết ấn Cam lộ, miệng niệm thầm chân ngôn Cam lộ như trên. Khi niệm chân ngôn này, hãy quán tưởng bình là bình như ý, tuôn ra đủ thứ đồ ăn thức uống, trước chư thiên, kế quỉ thần, sau ngạ quỉ và bàng sinh, cùng được no đủ. Lại quán tưởng bính ấy xuất ra lâu đài, cung điện, trân bảo, chuỗi
 
ngọc, tàn lọng, hương hoa, y phục, không thứ nào không đầy đủ. Sau đó vẫn quán tưởng từ bình ấy phát ra tiếng nói về pháp 12 nhân duyên, truyền thọ cho họ 3 pháp qui y, làm cho họ nghe Phật pháp, được qui y, thực hiện pháp hỷ tam muội nên lạy mà đi.
Tiết 8 thọ trai, có mục 25-35 :
Mục 25 thọ trai
Thấy bát trống rỗng,
nên nguyện chúng sinh,
cứu cánh thanh tịnh,
trống không phiền não.
Nc.- tỷ kheo thọ thực, kiết già mà ngồi, trải khăn ăn lên trên đầu gối, phòng cơm, nước nóng, đồ ăn và cơm rơi xuống pháp y. Lúc thỉnh bát thì
niệm thầm bài kệ trên đây.
Thấy bát chứa đầy,
nên nguyện chúng sinh,
 chứa đựng đầy đủ
tất cả thiện pháp.

Nc.- Phạn ngữ Bát đa la, dịch nghĩa là ứng lượng khí. Luật không cho phép Tỷ kheo cất dùng bát bằng các loại ngọc, đồng, bạch lạp, gỗ, đá, v/v. Đại khái có 2 thứ được dùng : một là làm bằng đất nhuyễn, hai là làm bằng thiếc. Tăng kỳ luật nói, Bát là đồ dùng của người xuất gia, ít ham muốn, biết vừa đủ, không phải thích nghi cho người thế tục. Thập tụng luật nói, Bát là tiêu biểu chủa chư Phật, không được dùng bậy và rửa tay, phải kính giữ như giữ mắt. Ngũ phần luật
 
 

nói, Phật tự làm Bát bằng đất làm ngói, để làm điển hình cho hậu thế. Phát chẩn sao viết, Bát là đồ dùng thích ứng chánh pháp, tức thể chất, màu sắc và dung lượng, cả 3 thức đều tương ứng với chánh pháp. Thể chất có 2, là làm bằng đất nhuyễn hay thiếc. Màu sắc thì dùng ma tử và hạnh nhân giã nhỏ, xoa trong ngoài, hun xông bằng khói loại tre, hun xông thành màu sắc cổ sau của chim tu hú, chim bồ câu, hay màu sắc chim khổng tước, hun xông như vậy là vì gì, vì để mùa hè đựng đồ khỏi thiu, khỏi thấm cáu bẩn, có tác dụng ấy nên phải hun xông. Dung lượng thì chia lớn vừa nhỏ... và chính vì dung lượng nên gọi là ứng lượng khí. Dạt quán đại sư nói, Bát là đồ dùng giúp 3 ngôi, đủ 6 đức.
Tại sao nói Bát giúp 3 ngôi, vì không có bát ấy thì Tăng bảo không có chỗ nhờ, Tăng bảo không có chỗ nhờ thì tính mạng tuệ giác phải đứt, tính mạng tuệ giác đứt thì dòng giống Phật bảo cũng mất. Bát có khả năng sạch sẽ, khả năng dung chứa, khả năng hạn chế, khả năng bủa rộng, khả năng tôn kính, khả năng tuân xưa, thì gọi là 6 đức : tuân xưa là do Phật truyền thọ, tôn kính là vốn do chư thiên dâng hiến, bủa rộng thì khắp lợi hết thảy, hạn chế thì quá giữa ngày không ăn, dung chứa là người cho thì Bát nhận cả tốt lẫn xấu và cái phước của Bát thì lợi ích một cách bình đẳng, sạch sẽ thì cả thế gian không ai nỡ đem đồ nồng nặn bỏ vào. Như vậy chúng ta dám không quí báu tôn trọng ? Khi đặt
cơm vào thì niệm thầm bài kệ ở trên.
Mục 26 xuất cho chúng sinh
Pháp lực siêu nghĩ bàn,
từ bi không chướng ngại,
bảy hạt tràn mười phương,
khắp cho cả pháp giới.
Án độ lợi ích sa ha (niệm chú này  3 lần, mỗi lần gảy móng tay 1 cái).
Chim đại bằng cách vàng,
chúng quỉ thần đồng rộng,
mẹ của quỉ la sát,
cam lộ no đủ cả.
Án mục đế sa ha (niệm chú này 3 lần, mỗi lần gảy móng tay 1 cái).
Nc.- Khi tụng cúng dường, lấy tay 
 phải dựa Bát theo dáng vin giữ, ngăn hơi hội bẩn của mình, còn tay trái nâng bát ngang mi. Đưa muỗng của Bát hướng ra ngoài. Văn cúng dường chiếu theo nghi thức thông thường tụng niệm, rồi để Bát trên bàn. Xuất sinh thì dùng muỗng lấy 7 hạt cơm, bún không quá 1 tấc, [đặt vào cái chén nhỏ đã có nước trong, còn muỗng thì để lại vào Bát mà xoay vào trong, rồi đặt cái chén nhỏ vào lòng bàn tay phải], lại lấy ngón cái của tay trái đè ngón vô danh của tay ấy kiết ấn Cam lộ, niệm thầm 2 bài kệ chú xuất sinh trên đây. Nhất hướng truyện nói, ăn sáng thì đọc Pháp lực bất tư nghi..., ăn ngọ thì đọc đại bằng kim sí điểu... Nhưng lấy lý mà suy, không kể ăn sáng, ăn nhỏ hay ăn ngọ, hễ niệm
xuất sinh thì phải niệm cả 2 bài kệ trên mới hợp ý chính...
            Pc.- Những loại mà bài kệ thứ hai trên đây kê ra toàn là giống ăn thịt. Sau khi thọ giới bất sát với Phật thì đói, nên Phật sắc đệ tử khi ăn phải xuất sinh cho họ. Theo nguyên chú ở trên thì bài kệ thứ hai này cũng do người xuất sinh đọc, không phải thị giả. Bài kệ thị giả đọc sẽ có dưới đây. Không hiểu vì lẽ gì ngày nay có nơi thị giả đọc bài này.
Mục 27 thị giả đưa ăn
Chúng quỉ thần các người,
nay tôi cho cúng phẩm,
cúng phẩm này khắp cả,
quỉ thần cùng hưởng thụ.
Án mục lực lăng sa bà ha (3
lần).
            Nc.- Đem cái chén nhỏ giao thị giả, đưa đến chỗ xuất sinh niệm bài kệ chú trên đây. Thời nay thường thấy... bày thêm lắm chuyện. Nhưng tìm tòi kinh luật thì thấy lắm chuyện ấy không xuất từ kinh luật mà lại mất cả uy nghi. Luận về lý thì chỉ tay trái kiết ấn, tay phải xuất thực, miệng tụng thầm kệ chú là đúng rồi. Xét sách Nam hải ký qui có nói, Tăng chúng Tây vức, nơi chỗ ứng cúng thọ thực, trên hết thiết 1 chỗ ngồi của thánh tăng (Tân đầu lô), một bên bày 1 cái đẳng nhỏ, đặt 1 cái bồn để cúng mẹ của quỉ. Khi thọ thực thì trước cúng thánh tăng, kế cúng đại chúng hiện diện, sau cúng cho mẹ của quỉ, không có sự đặt định những cách về sự xuất
sinh. Nay thuận theo nghi thức xưa của đông độ thì tuy có những cách về sự xuất sinh, nhưng không thể bày thêm lắm chuyện.
(Xướng tăng bạt)
Phật dạy Tỷ kheo,
ăn xét năm điều,
nghĩ sai nói quấy,
tín thí khó tiêu.
Đại chúng,
nghe tiếng khánh,
cùng chánh niệm.
Ngày nay, ở đây, Tăng chúng cùng niệm "Nam mô A di đà phật" và tụng "Tam bạt ra dà đa" (3 lần).
Nc.- Thị giả xuất sinh trở về, thì duy na xướng tăng bạt như trên. Trong    
luật, Phật qui định Tăng chúng thọ thực thì phải xướng "tăng bạt", là nhân ngoại đạo thỉnh Phật và Tăng mà mật để thuốc độc vào đồ ăn, Phật bảo các Tỷ kheo nhất tề xướng "Tam bạt ra dà đa", bao nhiêu thuốc độc đều biến thành mùi vị ngon nhất, Tăng chúng thọ thực một cách an lạc, khỏi bị cái hại của thuốc độc. Tăng bạt, ... Phạn ngữ "Tam bạt ra dà đa", dịch nghĩa là đẳng cúng, là Tăng chúng thọ thực đều bình đẳng ; lại dịch nghĩa là thiện chí, là đồ cúng dường khéo thành mà giờ ăn lại đến. Nay, địa phương này xướng ngũ quán (xét năm điều) để Tăng chúng nhất tâm trong lúc thọ thực, và lấy việc này làm tăng bạt là một, không bị thuốc độc của ngoại đạo tác hại, hai, làm cho mọi người hổ
thẹn trong lúc thọ thực. Do đó, tuy không phải sự qui định chính thức, nhưng cả xứ Đông Hạ đều tuân hành.
Pc.- Ăn xét năm điều, dịch sát và rõ là ăn thì để tâm vào 5 quán pháp (5 quán pháp : 5 sự suy xét, sẽ thấy ở dưới). Nghĩ sai nói quấy, rõ thì phải dịch là nghĩ  tản mác nói lộn xộn (tức nghĩ khác với 5 sự suy xét và nói chuyện tạp). Cùng chánh niệm là cùng chánh tâm niệm lại (mà niệm đức Bổn  tôn, niệm Tăng bạt, và nghĩ theo 5 sự). Tăng bạt, Bảo 2484 và 339, nói Tăng bạt và Tam bạt ra dà đa, có 2 nghĩa. Một, đây là lời thưa của thí chủ, thưa với vị thượng tọa của tăng chúng ứng cúng, ý nói đồ cúng dường khéo thành và giờ ăn đã đến. (Thượng tọa bảo : bình đẳng hành thực). Thí    
chủ chưa cung kính nói câu này mà tăng chúng thọ thực thì bị tội ố tác. Hai, đây là mật chú, Phật dạy xướng 3 lần như vậy mới thọ thực, thì độc dược biến thành mỹ vị.
(Chính thức thọ trai)
Cầm bát Ứng khí,
nên nguyện chúng sinh,
trở thành pháp khí,
thọ thiên nhân chúng.
Án chỉ rị chỉ rị phạ nhật ra hồng phấn tra (3 lần).
Nguyện đoạn tất cả điều ác.
Nguyện tu tất cả điều lành.
Nguyện độ tất cả chúng sinh.
Một, xét kể công lao nhiều ít và ước lượng lý do của thực
 
phẩm. Hai, nghĩ kỹ đức hạnh của mình đủ hay thiếu để ứng thọ sự cúng dường. Ba, đề phòng tâm lý, tránh những tội lỗi mà tham sân si vẫn là chủ yếu. Bốn, chính vì lấy thực phẩm làm dược phẩm tốt để trị liệu thân hình khô yếu. Năm, vì thành đạo nghiệp mà ứng thọ thực phẩm này.
Pc.- Thọ thực thì trước hết bưng Bát ngang giữa ngực và bụng mà niệm kệ chú như trên. Kế đến ăn 3 muỗng đầu, mỗi muỗng ít thôi, và niệm 3 đại thừa giới như trên. Sau đó, ngưng lại, niệm thẩm 5 sự quán xét như trên. Rồi thọ thực bình thường.
Về bài kệ trên, xin dịch sát và rõ, như sau. Cầm nắm Bát ứng khí, thì          
 
 
nên nguyện cho chúng sinh làm cho mình trở thành đồ chứa đựng chánh pháp (pháp khí), xứng đáng tiếp nhận sự hiến cúng của chư thiên và nhân loại.
Về 3 đại thừa giới, giới thứ nhất và giới thứ hai dễ hiểu. Giới thứ ba, tạm coi điều giác ngộ thứ 8 của Kinh tám điều thượng nhân giác ngộ.
Về 5 sự quán xét thì đây là Nc. Một, xét công lao nhiều ít, là như Trí độ luận nói, thực phẩm này do cuốc cày, trồng trỉa, hái gặt, giã xay, gạn lọc, nấu thổi, đến khi thành thực phẩm thì công lao quả thật quá nhiều ; còn ước lượng lý do của thực phẩm thì như Tăng kỳ luật nói, thí chủ bớt cả phần ăn của vợ con họ, vì cầu phuoc72 mà cúng dường : khi thọ thực, phải có sự quán xét như vậy. Hai, nghĩ kỹ đức
hạnh của mình đủ hay thiếu để ứng thọ sự cúng dường ấy, là như luật Tỳ ni mẫu nói, nếu không ngồi thiền, tụng kinh, lo việc Tam bảo, cũng không giữ giới, thì hưởng thọ những đồ của người đem đức tin mà cúng dường, là bị đồ cúng dường ấy làm cho rơi ngã, nên không nên hưởng thọ ; những đức hạnh nói trên, nếu được toàn vẹn, mới nên ứng cúng thọ thực : khi thọ thực, phải có sự quán xét như vậy. Ba, đề phòng tâm lý, tránh những tội lỗi mà tham sân si vẫn làm chủ yếu, là như Minh liễu luận sớ nói, người xuất gia trước phải đề phòng 3 tội lỗi của tâm lý, là đối với đồ ăn vị ngon là nổi tham, với đồ ăn vị dở thì nổi sân, với đồ ăn vị trung tính thì nổi si (ăn theo bản năng, đói thì ăn, không có ý thức
gì), do đó mà không biết hổ thẹn, rơi xuống 3 đường ác : khi thọ thực, phải có sự quán xét như vậy. Bốn, chính vì lấy thực phẩm làm dược phẩm tốt để trị liệu thân hình khô yếu, là đói khát  làm bịnh chủ yếu, 404 bịnh khác làm bịnh phụ thuộc, nên phải lấy đồ ăn làm dược phẩm để giúp cho thân ấy : khi thọ thực, phải có sự quán xét như vậy. Năm, vì thành đạo nghiệp mà ứng thọ thực phẩm ấy, là không ăn thì bịnh đói khát phát sinh, đạo nghiệp làm sao thành tựu, nên Tăng nhất a hàm nói, ăn nhiều sinh bịnh tật, ăn ít khí lực suy, hãy vừa phải mà ăn, như cân không cao thấp : khi thọ thực, phải có sự quán xét như vậy.
            Mục 28 kết thúc sự thọ trai
Ai hiến cúng được,
thì được lợi ích ;
vui thích hiến cúng,
sau này yên vui.
Thọ thực hoàn tất,
nên nguyện chúng sinh,
việc làm hoàn tất,
đủ pháp chư Phật.

         Nc.- Trước tụng chú Chuẩn đề, kế tụng 2 bài kệ trên đây.
         Pc.- Hai bài kệ này, bài thức nhất, rõ thì phải dịch : người biết bố thí thì tất nhiên được ích lợi của sự bố thí ấy ; nếu vì vui thích mà bố thí, thì về sau tất nhiên được yên vui. "Vì vui thích mà bố thí" là vì cầu sự yên vui nên trong lòng hứng thú mà bố thí, không phải ỷ của, khoe của, hay bố thí

mà tính toán, bố thí rồi hối tiếc. Trong bài kệ thứ hai, "việc làm hoàn tất" là sự tu học đã hoàn tất, tức gọi là bậc vô học, nên câu này nguyên để tả địa vị A la hán.
Mục 29 rửa bát Ứng khí
Nước rửa Ứng khí,
như nước Cam lộ,
đem cho quỉ thần,
ai cũng no đủ.
Án ma hưu ra tất sa ha (3 lần).
Mục 30 mở bát Ứng khí
Ứng khí của Phật,
còn được mở ra,
nguyện cùng chúng sinh
"ba luân thanh tịnh".
Án tư ma ma ni sa ha (3 lần).
 
Pc.- Mục này có tiêu đề và ý nghĩa bài kệ, đều phải để trước mục 25 mới đúng. Để ở đây thánh ra không phải mở bày  mà là thu dọn. "Ba luân thanh tịnh", dịch sát : 3 luân rỗng lặng, là người hiến cùng, người ứng thọ, và đồ hiến cúng, không bên nào bị sự chấp trước làm vẩn đục.
Mục 31 nhận đồ cúng dường
Tài thí pháp thí
bình đẳng tất cả,
làm cho đàn độ
tron vẹn đầy đủ.
Pc.- Đàn độ là bố thí ba la mật : sự san sẻ toàn hảo.
Mục 32 lấy tăm dương chi
Cầm tăm dương chi,
 
nên nguyện chúng sinh,
thu hoạch diệu pháp,
tuyệt đối trong sáng.

Án tát ba phạ thuật đáp, tát ri ba, đáp rị ma, ta ba phạ, thuật đát khoánh. Án lam sa ha (Chú Tịnh pháp giới "Án lam sa ha" trì 21 lần).

Mục 33 nhấm tăm dương chi
Nhấm tăm dương chi,
nên nguyện chúng sinh,
tâm tính thuần hóa,
cắn nát phiền não.

Án a mộ dà, di ma lệ, nhĩ phạ ca ra, tăng thâu đà nễ, bát đầu ma, câu ma ra, nhĩ phạ tăng, thâu đà da, đà ra đà ra, tố di

ma lê, sa phạ ha (3 lần).
 Mục 34 súc miệng
Súc miệng lòng sạch luôn,
miệng thơm hương trăm hao,
ba nghiệp thường trong sạch,
cùng Phật về Tây phương.
Án hảm án hãn sa ha (3 lần).

Nc.- Nếu không có cây dương, cây liễu, thì lấy gì xỉa răng ? Phải hiểu cây gì cũng có thể xỉa răng, có điều chỉ lấy cây tính hòa, và có vị đắng. Lúc xỉa răng thì phải súc miệng và nuốt nước miếng trước đã. Không được ngậm nước mà xỉa răng. Xỉa răng có 5 cái lợi : miệng không đắng, không hôi, trừ phong, trừ nhiệt, trừ đàm. Tăm dùng rồi phải bỏ chỗ khuất, không được được

ném những chỗ đại chúng đi hay ngồi.
Pc.- Ba tiêu đề 3 động tác như trên không những chỉ có trong việc thọ thực, mà còn có ngoài việc ấy. Nhưng trong việc thọ thực, 3 động tác này đáng lẽ phải để trước mục 28 mới phải.
Mục 35 lấy tích trượng
Cầm nắm tích trượng,
nên nguyện chúng sinh,
thiết hội đại thí,
cho pháp chân thật.
Án na lật thế, na lật thế, na lật tra bát để, na lật đế, na dạ bát nanh, hồng phấn tra (3 lần).
            Pc.- Tích trượng  là dùng vào việc đi khất thực. Phạn ngữ khiết khí la (khakkhara), ngài La thập dịch thanh
trượng (Thập tụng luật), chỗ khác dịch minh trượng, toàn có nghĩa là cái gậy tạo ra tiếng. Gậy cao ngang vai, cán gỗ, trên có vòng tròn bằng sắt hay thiếc, lớn bằng miệng chén, với vòng nhỏ để rung ra tiếng. Công dụng trong việc khất thực là rung tiếng báo tin cho thí chủ hay, thay cho việc vào thẳng nhà người ta hay gõ cửa, khiến họ bất bình. Nhưng chỉ được rung vài tiếng, người ta không nghe hay không trả lời thì đi ngay. Lại còn đề phòng chó dữ (nhưng không được đánh). Thử ngoại, tích trượng còn để tạo ra tiếng mà báo động rắn rít., vật độc, thú dữ, để khỏi bị chúng hại. Trên đây là nói tích trượng của hiển giáo qua Luật tạng, còn mật giáo thì tích trượng là hình tam muội da của Đức tạng và             
đức Quan âm, thì không liên hệ gì ở đây. Như vậy tích trượng là để khất thực, vậy đáng lẽ để đầu tiên trong tiết 8 này, trước mục 25, mới hợp lý.
            Cầm nắm tích trượng mà nói thiết hội đại thí, là vì tích trượng tiêu biểu cho tuệ giác. Sử dụng tuệ giác là như mở đại thí hội mà cho pháp chân thật. Ý này là nghĩa chính, ở đây và nhiều kinh luận.
Tiết 9 ngủ, có mục 36-37 :
Mục 36 bày đơn ngồi thiền
Bày giường ghế ra,
nên nguyện chúng sinh,
mở bày thiện pháp,
thấy được thật tướng.
Thẳng mình ngồi ngay,
nên nguyện chúng sinh,
ngồi tòa bồ đề,
tâm không vướng mắc.
Án phạ tắc ra, a ni bát ra ni, ấp đa da, sa ha (3 lần).

Pc.- Thật tướng : bản chất thật, thực tướng siêu việt. Tướng ở đây là nghĩa tướng (bản thể), không phải tướng đối lập với tánh. Ngồi tòa bồ đề : sống vững vàng trong tuệ giác.

Mục 37 ngủ nghỉ
Ngủ nghỉ theo giờ,
nên nguyện chúng sinh,
thân được yên ổn,
tâm không loạn động. A.

Pc.- Sắp ngủ thì tùy nguyện mà làm 1 trong 3 việc. Một, ngồi thiền,        

tức sau khi niệm 2 bài kệ mục 36 thì tham cứu công án của mình. Hai, quán tưởng chữ A viết theo Phạn tự cổ (Bảo 1417), rồi 1 hơi niệm thầm 21 lần, và 21 hơi như vậy. Ba, chấp tay hướng về phía tây, quán tưởng và niệm Phật bổn tôn, hoặc 100 tiếng, hoặc 300 tiếng, hoặc hơn nữa. Sau 1 trong 3 việc này mới niệm bài kệ trên, rồi nằm ngủ. Nhưng phải nằm nghiêng bên phải, không được nằm ngửa, nằm sấp, nằm nghiêng bên trái, không được cởi áo trong mà nằm.
Tiết 10 lấy nước, có mục 38 :
Mục 38 lấy nước
Thấy dòng nước chảy,
nên nguyện chúng sinh,
được ý muốn tốt,
 
rửa dơ phiến não.
Nam mô Hoan hỷ trang nghiêm vương phật. Nam mô Bảo kế như lai. Nam mô Vô lượng thắng vương phật. Án phạ tất ba ra ma ni sa bà ha (3 lần).
Thấy dòng sông lớn,
nên nguyện chúng sinh,
theo dòng nước Pháp,
vào biển trí Phật.
 
Nhìn thầy cầu cống,
nên nguyện chúng sinh,
như là cầu cống,
đón đưa tất cả.

Nc.- Phạn ngữ là Bát rị tát ra phạt noa (paris- ravana), dịch lự thủy la. Trong luật, các Tỷ kheo nghe Phật
 

 chế giới rồi, không biết cách làm đãy lọc [để lấy nước]. Phật cho phép làm như hình cái gáo, hoặc 3 góc, hoặc làm bình lọc. Nếu sợ trùng vẫn lọt ra thì Phật cho phép để cát vào đãy lọc nước. Lọc rồi không được đổ trên mặt đất, mà phải đổ lại trong nước. Tăng kỳ luật nói, người nào thấy được đường chỉ nhỏ trong bàn tay mới nhìn nước xem. Nếu trong nước có loài rất nhỏ thì không được đến đó dùng rửa tay, rử mặt, đại tiểu tiện.
Pc.- Bài kệ thứ 3 để vào mục này thật không đúng vị trí. Tại sao không là 1 tiểu mục riêng ? Vì thật đáng là 1 tiểu mục.
            Tiết 11 đối với Phật, có mục 39-41 :
Mục 39 tắm tượng Phật
 
Nay con rưới tắm
thân thể Như lai,
là khối công đức
tịnh trí trang hoàng,
cầu nguyện chúng sinh
hết sạch dơ bẩn,
cùng thực hiện được
pháp thân Như lai.

Pc.- Bài kệ này, câu thứ 3, dịch sát phải là "làm cho chúng sinh ngũ trược đều thoát ly dơ bẩn". Ngũ trược là thời kỳ mà con người đủ cả 5 sự vẩn đục. Một là kiếp trược (thời kỳ vẩn đục) vì đủ có 4 thứ sau. Hai là kiến trược (kiến thức vẩn đục). Ba là phiền não trược (tâm lý vẩn đục). Bốn là chung sinh trược (con người vẩn          

đục) : thân yếu tâm ngu, phước ít khổ nhiều. Năm là mạng trược (sinh mạng vẩn đục) : đời sống ngắn dần cho đến 10 tuổi là tuổi trung bình. Trong 5 sự, một là tổng quát, hai và ba là nguyên nhân, bốn và năm là kết quả.
 Mục 40 tán dương Phật
Tán dương tướng Phật,
nên nguyện chúng sinh,
thành tựu thân Phật,
chứng pháp vô tướng.
Án mâu ni, tam mâu ni tát phạ hạ (3 lần).
Mục 41 nhiễu quanh tháp Phật
Nhiễu tháp chiều phải,
nên nguyện chúng sinh,
làm không mâu thuẫn,
thành trí toàn giác.
Nam mô tam mãn đa một đà nẫm, án đỗ ba đỗ ba sa bà ha (3 lần).
Pc.- Tháp, Phạn ngữ là tháp ba, đột đỗ ba (stupa, Paly : thupa), là xây đất đá cao lên để tàng di cốt, do đó mà dịch nghĩa là cao hiển, và dịch mấy chữ nữa cũng theo nghĩa ấy. Có chỗ nói tháp còn gọi là chi đề (chế để, chaitya) dịch nghĩa tịnh xứ hay miếu. Có chỗ nói cùng là tháp, nhưng có xá lợi gọi là tháp, không thì gọi là chi đề. Nhưng đây là nói về tháp theo hiển giáo. Tổng quát thì tháp là chỗ tàng xá lợi hay những gì của thân Phật, hoặc là chỗ tôn thờ Phật. Cũng trong hiển giáo, tháp còn được xây cho
thánh giả và phàm tăng. Nhưng phàm tăng thì phải có giới, lo việc, và có đức, tháp xây không có tầng và ở chỗ khuất (Tăng kỳ luật). Còn theo mật giáo thì tháp là hình tam muội da của Đại nhật như lai, do đó mà cho phép xây để kết duyên, kiếm phước (Bảo 2381,2382).
            Nc.- Tăng kỳ luật nói, lạy Phật, không được như con dê câm [mà phải biết tán thán công đức của Phật]. Lạy tháp Phật thì phải đi vòng theo chiều bên phải, như nhật nguyệt tinh tú nhiễu quannh Tu di. Nhiễu vòng như vậy có 5 điều : một cúi đầu nhìn đất, hai không đạp côn trùng, ba không nhìn hai bên, bốn không nhổ nước miếng xuống đất, năm không nói chuyện. Lại được 5 phước : một đời          
 sau sắc tướng trang nghiêm tốt đẹp, hai được tiếng và giọng nói tốt, ba được sinh chư thiên, bốn được sinh quí tộc, năm được niết bàn,
            Pc.- Đi nhiễu là 1 trong lễ pháp của Tây vức, có nghĩa tỏ ý luyến mộ. (Chính 54/238). Chiều bên phải là bên phải của tháp mà mình đi nhiễu : đó là ý kiến của các ngài Nghĩa tịnh, Tuệ lâm. Ngài Trí húc giải thích cụ thể như sau trong tiểu phẩm 9, đi theo chiều bên phải là từ nam qua tây qua bắc qua đông. Đi nhiễu, Phạn ngữ là pradaksina (Bảo 898).
                 Tiết 12 chăm sóc bịnh nhân,
có mục 42 :
                        Mục 42 chăm sóc bịnh nhân
             Thấy người bịnh tật,
             niên nguyện chúng sinh,
             biết thân vốn không,
             không mọi " tranh cải ".
             Án thất lị da, thất lị da, quân tra rị, sa phạ hạ (3 lần).
             Nc.- Luật định đủ 5 đức tính mới cho phép coi sóc bịnh nhân. Một, biết bịnh nhân đáng ăn hay không đáng ăn mới nên đưa cho. Hai, không gớm, không ghét, không hỷ nhổ và khinh bịnh nhân đại tiện tiểu tiện. Ba, có lòng thương xót chứ không vì áo cơm (làm thuê), không vụ lợi. Bốn, có thể lo liệu thuốc thang cho đến lành hay mất. Năm, có thể thuyết pháp cho bịnh nhân, bản thân cũng tăng tiến thiện pháp. Hễ thấy bịnh nhân thị niệm thầm kệ chú như trên. Trong 8    
ruộng phước, sự khán bịnh là ruộng phước hơn cả.
            Pc.- Trong bài kệ trên, không mọi "tranh cãi", tranh cãi là chữ gọi thế giới luân hồi, bao gồm tất cả hoặc, nghiệp, khổ, vì toàn là những thứ biểu thị đặc tính "tranh cãi". Bịnh là một trong những thứ đó. Về 8 ruộng phước, pháp số thường dùng là Phật, thánh giả, hòa thượng, a xà lê, chư Tăng, cha, mẹ, bịnh nhân. Lại có pháp số nữa do ngài Hiền thủ dẫn xuất : đào giếng, bắc cầu, sửa đường, hiếu cha mẹ, cúng chư Tăng, giúp bịnh nhân, cứu hoạn nạn, thiết đại thí hội. Phật thuyết chư đức phước điền kinh nói "7 thứ bố thí rộng rãi gọi là ruộng phước : xây Phật tháp, Tăng phòng (một) lập vườn, trồng cây ăn quả, làm hồ tắm, trồng 
 
 
cây mát (hai) cho thuốc và chữa bịnh (ba) làm thuyền (bốn) bắc cầu (năm) đào giếng (sáu) làm chỗ vệ sinh công cọng (bảy)" (Chính 16/77).
            Tiết 13 vài việc cần và thường, 
có mục 43-45 :
Mục 43 cắt tóc
Cạo bỏ râu tóc,
nên nguyện chúng sinh,
bỏ hết phiền não,
tuyệt đối thanh tịnh.
Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà da, sa bà ha (3 lần).
Nc.- Văn thù bồ tát soạn tập ngày cạo tóc là 4, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 14, 15, 16, 19, 22, 23, 24, 25, 26, 29. Khi cạo, niệm thầm bài kệ chú trên đây.
Mục 44 tắm gội
Tắm rửa thân thể,
nên nguyện chúng sinh,
thân tâm hết dơ,
trong ngoài quang đãng.
Án bạt chiết ra, não ca tra, sa ha (3 lần).

            Nc.- Trong Luật qui định, Tỷ kheo nửa tháng tắm 1 lần, không được nhiều hơn, trừ lúc bịnh, lúc nóng, lúc làm việc, lúc gió, lúc mưa, lúc đi đường, thì không kể. Lại gội tắm thì nên chọn ngày. Kỵ là 6 ngày chay. Những ngày này 4 châu thiên hạ có sự xét việc thiện ác của loài người, hãy tu điều lành, làm việc tốt. Sáu ngày chay là 8, 14, 15, 23, 29, 30 mỗi tháng. Vào chỗ tắm, đem áo sạch treo trên

sào hay giá sạch, áo bẩn treo trên sào hay giá bẩn. Trong nhà tắm, không được tiểu tiện, không được nói cười với người, không được rửa chỗ khuất (vì phải rửa trước ở chỗ vệ sinh ; phòng tắm có luôn chỗ vệ sinh thì rửa trước nơi  chỗ ấy). Có mụt nhọt, ghẻ lở thì nên tắm sau. Có mụt nhọt dễ sợ thì nên tránh đi, khỏi ghê mắt người. Tắm, hãy niệm thầm kệ chú như trên.
Mục 45 rửa chân
Trong lúc rửa chân,
nên nguyện chúng sinh,
đủ thần túc lực,
sở hành tự tại.
Án lam sa ha (3 lần).
Pc.-Thần túc, nghĩa đen là chân thần, là 1 và đứng đấu trong ngũ            
 
 thông Thần túc có 3 năng lực : biến hiện cảnh giới bất tư nghị (nên gọi là thần cảnh thông) đi lại tự tại (nên gọi là thần túc thông) tự thân biến hiện tự tại (nên gọi là thân như ý thông) (Bảo 1820 và 1946).
      Chương hai giới tướng sa di
                  Một là không được sát sinh ; hai là không được trộm cướp ; ba là không được dâm dục ; bốn là không được nói dối ; năm là không được uống rượu ; sáu là không được mang vòng hoa thơm, hau dùng hương thơm xoa mình ; bảy là không được ca, vũ, hòa tấu, biểu diễn, hay cố ý đi xem, nghe ; tám là không được ngồi
 
giường cao và rộng lớn ; chín là không được ăn phi thời ; mười là không được nắm giữ vàng bạc bảo vật.
        Nc.- Sa di có 2 : một là Sa di đồng hính, hai là Sa di đồng pháp. Nếu chỉ thế độ, chưa thấm giới phẩm, thì gọi là Sa di đồng hình. Nếu thọ 10 chi tịnh giới thì gọi là Sa di đồng pháp. Trong loại đồng pháp lại chia ra 3 : từ 7 đến 13 tuổi gọi là ứng pháp sa di, 14 đến 19 tuổi gọi là ứng pháp sa di, 20 tuổi sắp lên gọi là danh tự sa di (vì chưa có cơ hội thọ cụ túc giới).
        Pc.- Giới thứ hai nói theo điển ngữ là lấy của không cho. Giới thứ ba nói theo điển ngữ là không phải phạn hạnh.
Chương ba Sa di phải đủ 5 đức,
 phải biết 10 pháp số
            Kính Phước điền nói, Sa di phải biết năm đức tính : một lòa phát tâm xuất gia, vì cảm bội Phật pháp ; hai là hủy bỏ hình đẹp, vì thích ứng pháp y ; ba là cát ái từ thân, vì không còn thân sơ ; bốn là không kể thân mạng, vì tôn sùng Phật pháp ; năm là chí cầu đại thừa, vì hóa độ mọi người.
            Pc.- Nếu kinh Phước điền là gọi tắt kinh Phật thuyết chư đức phước điền, thì nguyên văn 5 đức này nằm trong Chính 16/777. Nhưng rõ ràng thì chính là Sa di uy nghi, do ngài Cầu na bạt ma dịch (Chính 24/935), theo
 
 
đó, 5 đức là huấn dụ cho Sa di, nên lời này nằm trong sự kiểm vấn Sa di khi muốn thọ đại giới.
            Luật Tăng kỳ nói, nên nói cho Sa di về 10 pháp số : một, là hết thảy chúng sinh đều sống nhờ ăn uống ; hai, là danh, sắc ; ba, là 3 thọ ; bốn, là 4 đế ; năm, là 5 âm ; sáu, là 6 nhạp ; bảy, là 7 giác ý ; tám, là 8 chánh đạo ; chín, là 9 nơi chúng sinh ở ; mười, là 10 nhất thế nhập.
            Pc.- Pháp số là số lượng của chánh pháp, tức qui tụ chánh pháp lại, phân loại chánh pháp ra, hệ thống hóa chánh pháp thành tư tưởng hệ rõ ràng. Do đó, pháp số là căn bản của luận tạng Phật giáo, và nhiều chứng cớ cho     
 
thấy tôn giả Xá lợi phất đặc biệt có sở trường về căn bản này. Nhân đây tôi có thể nói lần kiết tập đầu tiên không phải không có luận tạng, nhưng luận tạng nằm trong kinh tạng, ít nhất là những kinh nói về pháp số. Qua pháp số, dầu chỉ 10 pháp số nói cho Sa di trên đây, hay mỗi một pháp số trong 10 pháp số ấy, triết thuyết và phương pháp của Phật giáo vẫn thấy có rõ.
            Về 10 pháp số, nay tôi cắt nghĩa lại, đơn giãn hơn trước đây đã căn cứ A tì đạt ma tập dị môn túc luận của ngài Xá lợi phất mà cắt nghĩa. Pháp số 1là chúng sinh đều nhờ ăn mà sống, không ăn bằng thực phẩm (đoàn thực) thì cũng ăn bằng cảm xúc (xúc thực) tư tưởng (tư thực) và chủ thức
 
(thức thực). Pháp số 2 là danh (thọ, tưởng, hành, thức) và sắc (sắc). Pháp số 3 là 3 thọ : cảm giác khổ (khổ thọ) cảm giác vui (lạc thọ) và cảm giác trung tính (xả thọ). Pháp số 4 là tứ đế. Pháp số 5 là 5 âm hay uẩn. Pháp số 6 là lục nhập (nội lục nhập : 6 căn, ngoại lục nhập : 6 cảnh). Pháp số 7 là 7 giác chi (là 7 giác chi trong 37 giác phần). Pháp số 9 là 9 nơi chúng sinh thích ở : một là nhân loại chư thiên của Dục giới, hai là Phạn chúng thiên, ba là Cực tịnh thiên, bốn là Biến tịnh thiên, năm là Vô tưởng thiên, sáu là Không vô biên xứ, bảy là Thức vô biên xứ, tám là Vô sở hữu xứ, chín là Phi phi tưởng xứ ; Đại thừa nghĩa chương    
 
 
 
 cuốn 8, đoạn cuối nói, tại sao nói 9 nơi này, vì để phá tổng chấp của ngoại đạo ; ngoại đạo tổng chấp chúng sinh có thần ngã, chọn chỗ tốt mà ở, Phật bài xích bằng cách nói 9 chỗ này chỉ là chỗ chúng sinh ở, không phải thần ngã nào ở cả. Pháp số 10 là 10 nhất thế nhập, tức 10 biến xứ, là quán tưởng vũ trụ hoặc toàn là đất (1) hoặc toàn là nước (2) hoặc toàn là lửa (3) hoặc toàn là gió (4) hoặc toàn là xanh (5) hoặc toàn là vàng (6) hoặc toàn là đỏ (7) hoặc toàn là trắng (8) hoặc toàn là không (9) hoặc toàn là thức (10).
Chương bốn Sa di phải hiểu
 4 giới tướng :
        Tiết 1 giới tướng Sa di ni
     Nc.- Đồng với phần trên (tức 10
 
 giới tướng Sa di) nên không kê lại.
    Tiết 2 giới tướng Thức xoa ma na
      Một là không được dâm dục, hai là không được trộm cướp, ba là không được sát sinh, bốn là không được nói dối, năm là không được ăn phi thời, sáu là không được uống rượu.
      Nc.- Phạn ngữ Thức xoa ma na, dịch nghĩa là học giới nữ. Phật cho những người 10 tuổi từng lấy chồng (theo tục tảo hôn của Ấn độ), và đồng nữ 18 tuổi, có 2 năm học giới để sạch thân và 6 pháp để sạch tâm. Rồi trong Tỷ kheo ni chúng, tập chúng bạch kiết ma (1 bạch 3 kiết ma), cho những người đủ 12 năm (cọng với 10 tuổi từng lấy chồng), và đủ 20 tuổi, mới
 
được thọ cụ túc giới. Nếu năm học chưa đủ, 6 pháp không thanh tịnh, thì không được cho thọ cụ túc giới của Tỷ kheo ni.
            Pc.- Thức xoa ma na ni (Siksamana) là Sa di ni muốn thọ Tỷ kheo ni giới thì phải có 2 năm đặc biệt học 6 pháp, để coi có thai hay không, và thử coi chí hạnh có chắc hay không. Nói sạch thân và sạch tâm là nghĩa này. Thì gian 2 năm, và học 6 pháp, gọi là Thức xoa ma na ni.
                      Tiết 3 giới tướng Ưu bà tắc
            Một là không được sát sinh, hai là không được trộm cướp, ba là không được tà dâm, bốn là không được nói dối, năm là không được uống rượu.
 
Nc.- Năm giới này nếu ai không thể hoàn toàn thọ trì thì thọ trì hoặc 1 giới, hoặc 2 giới, hoặc 3 giới, hoặc 4 giới. Phật từ bi, phương tiện tùy khả năng mà nhất nhất cho cả. Nhưng nếu người có trí, dốc lòng tin tưởng mà 5 giới hoàn toàn thọ trì, mới là sự thọ trì chánh chân.
                 Tiết 4 giới tướng Bát quan trai
            Một, không được sát sinh ; hai, không được trộm cướp ; ba, không được dâm dục ; bốn, không được nói dối ; năm, không được uống rượu ; sáu, từ bỏ hoa, hương, chuỗi ngọc và dầu thơm xoa mình ; bảy, từ bỏ giường cao, hơn và lớn, từ bò sự tự hát xướng, biểu diễn, hòa nhạc, hay cố đi  
 
 
 xem nghe ; tám, từ bỏ sự ăn phi thời.
            Nc.- Tỳ bà sa nói, trai là lấy sự quá giữa ngày không ăn làm thể tánh, lại lấy 8 sự giúp thành thể tánh của trai, chi trì cho nhau, nên gọi là 8 chi trai pháp, cũng gọi là bát quan trai, Thành thật luận nói, tại sao chỉ nói từ bỏ 8 sự ? vì do 8 sự này mà từ bỏ mọi điều ác. Trong đó, 4 sự trước là ác thật, uống rượu là cửa các điều ác, còn lại 3 là sự có thể nổi lên nhân duyên chướng đạo. Quan nghĩa là đóng bít các điều ác. Tám giới này chỉ thọ trì mỗi một ngày đêm. Hoặc 3 ngày là 8, 14 và 15 trong mỗi tháng ; hoặc 6 ngày chay trong mỗi tháng : 8, 14, 15, 23, 29, 30 ; hoặc ngày vía chư Phật, Bồ tát ; hoặc ngày sinh của mình, tất
 
 cả 4 loại ngày trên đây đều có thể thọ trì. Luận nói thọ trì 8 giới nên một ngày đêm, không để hỗn loạn với giới tướng thọ trì suốt đời. Tám giới này, bất luận những người đã thọ ngũ giới hay đã thọ tại gia bồ tát giới, đều có thể thọ trì.
            Pc.- Tất cả 4 giới tướng này, đối với cấp bậc Sa di, nói biết là tối thiểu cũng phải biết nghĩa và nhớ pháp số. Còn thật ra nói biết thì còn biết nhiều lắm, mà là cái biết phải có học, phải có tư cách và phải có khả năng mới biết được.
            Về bát quan trai, phải nói đến sự trọng thị của kinh Dược sư. Kinh này dạy có thể thọ trì trong cả năm hay một mùa (3 tháng). Dĩ nhiên không        
 
 
phải chỉ thọ trì một lần. Thọ trì bát quan trai như vậy là nhân tố sinh tịnh độ.

 
 
/31
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »