Mục lục
Tài liệu ........................................................................................................ 1337
Tác giả.......................................................................................................... 1338
Lược giải nhan đề ...................................................................................... 1340
Chương trước phần giới luật, có 2 tiết :.................................................. 1341
Tiết 1 lời nói đầu ................................................................................... 1341
Tiết 2 10 giới luật, có 10 mục :............................................................ 1346
Mục 1 Không được sát sinh .......................................................... 1346
Mục 2 Không được trộm cướp ...................................................... 1348
Mục 3 Không được dâm dục ......................................................... 1350
Mục 4 Không được nói dối ........................................................... 1351
Mục 5 Không được uống rượu....................................................... 1354
Mục 6 Không được mang vòng hoa thơm
.......... hay dung hương thơm xoa mình ........................................ 1357
Mục 7 Không được ca, vũ, hòa tấu,
.......... biểu diển, hay đi xem nghe ................................................ 1361
Mục 8 Không được ngồi giường cao và rộng lớn ....................... 1363
Mục 9 Không được ăn phi thời ..................................................... 1369
Mục 10 Không được nắm giữ vàng bạc, bảo vật......................... 1371
Chương sau phần uy nghi, có 2 tiết :.................................................... 1377
Tiết 1 lời mở đầu.................................................................................. 1377
Tiết 2 24 uy nghi, có 24 thứ :............................................................. 1389
Thứ 1 kính đại sa môn.................................................................... 1389
Thứ 2 thờ thầy.................................................................................. 1391
Thứ 3 theo thầy đi ra ...................................................................... 1401
Thứ 4 nhập chúng............................................................................ 1404
Thứ 5 theo chúng thọ thực............................................................. 1413
Thứ 6 lễ bái....................................................................................... 1420
Thứ 7 nghe pháp.............................................................................. 1423
Thứ 8 học tập kinh điển.................................................................. 1427
Thứ 9 vào tự viện............................................................................. 1433
Thứ 10 vào nhà Thiền với đồng chúng......................................... 1434
Thứ 11 làm việc............................................................................... 1439
Thứ 12 vào nhà tắm......................................................................... 1441
Thứ 13 vào nhà xí............................................................................ 1444
Thứ 14 nằm ngủ............................................................................... 1447
Thứ 15 quanh lò lửa........................................................................ 1449
Thứ 16 ở trong phòng...................................................................... 1449
Thứ 17 đến chùa ni.......................................................................... 1451
Thứ 18 đến nhà người..................................................................... 1453
Thứ 19 khất thực.............................................................................. 1458
Thứ 20 vào chỗ dân cư................................................................... 1460
Thứ 21 mua đồ................................................................................. 1463
Thứ 22 làm gì cũng không được tự ý............................................ 1463
Thứ 23 đi học xa.............................................................................. 1468
Thứ 24 danh tướng y bát
[mà sa di phải biết trước].................................................... 1470
Tài liệu
Tài liệu dung để dịch giải sách này, về phía Đại tạng thì Sa di thập giới pháp tinh uy nghi, phụ thêm thì có Sa di uy nghi và Sa di thập giới nghi tắc kinh, lien tiếp mang các số 1471, 1472 và 1473, cùng nằm trong Chính 24/926-937. Về phía Tục tạng thì có Sa di luật nghi yếu lược tăng chú, của ngài Hoằng tán ; Sa di luật nghi yếu lược thuật nghĩa, của ngài Thư ngọc ; Sa di luật nghi Tỳ ni nhật dụng hiệp tham, của ngài Tế nhạc ;
liên tiếp mang các số 1103, 1104 và 1105, cùng nằm trong Vạn 106/133-341. Ngoài ra, Bách trượng thanh qui là một tài liệu rất quan trọng, sẽ được nói đến trong chương sau.
Tác giả
Tác giả Sa di luật nghi yếu lược là ngài Châu hoằng. Sau đây là lược ghi về ngài, theo Chính 49/952, Vạn 133/145, Vạn 135/145, Vạn 106/178.
Niên đại : 22.1 ất mùi (1535) – 4.7. ất mão (1615), tuổi thọ : 81, tuổi hạ : 50. Thân thế và quê quán : Người Hàng châu, Nhân hòa, dòng họ Trầm, húy Châu hoằng, từ Phật tuệ,
hiệu Liên trì. Mười bảy tuổi bổ chư sinh (nho sinh). Ba mươi hai tuổi mất cả cha mẹ. Xuất gia với ngài Tánh thiên, thọ giới với ngài Vô trần. Tu học : Viết 4 chữ sinh tử sự đại (sống chết việc lớn) đầu bàn để tự cảnh sách. Sau khi xuất gia, tham yết Thiện tri thức khắp nơi, nếm đủ gian khổ, tham cứu công án “người niệm Phật là ai” mà tỉnh ngộ. Năm 1571, khất thực đến núi Vân thê, thuộc Hàng châu, Võ lâm, Phạn thôn, thích sơn thủy núi này nên thiết lập tòng lâm ở đó, an cư thanh chúng, tinh tu bạch nghiệp, chỉnh sức giáo nghĩa, trang nghiêm giới luật. Trước thuật và ảnh hưởng : có 32 tác phẩm, sách này là 1. Giá trị không nhỏ, ảnh hưởng không ít. Cứ xem ảnh hưởng của tiểu phẩm này
cũng đủ biết. “Là thiện tri thức mô phạm cho quá khứ, hiện tại và vị lại, làm đại hòa thượng tiêu biểu cả thiền tong, giáo lý và giới luật, ngài sống thì phước duyên sâu nặng, ngài mất thì đức trạch lien miên” (Chính 49/952).
Lược giải nhan đề
Phạn tự “sa di”, xứ này dịch nghĩa tức từ, là đình chỉ việc ác, thi hành từ bi : đình chỉ những sự ô nhiễm của thế tục mà từ bi tế độ chúng sinh. Cũng dịch cần
sách, cũng dịch cầu tịch. Còn luật nghi là mười giới luật và các uy nghi.
Sa di là dịch âm mà lại gọi tắt chữ Sramanera. Dịch nghĩa thì có 3. Một, tức từ : đình chỉ việc ác, thi hành từ bi. Hai, cần sách : được Bậc tinh cần (Tỷ kheo) sách lệ. Ba, cầu tịch : mong cầu niết bàn. Luật nghi :10 giới luật và các uy nghi. Sa di luật nghi yếu lược là bản sách yếu lược về luật và nghi của cấp bậc Sa di.
Chương trước phần giới luật, có 2 tiết :
Tiết 1 lời nói đầu
Phật qui định, người xuất gia 5 hạ về trước phải chuyên học và
tinh tường về giới luật, 5 hạ về sau mới học hỏi giáo lý, tham cứu thiền học. Thế nên các vị Sa di xuống tóc rồi, trước hết phải lãnh thọ 10 giới, kế đó mới bước lên giới đàn lãnh thọ cụ túc giới. Ngày nay, gọi là Sa di mà đối với giới luật của mình lãnh thọ, người ngu thì mờ mịt không biết, kẻ cuồng thì xao lãng không học, liền nghĩ vượt bậc, mơ mộng cao xa, thật đáng bùi ngùi. Vì vậy mà tội đem 10 giới lược giải vài lời, để người sơ học biết phương trời mà họ phải hướng tới. Những người xuất gia với tâm chí tốt, hãy thiết ý tuân hành, thận trọng đừng để vi phạm. Như vậy mới
gần thì làm thềm làm thang cho Tỷ kheo giới, xa thì làm rể làm gốc cho Bồ tát giới. Rồi nhân giới sinh định, nhân định phát tuệ, ngõ hầu thành tựu thánh đạo, không phụ chí hướng xuất gia. Nếu thích xem cho rộng thì nên tự cứu xét toàn văn các sách [nói về Sa di] trong Luật tạng. Danh hiệu 10 giới sau đây xuất từ kinh Sa di thập giới, Phật dạy tôn giả Xá lợi phất nói cho tôn giả La hầu la.
Việc tôn giả Xá lợi phất nói 10 giới cho tôn giả La hầu la, tôi dịch nguyên văn sau đây, của Sa di thập giới pháp tinh uy nghi. Phật bảo tôn giả Xá lợi phất, ông độ cho La hầu la
xuất gia. Tôn giả Xá lợi phất thưa, con nên độ như thế nào? Phật dạy, hãy dạy La hầu la nói thế này : con là La hầu la, qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng ; nói như vậy 3 lần. Con là La hầu la, qui y Phật rồi, qui y Pháp rồi, qui y Tăng rồi ; nói như vẫy 3 lần. Con suốt đời không sát sinh, suốt đời không trộm cướp, suốt đời không tà dâm, suốt đời không nói dối, suốt đời không uống rượu. Phật thế tôn xuất gia, con là La hầu là, do hòa thượng Xá lợi phất mà theo Phật xuất gia ; nói như vậy 3 lần. Phật thế tôn xuất gia, bỏ đồ thế tục mặc áo ca sa, con là La hầu la, do hòa thượng Xá lợi phất mà theo Phật xuất gia, bỏ đồ thế tục mặc áo ca sa, suốt đời không sát sinh, giữ gới sa di ; suốt đời không
trộm cướp, giữ giới Sa di ; suốt đời không dâm dục, giữa giới Sa di ; suốt đời không nói dối, giữ giới Sa di ; suốt đời không uống rượu, giữ giới Sa di ; suốt đời không mang vòng hoa thơm, không dung hương thơm xoa mình, giữ giới Sa di ; suốt đời không ca, vũ, hòa tấu, biểu diễn, không đi xem nghe, giữ giới Sa di ; suốt đời không ngồi giường cao và rộng lớn, giữ giới Sa di ; suốt đời không ăn phi thời, giữ giới Sa di ; suốt đời không nắm giữ vàng bạc, bảo vật, giữ giới sa di. Lại bảo, La hầu la, ông đã thọ 10 giới Sa di rồi, hãy suốt đời tôn trọng mà kính giữ, chung thân không phạm. Hãy phụng sự Tam bảo. Những lời giáo huấn đúng như chánh pháp của hòa thượng và a xà lê, ông không được trái
nghịch. Đối với các vị thượng tọa, trung tọa và hạ tọa, long ông hãy thường cung kính. Hãy nỗ lực mà cầu các phương tiện tọa thiền, tụng kinh và học hỏi mà khuyến khích, hỗ trợ và yu75 làm phước, để đóng lối ác đạo và mở cửa niết bàn. Trong pháp Tỷ kheo, ông hãy tăng trưởng chánh nghiệp để được bốn đạo quả (Chính 24/926).
Trong pháp Tỷ kheo, Sa di hãy tăng trưởng chánh nghiệp để, gần nhất, được thọ cụ túc giới. Cụ túc giới là Tỷ kheo giới và tỷ kheo ni giới, vì có nghĩa từ bỏ hết thảy thân nghiệp ngữ nghiệp nên từ bỏ (Câu xá 14, Chính 24/73).
Tiết 2 10 giới luật, có 10 mục:
Mục 1 Không được sát sinh
Một là không được sát sinh. Giải: Trên đến chư Phật, thánh nhân, sư tăng, cha mẹ, dưới đến quyên phi nhuyễn động, vi tế côn trùng, hễ có sinh mạng thì không được cố giết, bằng cách hoặc tự mình giết, hoặc bảo người giết, hoặc thấy người giết mà mừng theo, nói rộng như trong Luật tạng, vì văn nhiều nên không sao chép ra đây. Kinh ghi, mùa đông hay sinh chấy rận, hãy bắt bỏ trong ống tre, ủ ấm bằng bong, nuôi sống bằng đồ cáu bẩn, là sợ chúng đói lạnh mà chết đi. Cho đến lọc nước, che đèn, không nuôi mèo chồn, vân vân, đều là đạo từ bi cả. Đối với loài nhỏ mà
Còn như thế, thì đối với loài lớn có thể nghiệm biết. Con người thời nay đã không thể thi hành từ bi như vậy, mà lại còn thương tổn, sát hại, như thế được chăng ? Nên kinh đã dạy, thi ân cứu giúp, cho chúng được yên, nếu thấy bị giết, nên sinh từ tâm. Như thế không răn giữ được sao ?
Sư tăng : 2 vị đại sư (là Hòa thượng và A xà lê) và chư Tăng. Bảo người giết, bảo, ở đây và sau đây các giới khác, có nghĩa là sai bảo, ra lịnh, xúc sử, khuyến khích, khen thưởng…
Mục 2 Không được trộm cướp
Hai là không được trộm cướp. Giải: từ vật quí trọng như vàng
bạc, cho đến một cây kim, một ngọn cỏ, không được không cho mà lấy. Vật của thường trú, vật của tín thí, vật của tăng chúng, vật của quan, vật của dân, vật của tất cả, mà lấy bằng cách chiếm đoạt, lấy bằng cách trộm cắp, lấy bằng cách lừa gạt, cho đến trốn thuế, gạt đò, vân vân, đều là trộm cướp. Kinh ghi, một sa di trộm trái của thường trú bảy quả, một sa di trộm bánh của chúng tăng vài cái, một sa di trộm đường phèn của chúng tăng chút ít, đều rơi vào địa ngục cả. Nên kinh đã dạy, thà là chặt tay, không lấy phi tài. Như thế không răn giữ được sao ?
Vật của tất cả là vật công sản, vật công cọng, vật thiên nhiên. Hai loại sau, người xuất gia không bị cấm hưởng dụng, nhưng lạm dụng thì là trộm cắp.
Mục 3 Không được dâm dục
Ba là không được dâm dục. Giải : Năm giới tại gia chỉ hạn chế tà dâm, còn mười giới xuất gia thì cấm hẳn dâm dục. Hễ can phạm đến hết thảy nam nữ trong thế gian thì gọi là phá giới cả. Trong kinh Lăng nghiêm ghi, tỷ kheo ni Bảo liên hương lén làm việc dâm dục, rồi chính mình tuyên ngôn, rằng dâm dục không phải giết thân ai, không phải trộm của ai, nên không có tội
báo, do đó cảm ra thân xuất lửa dữ, đang sống mà vùi xuống địa ngục. Thế nhân vì dâm dục mà giết thân, mất nhà, xuất gia làm tăng sĩ há lại còn phạm ? Căn bản sinh tử, dục là thứ nhất. Nên kinh đã dạy, dẫu dâm dật mà sống, không bằng trinh khiết mà chết. Như thế không răng giữ được sao ?
Hết thảy nam nữ, dịch đúng nghĩa ở đây thì phải là hết thảy giống đực giống cái. Không có tội báo, Bảo lien hương nói như vậy là đã phá giới lại phá kiến, nên tội mới cực nặng.
Mục 4 Không được nói dối
Bốn là không được nói dối.
Giải : Nói dối có bốn. Một, nói dối trá, là phải bảo trái, trái bảo phải, thấy nói không, không nói thấy, dối trá không thật, vân vân. Hai, nói thêu dệt, là trau chuốt lời nói phù phiếm, từ ngữ hoa mỹ, khúc nhạc diễm lệ, lời ca tình tứ, khơi dậy dục vọng, ta8ngtha6m sầu bi, làm phóng đãng tâm chí của người, vân vân. Ba, nói thô ác, là nói thô tục, độc ác, mắng chửi người, vân vân. Bốn, nói hai lưỡi, là đến người này nói người kia, đến người kia nói người này, ly gián ân nghĩa, khêu chọc và xúi bảo cho họ đấu nhau, tranh nhau, vân vân. Cho đến trước khen sau chê, mặt phải lưng
trái, chứng nhận tội người, rêu rao lỗi người, đều thuộc loại vọng ngữ. Nếu phàm phu tự nói chứng được thánh quả, như nói đã được quả Tu đà hoàn, được quả Tư đà hàm, vân vân, thì gọi là đại vọng ngữ, tội ấy rất nặng. Ngoài ra, vọng ngữ vì cứu hoạn nạn cấp bách cho kẻ khác, phương tiện quyền biến, từ bi mà ích lợi, cứu giúp, thì không phạm. Cổ nhân có nói, điều thiết yếu của việc sửa mình là bắt đầu từ sự không nói dối, huống chi người học đạo xuất thế ? Kinh ghi, một Sa di khinh cười một vị Tỷ kheo già đọc kinh, rằng tiếng như chó sủa. Vị Tỷ kheo ấy là bậc A la hán, nên dạy
Sa di cấp tốc sám hối, nhưng chỉ khỏi địa ngục, vẫn còn đọa làm thân chó. Một câu nói thô ác mà làm hại đến như thế đó ! Nên kinh đã dạy, con người ở đời, búa nằm trong miệng, vì vậy chem. Mình, bởi lời nói ác. Như thế không răn giữ được sao ?
Đại vọng ngữ là chưa thánh mà nói dối là thánh ; nhưng đã là thánh cũng cấm nói, vì thế là khoe khoang, vụ danh lợi, tôn kính.
Mục 5 Không được uống rượu
Năm là không được uống rượu. Giải : Uống rượu là uống tất cả thứ rượu có khả năng làm say con người. Tây vức rượu có nhiều
thứ : mía, nho, cùng với trăm hoa đều có thể làm rượu. Địa phương này chỉ có rượu làm bằng gạo. Tất cả đều không được uống. Trừ lúc có bịnh nặng, phi rượu không chữa được, thì phải tác bạch tăng chúng mới uống. Vô cớ thì một giọt cũng không được thấm môi. Cho đến không được ngửi rượu, không được dừng ở quán rượu, không được đem rượu cho người uống. Nghi Địch chế rượu, Vũ vương nhân đó xót xa tuyệt bỏ. Trụ vương làm hồ rượu, quốc gia vì thế diệt vong. Tăng sĩ mà còn uống rượu thì càng đáng sỉ nhục hơn nữa. Xưa có ưu bà tắc vì phá giới uống rượu mà luôn các giới
khác đều phá. Ba mươi sáu lỗi, một việc uống rượu có đủ tất cả, tội ác không phải nhỏ. Kẻ ham uống rượu thì chết rồi phải đọa vào địa ngục Phân sôi, đời đời ngu si, mất giống trí tuệ, nên rượu là thuốc cuồng làm mê loạn tâm hồn còn dữ hơn cả đá tì, chim chẩm. Nên kinh đã dạy, thà uống nước đồng nấu chảy, thận trọng đừng phạm vào sự uống rượu. Như thế không răn giữ được sao ?
Đá tì : peshih hay arsenolite. Chim chẩm : loài chim rất độc, lông nó khuấy hay dầm vào đồ ăn, đồ uống hay rượu mà ăn uống là chết ngay.
Mục 6 Không được mang vòng hoa
thơm hay dung hương thơm
xoa mình
Sáu là không được mang vòng hoa thơm hay dung hương thơm xoa mình. Giải : Vòng hoa là người Tây vức xâu hoa làm vòng để trang sức đầu họ, còn quốc độ này là cái loại dùng lụa, nhung, vàng và các thứ quí báu mà chế tạo hay trang sức khăn, mão. Dùng hương thơm xoa mình là kẻ sang ở Tây vức dùng danh hương làm bột, bảo thanh y xát vào mình, còn quốc độ này là cái loại đeo hương, xông hương, sáp và phấn. Người xuất gia đâu có nên dùng những thứ đó. Phật qui định
ba pháp y đều dùng toàn vải gai thô sơ, còn lông thú miệng tằm thì hại sinh vật, tổn từ bi, không phải những thứ thích hợp với người xuất gia. Trừ tuổi đến bảy mươi, suy đồi quá lắm, phi lụa không ấm, thì hoặc có thể dùng được, còn những kẻ khác đều không thể. Vũ vương nhà Hạ chỉ mắc áo xấu, Công tôn Hoằng chỉ dùng áo ngủ bằng vải, sang như đế vương đại thần, đáng dùng mà không dùng, thì người hành đạo đâu được ngược lại, ham phục sức hoa mỹ. Nên, lấy hoại sắc làm y phục, lấy phấn tảo che thân hình, vốn là sự thích nghi của người xuất gia. Xưa có vị cao tăng mà
ba mươi năm chỉ mang một đôi giày, huống chi hạng phàm phu. Như thế không răn giữ được sao?
Phấn tảo : pamsukulika. Người Ấn đem 5 loại y phục vất bỏ ngoài ngõ ngoài đồng, coi như đồ bẩn lau phân. Người hành đầu đà lấy giặt và chắp may lại mà mặc, nên gọi là áo phấn tảo hay áo bách nạp. Cao tăng ở đây là pháp sư Tuệ hưu. Người đời Đường, 16 tuổi xuất gia, học thông kinh luận, càng rành Hoa nghiêm, duy Luật bộ chưa gấp đọc kỹ, ý cho rằng giới luật có thể căn cứ sự tướng mà tìm thấy, xét đọc thì hiểu, không nhọc thầy dạy. Sau chợt đọc 1 cuốn thì tánh tội giá tội đều mờ mịt, mới ăn năn sự chê bàn ngày trước. Nên cõng Luật neo
Bình, theo Hồng luật sư nghe giảng Tứ phần luật hơn 30 lần, ngoái bảo học trò, ta xưa nghe giảng kinh luận, 1 lần là nhập thần, nay nghe giảng Luật, càng nghe càng mờ, như thế há không phải là lý thì có thể tìm xét hão huyền, còn sự thì khó mà hiểu biết thông suốt. Ngài lại từng nghe Lệ công giảng Luật, Lệ công hỏi, pháp sư đức lớn, tuổi già, tại sao còn nổ lực đối với Luật bộ, ngài nói, tôi nhớ khi mới xuất gia là như từ trong miệng cọp mà ra, như thế há vì già yếu mà có thể chốc lát rời bỏ việc học Luật sao. Tôi hận đã không được từng nghe giảng về Luật bộ sớm hơn mà thôi… Pháp sư kính cẩn và thận trọng về 3 nghiệp, nhớ giữ mà công phu đủ cả 6 thì, phụng trì giới luật, tuân giữ đạo pháp,
càng suy yếu càng dốc sức, y phục vừa đủ che mình, xiêm treo trên vách, mang một đôi giày gai trải qua hơn 30 năm, gặp đất mềm thì đi chân không, ai hỏi lý do thì ngài đáp, tín thí khó tiêu. Đế vương thường triệu vào kinh đô, ngài vẫn từ khước bằng lý do bịnh tật, thọ 88 tuổi (Vạn 106/144).
Mục 7 Không được ca, vũ, hòa tấu,
biểu diễn, hay đi xem nghe
Bảy là không được ca, vũ, hòa tấu, biểu diễn, hay đi xem nghe. Giải : Ca là miệng hát các khúc ca, vũ là thân múa các điệu vũ, hòa tấu biểu diễn là cái loại đàn cầm, đàn sắt, ống tiêu, ống quản. Không được chính mình tự làm những việc này, mà khi người
khác làm, mình cũng không được cố đi xem và nghe. Xưa có tiên nhân vì nghe con gái hát, âm thanh tuyệt diệu, mà thốt nhiên mất liển thần túc. Cái hại xem nghe còn như thế, huống chi tự làm ? Ngày nay, những kẻ ngu muội nhân kinh Pháp hoa có câu tì bà nao bạt, nên tự ý phóng túng mà học âm nhạc. Nhưng trong kinh Pháp hoa nói, là để hiến cùng chư Phật, không phải tự vui. Do đó, những am viện ứng phó làm đạo tràng pháp sự trong nhân gian, thì hoặc có thể làm được, còn nay vì vấn đề sinh tử mà thoát tục xuất gia, thì đâu có thể không tu tập việc chính, lại
cầu học tập cho khéo về kỹ nhạc. Cho đến những việc đánh vi kỳ, lục bác, đầu trịch, xu bồ, vân vân, đều rối loạn đạo tâm, them lớn tội ác. Như thế không răn giữ được sao ?
Am viện ứng phó làm đạo tràng pháp sự trong nhân gian, nói nôm na là đi cúng (ứng phó) đám cúng (đạo tràng pháp sự). Vị kỳ, lục bác, đầu trịch, xu bồ, toàn là cách chơi cờ bạc lối cổ. Từ hải giải thích rõ nhất, hơn cả Vạn 106/145 và 197.
Mục 8 Không được ngồi giường cao
và rộng lớn
Tám là không được ngồi giường cao và rộng lớn. Giải : Phật qui
định giường dây cao không quá tám ngón tay của Ngài. Quá cỡ ấy thì phạm. Cho đến các loại sơn vẽ chạm trổ và màn nệm bằng sa lụa cũng không nên dùng. Phật mà dùng cỏ làm đồ ngồi, đêm ngủ gốc cây, nay ta có giường có chõng cũng đã hơn rồi, sao lại phải cao rộng để phóng túng xác huyễn. Hiếp tôn giả một đời hông không dính chiếu, Cao phong Nguyên diệu thiền sư ba năm lập nguyện không dính giường ghế, Ngộ đạt quốc sư nhận pháp tòa trầm hương còn tổn phước mà rước họa. Như thế không răn giữ được sao ?
Giường dây, đan bằng cỏ, gai, dây, vân vân (Vạn 106/146). Tám ngón tay của Ngài, tôi nghĩ nói ngón tay không bằng nói đốt tay. Ngón tay người thường cũng hơn 5 phân, 5 x 8 = 4 tấc ; Phật dài gấp 3 thì 4 x 3 = 1m20, rất hiếm có giường cao cỡ đó. Vậy nên hiểu là đốt tay. Người thường đốt tay 2 phân, 2 x 8 = 0m16 ; Phật gấp 3 lần thì 0m16 x 3 = 0m48 : cao cỡ này có lý hơn, nên Vạn 106/268 nói khi ngồi thì chân không cách đất. Như lai (Đa đà a dà độ, Tathàgata), như chư Phật đã đến đây như thế đó (nên dịch là Như lai) hay như chư Phật đã rời đây như thế nào thì Phật cũng rời đây như thế đó (nên cũng dịch là Như khứ) – Không phải đến đây do “hành” hay rời
đây mà đi thì đi đến “hữu”. Hiếp tôn giả : Parsva. là Tổ thứ 10 theo Phú pháp truyện, người thuộc Hữu bộ, khuyến cáo Ca nị sắc dà vương (bách kỷ 4 sau Phật nhập diệt) làm việc kiết tập thứ 4 của tiểu thừa. Gọi là Hiếp tôn giả là vì như ngài Huyền tráng kể sau đây. Vốn là thầy ngoại đạo, gần 80 tuổi mới xuất gia, bọn niên thiếu mỉa ngài, ông già này khờ quá. Xuất gia để tập định và đọc kinh, ông già rồi thì còn tiến thủ gì được nữa, chen vào hàng ngũ thanh tịnh chỉ để no ăn mà thôi. Nghe vậy, ngài bái tạ mà tự thề, “nếu ta không thông suốt giáo lý của 3 tạng, không đoạn trừ tham dục trong 3 cõi, không đủ 6 thần thông, không được 8 giải thoát, thì không bao giờ để hông dính chiếu”. Tinh tiến liên
tục 3 năm, quả nhiên ngài thông lý 3 tạng, đoạn dục 3 cõi, được trí 3 mình, người bấy giờ kính ngưỡng, gọi là Hiếp tôn giả. Cao phong Nguyên diệu thiền sư : 1238-1295, 15 tuổi xuất gia, 17 tuổi thọ đại giới, 18 tuổi nghiên cứu tông Thiên thai, 20 tuổi lập “kỳ hạn chết” trong 3 năm, nên năm 21 tuổi đốn ngộ do tham học về Thiền với ngài Tuyết nham. Sau lên chop phía tây của núi Thiên mục, vào động đá Trương công, đề bảng “Cửa chết”, 15 năm không ra khỏi cửa ấy. Về sau người đến tham học không ngày nào rảnh. Chết cũng dặn để trong “Cửa chết”. Trong “kỳ hạn chết”, ngài không tắm, không cắt tóc, không dính giường ghế, quên cả thân miệng, trọn ngày ăn 1 bữa, 3 năm mà vẫn an nhiên. Khi ở
động đá, thì chỗ ở chỉ như cái thuyền, bỏ hết sự phục dịch, chóp núi không có thang thì không lên được, vậy mà ngài triệt thang, cắt hết duyên sựu (Chính 49/909, Vạn 106/146 và 198). Ngộ đạt quốc sư là tác giả Thủy sám. Danh trùm một thời, dị tích cũng lắm, 5 tuổi làm thơ, 14 tuổi giảng Niết bàn, Ý tông ban pháp tọa trầm hương cao hơn 2 trượng, Hy tông ban hiệu Ngộ đạt quốc sư. Về sau, bỗng nhiên trong định thấy Bố tát lấy tay xoa trên đỉnh đầu, nói pháp thâm diệu mà an ủi. Nói rồi liền ẩn. Phút chốc thấy 1 viên ngọc nhập vào đùi vế bên trái, sưng lên và đau lắm, trên có 2 chữ Triệu Thố và thành mụt ghẻ mặt người. Thì ra ngài tiền thân là Viên Án đã chem. Triệu Thố, 10 đời sau đó
làm cao tăng nên Triệu Thố báo không được. Đời này được vua chúa ưu đãi, tâm danh lợi nổi lên, nên Triệu Thố hại được. May nhờ Ca nặc ca tôn giả rửa cho bằng nước tam muội mới giải oán đó (Vạn 106/146 và 198).
Mục 9 Không được ăn phi thời
Chín là không được ăn phi thời. Giải : Phi thời là quá giờ ngọ thì không phải giờ ăn của tăng sĩ. Chư thiên ăn buổi sang, Phật ăn giờ ngọ, bang sinh ăn sau giờ ngọ, quỉ ăn ban đêm. Tăng nên học Phật, không ăn quá giờ ngọ. Ngạ quỉ nghe tiếng chén bát thì trong cổ họng nổi lửa lên, nên ăn đúng giờ ngọ mà còn phải tĩnh lặng, huống quá giờ ngọ ấy.
Xưa có vị cao tăng nghe vị tăng sĩ ở phòng bên cạnh, sau giờ ngọ mà thổi bếp, bất giác rơi lụy khóc thầm, buồn nỗi suy tàn của Phật pháp. Con người thời nay, có kẻ mình yếu, nhiều bịnh, muốn ăn lai rai, có thể không giữ giới này, nên cổ nhân gọi bữa ăn chiều là thuốc, là lấy cái ý chữa bịnh. Nhưng quyết định phải biết như thế là trái với sự qui định của Phật mà phát sinh sự hổ thẹn to lớn, nghĩ nhớ nỗi thống khổ của ngạ quỉ mà thường hành từ bi, không ăn nhiều, không ăn ngon, không ăn một cách yên dạ, mới có thể tạm được. Nếu không thì đắc tội càng nặng. Như thế
không răn giữ được sao ?
Kinh Tì la tam muội nói, phi thời không ăn thì được 5 ích lợi : 1 xa các tham dục, 2 thần khí thanh sảng, 3 đẩy lùi ma ngủ, 4 đạo nghiệp dễ đủ, 5 tăng thêm phước thọ. Trong các kinh khác, Phật nói sau giữa ngày không ăn thì có 5 phước, là ít dâm, ít ngủ, được nhất tâm, ít hạ phong, thân yên ổn và không sinh bịnh (Vạn 106/147 dẫn). Xưa có vị cao tăng là ngài Pháp tuệ thiền sư.
Mục 10 Không được nắm giữ
vàng bạc, bảo vật.
Mười là không được nắm giữ vàng bạc bảo vật. Giải : Sinh là vàng. Tượng là tương tự ; tương tự với vàng là bạc. Nghĩa là sắc
của vàng sinh ra vốn tự vàng, còn bạc có thể nhuộm sắc vàng nên tương tự với vàng. Bảo vật là các loại bảy thứ quí báu. Tất cả đều tăng trưởng tham tâm, trở ngại đạo nghiệp. Nên khi Phật tại thế, tăng sĩ đều khất thực, không lập bếp núc, áo cơm phòng thấtđều tùy ngoại duyên, đặt vàng bạc vào vị trí vô dụng, Nắm giữ mà còn cấm thì sự thanh bạch có thể biết được. Bừa nhằm vàng mà không ngoái lại để nhìn, nho sĩ thế gian còn như thế, Thích tử tự xưng bần đạo thì chứa của làm gì ? Người xuất gia thời nay không phải ai cũng khất thực, mà hoặc nhập tong lâm, hoặc ở am
viện, hoặc đi phương xa, cũng không khỏi cần đến tiền bạc. Nhưng quyết định phải biết như thế là trái với sự qui định của Phật mà phát sinh sự hổ thẹn to lớn, nghĩ nhớ nỗi nghèo thiếu của người khác mà thường hành bố thí, không mưu cầu, không dồn chứa, không buôn bán, không dùng bảy thứ quí báu mà trang sức y phục, đồ dùng, vân vân, mới có thể tạm được. Nếu không thì đắc tội càng nặng. Như thế không răn giữ được sao ?
Bảy thứ quí báu là vàng (suvarna) bạc (rupya) lưu ly (vaidurya) pha lê (sphatika) xa cừ (musaragalva) xích châu (rohita-mukta) và mã não
(asmagarbha). Khất thực, pindapata, dịch nghĩa là khất thực (tỷ kheo đi mà xin ăn), dịch nghĩa đen là đoàn đọa (những vắt đồ ăn để vào trong Bát). Khất thực mục đích để vì mình thì bớt việc mà tu tập, vì người thì phước lợi cho thế nhân. Khất thực mới là chánh mạng. Lối ăn của người xuất gia có 3 : thọ thỉnh mời, chung tăng chúng và thường đi xin. Lối đi xin ít hại đạo nghiệp hơn cả. Khất thực chia 4 phần : một phần cúng người cùng tịnh hạnh, một phần cho người nghèo đi xin, một phần cho quỉ thần, một phần mình ăn (Bảo 458). Thích tử : sakyaputriya, đệ tử đức Thích ca. Bần đạo, dịch nghĩa xưa nhất của chữ sa môn (srmana) ý là đoạn trừ con đường nghèo thiếu là sinh tử, là “lấy cái đạo vô lậu dứt cái
nghèo phiền não”. Sau thành tiếng tự xưng khiêm tốn của người xuất gia (Bảo 1938). Tòng lâm, Trí độ luận 3 nói, nhiều tỷ kheo hòa hợp một chỗ gọi là tăng già, ví như những cây lớn hợp nhóm lại gọi là tong lâm…, nên chỗ Tăng tụ họp được gọi là tong lâm.
*
Dịch giải 10 giới rồi, điều đáng lưu ý là các vị làm thầy nên nhớ cái tuổi của cấp bậc Sa di. Đó là cái tuổi có nhiều ưu điểm mà tuổi lớn đa số đã mất đi, nhưng vẫn thiếu tự giác, có tự giác cũng thiếu ý chí, có ý chí cũng thiếu tự chủ, có tự chủ cũng thiếu kiên trì. Nên sự giữ giới phải do chính người làm thầy xét họ có khả năng hay không _ nghĩa là con người họ
có thích ứng 10 giới hay không. Rồi chính người làm thầy phải làm gương mẫu, phải giáo dục và khuyến khích họ, Lời giải 10 giới có vẻ nói với tuổi lớn hơn là vì vậy.
Lời giải 10 giới, theo Chính 24/926-927, còn có những chi tiết quan trọng, và một nửa những chi tiết ấy là “không được học tập”. Học tập ở đây là tập tành, thí dụ, học tập sử dụng khí giới, kỹ thuật tà đạo…, luận thuyết thế sự, giao thiệp phụ nữ, giao hảo bất lương… Lời giải sách này không ghi, có lẽ vì nếu đã không bao gồm trong phần giới luật thì cũng sẽ thuộc phần uy nghi. Tuy nhiên, người làm thầy phải biết để “tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức”.
Chương sau phần uy nghi, có 2 tiết :
Tiết 1 lời mở đầu
Phật qui định, Sa di tuổi đầy hai mươi, khi muốn lãnh thọ cụ túc giới, nếu chất vấn mà người nào không thể phúc đáp đầy đủ về việc Sa di, thì không nên truyền thọ cụ túc giới cho người ấy. Nên bảo, ông làm sa di mà không biết việc sa di phải làm, huống chi việc Sa môn là việc lớn, khó làm. Ông hãy đi học cho thuộc, phải nghe và biết đủ cả, mới nên lãnh thọ cụ túc giới. Bây giờ truyền thọ cụ túc giới cho ông thì người ta bảo Phật pháp dễ tu, Sa môn dễ làm. Vì vậy nên
phải chất vấn trước. Những điều tắc dưới đây là trích ra từ các bản kinh nói về uy nghi Sa di, từ bản thanh qui đời xưa, và sách Sa di thành phạm đời nay. Tác phẩm Hành hộ luật nghi của Tuyên luật sư tuy để răn bảo các vị Tỷ kheo mới học, nhưng điều nào có thể thông dụng thì cũng trích ra. Vì long người thời đại mạt pháp lắm sự biếng nhác, nghe nhiều thì chán, do đó mà tôi lọc bỏ những điều phồn toái, trích lấy những chỗ chính yếu. Nhưng vẫn phân loại để tiện cho việc học đọc. Tựu trung có chỗ nào chưa đủ, tôi theo ý nghĩa mà phụ thêm một vài điều. Ai thích
xem cho rộng thì nên cứu xét toàn văn các sách [trên đây].
Lời mở đầu này tác giả trích lục Sa di thập giới pháp tinh uy nghi (Chính 24/927), Sa di uy nghi cũng có (Chính 24/932). Các bản kinh nói về uy nghi Sa di là Sa di thập giới pháp tinh uy nghi, số 1471, Chính 24/926-935 ; Phật thuyết sa di thập giới nghi tắc kinh, số 1473, Chính 24/935-937. Bàn thanh qui đời xưa, là chỉ Bách trượng thanh qui. Bách trương thanh qui là thanh qui đầu tiên của Thiền tông mà thôi. Còn thanh qui cho tăng ni thì, theo Chính 50/464-529). Nhưng theo Lương Khải Siêu thì
do ngài Đạo an (Siêu 8/3-4). Tôi công nhận thuyết này. Nhưng Bách trượng thanh qui ảnh hưởng rất lớn, lại lien hệ đến các tiểu phẩm Cành sách, Tỳ ni và Sa di luật nghi, nên phải tìm hiểu chút ít.
Như tên sách, tác giả Bách trượng thanh qui là ngài Bách trượng. Ngài người đời Đường, niên đại là 719-814, sinh 7 năm sau ngài Tuệ năng nhập diệt (712), đắc pháp với ngài Mã tổ, ngài Mã tổ đắc pháp với ngài Nam nhạc, ngài Nam nhạc đắc pháp với ngài Tuệ năng, như vậy ngài là thế hệ thứ 4 của ngài Tuệ năng. Từ ngài, xuất ra 2 phái của Thiền tông, là Qui ngưỡng và Lâm tế. Ngài Lâm tế là thế hệ thứ 3 của ngài. Ngài ngày nào không làm thì ngày đó không ăn, dầu
chúng bất nhẫn, dấu đồ làm đi. Làm việc, chịu nhọc, thì ngài trước chúng.
Về tác phẩm Bách trượng thanh qui, nguyên danh là Thiên trượng qui thức, sau này gọi là Bách trượng thanh qui hay Cổ thanh qui. Ngài Bách trượng thường quan tâm đến việc Thiền tông chưa có qui thức thích đáng, nên nói, tổ đạo muốn bố hóa, mong vị lai không tuyệt thì phải thiết lập qui chế sao cho thích nghi… Thiền tông sinh hoạt riêng là bắt đầu từ ngài.
Nhưng Bách trượng thanh qui đã mất. Còn lại bây giờ là Sắc tu Bách trượng thanh qui (Chính 48/1109-1160, Vạn 111/236-289) và Bách trượng thanh qui chứng nghĩa ký (Vạn 111/290-437). Sách trước thuộc đời Nguyên, sách sau thuộc đời Thanh. Ngài Trí húc thuộc
đời Minh, chỉ thấy sách trước, và nói, Bách trượng thanh qui thì triều Nguyên, thầy trú trì Thế đế xuyên tạc, càng đáng xấu hổ (Vạn 106/342). Đọc đoạn đầu của 2 sách thì sách trước do trú trì Bách trượng sơn (chỗ ngài Bách trượng) là Đức huy, phụng sắc mà trùng biên ; sách sau thì xưng Cương mục, đồng với bản trong Tạng (?) hơn. Sách sau được cái quí là có bài nguyên tựa của Bách trượng thanh qui mà Chính 51/250 trích lục.
Dẫu nguyên bản không còn, nhưng dáng dấp đặc biệt của Bách trượng thanh qui vẫn còn trong 2 sách dẫn thượng. Dáng dấp này quả thật liên hệ đến cái vừa gọi là thích nghi cho sự bố hóa và không tuyệt của tổ đạo. Đó là điều mà cọng them uy thế tác giả,
ngài Bách trượng, sư tổ của ngài Lâm tế, đã tạo nên ảnh hưởng của Bách trượng thanh qui, một ảnh hưởng có thể nói rằng sinh hoạt tự viện của Phật giáo Trung hoa là Thiền tông, là sách ấy.
Nhưng chính ảnh hưởng này tạo ra sự thất lạc và xuyên tạc về Bách trượng thanh qui. Đọc đoạn đầu của 2 sách thượng dẫn, ta có thể thấy các tự viện đều theo Bách trượng thanh qui, nhưng không khỏi có them bớt sửa chữa. Rồi đến nhà Nguyên thì dùng ngay bàn tay của người trú trì chỗ ở của ngài Bách trượng mà chữa và buộc thiên hạ theo bản chữa ấy, còn nguyên bản thì dĩ nhiên là làm cho mất đi. Dò xét cả 2 sách thì thấy cái dụng ý sửa chữa thật rõ rệt : cốt ý để Phật
giáo tôn sung đế vương triều đại bằng việc chúc tán và cúng kỵ. Việc ấy có lẽ nguyên bản cũng có, nhưng chắc không như 2 sách chữa kê rõ đế vương triều đại của mình : xảo mà vụng là chỗ đó. Đến như sự chữa thì bớt gì chưa biết, chỉ biết thêm thì rõ rang quá nhiều. Tuy nhiên, sách đời Thanh có vẻ có học hơn. Thí dụ kỵ ngài Đạt ma thì tụng đoạn “cú phi cú” của kinh Lăng già, kỵ ngài Trí giả thì tụng phẩm Như lai thọ lượng của kinh Pháp hoa, thì phi tác giả học khá (Vạn 111/291) tất phải là nguyên bản còn lại. Đại để, cái mà tôi gọi là dáng dấp đặc biệt, là như thế, và dáng dấp ấy vẫn còn không ít trong 2 sách dẫn thượng.
Đặc điểm rõ rệt nhất của Bách
trượng thanh qui là, thứ nhất, “qui định sự tướng”. Bách trượng thanh qui qui định hết thảy sự tướng thuộc hình thức và sinh hoạt của Thiền tông, của Phật giáo Trung hoa, và của Phật giáo các xứ chịu ảnh hưởng của Phật giáo xứ ấy. Tôi ngờ rằng các ngày Vía Phật và Bồ tát cũng được qui định bởi Bách trượng thanh qui. Sự qui định này không những với ý thức làm cho “tổ đạo bố hóa và không tuyệt”, mà rõ rang ta có thể nói là Thiền hóa sự tướng. Đặc điểm của Bách trượng thanh qui còn là, thứ hia, “phù trì giới hạnh”. Việc này không những là công việc rõ rệt của Bách trượng thanh qui, của thầy, mà tiếp ngay sau đó, học trò của ngài Bách trượng là ngài Qui sơn, có Cảnh sách văn mà mục đích càng
rõ rệt là phù trì giới hạnh. Điều này thì “tổ đạo bố hóa và không tuyệt” đã thành định nghĩa của sự “duy trì Tăng bảo”. Đặc điểm như thế này, chỉ đọc chương đại chúng, Chính 48/1136 ; nhất là phần Sa di đắc độ hay thập chi chánh quỹ, Chính 48/1136 ; nhất là phần Sa di đắc độ hay thập chi chánh quỹ, Chính 48/1136 ; phần nhật dụng quỹ phạm, Chính 48/1144 ; chương pháp khí, Chính 48/1155 ; đặc biệt chỉ đọc phần nhật dụng quỹ phạm, cũng có thể thấy rõ. Với công việc qui định sự tướng và phù trì giới hạnh, được làm bởi chính đại tổ sư Bách trượng, ta có thể quả quyết đối tượng mà công việc này nhắm loại trừ, không ai khác hơn là những kẻ cuồng thiền, khinh thường giới hạnh và sự tướng.
Tuy nhiên, sự đề cập Bách trượng thanh qui của tôi phải nói và chỉ nói,
là sách ấy liên hệ với tiểu phẩm Sa di luật nghi này như thế nào? Sự liên hệ ấy có 3 điều. Điều thứ nhất là lien hệ mục đích “phù trì giới hạnh” mà tiểu phẩm này lấy làm căn bản và toàn diện. Điều thứ hai là lien hệ những uy nghi mà thiên uy nghi tham khảo thì tác giả tiểu phẩm đã tự nói. Còn điều thứ ba là liên hệ những chú ngữ mà tiểu phẩm ấy sử dụng. Mặc dầu tác giả tiểu phẩm này chỉ tham khảo sắc tu Bách trượng thanh qui.
Tuy có 3 sự lien hệ như trên nhưng điều tôi muốn lưu ý hơn hết là việc sử dụng chú ngữ. Một số chú ngữ mà tiểu phẩm này có, đã thấy có trong Bách trượng thanh qui có. Học giả hãy tra lại thời đại. Thời
đại ngài Bách trượng là thế kỷ thứ 8, thế kỷ Mật tông cực thịnh ở Tàu, với sự có mặt của Thiện vô úy (636-735) Kim cang trí (661-732) Bất không (704-774) Nhất hạnh (727-862), Sống cùng thời đại với 4 vị tổ của Mật tông như vậy, dầu muốn dầu không, ngài Bách trượng phải sử dụng phần nào chú ngữ vào qui chế sinh hoạt mà ngài thiết chế cho tăng ni,dẫu tăng ni mà ngài nhắm đa số là Thiền tông. Rồi năm 1334-1335 (Vạn 111/237), tức 6 thế kỷ sau, đời Nguyên, khi Bách trượng thanh qui bị chữa, thì thời ấy, với phù chú của xứ Thành tư cát hoàng đế xâm chiếm Trung hoa, thì việc sử dụng chú ngữ trong sách chữa là dĩ nhiên, sách chữa ấy còn ghi cúng kỵ. Đế sư (thầy của vua) mà bấy giờ là
Bạt hợp tư bát (Tuệ tràng hiền cát tường). Đến ngài Châu hoằng, đời Minh, tác giả tiểu phẩm này, thì chắc chú ngữ vẫn còn là thời thượng, nên ngài vẫn sử dụng, nhất là sử dụng như và do Bách trượng thanh qui, sự sử dụng đã Thiền hóa.
Tiết 2 24 uy nghi, có 24 thứ :
Thứ 1 kính đại sa môn
Không được gọi tên chữ của đại sa môn * Không được lén nghe đại sa môn thuyết giới * Không được nói chuyền lầm lỡ của đại sa môn * Không được ngồi thấy đại sa môn đi qua mà không đứng dậy, trừ lúc đọc kinh, lúc bịnh, lúc cắt tóc, lúc ăn cơm, lúc làm việc tăng chúng * Hành
hộ viết, 5 hạ sắp lên là địa vị xà lê, 10 hạ sắp lên là địa vị hòa thượng. Dẫu là việc của tỷ kheo, Sa di cũng phải biết trước.
Xin lưu ý lần nữa, là từ đây sắp đi cho đến hết tiểu phẩm, trong nguyên văn dùng dấu hoa thị là để xếp loại các việc (mà có khi 1 việc là 1 loại, có khi 2 việc sắp lên là 1 loại). Như vậy dấu hoa thị ấy không có ý nghĩa thông thường của nó. Tên chữ là pháp danh, pháp tự. Hãy gọi tên ấy với chữ đại đức cho đến chữ trưởng lão ở trước. Thuyết giới là giảng diễn giới luật, nhất là bố tát tụng giới. Hòa thượng, Phạn tự chính là upadhyaya, còn vùng Vu điền gọi là khosha. Là tiếng gọi thầy, ông thầy có
trí tuệ, dạy bảo đệ tử : vì nghĩa này mà dịch nghĩa là lực sinh (người làm cho đạo lực của đệ tử phát sinh) hay thân giáo sư (người mà đệ tử phát sinh) hay thân giáo sư (người mà đệ tử thân cận thọ giáo). Xà lê là gọi tắt chử A xà lê (Acarya), dịch nghĩa là quĩ phạm sư : người có thể dạy cho đệ tử các pháp thức. Vì nghĩa này mà cũng có người dịch là giáo thọ. Xà lê có 5. Một, xuất gia xà lê, là người mình xuất gia. Hai, thọ giới xà lê, là người mình thọ giới. Ba, giáo thọ xà lê, là người dạy pháp thức cho mình. Bốn, thọ kinh xà lê, là người mình học kinh. Năm, y chỉ xà lê, là người mình nương ở. Năm xà lê này có thể 1 người làm cả, cũng có thể 2 đến 5 người làm.
Thứ 2 thờ thầy
Nên dậy sớm. Muốn vào cửa, trước hết nên đàn chị 3 lần * Nếu có lỗi, hòa thượng hay xà lê răn dạy thì không được nói trả, nói nghịch * Chiêm ngưỡng hòa thượng và xà lê, nên như chiêm ngưỡng Phật. Nếu bảo đổ đồ bất tịnh thì không nên nhổ nước miếng, không nên giận tức * Nếu lễ bái thì thầy ngồi thiền không nên làm lễ, thầy kinh hành không nên làm lễ, thầy thọ thực, thầy thuyết kinh, thầy đánh răng, thầy tắm rửa, thầy ngủ nghỉ, vân vân, đều không nên làm lễ. Thầy đóng cửa, không nên ở ngoài cửa làm lễ. Muốn vào cửa làm lễ, nên đàn chỉ 3 lần ; thầy không trả lời thì
nên đi * Cầm đồ uống đồ ăn của thầy đều nên bưng 2 tay. Ăn rồi, dọn đồ thì phải từ từ * Hầu thầy, không được đứng đối diện, không được đứng chỗ cao, không được đứng quá xa ; phải đứng sao để thầy nói nhỏ mình nghe được, khỏi phí sức thầy *
Đàn chỉ, đàn là đánh, gảy. Chỉ là ngón tay. Đàn chỉ, như vậy, có 2 cách. Một, đánh những ngón tay với nhau, tức gần như vỗ tay ; lại thấy ngón tay gõ vào vật phát ra tiếng, như gõ cửa. Hai, lấy đầu móng 2 ngón tay gảy vào nhau. Ở đây, động tác thứ nhất đúng hơn. Xét cách dùng chữ và việc, thí dụ chính ngài Đạo tuyên đã dùng trong Chính 50/465, biết cách giải thích trên
đây càng đúng. Đồ bất tịnh, ở đây là đồ đại tiện tiểu tiện, ống nhổ, v/v.
Nếu xin hỏi Phật pháp thì phải sửa y, lễ bái, chấp tay, hồ quì ; thầy có dạy thì lắng long nghe kỹ, suy nghĩ vào sâu. Nếu hỏi việc thường của trú xứ thì không cần lạy quì, chỉ đứng ngay thẳng cạnh thầy, cứ thật trình bày. Nếu thầy mệt mỏi cơ thể hay tâm trí, bảo đi thì nên đi, không được long dạ không vui, hiện ra sắc mặt * Phàm có những việc phạm giới vân vân, không được che giấu, phải cấp tốc đến trước thầy, thiết tha xin sám hối. Thầy chấp nhận thì thầh tận tình phát lộ, chân thành hối cải, phục hồi
thanh tịnh * Thầy nói chưa xong, không được nói * Không được ngồi chơi chỗ ngồi của thầy, nằm chơi giường của thầy, dùng chơi áo mão của thầy, vân vân * Vì thầy đi đưa thư, không được tự lén mở coi, cũng không được cho người coi. Đến, người nhận có hỏi, nên trả lời thì trả lời thành thật, không nên trả lời thì khéo lựa lời mà từ khước. Họ đã lưu giữ thì không được ở liền, phải nhất tâm nhớ thầy mong về * Thầy tiếp khách thì hoặc đứng chỗ thường đứng, hoặc đứng cạnh thầy, hoặc đứng sau thầy, phải làm cho tay mắt tiếp nhau, phòng thầy cần đến * Thầy đau ốm thì nhất nhất
chú ý chăm sóc, như phòng thất, chăn niệm, thuốc thang, cháo cơm, vân vân * Cầm áo, đưa giày, giặt rửa, sấy phơi, vân vân, thì đầy đủ cả trong Luật, ở đây không chép nhiều.
Hồ quì là cách quì của người Hồ (Tây vức). Quì có 3 cách : quì chân trái (sẽ nói rõ hơn ở dưới) quì tất cả (là quì cả 2 chân 2 gối, như lối quì của Nhật) quì thẳng dài (là quì 2 gối mà thẳng người, như thông thường làm). Riêng cách quì chân trái gọi là hồ quì, và trong kinh nói là hữu tất trước địa (gối phải dính đất). Cách quì là gối phải chấm đất, ngón chân phải chống đất, còn gối trái dựng đứng, chân trái đạp đất. Sám hối, sám là
gọi tắt chữ sám ma (ksamayati), dịch nghĩa là thỉnh nhẫn: hễ có lỗi với ai thì xin họ nhẫn (mà chịu đựng, mà dung tha cho mình hối lỗi ấy) bằng cách nói “sám”. Cũng vì dụng ngữ nói tình ý này mà tập ngữ chép them một chữ Tàu vào nữa là “hối”, thành ra chữ sám hối. Khởi thỉ, nghi văn sám hối là do Cánh lăng vương đời Nam tề (479-502), nhân mộng đến chỗ Phổ quang vương như lai, nghe pháp và trình bày lời sám hối, thức dậy thuật cho Lương Vũ đế, Dung Tạ Thiếu, và Trầm Ước. Rồi vương nhân đó thuật thành Cánh lăng tập 20 thiên, sám hối 1 thiên. Về sau Lương Vũ đế tức vị, nghĩ đến việc sám hối lục căn, tức sám hối toàn bộ thân tâm, mới đem thiên sám hối ra, triệu Chân quán pháp
sư Tuệ thức, diễn rộng văn ấy [thành Lương hoàng sám], chứ không phải vì Hy thị mà làm. Đó là Bảo 2904 trích lời Trà hương thất tong sao 13. và them, xét Cánh lăng vương tập bây giờ có Tịnh tú tử 31 thiên, trong đó thiên thứ 3 là môn Tẩy trừ 3 nghiệp: thiên Sám hối là thiên này chăng? Tôi, Trí quang, cố xét định xuất xứ của Lương hoàng sám mà chưa ra . Nay đã xác định Lương hoàng sám là thoát thai từ Vạn Phật. Phát lộ (pratidesana, desaniya, desayati, desanakaraniya) dịch là thuyết tội, phát lộ, là tự thú hay bày tỏ ra hết những tội mình phạm để xin tha thứ.
Phụ.- Phàm hầu thầy, thầy không bảo ngồi thì không dám ngồi, không hỏi thì không dám
thưa, trừ mình có việc muốn hỏi. Phàm đứng hầu thì không được dựa vách, tựa ghế, mà nên mình ngay thẳng, chân tề chỉnh, đứng cạnh thầy * Muốn lễ bái, mà thầy ngăn lại thì thuận theo mạng lịnh của thầy, đừng lạy * Phàm thầy cùng khách đàm luận mà lời nói lien hệ Phật pháp, hữu ích thân tâm, thì đều nên nhớ lấy. Thầy có sai khiến gì thì nên kịp thời làm cho xong, không được trái, nhác hay khinh thường * Phàm ngủ nghỉ, không được trước thầy. Phàm ai hỏi tên húy của thầy, nên nói trên chữ X * Phàm đệ tử thì phải chon bậc minh sư, thân cận cho lâu,
không được rời thầy quá sớm; nếu thầy quả thật bất minh thì phải tìm riêng vị lương đạo khác. Giả sử rời thầy thì phải ghi nhớ giáo huấn của thầy, không được buông thả, tự chuyên, tùy theo dòng đới mà làm việc bất chính; cũng không được ở chỗ ồn náo là chợ giếng, không được ở miếu thần, không được ở phòng ốc dân chúng, không được ở chỗ gần chùa ni, không được cùng thầy mỗi người ở một nơi mà làm tất cả việc xấu trong thế gian.
Chợ giếng, Từ hải 1014 nói có mấy thuyết: lập chợ cũng như làm giếng đều chọn chỗ 4 hướng đổ về nên gọi là chợ giếng; nhân đất có
giếng lấy làm chợ luôn, nên tục gọi chợ là chợ giếng; xưa chưa có chợ, hễ xúm nhau nơi giếng múc nước thì đem đồ mua bán luôn bên giếng, nên gọi là chợ giếng. Thế gian, nguyên văn là thế pháp. Thế pháp là pháp thế đế, pháp thế gian, pháp dễ hỏng (Bảo 837).
Thứ 3 theo thầy đi ra
Không được ghé qua nhà người khác. Không được dừng ở bên đường cùng người nói chuyện. Không được ngoái nhìn hai bên, mà nên cúi đầu đi theo sau thầy * Đến nhà đàn việt, nên đứng một bên thầy, thầy dạy ngồi thì nên ngồi. Đến tự viện khác, thầy lạy Phật hoặc mình lạy, đều
không được tự ý đánh khánh * Nếu đi núi thì phải cầm tọa cụ theo thầy. Nếu đi xa thì không được rời nhau quá xa. Nếu lội nước thì phải cầm gậy từ từ dò thử cạn sâu * Những việc cầm bình, mang gậy, vân vân, dạy đủ trong Luật, văn nhiều nên ở đây không chép. Phụ.- Ngẫu nhiên tách nhau mà đi, hẹn ở chỗ nào gặp nhau, thì không được đến sau giờ hẹn * Thầy thọ trai thì phải đứng hầu xuất sinh, thọ trai xong lại phải đứng hầu thâu nhận đồ hiến cúng.
Đàn việt, Tam tạng pháp sư Nghĩa tịnh (634-713) nói rất rõ như sau, trong tác phẩm Ký qui truyện của ngài,
rằng Đà na bát để (danapati) dịch là thí chủ. Đà na là thí. Bát để là chủ. Vậy nói đàn việt là không chính xác. Từ ngữ này đã bỏ chữ na, lại chuyển chữ đà ra đàn, rồi bỏ chữ bát để mà them chữ việt, ý nói do thực hành đàn mà vượt qua (việt) nghèo nàn. Bình, kundika (quân trì ca), đồ chứa nước. Xuất sinh: xuất cơm của mình cho chúng sinh ăn. Cũng gọi là sinh phạn (cơm cho chúng sinh ăn) hay xuất phạn (cơm xuất ra cho chúng sinh). Đồ hiến cúng, chính văn là sấn. Sấn cũng đọc là San, tự điển nói là đồ hiến cúng cho người xuất gia. Nhưng thật ra sấn là gọi tắt chự đạt sấn, dịch âm Phạn tự daksina, dịch nghĩa hữu thủ (tay phải) là lấy tay phải mà nhận đồ hiến cúng, đặc biệt là y, của thí chủ cúng,
sau khi cúng trai. Do đó mà đạt sấn chính là tài thí (cho đồ). Người xuất gia thọ trai nhận đồ đó rồi, phải tụng một vài bài kệ liên hệ sự cho; kệ ấy gọi là thí tụng (danagatha hay daksinagatha), đó là pháp thì (cho pháp), và như vậy là chuyển tài thí ra pháp thí.
Thứ 4 nhập chúng
Không được tranh chỗ ngồi. Không được trên chỗ ngồi mà gọi vói nhau, nói hay cười * Trong chúng có ai mất uy nghi, nên ẩn ác dương thiện. Không được khoe cái mệt để tỏ cái công của mình * Phàm ở chỗ chung, ngủ không trước người, dậy không sau người * Phàm rửa mặt, không được sử
dụng nước nhiều. Đánh răng nhổ nước, phải cúi đầu đưa nước xuống, không được phun nước tạt ướt người. Không được lớn tiếng hỷ mũi, nôn ọe, khạc nhổ. Không được nơi điện tháp, và trong nhà sạch, đất sạch, nước sạch, mà hỷ nước mũi, nhổ nước miếng, phải nơi chỗ khuất. Khi uống trà nước, không được dùng một tay còn lại mà xá chào người. Không được xoay về phía tháp mà tẩy răng, hay xoay về phía hòa thượng, xà lê, vân vân *
Nhập chúng là khởi cư với chúng. Khởi cư là mọi sự động tĩnh hằng ngày (Từ hải 2707). Như vậy, nhập chúng là cư trú và sinh hoạt chung với
tăng chúng.
Phàm nghe tiếng chuông thì chắp tay, niệm thầm như sau:
Nghe tiếng chuông,
phiền não nhẹ,
trí tuệ lớn,
bồ đề sinh,
thoát địa ngục,
vượt hầm lửa,
nguyện thành Phật,
độ chúng sinh.
Án già ra đế da sa ha *
Không được cười nhiều hoặc cười lớn, và ngáp thì phải lấy tay áo bưng miệng. Không được đi gấp gáp * Không được đem đèn của Phật dùng riêng cho mình.
Nếu thắp đèn, phải khéo lấy lồng che kín, đừng để loại phi trùng gieo vào. Hoa cúng Phật thì lấy thứ nở tròn, và không được ngửi trước; loại trừ thứ héo mới cúng thứ mới; thứ héo cũng không được bỏ xuống đất dẫm đạp lên, mà nên đặt ở chỗ khuất * Không được nghe gọi mà không trả lời, và nghe gọi thì trả lời toàn bằng tiếng niệm Phật * Phàm nhặt của rơi thì tức khắc phải bạch vị tri sự.
Chỗ khuất ở đây là chỗ không có người đi, không phải chỗ dơ bẩn. Trả lời toàn bằng tiếng niệm Phật là ai gọi cũng niệm Phật mà trả lời. Niệm Phật ở đây có khi là Nam mô A di
đà phật, có khi Nam mô Phật, có khi Mô Phật, tùy lúc mà niệm, sao cho đừng quê, sao cho thuần hậu. Giá trị niệm Phật trong trường hợp này là nhắc mình và nhắc người gọi mình nhớ đến Phật, nên tiếng niệm phải trầm ấm, lễ phép. Tri sự, Phạn tự karmadana (kiết ma đà na), ngoài chữ tri sự, còn nhiều chữ dịch nghĩa nữa, trong số đó, thường ngghe là chữ duyệt chúng. Tri sự là biết việc của tăng chúng, duyệt chúng là làm đẹp dạ tăng chúng. Nhưng ngài Nghĩa tịnh dịch là thọ sự (trao việc) là người đem việc của tăng chúng trao chỉ cho người phụ trách. Ngài lại nói, xưa gọi là duy na, thì duy là tiếng Hán, ý nghĩa là cương duy (giềng mối), còn na là tiếng Ấn, gọi tắt chữ kiết ma đà na. Trung hoa
đem tiếng tri sự gọi 1 trong 3 chức tam cương : Tự chủ (Mamati), thượng tọa (Tất thế na), Tri sự (karmadana).
Phụ . – Không được cùng Sa di thiếu niên kết bạn * Không được đối với 3 pháp y mà cẩu thả thiếu sót. Không được sắm nhiều y phục, nếu có thừa thì nên bỏ ra mà cho người khác. Không được sắm dây và phất tốt bền, đồ chơi vân vân, trang điểm theo thói giang hồ, chuốc lấy sự chê cười của thức giả. Không được mặc y phục có màu sắc chính, dùng phục sức giống thế tục. Không được tay không sạch mà đắp y. Phàm lên điện Phât thì phải buộc ống quần, không được
buông lung tự do * Không được đi dạo. Không được nói nhiều. Không được ngồi nhìn đại chúng làm việc mệt nhọc, mà mình tránh, nhác, cầu an * Không được lấy riêng của chiêu đề như treo cây, hoa trái, rau lá, mọi thứ đồ uống, đồ ăn, mọi thứ đồ vật, vân vân * Không được bàn tán sự lợi và sự hại của việc chính trị thuộc triều đình công sở, và những sự hay dỡ tốt xấu của người bạch y * Phàm tự xưng thì nên nói hai chữ pháp danh, không được nói ta hay tiểu tăng * Không được nhân việc nhỏ mà tranh chấp. Nếu việc lớn khó nhẫn thì cũng phải tâm bình tĩnh,
khí ôn hòa, lấy lẽ thảo luận ; không được thì từ mà đi. Nổi giận, nói thô, thì không phải tăng sĩ có tư cách.
Không được đối với 3 pháp y mà cẩu thả, thiếu sót, câu này không có nghĩa cho Sa di dùng 3 pháp y, mà sa di phải hiểu cho rành, phải sắm cho đủ để chuẩn bị thọ Tỷ kheo giới. Dây và phất, dây là dây đánh bằng sợi, phất là phất tử. Phất tử của người xuất gia dùng để phất trùng như muỗi mòng v/v, được phép làm bằng lông dê xéo dẫm (?), bằng dây gai, bằng vải rách, bằng đồ cũ, bằng nhánh cây, cấm dùng đuôi ngựa, đuôi trâu, v/v. Màu sắc chính tức xanh vàng đỏ trắng đen, đối lập với từ ngữ màu sắc
hỏng (hoại sắc) tức màu đỏ đục hay vàng xẩm của pháp y. Buộc ống quần là dịch theo quần của tăng sĩ Bắc tông. Thật ra nguyên văn khố miệt thì khố là cái khố, quần đùi, miệt là bí tất. Cầu an, nguyên văn là thâu an, dịch đúng từ điển là cầu an cẩu thả. Từ hải 259 nói, may tai họa chưa đến mà cầu thả mưa yên, như kẻ ngủ trên đống củi đã có lửa ở dưới, lửa chưa cháy đến mà gọi là yên. Trong văn ý sách này, lửa là khổ báo ác đạo, mưu yên là trốn việc trong chúng : việc trong chúng chính là việc giải thoát ác đạo. Chiêu đề (caturdesa) nghĩa là 4 phương, là tăng chúng 4 phương (tăng chúng mười phương: tăng chúng khắp nơi). Nhưng năm 424 Ngụy Thái vũ lập già lam, gọi bằng tên chiêu đề, từ đó
chiêu đề là tên khác của tự viện. Người bạch y, bạch y là áo trắng. Ấn độ người thế tục và Bà la môn đa số mặc áo trắng, nên người bạch y là dị danh của người thế tục. Pháp danh là tên theo Phật pháp, tức tên của thầy cho lúc nhập đạo xuất gia. Tên thầy cho lúc thọ giới gọi là giới danh (Bảo 1378). Nói ta hay tiểu tăng, nói ta là xấc xược, nói tiểu tăng là hèn hạ.
Thứ 5 theo chúng thọ thực
Nghe tiến kiền chùy là phải chỉnh đốn y phục * Lúc ăn, chú nguyện thì phải kính cẩn * Xuất sinh thì cơm không quá bảy hạt, bún không quá một tấc, bánh không quá cỡ móng tay; nhiều là tham, ít là lẫn; ngoài ra, rau lá
và đậu hủ không xuất sinh. Phàm xuất sinh thì để trong tay trái, tưởng niệm bài kệ sau đây:
Chúng quỉ thần các ngươi, nay tôi cho cúng phẩm. Cúng phẩm này khắp cả, quỉ thần cùng hưởng thụ *
Sắp ăn, phải nghĩ theo 5 quán tưởng: một, xét kể công lao nhiều ít và ước lượng lý do của thực phẩm; hai, nghĩ kỹ đức hạnh của mình đủ hay thiếu để ứng thọc sự cúng dường; ba, đề phòng tâm lý, tránh những tội lỗi mà tham sân si vẫn làm chủ yếu; bốn, chính vì lấy thực phẩm làm dược phẩm tốt để trị liệu thân hình
khô yếu; năm, vì thành đạo nghiệp mới ứng thọ thực phẩm này *
Kiền chùy: ghanta, vật đánh ra tiếng, tức bảng, chuông, khánh, làm bằng gỗ, đá, đồng, sắt, để làm hiệu mà triệu tập tăng chúng. Riêng Vạn 106/218 còn dẫn Thanh qui nói, hễ nghe kiền chùy thì tưởng niệm bài kệ sau đây “Phật sinh Ca tì la, thành đạo Ma kiệt đà, thuyết phát Ba la nại, nhập diệt Câu thi na”, tức là tưởng niệm đến Phật. Chú nguyện, Vạn 106/158 và 218 đều nói là chú nguyện bằng sự tụng cúng dường, xướng tăng bạt và kiết trai. Ngày xưa, các vị Tỷ kheo thọ thỉnh ngọ trai mà đến và về đều yên lặng, bị chê trách nên bạch
Phật, Phật dạy từ nay lúc thọ thực nên nói lên cái ý thức cúng dường. Do đó mà có sự chú nguyện ra tiếng. Xuất sinh đã giải thích. Vạn 106/158 dẫn kinh luật, nói ăn không được ăn hết, mà phải để lại cho đến 1 vắt, để cho các loại người và không phải người. Ăn mà không cho là bà con của ma, không phải đệ tử của Phật. Quán tưởng ở đây chỉ có nghĩa đơn giản là xét nghĩ.
Không được la rầy đồ ăn tốt xấu. Không được lấy đồ ăn cho riêng, hoặc trích cho chó * Người đến thêm đồ ăn, không được bảo không dùng; nếu no rồi thì phải lấy tay từ khước * Không được lấy móng tay gãi đầu, làm cho
gió thổi hắt mạt vụn rơi vào bát của người ngồi bên cạnh. Không được ngậm đồ ăn mà nói. Không được cười bàn chuyện tạp. Không được nhai đồ ăn ra tiếng * Muốn khêu răng, phải lấy tay áo che miệng. Trong đồ ăn hoặc có sâu kiến, nên kín đáo che giấu đi, đừng để người ngồi đơn bên cạnh thấy, sinh nghi ngại * Phải ngồi ăn một lần mà thôi, không được ăn xong, rời chỗ ngồi rồi, lại ngồi ăn nữa. Không được ăn xong, lấy ngón tay vét chén bát mà ăn * Phàm ăn, không được quá mau, không được quá chậm. Người đi them đồ ăn chưa đến, không được xin phiền não. Hoặc có cần gì,
thì yên lặng dùng ngón tay mà trao ý, không được lớn tiếng gọi to. Không được khua chén bát ra tiếng * Không được ăn rồi dậy trước * Nếu trái qui chế tăng chúng, nghe bạch kiền chùy, không được kháng cự bất phục * Trong cơm có lúa thì bỏ vỏ mà ăn * Không được thấy mỹ vị mà sinh tham tâm, phóng túng miệng mà ăn * Không được ăn riêng tăng chúng.
Phiền não (klesa), phiền là phiền nhiễu, não là não loạn. Những tâm lý xấu nhiễu loạn chúng sinh, nên gọi là phiền não. Không được ăn rồi dậy trước là như ngài Trí húc viết, phải chờ kiết trai, cùng dậy, trừ có việc
chính đáng. Bạch kiền chùy là đánh kiền chùy để bạch sự việc. Riêng qui thức Thiền lâm, chỉ tại khai đường (?) gọi là bạch kiền chùy. Bằng cách đánh kiền chùy 1 tiếng, huyên náo im bặt rồi, bạch chúng “Pháp diên long tượng chúng, đương quán đệ nhất nghĩa” (Tăng chúng oai đức như rồng voi, hiện diện trong pháp hội này! Hãy quán sát chân lý bậc nhất!): đó gọi là bạch kiền chùy. Kế đó, vị trưởng lão đối thoại với tăng chúng. Xong, người bạch kiền chùy lại đánh 1 tiếng nữa, bạch chúng “Đế quán Pháp vương pháp: Pháp vương pháp như thị!” (Quán sát cho kỹ pháp của đấng Pháp vương: pháp của đấng Pháp vương như vậy!): đó gọi là kiết kiền chùy. Người bạch kiền chùy phải quan trọng, biết phép.
Như chính ngài Văn thù đã Bạch kiền chúy khi đức Thế tôn thăng tòa thuyết pháp. Nay, ở đây, một trong những việ vị trưởng lão đối thoại với tăng chúng là cử tội, khi trong tăng chúng có kẻ phạm tội.
Thứ 6 lễ bái
Lễ bái thì không được chiếm chỗ chính giữa điện Phật, vì đó là vị trí của vị trú trì. Có người lạy Phật, không được hướng tới trước đầu người ấy mà đi tắt * Phàm chắp tay, không được mười ngón so le, không được trống rỗng ở giữa, không được đưa ngón tay cắm vào lỗ mũi, phải để tay ngang ngực, cao thấp đúng chỗ * Không được lễ bái không phải
lúc; muốn lễ bái không phải lúc thì phải đợi lúc mọi người yên tĩnh * Thầy lạy Phật, không được cùng thầy lạy ngang nhau, mà phải theo sau thầy và lạy cách xa. Thầy xá lạy người, không được cùng thầy đồng xá lạy. Trước thầy, không được cùng đồng bậc lạy nhau. Trước thầy, không được nhận người lạy. Tay mình cầm kinh tượng thì không được lạy người. Phụ.- Phàm lễ bái, phải tinh thành mà quán tưởng. Giáo lý liệt kê bảy cách lạy, không thể không biết.
Trú trì, trú là ở, trì là giữ, là ở đời mà giữ pháp. Theo nghĩa này, Phật thì tượng tranh, Pháp thì kinh sách,
Tăng thì xuất gia, đều là trú trì, vì đều ở trong thế gian mà duy trì Phật pháp. Nhưng chữ trú trì ở đây và thường dùng là 1 chức vụ trong 1 ngôi chùa: vị chủ chùa gọi là trú trì. Đó là việc khởi xướng bởi thiền môn. Vị trú trì còn được tôn gọi là trưởng lão: tuổi và đức đều cao, như xưa đã tôn xưng các ngài Xá lợi phất và Tu bồ đề như vậy. Cũng tức là Thiện tri thức, theo nghĩa của Thiền tông (Vạn 106/220). Trú trì ở đây nghĩa là “mỗi người ở một địa phương, nối tiếp tuệ mạng của Phật”. (Bảo 1185). Quán tưởng, Phạn tự là vipasyana hay vidarsana, nghĩa đen là nghĩ xét, tức tập trung ký ức tâm trí lại mà quán sát. Tưởng là tưởng tượng, tức bong dáng hiện nơi tâm trí (Bảo 2979 và
2990). Quán tưởng là vừa quán sát vừa tưởng tượng, là quán sát hình ảnh đã tưởng tượng, là tưởng tượng để quán sát. Bảy cách lạy là vừa quán sát vừa tưởng tượng. Bảy cách lạy: coi Tỳ ni.
Thứ 7 nghe pháp
Phàm thấy treo bảng thượng đường thì nên sớm lên pháp đường, đừng chờ pháp cổ đanh lớn. Bằng cách chỉnh đốn y phục, nhìn ngang tầm mắt, tới thẳng pháp đường. Ngồi, phải thẳng và nghiêm. Không được nói bậy, không được ho và nhổ lớn. Phụ.- Phàm nghe pháp, phải nghe mà nghĩ, nghĩ mà tu. Không được chuyên nhớ danh ngôn để cung cấp cho việc đàm luận. Không
được chưa lãnh hội xưng lãnh hội, vào tai ra miệng. Sa di tuổi nhỏ, giới lực chưa bền chắc, thì phải học Luật nữa đã, không được đến pháp tịch sớm.
Thượng đường: là lên nhà. Nhà có 2, là nhà pháp (pháp đường) và nhà tăng (tăng đường). Nghe pháp thì lên nhà pháp, thọ thực thì lên nhà tăng. Ở đây là lên nhà pháp. Pháp đường: nhà thuyết pháp. Tông khác gọi là giảng đường, Thiền gia gọi là pháp đường. Trên đây là nghĩa xưa và thường dùng. Còn ngài Bách tượng thì không lập điện Phật mà chỉ lập pháp đường, tỏ ý Phật với Tổ truyền thọ cho nhau, và vị đương đại là tôn cao (y như Đại cực điện của lịch triều đế
vương thì vị đế vương đương đại là tôn cao). Nhưng chỉ Đức sơn thiền sư cố thủ, còn mọi nơi vẫn lập điện Phật (Bảo 1404). Pháp cổ : trống pháp. Nguyên là chữ thí dụ. Đánh trống là để thúc quân, thí dụ Phật thuyết pháp để thúc người tiến tới thiện xứ. Nhưng pháp cổ còn là 1 trong những khí dụng của Thiền gia. Pháp đường đặt 2 cái trống ở 2 góc, gọi là pháp cổ (dùng vào việc giảng pháp nghe pháp) và trà cổ (dùng vào việc cúng trà kỵ Tổ). Đàm luận, nguyên văn là đàm bính. Bính, nghĩa đen là cán, chuôi. Từ hải 2689 nói, cô nhân thanh đàm, đa số nắm cán đuôi con chủ. Chủ là con hươu chúa. Đuôi nó phẩy sạch bụi, nên xưa hay gọi phất trần (và do đó hay gọi phất trần là chủ vĩ). Người
xưa đàm luận hay cầm cái cán của phất trần, nên sau này gọi sự đàm luận là đàm bính. Nhưng Vạn 106/221 và Từ hải 3338 đều nói, bầy hươu nhìn đuôi con chủ vẫy bên nào thì đi hay chạy bên đó để tránh bị hại. Đuôi con chủ có đặc tính bảo vệ tính mạng bầy hươu như thế, nên cổ nhân giảng đạo, cầm nó vừa làm phất trần, vừa muốn đồ đệ hãy tuân theo sự chỉ huy của đạo lý (như bầy hươu tuân theo sự chỉ huy của đuôi con chủ), do đó, sau này gọi sự đàm luận là đàm bính, chủ đàm. Pháp tịch, hay pháp diên, diên tịch đều nghĩa là chiếu. Ngày xưa hay trải chiếu mà ngồi, nên gọi chỗ ngồi là tịch. Pháp tịch là chỗ giảng dạy Phật pháp, ở đây pháp tịch là pháp đường. Sa di tuổi trẻ, giới lực chưa
bền chắc, thì phải học Luật nữa đã không được đến pháp tịch sớm, là như Vạn 106/161 dẫn kinh Ngũ khổ chương cú nói, Thiện tri thức muốn dạy người mới học đạo, thì phải tuần tự từng chút : hãy nói việc của ma để họ đề phòng những mối liên hệ đến ma…; khi mọi việc này biết rõ rồi mới có thể nói về đạo pháp. Chú thích : việc của ma và những mối liên hệ đến ma là sự phạm giới và những mối liên hệ đến sự phạm giới ; sự phạm giới chưa rành mạch và sức giữ giới (giới lực) chua bền chắc thì phải học về giới đã.
Thứ 8 học tập kinh điển
Phải trước học Luật, sau học Kinh, không được trái vượt thứ tự ấy. Phàm học kinh nào thì phải
bạch thầy trước, kinh ấy xong thì lại bạch mà học kinh khác * Không được dùng miệng thổi bụi trên kinh. Không được trên bàn kinh mà cất để trà mạt, tạp vật. Người xem kinh, không được đi tắt qua gần trước bàn của họ. Phàm kinh sách hư hỏng, phải cấp tốc tu bổ * Sa di mà việc chính chưa thành thì không được học tập sách vở của dị giáo, của tư tưởng gia, của sử truyện, của chính trị.
Kinh, dịch đủ là khế kinh (khế lý khế cơ), cũng như Luận dịch đủ là bản mẫu (xuất sinh pháp nghĩa), Luật dịch đủ là điều phục (thuần hóa ba nghiệp). Vì hợp lý hợp cơ nên dịch chữ kinh,
điều này khỏi nói. Điều phải nói là chữ kinh có nghĩa chính, có nghĩa phụ. Nghĩa chính thì kinh là chỉ đọc, xâu kết với vĩ là chỉ ngang. Lấy cái nghĩa sợi chỉ xâu kết mà dịch là kinh, là có nghĩa kinh xâu kết chánh pháp cho khỏi mất và xâu kết chúng sinh cho khỏi đọa. Nghĩa phụ thì kinh có 3 nghĩa : một, kinh là lẽ thường (đối lại là quyền), bất biến ; hai, kinh là kinh sách thánh hiền ; ba, kinh là đi qua : đi qua tuệ giác của Phật mà có ra. Trà mạt : trà vụn, chữ của thiền lâm. Việc chính chưa thành, việc chính là chánh tín (đức tin sâu xa) và giới lực (sức mạnh giữ giới). Sách vở của dị giáo, nguyên văn là ngoại thư : sách của ngoại đạo. Tư tưởng gia nguyên văn là tử : là ngoại đạo lục sư của Ấn
và bách gia chư tử của Tàu. Sử truyện, nguyên văn là sử. Chính trị, nguyên văn là trị thế điển chương : điển chương cai trị.
Phụ .- Không được chọn kinh ứng phó đạo tràng mà học tập. Không được học tập kinh điển ngụy tạo * Không được học tập sách coi số, sách coi tướng, sách thuốc, sách quân sự, sách bói, sách thiên văn, sách địa lý, sách sấm truyền, cho đến những sách luyện đan, thần kỳ quỉ quái, phù thủy, vân vân * Không được học tập cách xướng kinh họa đệ * Không được học tập sách ngoại đạo, trừ trí lực có thừa, vì muốn biết sự sâu cạn của nội giáo và
ngoại giáo, thì có thể đọc qua, nhưng không sinh ý tưởng học tập. Không được học tập thi từ * Không được để tâm tập chữ cho đẹp, chỉ viết chon ngay ngắn là đủ * Không được tay dơ mà cầm nắm kinh điển, Đối với Kinh như đối với Phật, không được giỡn cười. Không được trên bàn kinh mà để quyển pho bừa bãi * Không được đọc kinh lớn tiếng động chúng. Không được mượn kinh của người để coi mà không trả, lại không gia tâm quí trọng để đến nỗi hư hỏng.
Kinh ứng phó đạo tràng, nói nôm na là kinh cúng đám. Nhưng cấm học loại kinh này là cấm học để cúng
đám, chứ không cấm học tập kinh sám thuộc nghi lễ. Kinh điển ngụy tạo là loại “nghi tợ” trong đại tạng. Sách thuốc là y khoa dược khoa. Cấm là cấm học để mưu sinh; còn nghĩ đến bịnh khổ mà học thấu đáo thì Phật cho (Vạn 106/222). Luyện đan là thuật của Đạo gia. Luyện đan sa lần đầu thành bạc màu trắng, lần hai thành vàng màu vàng (Từ hải 1860). Thần kỳ quỷ quái là thuật hô thần, gọi quỉ, học phù, phun nước, để trị bịnh, trị quỉ. Hô thna62 gọi quỉ là như thai đồng bóng (Vạn 106/163 và Từ hải 2177). Xướng kinh họa kệ là như kiểu Vô vi giáo, đối với cuốn Kim cang ngụy tạo, một người xướng một người họa. Nội giáo là nội điển. Ngoại giáo là ngoại đạo. Thi từ: thơ và từ.
Thứ 9 vào tự viện
Phàm vào cửa chùa, không được đi chính giữa. Phải ven theo bên trái bên phải mà đi. Ven bên trái thì trước bước chân trái, ven bên phải thì trước bước chân phải * Không được vô cớ lên đại điện chơi. Không được vô cớ lên tháp. Vào điện tháp, phải đi vóng quanh bên phải, không được đi vóng quanh bên trái. Không được trong điện tháp mà hỉ nước mũi, nhổ nước miếng. Nhiễu tháp thì hoặc 3 vòng, 7 vóng, cho đến 10 vòng, 100 vòng, và phải biết số vóng ấy * Không được đem nón gậy vân vân để dựa vào vách điện Phật.
Ven bên trái thì trước bước chân trái, ven bên phải thì trước bước chân phải là nói sự cực kỳ cẩn trọng. Đi vòng quanh bên phải, không được đi vóng quanh bên trái là đi từ nam qua tây, qua bắc, qua đông, (Trí húc, tiểu phẩm 9). Phải biết số vòng là như sự đếm trong 6 sự của sổ tức quán, đếm là nhớ, chủ ý để tâm không lãng vào tình trạng vô ký hay tệ hơn nữa là nghĩ bậy.
Thứ 10 vào nhà Thiền
với đồng chí
Trên đơn, không được rủ áo chăn ra tiếng, phát gió, lm2 người trên đơn bên cạnh động niệm. Xuống đơn thì niệm thầm bài kệ sau đây.
Từ buổi sang sớm
suốt đến buổi tối,
hết thảy sinh vật
nên tự tránh giữ;
nếu rủi mất mạng
dưới chân của tôi,
tôi nguyện tức thì
được sinh cảnh Phật.
Không được to lời, lớn tiếng. Nhẹ tay thả sáo phải đỡ tay phía sau. Không được kéo giày ra tiếng. Không được ho khan ho đàm lớn ra riếng. Không được cùng người trên đơn bên cạnh chụm đầu, kề tai, bàn tán thế sự * Hoặc có pháp hữu thân tình đến thăm, thì trong thiền đường
không được nói chuyện lâu; hãy mời đến dưới cây hay bên suối mới có thể khuynh tâm đàm luận * Nếu xem kinh, phải thẳng mình, lắng long, yên lặng nghiền ngẫm, không được đọc ra tiếng * Bảng đánh 2 tiếng thì nên sớm tới thiền đường. Đến ngồi chỗ của mình thì niệm thầm bài kệ sau đây:
Thẳng mình ngồi ngay,
nên nguyện chúng sinh,
ngồi tòa bồ đề,
tâm không vướng mắc.
Nhà thiền là chỗ tu Thiền. Thiền gia lập tăng đường thì tăng đường cũng gọi là thiền đường, vì tăng chúng tọa
thiền ở đó (Bảo 2781). Đơn (hay tòa, sang: ghế, giường) đọc đúng là đan, là chỗ ngồi của mỗi tăng nhận trong thiền đường. Vì mỗi chổ có bản dán tên mỗi người, nên gọi là đơn vị, gọi tắt là đơn. Cũng gọi là thiền sang, ngang thì 3 và rộng thì 7 thước xưa. Bảng đánh 2 tiếng, Bảng đọc đúng là bản. Bảng đánh 2 tiếng là tiếng đường, đánh 3 tiếng là chỉ tịnh, thiền đường đóng cửa, không được ra vào nữa. Thẳng mình ngồi ngay, nên nguyện chúng sinh, ngồi tòa bồ đề, tâm không vướng mắc. Có người hiểu tòa bồ đề là bồ đề tòa, mà nói đúng là kim cang tòa dưới bồ đề thọ, trong bồ đề tràng; còn không vướng mắc là đấng Vô sở trước, 1 trong những đức hiệu của Phật. Nói vắn tắt, bài kệ này
có nghĩa ngồi thì nguyện cho chúng sinh ngồi bồ đề tòa mà thành đấng Vô sở trước. Hiểu như vậy sai thì không sai, nhưng không khỏi cầu kỳ, quá xa. Thật ra bài kệ này chỉ có nghĩa ngồi thì nguyện cho chúng sinh “ngồi” nơi tuệ giác bồ đề, tâm không vướng mắc gì hết.
Phụ.- Không được xuyên thiền đường mà đi thẳng * Lên đơn xuống đơn đều phải nhẹ nhàng, đừng làm người trên đơn bên cạnh động niệm * Không được trên đơn viết chép, trừ khi cả chúng coi kinh điển. Không được trên đơn xúm nhau bày trà, ngồi đêm, nói tạp. Không được trên đơn may và áo chăn. Không được
nằm ngang cùng người trên đơn bên cạnh nói chuyện, động chúng.
Đi thẳng là đi thẳng tắt mà không đi ven theo phía trước hay phía sau. Đại chúng trong thiền đường ai cũng có việc: tu quán, tham thiền, trì kinh, coi luật, vậy mà đi thẳng tắt qua thì thật là thô táo. Khi cả chúng coi kinh điển, câu này tôi không rõ việc. Vạn 106/226 nói trong thiền đường người nhiều chỗ ít, nên lúc đó viết chép trên đơn có thể được.
Thứ 11 làm việc
Phải thương tiếc vật của tăng chúng. Phải tùy giáo lịnh của người tri sự, không được trái, bướng * Phàm rửa rau, phải ba lần thay nước. Phàm múc nước, trước phải
sạch tay * Phàm dùng nước, phải nhìn kỹ có trùng không trùng, có thì lấy là dày lọc đi mới dùng; mùa đông lạnh lắm thì không được lọc nước sớm, phải chờ mặt trời mọc. Phàm đốt bếp, không được đốt củi thối mục * Phàm làm đồ ăn, không được để bẩn trong móng tay * Phàm đổ bỏ nước dơ, không được đổ ra đường đi, không được cao tay dơ lên đổ xuống bắn ra; phải cách đất bốn năm tấc từ từ đổ bỏ nước ấy * Phàm quét đất, không được quét ngược gió, không được dồn đất bụi vào sau cánh cửa * Giặt áo trong, phải nhặt bỏ rận chấy mới giặt. Những tháng hè, dùng chậu
nước rồi, phải lật úp xuống, nếu để ngửa ra là sinh trùng. Phụ.- Không được nước sôi đang nóng mà rót bắn trên đất * tất cả gạo bột, rau trái vân vân, không được khinh bỏ bừa bãi, phải gia tâm quí tiếc.
Bẩn trong móng tay, là móng tay dơ bẩn. Phật không cho để móng tay, dài lắm cũng chỉ bằng hạt lúa mạch (Vạn 106/166 và 266). Áo trong, không phải chỉ là quần, mà là tất cả đồ mặc phía trong.
Thứ 12 vào nhà tắm
Trước, lấy nước nóng rửa mặt. Rồi từ trên đến dưới, từ từ mà rửa * Không được tinh nghịch, lấy
nước nóng tạt người bên cạnh * Không được trong nhà tắm mà tiểu giải * Không đucợ cùng người nói cười; sách Nhân thiên bảo giám nói, một sa di vào tắm mà giỡn cười nên cảm ra quả báo đại ngục Sôi sục * Không được rửa chỗ kín * Phàm có ghẻ nhọt ghẻ lở thì nên tắm sau; hoặc có ghẻ nhọt đáng sợ, càng nên tránh đi, khỏi gớm mắt người * Không được mặc ý tắm rửa lây, trở ngại người sau. Phụ .- Cởi áo mặc áo nên thung dung tự tại. Trước khi tắm phải tẩy tịnh, và tẩy tịnh thì phải giữ tế hạnh ; không được đem nước tẩy tịnh đổ vào vạc nước tắm * Cần nước nóng đã
nguội hay còn nóng thì y lệ mà đánh mõ dài, không được gọi lớn.
Tinh nghịch, nguyên văn là thô táo. Đọc thô tháo là sai. Táo, bộ túc, là lấc cấc, vội vàng. Còn tháo, bộ mễ, là gạo mới xay (yinh1 tình y nguyên, chưa thuần hóa). Không được rửa chỗ kín, vì đã và phải tẩy tịnh rồi mới tắm. Nếu phòng tắm một người và có luôn chỗ vệ sinh, thì phải tẩy tịnh vào chỗ vệ sinh, trước khi tắm. Thung dung tự tại là không thô táo; không phải đủng đỉnh, tự do. Tẩy tịnh, nghĩa đen là rửa sạch, là rửa sạch chỗ khuất, chỗ kín, nhất là hậu môn, sau đó phải rửa tay một cách sạch đặc biệt, và súc miệng. Súc miệng kgo6ng dưới 3 lần. Mọi sự rửa trên, mỗi sự
không dưới 7 lần. Tẩy tịnh rất quan trọng. Coi lại Tỳ ni cho kỹ. Tế hạnh là cử động nhẹ nhàng, tinh tế, khuôn phép. Mõ dài là đục thủng gỗ hay đốt tre mà thành. Nhưng ở đây là loại nhỏ, không phải lớn như mõ làng, mõ quan.
Thứ 13 vào nhà xí
Muốn đại tiện tiểu tiện là nên đi ngay, đừng đợi trong cơ thể bức bách mà thảng thốt. Ở trên sào tre, treo áo trực chuyết thì phải gấp xếp cho tề chỉnh, lấy khăn tay hoặc dây lưng buộc áo ấy, một là làm dấu nhận biết, hai là sợ rơi xuống đất. Phải cởi đổi giày dép, không được mang giày dép sạch vào nhà xí * Đến nhà xí, phải ba lần đàn chỉ để cho
người ở trong đó biết. Không được thúc bách người ở trong đó cho họ phải ra. Đã lên nhà xí, lại phải ba lần đàn chỉ, niệm thầm :
Khi đại tiểu tiện,
nên nguyện chúng sinh,
xả tham sân si,
loại trừ tội lỗi *
Không được cúi đầu nhìn xuống. Không được cầm vỏ vẽ đất. Không được rán hơi ra tiếng. Không được cách vách cùng người nói chuyện. Không được nhổ nước miếng vào vách * Gặp người, không được thi lễ, phải nghiêng mình tránh họ. Không được ven theo đường vừa đi vừa buộc áo,
dải * Tiện lợi hoàn tất, phải rửa tay thật sạch, chưa rửa thì không được cầm nắm đồ vật. Rửa tay thì niệm thầm :
Lấy nước rửa tay,
nên nguyện chúng sinh,
được tay thanh tịnh,
nhận giữ Phật pháp.
Phụ .- Tiểu giải, cũng phải vén tay áo lên. Lại không được mặc áo thiên sam mà tiểu giải.
Áp trực chuyết và áo thiên sam. Y phục của tăng ni Bắc tông, khi đến Tàu, quãng 386-354, đời Hậu Ngụy, cung nhân biến chế tăng kỳ chi và phú kiên y, dần dần đến ngày nay thì
có : một, y và hậu, thành áo lễ ; hai, áo nhật bình và áo tràng, áo thường mặc ; ba, áo quần trong, giống thế gian. Áo nhật bình là trực chuyết, áo tràng là thiên sam. Không được nhổ nước miếng vào vách, nói chung, nhổ gì và nhổ vào đâu cũng cấm. Chỉ được phép nhổ xuống chỗ đại tiểu tiện. Nhưng đại tiểu xong thì phải dội rửa chỗ ấy cho thật sạch, trước khi rời nhà xí. Tiện lợi hoàn tất, phải rửa tay thật sạch, ấy là nói tắt. Tiện lợi rồi, quan trọng là tẩy tịnh, rửa tay, súc miệng, mà tẩy tịnh quan trọng nhất. Coi Tỳ ni.
Thứ 14 nằm ngủ
Nằm, phải nghiêng hông bên phải, gọi là cách ngủ cát tường.
Không được nằm ngửa, nằm sấp, và nằm nghiêng hông bên trái * Không được cùng thầy đồng phòng đồng giường, hoặc được đồng phòng mà không được đồng giường. Cũng không được cùng sa di đồng sự chung giường * Phàm treo giày, tất, áo nhỏ vân vân, không được quá đầu và mặt người. Phụ .- Không được cởi áo trong mà nằm. Không được trên giường ngủ cười nói lớn tiếng * Không được trước thánh tượng và pháp đường mà mang đồ tiểu tiện đi qua.
Cát tường là tốt lành. Sa di đồng sự là đồng một thầy hay đồng việc làm. Áo trong là bất kể đồ mặc
trên hay mặc dưới, hễ mặc gần mình thì gọi là áo trong. Thánh tượng là tượng Phật, Bồ tát, La hán, Tổ sư.
Thứ 15 quanh lò lửa
Không được giao đầu tiếp tai nói chuyện. Không được gảy búng cáu bẩn vào trong lửa. Không được hơ sấy giày, tất * Không được hơ lửa quá lâu, sợ trở ngại người sau. Hơi ấm, liền nên về chỗ.
Quanh lò lửa, hay vây quanh lò lửa, nói nôm na là hơ lửa. Cáu bẩn, Luật còn cấm bỏ vào lửa những thứ lông tóc, móng tay, mũi dãi, da máu, bánh trái, thuốc độc.
Thứ 16 ở trong phòng
Chào hỏi nhau, phải biết lớn nhỏ * Muốn cầm lửa đèn vào, phải bảo trước cho trong phòng biết, rằng tôi cầm lửa đèn vào ; muốn tắt lửa đèn, phải hỏi trước người cùng phòng còn dùng nửa không. Tắt lửa đèn, không được dùng miệng mà thổi * Tụng niệm thì không được lớn tiếng * Nếu có bịnh nhân thì nên từ tâm coi sóc từ đầu đến cuối. Có người ngủ thì không được đụng đồ ra tiếng, và lớn tiếng nói cười * Không được vô cớ vào phòng khác.
Chào hỏi nhau, phải biết lớn nhỏ, chào hỏi, nguyên văn là vấn tấn, là thi lễ, vấn an. Lớn nhỏ là tuổi đời
(năm sinh) tuổi đạo (năm xuất gia hay thọ giới) hơn hay kém mình bao nhiêu năm tháng. Nếu có bịnh nhân thì nên từ tâm coi sóc, vì đức Thế tôn dặn đi dặn lại, rằng muốn hiến cúng Như lai thì phải cung dưỡng người bịnh. Ngài lại nói 5 tư cách phải có của sự chăm sóc bịnh nhân (coi Tỳ ni). Đức Thế tôn lại nói bài kệ sau đây, trong kinh Thiện sinh, “Hãy săn sóc bịnh tật, thăm hỏi người nguy khốn ; thiện ác có quả báo, như trồng hạt được trái. Như lai thì là cha, còn Phật pháp là mẹ, đồng học là an hem, do đó được giải thoát” (Vạn 106/169 và 230 dẫn).
Thứ 17 đến chùa ni
Có chỗ ngồi khác mới ngồi,
không có chỗ ngồi khác thì không được ngồi. Không được nói không phải lúc. Về, không được nói sự tốt xấu của họ * Không được thư từ qua lại, và mượn nhờ may vá giặt rũ vân vân * Không được chính tay mình cạo tóc cho họ. Không được cùng ngồi chỗ khuất. Phụ. – Không phải hai người thì không được đến một mình * Không được lễ vật qua lại. Không được dặn nhờ ni tăng đến nhà hào quí mà khuyến hóa, cầu tụng kinh sám, vân vân. Không được cùng ni tăng kết làm cha mẹ, chị em, pháp hữu.
Nói không phải lúc là nói pháp
mà nói không phải lúc nên nói. Sự tốt xấu gồm cả sự đẹp xấu. Ni tăng, đúng Luật thì Tỷ kheo ni đều là Tăng, nên nói ni tăng. Ngày nay quen hiểu và gọi Tỷ kheo là tăng, Tỷ kheo ni là ni, thành tiếng tăng ni, thật ra không đúng Luật. Khuyến hóa hay hóa duyên, nói nôm na là đi quyên. Cầu tụng kinh sám, nói nôm na là cầu cúng đám.
Thứ 18 đến nhà người
Có chỗ ngồi khác mới nên ngồi, không được ngồi tạp. Người ta hỏi kinh thì phải biết lúc, thận trọng đừng làm cái việc nói không phải lúc * Không được cười nhiều * Chủ nhân thiết trai, dẫu không phải pháp hội, cũng đừng
bỏ nghi thức * Đừng phạm cái lỗi đi đêm * Không được ở trong nhà vắng, hoặc ở chỗ khuất, cùng phụ nữ ngồi với nhau, nói với nhau. Không được thư từ qua lại vân vân, như trước đã nói * Đến nhà tục thăm người thân, phải trước hết vào nhà chính lạy Phật, hoặc đến trước tượng thánh trong nhà nghiêm chỉnh chắp tay, thứ đến cha mẹ bà con vân vân, nhất nhất chào hỏi * Không được hướng về cha mẹ nói những việc như cái nghiêm của phép thầy, cái khó của xuất gia, cô liêu đạm bạc, gian nan khổ sở, vân vân ; nên vì cha mẹ nói Phật pháp, làm cho cha mẹ phát sinh tín tâm
và tăng trưởng phước đức. Không được cùng thân tộc, thiếu niên vân vân, ngồi lâu đứng lâu, nói tạp giỡi cười ; cũng không được hỏi đến những việc phải trái tốt xấu trong thân tộc. Nếu trời tối, ngủ lại, thì phải dùng riêng một giường, ngồi nhiều nằm ít, nhất tâm niệm Phật, việc xong về liền, không được lưu luyến.
Pháp hội : tập hợp để thuyết Pháp, cúng Phật, trai Tăng. Ở đây là trai Tăng. Nghi thức là nghi thức thọ trai. Tượng thánh như tượng Quan công, v/v. Niệm Phật : tưởng nhớ đến Phật, qua 3 cách : niệm danh hiệu của Ngài, quán tưởng tướng hỏa của Ngài, tưởng niệm công đức (phẩm chất) của
Ngài. Cách thứ ba là niệm 10 đức hiệu của Ngài, kê và dịch như sau : (1) Như lai : bậc Đến như chư Phật ; (2) Ứng cúng : bậc Thích ứng hiến cúng ; (3) Chánh biến tri : bậc Biết đúng và khắp ; (4) Minh hạnh túc : bậc Hoàn hảo sự sáng ; (5) Thiện thệ : bậc Khéo qua niết bàn ; (6) Thế gian giải : bậc Lý giải vũ trụ ; (7) Vô thượng sĩ : bậc Không ai trên nữa ; (8) Điều ngự trượng phu : bậc Thuần hóa mọi người ; (9) Thiên nhân sư : bậc Thầy cả trời người ; (10) Phật : bậc Tuệ giác hoàn toàn ; (11) Thế tôn : bậc Tôn cao nhất đời. Đức hiệu có 10 mà thành 11 : 1 – 10 là 10 đức hiệu riêng, đức hiệu 11 là chung (vì có 10 đức hiệu nên gọi là đấng Thế tôn). Tôi nghĩ rằng lối niệm Phật công đức của Ưu bà tắc giới kinh,
Chính 24/1051, và lối niệm Phật pháp thân của Nhiếp đại thừa luận, Chính 31/150, đều xuất từ lối niệm 10 đức hiệu này. “Tâm mà tưởng niệm Phật thì tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật”, “Ai niệm Phật thì người ấy là hoa sen trong loài người” (Phật ngôn, trong Quán kinh).
Phụ. – Không được nhìn hai bên một cách bất chính. Không được nói tạp. Nói với phụ nữ thì không được thấp tiếng nói thầm. Không được nói nhiều * Không được trá hiện uy nghi, giả trang thiền tướng, mong họ cung kính. Không được nói dối trá chánh pháp của Phật, đáp rối loạn lời hỏi của người, tự khoe đa văn,
cầu họ cung kính * Không được biếu tặng lễ vật, học đòi sự giao hảo của người đời. Không được lo liệu việc nhà của người. Không được ngồi xen tiệc rượu. Không được cùng người đời kết làm cha mẹ chị em. Không được nói lỗi lầm trong tăng chúng.
Trá hiện uy nghi, uy nghi là cử động đáng kính và khuôn phép ; làm bộ có uy nghi ấy gọi là trá hiện uy nghi. Giả tranh thiền tướng, thiền tướng là hình dáng điềm tịnh siêu thoát ; làm bộ có thiền tướng ấy gọi là giả trang thiền tướng. Đa văn : nghe nhiều, tức học rộng.
Thứ 19 khất thực
Nên cùng bậc lão thành đi chung. Nếu không có bậc lão thành đi chung thì phải biết chỗ có thể đi * Đến cửa ngõ của người, phải xét kỹ cử động, không được để mất uy nghi. Nhà không có đàn ông thì không được vào cửa * Nếu muốn ngồi, trước hết phải xem kỹ chỗ ngồi : có khi giới không nên ngồi, có đồ quí không nên ngồi, có y phục và đồ trang sức vân vân của phụ nữ không nên ngồi. Muốn nói kinh, phải biết lúc đáng nói, lúc không đáng nói * Không được nói cho tôi đồ ăn thì làm cho người được phước. Phụ. – Phàm khất thực, không được khẩn khoản nài nỉ.
Không được nói nhiều về nhân quả, mong họ cho nhiều * Được nhiều đừng sinh tham trước, được nhiều đừng sinh tham trước, được ít đừng sinh phiền não * Không được hay đến nhà thí chủ thân tình hoặc chỗ am viện thân tình mà yêu sách thực phẩm.
Đến cửa ngõ của người, phải xét kỹ cử động, không được để mất uy nghi, đúng ra lúc nào cũng phải như vậy, không phải đến cửa ngỏ mới như vậy.
Thứ 20 vào chỗ dân cư
Không có lý do cần thiết thì không được vào * Không được đi như chạy. Không được đi mà lay động cánh tay. Không được đi mà
luôn luôn nhìn qua hai bên những người và vật. Không được đi mà cùng Sa di hay thiếu niên nói cười. Không được đi mà cùng phụ nữ trước sau theo nhau. Không được đi mà cùng ni tăng trước sau theo nhau. Không được đi mà cùng người say người khùng trước sau theo nhau. Không được cố nhìn phụ nữ. Không được dùng khóe mắt nhìn qua phụ nữ * Gặp tôn túc, thân thức, thì nên đứng chỗ thấp hoặc đứng một bên, chào hỏi trước. Gặp những sự kỳ lã như trò chơi, ảo thật vân vân, đều không nên xem ; chỉ thẳng mình ngay đường mà đi * Phàm gặp nước hố, nước lở, không được
nhảy qua ; có đường khác thì nên đi vòng quanh, không có đường khác mà mọi người cùng nhảy qua thì được. Không phải lý do bịnh và việc khẩn cấp thì không được cỡi ngựa, cho đến đùa giỡn ra roi cho ngựa chạy. Phụ. - Phàm gặp quan quyền, bất luận lớn nhỏ, đều nên tránh đi. Gặp kẻ đánh nhau cãi nhau, cũng nên tránh xa, không được dừng ngó * Không được về chùa khoa trương những sự hoa mỹ trong thành thị mà mình đã thấy.
Tôn túc, thân thức. Tôn túc là bậc xuất gia tuổi cao, đức lớn. Thân thức là người tại gia nhưng là đại thiện tri thức. Mình là sa di thì phải
kính nhưỡng.
Thứ 21 mua đồ
Không tranh đắt rẻ. Không ngồi hàng quán phụ nữ * Nếu bị người xúc phạm thì phương tiện tránh đi, đừng theo mà mưu cầu giá rẻ. Đã hứa mua vật của ai, thì dẫu vật của người khác rẻ hơn cũng đừng bỏ vật ấy lấy vật này, làm cho chủ vật ấy tức giận * Thận trọng, đừng bảo lãnh kẻo dẫn đến lỡ lầm và mắc nợ.
Thứ 22 làm gì cũng không
được tự ý
Ra vào đi về, phải bạch thầy trước. Sắm pháp y mới, phải bạch thầy trước ; mặc pháp y mới,
phải bạch thầy trước. Cạo đầu, phải bạch thầy trước * Tật bịnh uống thuốc, phải bạch thầy trước. Làm việc tăng chúng, phải bạch thầy trước. Muốn có đồ riêng thuộc loại giấy bút, phải bạch thầy trước. Tụng kinh tán kệ, phải bạch thầy trước. Ai đem đồ cho mình, phải bạch thầy mới nhận ; mình đem đồ cho ai, phải bạch thầy, thầy chấp thuận mới cho. Ai mượn đồ, phải bạch thầy trước, thầy chấp thuận mới cho mượn ; mình mượn đồ của ai, phải bạch thầy trước, thầy chấp thuận mới mượn * Bạch thầy, thầy chấp thuận hay không chấp thuận, đều phải làm lễ. Thầy
không chấp thuận, không được có ý giận hờn. Phụ .- Cho đến việc lớn như du học, như nghe giảng, như nhập chúng, như giữ chùa, như những việc kết thiện duyên với Tam bảo, đều phải bạch thầy, không được tự ý.
Pháp y, ở đây, sắm để dùng là man y ; sắm cất để chuẩn bị thọ đại giới là 3 pháp y. Tụng kinh tán kệ, nguyên tại Ấn, hể vịnh pháp ngôn thì gọi là pathaka. Qua Tàu, vịnh kinh gọi là tụng kinh, vịnh kệ gọi là phạn bối. Bối là dịch âm và gọi là tắt pathaka (bối nặc), Phạn là Phạn độ (Ấn độ) : phạn bối là vịnh kệ theo cách của Ấn, nên tôi dịch là tán kệ. Tán kệ mà gọi
là tán, là vì 3 lý do : một, pathaka dịch nghĩa là tán than : tán than Tam bảo ; hai, tiếng tán có âm điệu ; ba, các bài kệ cũng có âm vận. Tán kệ tại Tàu do thi nhạc hào Tào Thực sang chế, do tam tạng cư sĩ Chi Khiêm và tam tạng pháp sư Khang Tăng Hội tiếp tục. Thi nhạc hào Tào Thực là con thứ ba của Tào Tháo, người hậu diệp thế kỷ 2 và tiền diệp thế kỷ 3, có thiên tài về văn, thi, nhạc. Đi chơi núi Ngư sơn, nghe tiếng nước chảy của hang núi mà tự cảm ra được, chế thành phạn bối. Có nơi nói, nghe tiếng tụng kinh từ hang xa dội ra tuyệt mỹ, phỏng mà chế ra phạn bối. Chi Khiêm, cư sĩ, quá xứng đáng được gọi là tam tạng cư sĩ. Qua Tàu thời tam quốc, niên đại dịch kinh là
223-253, có biệt hiệu được xưng tặng là Trí nang (Đãy trí). Về phạn bối thì có truyền Phạn bối tam khế. Khang Tăng Hội người Khang cư, đời đời ở Thiên trúc, sau cha vì buôn bán mà dời ở Giao chỉ (bắc bộ Việt Nam). Tinh thông tam tạng, qua Tàu thời Ngô Tôn Quyền. Ông này dựng chùa Đại báo ân và ngài dịch kinh ở đó. Niên đại :? -280. Về phạn bối thì chính ngài làm Nê hoàn phạn bối. Du học, nguyên văn là du phương : đi phương xa mà tham phỏng Thiện tri thức. Giữ chùa, nguyên văn là thủ sơn (giũ núi). Những việc kết thiện duyên với Tam bảo như kiến thiết tự viện vân vân. Nhưng 5 sự nói trong đoạn chót này là nói cho Tỷ kheo, còn Sa di thì tùy thuộc Tỷ kheo và học
làm theo phạm vi của mình.
Thứ 23 đi học xa
Đi xa cần nhớ bạn tốt * Người xưa tâm địa chưa thông suốt thì không ngại đi xa ngàn dặm mà cầu thầy. Phụ. - Tuổi nhỏ giới cạn thì chưa cho đi xa ; nếu đi, không được cùng những kẻ không tốt đi chung * Phải vì tìm thầy hỏi đạo, giải quyết sinh tử, không nên nhìn non ngắm nước, chỉ toan tính du lịch rộng xa để khoe khoang với người * Đến đâu thì để hành lý xuống, không được vào thẳng điện Phật, hay pháp đường, tăng đường. Phải một người coi hành lý, một người vào
trước chào hỏi, tiếp nhận qui củ tiến chỉ của thường trú chỗ ấy, mới có thể thu xếp hành lý vào phía trong.
Tâm địa : tâm sinh các pháp như đất sinh cây cối, nên gọi là tâm địa. Đi là phải y vào đất, tu là phải y vào tâm, nên gọi là tâm địa. Nhưng ở đây là từ ngữ của Thiền tông, tâm địa là tâm tánh ; chưa minh tâm kiến tánh thì gọi là tâm địa chưa thông suốt. Cầu thầy, thầy ở đây là Thiện tri thức, là bậc tác gia, bậc “cụ chánh nhãn”. Tìm thấy hỏi đạo, thầy thì mới nói ở trên, đạo là tâm địa đã nói trên kia. Giải quyết sinh tử : giải quyết vấn đề sống và chết. Sống chết là đại sự của đời người. Điện Phật,
nguyên văn là điện. Nhưng gọi điện Phật hay Phật đường đều không đúng bằng gọi Hương điện hay Hương đường (Gandhakuti). Ấn độ gọi chỗ Phật ở hay thờ Phật là Hương (thơm). Pháp đường, tăng đường, nguyên văn là đường. Đường đây là pháp đường và tăng đường. Pháp đường là giảng đường : nhà giảng diễn giáo lý. Tăng đường cũng gọi là thiền đường (nhà tăng chúng tọa thiền) hay trai đường (nhà tăng chúng thọ thực). Tiến chỉ : tới ngừng, làm nghỉ, động tĩnh. Thường trú : ở đây là tăng chúng thường xuyên.
Thứ 24 danh tướng y bát
[mà sa di phải biết trước]
Pháp y 6 điều, Phạn ngữ là an đà hội, xứ này dịch trung túc y, cũng dịch hạ y, cũng dịch tạp tác y. Phàm chấp lao phục dịch trong chùa, ra vào qua lại ngoài đường, nên mang pháp y này. Bài kệ mang pháp y này là :
Lành thay áo giải thoát,
áo ruộng phước tối thượng,
nay tôi kính tiếp nhận,
đời đời không rời bỏ.
Án tất đà das a ba ha.
Danh tướng y bát : danh xưng và hình thức của pháp y và ứng khí. Pháp y 5 điều là pháp y mà bề ngang có 5 điều. An đà hội : antarvasaka, dịch nghĩa là trung túc y
: y mặc gần mình ; là hạ y : pháp y mặc dưới y thất, là tạp tác y : pháp y mặc làm việc bình thường. Chấp lao phục dịch : mệt nhọc làm việc.
Y kiền độ nói, Phật thấy các Tỷ kheo đi đường mang nhiều y và đồ, nghĩ nên qui định số y, không cho cất quá. Đêm đó Ngài ngồi giữa đất trống, mặc 1 y, nửa đêm nghe lạnh, mặc them y thứ 2, cuối đêm nghe lạnh hơn nữa, mặc them y thứ 3 thì yên ổn. Ngài dạy các Tỷ kheo, Như lai chấp thuận đệ tử của Như lai thọ trì 3 pháp y, không được cất quá… Tăng kỳ luật nói, Phật ở thành Vương xá, kinh hành trước hang đá Đế thích, thấy ruộng lúa có thửa có bờ phân minh, nói với tôn giả A nan, hình thức pháp y của quá khứ chư Phật là như vậy
đó. Như lai nay hãy theo đó mà chế 3 pháp y… Hãy lấy dao cắt đứt vải ra mà may lại thành pháp y, thì không bị giặc cướp. Đó là áo giải thoát, áo ruộng phước (Vạn 106/236 dẫn).
Pháp y 7 điều, Phạn ngữ là uất đa là tăng, xứ này dịch thượng trước y, cũng dịch nhập chúng y. Phàm lạy Phật, tu sám, tụng kinh, tọa thiền, phó trai, nghe giảng, bố tát, tự tứ, nên mang pháp y này. Bài kệ mang pháp y này là :
Lành thay áo giải thoát,
áo ruộng phước tối thượng,
nay tôi kính tiếp nhận,
đời đời thường khoác mặc.
Án độ ba độ ba sa bà ha.
Pháp y 7 điều là pháp y mà bề ngang có 7 điều. Uất đa la tăng : uttarasanga, dịch nghĩa là thượng trước y : là pháp y thường mặc nhất trong việc tu học, lại mặc trên y ngũ ; là nhập chúng y : pháp y mặc cùng đại chúng tập hợp bái sám, tụng kinh, trai hội, v/v. Tu sám :tu pháp hạnh sám hối, trong đó có cái thường gọi là bái sám (lễ bái tụng niệm theo nghi thức sám hối). Phó trai : nhận lời thỉnh mời của thí chủ mà đến trai hội (tức thường gọi là đi dự trai tăng). Bố tát, Phạn ngữ nguyên là uposatha, và thành chữ Paly là posadha. Người xuất gia mỗi nửa tháng 1 lần tập họp tụng giới bản, để ở
trong tịnh giới mà trưởng dưỡng thiện pháp, nên gọi là Bố tát, dịch nghĩa là tịnh trú, thiện túc, trưởng dưỡng. Người tại gia mỗi tháng 6 ngày chay thọ trì 8 giới để nuôi lớn thiện pháp, nên cũng gọi là bố tát, dịch nghĩa là trưởng dưỡng. Người xuất gia mỗi nửa tháng bố tát mà gọi là trưởng dưỡng, là còn vì dùng xoa ma mà sám hối để tăng trưởng giới căn. Xoa ma : ksama, thường gọi tắt là sám, có nghĩa “xin dung thứ cho tội của tôi”. Sự sám hối này gọi là bát ra đế (bát ra đế đề xa da mị : Pratidesayàmi) dịch nghĩa ngã đối thuyết, là trong ngày Bố tát, hướng về tăng chúng mà phát lộ và sám hối tội lỗi mình phạm. Bố tát cũng như an cư, nguyên đều là hành sự của Bà la môn mà Phật qui định lai cho Phật tử
(Bảo 861). Tự tứ, Phạn ngữ là pravarana. Người xuất gia mỗi năm có 1 mùa an cư để tránh mưa (đó là ở Ấn, còn Tàu với Việt lại nắng) và tu dưỡng. An cư xong thì làm lễ tự tứ, vào ngày 16/7 theo cựu dịch, hay ngày 16/8 theo tân dịch, bằng cách tự đưa mình ra (tự) để tùy ý tăng chúng (tứ) nêu tội mình phạm để mình sám hối.
Pháp y 25 điều, Phạn ngữ là tăng già lê, xứ này dịch là hợp, cũng dịch là trùng, cũng dịch là tạp toái y. Phàm vào vương cung, thăng tòa thuyết pháp, khất thực phường khóm, [truyền giới, thuyết giới], nên mang pháp y này. Lại nữa, pháp y này có 9 bậc : bậc thấp có 3, là 9 điều, 11 điều và
13 điều ; bậc vừa có 3, là 15 điều, 17 điều và 19 điều ; bậc cao có 3, là 21 điều, 23 điều và 25 điều. Bài kệ mang pháp y này là :
Lành thay áo giải thoát
áo ruộng phước tối thượng,
nay tôi kính tiếp nhận,
hóa độ cho tất cả.
Án ma ha ca ba bà tra tát đế sa bà ha.
Pháp y 25 điều là pháp y cao nhất mà bề ngang có 25 điều. Tăng già lê : samghati, dịch nghĩa là hợp : hợp lại; là trùng : chồng nhau. Pháp y này do cắt vải đứt ra mà may hợp chồng lại. Y ngũ và y thất có thể hoặc cắt ra hoặc không cắt mà may
lại, còn pháp y này phải cắt mà may. Lại dịch là tạp toái y : pháp y cắt may với điều số rất nhiều. Nhưng Phật học đại từ điển nghi ngờ sự giải thích này, và suy luận tạp toái y là phấn tảo y, lượm vải rách mà may thành. Pháp y này, ngoài các tên ở trên, còn gọi là “chúng tụ thời y” : pháp y khoác mang lúc đại chúng tập hợp truyền giới, thuyết giới, v/v ; lại gọi là “đại y” : pháp y cao nhất. Nay tôi kính tiếp nhận, Tỳ ni chép “phụng hành lịnh Như lai”. Điều : 5 điều, 7 điều, 25 điều, chữ điều ấy nói dễ hiểu là khoảng. Ngũ y có 5 khoảng đứng, mỗi khoảng lại có 1 và ½ khoảng ngang. Thất y có 7 khoảng đứng, mỗi khoảng lại có 2 và ½ khoảng ngang. Đại y có 3 bậc : một, bậc thấp có 9, 11,13
khoảng đứng, mỗi khoảng lại có 2 và ½ khoảng ngang ; hai, bậc vừa có 15, 17,19 khoảng đứng, mỗi khoảng lại có 3 và ½ khoảng ngang ; ba, bậc cao có 21, 23, 25 khoảng đứng, mỗi khoảng lại có 4 và ½ khoảng ngang.
Bát, Phạn ngữ là bát đa la, xứ này dịch là ứng lượng khí, là vì thể chất, màu sắc, dung lượng, cả 3 đều thích ứng chánh pháp. Thể chất thì dùng 2 thứ đất và sắt, màu sắc thì bôi thuốc mà xông khói, dung lượng thì chia lớn vừa nhỏ.
Bát : gọi tắt chữ bát đa la (patra), dịch nghĩa là ứng lượng khí. Ứng lượng khí gọi tắt là ứng khí. Khí là đồ : đồ người xuất gia dùng để ăn ; đồ ấy gọi
là ứng khí, là vì một, thể chất, màu sắc và dung lượng đều thích ứng chánh pháp ; hai, ứng thọ cúng dường (vì 2 điều này mà gọi tắt là ứng khí) ; ba, thích ứng với thực lượng (vì điều này mà gọi thêm là ứng lượng khí). Đất và sắt. Đất ở đây là đất làm ngói hay đất nhuyễn. Bát bằng thể chất đất là bát đất, bát sành. Còn sắt là loại của sắt, nhất là thiếc. Luật không cho phép làm bát bằng các thứ ngọc, đồng, bạch lạp, gỗ, đá, v/v. Bát bằng loại của sắt cũng chỉ do Phật cho phép người già run tay cầm cho khỏi bể. Bát đất là nhất. Bôi thuốc mà xông khói, thuốc đây là ma tử và hạnh nhân, 2 thứ này giã nhỏ, xoa trong ngoài bát đất rồi hun xông bằng khói loại tre. Màu sắc thành ra là màu cổ
sau của chim tu hú hay bồ câu, màu chim khổng tước. Cấm màu sắc họa vẽ, màu sắc lưu ly. Nên coi lại Tỳ ni.
Cụ, Phạn ngữ là ni sư đàn, xứ này dịch là tọa cụ, cũng dịch là tùy túc y. Bài kệ mở cụ là
Tọa cụ ni sưu đàn,
nuôi lớn lúa tâm tánh,
mở ra lên thánh địa,
phụng hành lịnh Như lai,
Cụ (nisidana), dịch âm là ni sư đàn, dịch nghĩa là tọa cụ (gọi tắt là cụ) là tùy túc y. Tọa cụ thì từ điển có, còn tùy túc y thì không hiểu nghĩa thế nào. Theo từ điển, ni sưu đàn dịch tọa cụ (đồ để ngồi) ngọa cụ (đồ để
nằm) phụ cụ (đồ trải ra để nằm ngồi). Coi lại Tỳ ni.