Mục lục
tài liệu..................................................................................................................... 2081
nhan đề................................................................................................................... 2082
tác giả...................................................................................................................... 2083
Lược giải Cảnh sách, có 3 phần :
Phần 1 cảnh giác, có 5 tiết :
Tiết 1 cảnh giác nghiệp quả vô thường....................................................... 2086
Tiết 2 cảnh giác xuất gia không trọn........................................................... 2089
Tiết 3 cảnh giác không học, không tu,
không chịu cảnh giác.......................................................................... 2094
Tiết 4 cảnh giác luân hồi ác báo
vẫn chịu vô cùng.................................................................................. 2099
Tiết 5 kết thúc cảnh giác............................................................................... 2102
Phần 2 sách tiến, có 5 tiết :
Tiết 1 sách tiến xuất gia cho trọn vẹn......................................................... 2104
Tiết 2 sách tiến thực hiện căn bản
của sự xuất gia ấy, có 4 mục :
Mục 1 sách tiến thực hiện cái chí
căn bản của sự xuất gia.................................................................. 2107
Mục 2 sách tiến thực hiện cái hạnh
căn bản của sự xuất gia.................................................................. 2108
Mục 3 sách tiến thân cận thiện
tri thức của sự xuất gia................................................................. 2108
Mục 4 sách tiến thực hiện cái
tu căn bản của sự xuất gia.............................................................. 2110
Tiết 3 sách tiến tu tập về Thiền.................................................................... 2110
Tiết 4 sách tiến tu học và hoằng pháp......................................................... 2115
Tiết 5 sách tiến tinh tiến, có 4 mục :
Mục 1 sách tiến sự thắng tiến................................................................... 2118
Mục 2 sách tiến sự tự trọng....................................................................... 2119
Mục 3 sách tiến sự hướng thượng
và phấn chí..................................................................................... 2119
Mục 4 sách tiến sự tự chủ......................................................................... 2120
Phần 3 tổng kết..................................................................................................... 2122

Tài liệu
Tài liệu chính để dịch giải văn cảnh sách là Qui sơn cảnh sách cú thích ký, cú thích của ngài Hoằng tán, ký của ngài Khai huýnh. Bản in thì Phật giáo Bắc và Huế đều có, nhưng bản tôi dùng là Vạn 111/150-178. Qui sơn cảnh sách chú, của ngài Đại hương, Vạn 114/464-470. Còn 2 tài liệu khác nữa, 1 mang số 560 của Vạn 59, 1 mang số 1224 của Vạn 111. Vì không dùng làm tài liệu chính nên không ghi.
nhan đề
Nhan đề bài văn này là Qui sơn cảnh sách, nhưng Vạn 111/151 nói rất đúng, Qui sơn là tên tác giả, người sau để vào nhan đề.
Cảnh sách, Vạn 111/151 nói, cảnh là cảnh giác những kẻ chưa ngộ, sách là sách tiến những kẻ hậu tiến. Vạn 114/464 nói, cảnh là răn sự không siêng, sách là dục sự không tiến. Tự điển thì cảnh là răn bảo, đánh thức ; sách là cái roi da để đánh mà dục ngựa chạy. Nói chung thì câu văn hay bài văn nào cảnh giác cho người đọc phấn chấn lên, như ngựa bị roi, chồm lên mà chạy. Nhà chùa sớm tối thường đọc bài văn thúc dục tu hành thì gọi là cảnh sách. Qui sơn cảnh sách là 1 trong những bài văn ấy.
tác giả
Qui sơn gọi là ngài bằng tên núi ngài ở. Ngài tên Linh hựu, húy Đại viên. Người Phúc châu, họ Triệu. Mười lăm tuổi xuất gia, nghiên cứu giáo lý tại chùa Long hưng, ở Hàng châu. Hai mươi ba tuổi qua Giang tây, tham học ngài Bách trượng. Ngài này mới thấy, đã nhận là người nhập thất, và để đứng đầu những người tham học. Một hôm đứng hầu, ngài Bách trượng bảo bươi lò lấy lửa. Ngài bươi rồi, thưa không có. Ngài Bách trượng đứng dậy, bươi sâu được chút lửa, đưa cho ngài thấy, hỏi, ông nói không có, vậy cái này là gì ? Ngài nhân đó ngộ nhập. Sau sung chức điển tọa. Bấy giờ có Tư mã Đầu đà đến từ Hồ nam, thưa với ngài Bách trượng, mới tìm được hòn núi tại Hồ nam, tên Đại qui, đó là chỗ ở của 1500 vị
thiện tri thức. Ngài Bách trượng hỏi, chính ngài đến ở được không, Đầu đà thưa không được. Gọi thủ tọa ra, người mà sau này là hòa thượng Hoa lâm, Đầu đà xin dặng hắng 1 tiếng và đi vài bước, rồi thưa cũng không được. Gọi ngài, Đầu đà mới thấy liền thưa, vị này đích thị là chủ nhân Qui sơn.
Ngài qua ở đó, vì núi cao, rộng, cây rậm, hang sâu, thú dữ trú ẩn nên ít người đến, ngài chỉ bạn với vượn khỉ, ăn toàn trái hạt. Sáu bảy năm sau, dân làng mới hay, kéo nhau đến cất chùa. Do đó mà đạo pháp truyền bá, thiền học đông đảo, ngài cùng môn nhân là ngài Ngưỡng sơn lập thành tông Qui ngưỡng. Ngài hoằng pháp hơn 40 năm, kẻ tỉnh ngộ kể không hết, người nhập thất đến 41. Thọ 83 tuổi, tuổi ha7 64 tuổi, viên tịch ngày 9 tháng giêng năm thứ 7 niên hiệu Đại
trung (853) của đời Đường. Như vậy niên đại của ngài là 770-853.
Văn Cảnh sách ngài viết, đối tượng là cấp bậc Tỷ kheo, thế nhưng cấp bậc Sa di cũng được cảnh sách không ít. Văn ấy có cái tên đầy đủ văn Cảnh sách của Đại viên thiền sư ở núi Qui sơn. Nói văn cảnh sách của ngài Qui sơn đã là nói tắt, nói văn Cảnh sách lại càng nói tắt hơn.
Lược giải bài văn này, tôi phân khoa theo ngài Hoằng tán, nhưng thu gọn và tiêu đề dễ hiểu hơn một chút. Văn Cảnh sách có 3 phần : phần 1 cảnh giác, phần 2 sách tiến, phần 3 tổng kết.
Phần 1 cảnh giác, có 5 tiết :
Tiết 1 cảnh giác nghiệp quả vô thường, tiết 2 cảnh giác xuất gia không trọn, tiết 3 cảnh giác không học, không tu, không chịu cảnh giác, tiết 4 cảnh giác luân hồi ác báo vẫn chịu vô cùng, tiết 5 kết thúc cảnh giác.
Tiết 1 cảnh giác
nghiệp quả vô thường
Vì nghiệp lực kết buộc mà có thân thể, thì chưa ai thoát khỏi cái lụy của hình hài. Nên bẩm thụ thể chất tiết ra của cha mẹ, vay mượn những yếu tố tương quan mà hợp thành. Tuy được bốn thứ đại chủng hỗ trợ, nhưng chính bốn thứ này lại luôn luôn đối nghịch lẫn nhau.
Nghiệp lực : sức mạnh của Nghiệp. Nghiệp là một trong những cái lực rất mạnh mà Phật giáo nói đến. Thể chất tiết ra của cha mẹ là tinh của cha và huyết của mẹ. Yếu tố tương quan là dịch chữ duyên. Bốn thứ đại chủng là tứ đại, có 2 loại : loại thế tục (kiến thức phổ thông) là đất nước lửa gió (địa thủy hỏa phong) ; loại thắng nghĩa (kiến thức chính xác) là cứng lỏng nóng động (kiên thấp noãn động). Bốn đại chủng là yếu tố của vật lý, gồm có thân thể và vũ trụ của thân thể. Do vậy, 4 đại chủng có loại có cảm giác (thân thể) có loại không cảm giác (vũ trụ).
Do đó mà vô thường già bịnh không hẹn với ai cả. Sớm còn tối
mất, trong một sát na là đã qua đời khác. Khác nào sương mùa xuân, móc sáng sớm, chốc lát đã không ; cây bên bờ, dây miệng giếng, đâu được lâu bền. Như ý nghĩ này nối tiếp ý nghĩ khác, chuyển biến cực kỳ mau chóng, nên trong một sát na nhiên để đời mình trôi đi một cách vô ích ?
Vô thường có 2, là sát na vô thường (sự chuyển biến) và nhất kỳ vô thường (sự đột biến). Sát na dịch ý là niệm, là đơn vị ngắn nhất của thì gian, chỉ như ý nghĩ thoạt hiện hay thoạt biến. Chuyển hơi thở là thở ra mà không vào, hay ngược lại.
Tiết 2 cảnh giác xuất gia
không trọn
Đối với cha mẹ thì không cung phụng ngọt ngon, đối với thân quyến cố nhiên rời bỏ xa cách, đối với đất nước không có khả năng bình trị, đối với gia tộc bỏ hết nghĩa vụ thừa kế, xa làng bỏ xóm, cắt tóc, bẩm thụ Phật pháp với bổn sư. Như vậy lẽ đáng trong thì siêng về công phu khắc niệm, ngoài thì trải ra đức tính hòa bình, xa hẳn trần tục, kỳ vọng giải thoát.
Thân quyến, chính văn là lục thân : cha mẹ anh em vợ con. Gia tộc, đúng ra là gia nghiệp (việc nhà), nhưng đổi một chút cho rộng và đúng
hơn. Khắc niệm : khắc phục vọng niệm. Hòa bình, chính văn là bất tránh, nghĩa đen là không cãi, không tranh chấp.
Sao lại mới bước lên phẩm bậc của giới pháp, mà đã tự thị ta đây là vị tỷ kheo. Dùng của thí chủ, ăn của thường trú, không biết xét kỹ vì sao mà có của ấy, lại bỏa rằng lẽ tự nhiên là phải hiến cúng. Ăn rồi, xúm đầu huyên náo, chỉ nói toàn chuyện tạp của thế gian. Nhưng một thì thừa dịp vui thích, mà không biết chính cái vui ấy là nguyên nhân của sự thống khổ. Bao kiếp xưa kia, thí thân theo trần cảnh, chưa từng phản tỉnh. Thì giờ mất mát, năm
tháng lần lữa, hưởng dụng càng nhiều, thí lợi càng lắm, hết năm này qua năm khác mà không biết nghĩ đến sự rời bỏ. Chất chứa càng nhiều cũng chỉ bảo trì xác huyễn mà thôi. Dức Đạo sư có huấn dụ, khuyên dạy các vị tỷ kheo, hãy tiến bộ đạo nghiệp mà trang hoàng cơ thể, còn ăn, mặc và ngủ, cả ba thứ ấy không lúc nào nên hưởng dụng sung túc. Nhưng con người đa số đối với ba thứ ấy đam mê không ngừng, đến nỗi ngày qua tháng lại, vụt cái bạc đầu. Nên hậu học chưa nghe tôn chỉ của Phật pháp thì phải học hỏi sâu rộng với các vị tiên giác, sao lại toan bảo xuất gia quí
hồ cơm áo.
Tỷ kheo, ngài Tăng triệu nói, hoặc tịnh khất thực, hoặc phá phiền não, hoặc tịnh trì giới, hoặc năng bố ma, 1 chữ tỷ kheo của Thiên trúc gồm có 4 nghĩa ấy, Trung hoa không có chữ duy nhất mà dịch nên vẫn để nguyên . Thế nhưng Phạn tự Bhiksu, dịch âm là Tỷ kheo hay Bí sô, và Bí sô là cỏ, thì cũng là 1 thuyết mà Tuệ lâm âm nghĩa,Câu xá Tuệ huy sao, Phiên dịch danh nghĩa tập và Thích thị yếu lãm đều nói. Thuyết này dẫn Đại giác vương kinh 1 nói, cỏ bí sô, cỏ tất đảng, khi nhân địa tu hành, Thế tôn thường gối 2 thứ cỏ ấy (Bảo 1570). Vạn 114/565 nói, Tỷ kheo như cỏ bí sô có 5 đặc tính : 1, thể chất mềm, ví dụ thân miệng thô dữ đã bị thuần hóa ;
2, mọc bủa ra, ví dụ hoằng pháp độ người ; 3, hơi thơm xa, ví dụ giới đức ai cũng biết ; 4, chữa mọi bịnh, ví dụ trừ mọi độc hại phiền não ; 5, hướng về ánh sáng mặt trời, ví dụ thường hướng về Phật. Của thường trú, nói vắn tắt, là vật của Tăng chúng, tức của tự viện. Trần cảnh là 6 trần (6 cảnh), tức khắc thanh hương vị xúc pháp, mà là loại thích thú cho giác quan. Ăn, mặc và ngủ là đồ ăn, đồ mặc và đồ nằm (gồm cả chỗ ở). Vì sao mà có của ấy, nghĩa là của mình ăn mình dùng mà có được là do rất nhiều công khó của người làm, và vì người hiến cúng đã bớt phần của họ và thân nhân của họ mà hiến cúng để cầu phước : đó là điều mà người xuất gia phải nghĩ đến cho kỹ.
Tiết 3 cảnh giác không học,
không tu, không chịu
cảnh giác.
Đức Phật trước tiên thiết chế giới luật là để bắt đầu mở mang cho sự ngu muội. Phép tắc uy nghi sạch như băng tuyết. Đình chỉ là giữ, hành động là phạm, nguyên tắc ấy kềm chế sơ tâm ; điều mục đầy đủ, chương tiết minh bạch, giới pháp này đổi bỏ tồi tệ. Pháp tịch giảng dạy Luật tạng mà chưa hề học hỏi và thân cận, thì đối với Thượng thừa là giáo lý liễu nghĩa, làm sao có khả năng cứu xét rành mạch. Nên thật đáng đau tiếc là để một đời trôi đi một cách trống rỗng, sau
này hối hận cũng khó mà đuổi kịp. Giáo lý chưa kịp để dạ thì diệu pháp không nhân đâu mà kế ngộ.
Uy nghi : cử động đáng kính, có khuôn phép. Đình chỉ là giữ, hành động là phạm : đình chỉ là đình chỉ đúng với những gì giới luật đã cấm làm, kể cả đình chỉ đúng với những gì giới luật đã cấm không làm. Hành động là hành động những gì trái với giới luật đã cấm làm, kể cả hành động trái với những gì giới luật đã cấm không làm. Thượng thừa, đọc đúng là thượng thặng : cỗ xe (giáo lý) tối thượng. Liễu nghĩa : nghĩa lý rõ ràng, cứu cánh ; đối lại là bất liểu nghĩa. Liễu nghĩa và bất liễu nghĩa là dị
danh của giáo lý chân thật và giáo lý phương tiện. Khế ngộ : sự tỏ ngộ ăn khớp với chân lý được tỏ ngộ.
Cập kỳ đến lúc tuổi đời đã cao, tuổi hạ cũng lớn, nhưng bụng thì rỗng, lòng lại cao, bởi vốn không chịu thân cận thiện hữu nên chỉ biết xấc láo ngáo ngược, chưa hiểu thành thuộc giáo pháp và giới luật nên sự tự chế ngự hoàn toàn không có. Lời to, tiếng lớn, nói năng vô phép. Không kính thượng tọa, trung tọa, hạ tọa, ngồi với nhau không khác gì sự tu tập của các đạo sĩ Bà la môn. Khua bát ra tiếng, ăn rồi dậy trước. Đi ở trái phép nên bản chất tăng sĩ mất hẳn, đứng ngồi
quàng hoảng nên làm động tâm niệm của kẻ khác. Phép tắc ít nhất cũng không giữ, uy nghi nhỏ nhất cũng không còn, thì đưa cái gì ra để kềm thúc hậu bối, nên kẻ sơ học không biết do đâu mà mô phỏng.
Tuổi hạ, hạ là an cư mùa hạ. Thọ cụ túc giới rồi hằng năm phải an cư. An cư rồi tự tứ. Tự tứ cũng gọi là nhận tuổi mới, và tuổi đó là tuổi hạ. Mấy năm an cư là mấy tuổi hạ (cũng tức là mấy tuổi giới). Ngồi với nhau..., ngồi như Bà la môn là ngồi hỗn loạn ; phải ngồi trước sau trên dưới theo tuổi mới đúng phép. Bà la môn, dịch nghĩa là tịnh chí, 1 trong 4 giai cấp của xã hội Ấn độ, tự
cho nguyên sinh ra từ miệng Phạn thiên. Phép của Bà la môn 7 tuổi sắp lên học ở nhà, 15 tuổi sắp lên du học (môn học là pháp Bà la môn), 40 tuổi trở về lấy vợ sinh con, 50 tuổi vào núi tu tập. Bà la môn nhất thiết không ngồi chung vói 3 giai cấp khác, còn ngồi với nhau thì trật tự kể theo tuổi chứ không thể theo đức hạnh (Bảo 1886). Đi ở, nguyên văn là khứ tựu, Từ hải nói cũng như khứ lưu.
Vậy mà có ai mới cảnh giác cho, thì liền bảo ngay rằng ta đây là tăng sĩ rừng núi. Quả là kẻ chưa bao giờ nghe đến sự hành trì của Phật huấn dụ, nên chỉ có một chiều hướng là tánh tình vẫn còn y nguyên. Cung cách
như vậy là vì sơ tâm biếng nhác, nên ham muốn xấu xa y như thói cũ, dần dà theo đời, hóa thành quê kệch. Thế rồi bất giác mà lóng cóng già yếu, nhưng gặp chuyện thì như đối diện với tường vách. Hậu học thưa hỏi thì không có lời tiếng chi để hướng dẫn. Có nói cũng không liên hệ gì với kinh điển. Và bị khinh khi thì bảo hậu sinh vô lễ, sân tâm nổi giận, lời tiếng át người.
Ta đây là tăng sĩ rừng núi là ngữ khí ngoan cố, ty liệt mạn (ngạo ngược với chính sự kém hèn của mình).
Tiết 4 cảnh giác luân hồi ác
báo vẫn chịu vô cùng
Một mai bịnh nằm trên giường thì mọi thứ đau đớn bao vây, xiết buộc, bức bách, sớm tối lo nghĩ, trong lòng khiếp sợ, đường trước man mác, chưa biết đi về chỗ nào. Bấy giờ mới biết hối hận, là sắp chết khát mới đào giếng, thì đào mà làm gì. Chỉ còn tự giận lấy mình sớm không dự bị tu tập, tuổi về chiều thì lắm điều tội lỗi, nên khi sắp đi khỏi cuộc đời thì sự sống tan rã thật mau chóng, lòng cáng khiếp sợ hãi hùng. Rồi lụa thủng chim bay, tâm thức phải tùy theo nghiệp lực. Như kẻ mắc nợ thì ai mạnh kéo trước, tâm thức lắm thứ ác nghiệp thì chỗ nào nặng hơn thì phải rơi
trước vào đó. Nên quỉ sứ vô thường sát nhân, ý tưởng này nối tiếp ý tưởng khác, tác hại không ngừng. Sinh mạng không thể kéo dài, thì giờ không hề chờ đợi. Rồi ba cõi luân hồi chưa thể thoát khỏi, và thọ nhân như vậy khó nói cho hết số lượng của thì gian lâu dài.
Chưa biết đi về chỗ nào là văn khí nói vậy, thật ra những người xuất gia không trọn thừa biết họ sẽ phải đi về chỗ nào. Sự sống tan rã thật mau chóng, chính văn là huy hoắc. Từ hải nói huy hoắc là tan rã mau chóng. Có ý kiến nói huy hoắc là tay quều quào, xét ra không đúng ngay với tự điển : huy là vẫy tay, hoắc là trở
tay, diễn biến thành cái nghĩa phung phí tiền của một cách mau chóng – Mà ở đây là sự sống tan rã mau chóng. Lụa thủng chim bay, lụa thủng là ví dụ sự sống tan rã, chim bay (dịch rõ là chim sẽ bay mất) là ví dụ tâm thức tùy theo nghiệp lực. Quỉ sứ vô thường là vô thường chuyển biến dẫn ra vô thường đột biến (chết), nên chữ vô thường cũng là dị danh của sự chết.
Tiết 5 kết thúc cảnh giác
Cảm thương than thở, đau đớn như cắt đứt tim gan, làm sao có thể phong gói lời nói, nên phải cảnh giác để sách tiến cho nhau. Điều đáng tủi hận là chúng ta cùng sinh vào thì gian cuối cùng
của thời kỳ Phật pháp tương tự, cách xa thời đại của Phật, Phật pháp lơ thơ, lòng người đa số biếng nhác, nên phải trình bày sơ lược cái thấy chỉ như ống dòm trời, để khuyên bảo những người hậu học. Nếu không loại bỏ tính nết kiêu căng, thì quả thật khó mà thay đổi cho nhau.
Thì gian cuối cùng của thời kỳ Phật pháp tương tự : Cổ lai thường dùng thuyết thời kỳ Phật pháp nguyên chất có 500 năm sau Phật nhập diệt, thời kỳ Phật pháp tương tự có 1000 năm tiếp theo sau đó. Niên đại của ngài Qui sơn là 770-853 dương lịch. Lịch này kém lịch Phật niết bàn 544 năm. Vậy niên đại của ngài tính theo
Phật lịch trên là 1314-1397, gần hết bách kỷ 9 của thời kỳ Phật pháp tương tự.
Phần 2 sách tiến, có 5 tiết :
Tiết 1 sách tiến xuất gia cho trọn vẹn, tiết 2 sách tiến thực hiện căn bản của sự xuất gia ấy, tiết 3 sách tiến tu tập về Thiền, tiết 4 sách tiến tu học và hoằng pháp, tiết 5 sách tiến tinh tiến.
Tiết 1 sách tiến xuất gia
cho trọn vẹn
Người xuất gia là cất bước thì muốn vượt tới phương trời cao rộng, tâm tính và hình dung khác hẳn thế tục, tiếp nối một cách rạng rỡ dòng giống của Phật, làm cho quân đội của ma vương phải rúng động khuất phục, với mục
đích báo đáp bốn ân, cứu vớt ba cõi. Không như vậy thì chỉ là kẻ lạm xen vào hàng ngũ tăng sĩ, lời nói và việc làm trống rỗng, sơ suất, hưởng dụng một cách vô ích cúng phẩm của tín đồ, đường đi năm cũ thì một tấc một bước cũng không đổi dời, quàng hoảng suốt cả một đời thì còn lấy gì mà nương tựa và cậy nhờ ? huống chi tăng tướng đường hoàng, dung mạo khả quan, toàn do thiện căn đời trước gieo trồng mới có được cái quả báo đặc biệt ấy, vậy mà chỉ nghĩ đến việc ngồi thẳng, khoanh tay, chứ không biết quý trọng từng tất bóng của thì giờ. Nhưng đạo nghiệp mà không chịu
nỗ lực thực hành thì đạo quả sẽ không có nhân tố thành tựu. Như vậy đâu phải chỉ một đời này qua đi một cách vô ích, mà mọi việc trong những đời sau cũng không được bổ ích gì.
Bốn âm, có 2 pháp số, pháp số bốn ân nói cho mọi người là ơn cha mẹ, ơn chúng sinh, ơn quốc gia, ơn Tam bảo ; pháp số bốn ân nói cho người xuất gia là ơn cha mẹ, ơn sư trưởng, ơn quốc gia, ơn thí chủ. Ba cõi (tam giới) cũng gọi là tam hữu. Ba cõi là cõi Dục (có dục vong) cõi Sắc (có hình sắc) cõi Không (cõi Vô sắc : không hình sắc). Gọi là tam hữu là vì 3 cõi này đều hiện hữu nhân quả, sống chết, không phải đã là niết bàn như
ngoại đạo nói.
Tiết 2 sách tiến thực hiện căn bản
của sự xuất gia ấy, có 4
mục :
Mục 1 sách tiến thực hiện cái chí căn bản của sự xuất gia, mục 2 sách tiến thực hiện cái hạnh căn bản của sự xuất gia, mục 3 sách tiến thân cận thiện tri thức của sự xuất gia, mục 4 sách tiến thực hiện cái tu căn bản của sự xuất gia.
Mục 1 sách tiến thực hiện cái chí
căn bản của sự xuất gia
Giã từ song thân, quả quyết ý chí, khoác mặc pháp y, là ý muốn vượt lên cho ngang đến chỗ nào nữa kia : sớm tối suy nghĩ như vậy thì đâu có thể chơi đùa cho qua mất thì giờ. Trong lòng
tự kỳ hẹn cho mình phải làm trụ cột của Phật pháp, làm gương mẫu tương lai : thường xuyên tự nguyện như vậy mà chưa hẳn đã phù hợp phần nào với sự xuất gia.
Mục 2 sách tiến thực hiện cái hạnh
căn bản của sự xuất gia
Nói thì phải liên hệ với điển tích, bàn thì phải dựa vào sự kê cứu từ xưa. Hình dáng đĩnh đạc, chí khí cao nhã.
Mục 3 sách tiến thân cận thiện
tri thức của sự xuất gia
Đi xa thì phải nhờ bạn tốt để luôn luôn lọc sạch tai mắt, trú ở thì cần chọn bạn hiền để thường
thường nghe điều chưa nghe. Nên ngạn ngữ đã nói, sinh ta là cha mẹ, tác thành ta là bạn bè. Gần gũi với người hiền thì như đi trong sương móc, tuy không ướt áo nhưng lúc nào cũng thấm đượm ; quen thân kẻ ác thì lớn thêm kiến thức độc ác, sớm tối làm ác, ác báo đã bị ngay trước mắt mà chết rồi lại phải chìm đắm, làm cho thân người một khi mất đi, muôn kiếp vẫn khó mà khôi phục.
Bạn tốt là thiện tri thức. Nhưng phải nhớ chữ này, của bài văn này, là nói theo Thiền tông nhiều hơn. Thiền tông dùng chữ ấy để gọi các vị "tác gia". Không như các nơi khác, thiện tri thức chính là Phật, Bồ tát, vân vân,
bất ai và làm gì từ đó ta tu học được. Nói gần nhất, thiện tri thức là thầy bạn chỉ dạy và nâng đỡ cho ta. "A nan, đừng nói thiện trí thức là bán phần phạn hạnh, vì lẽ chính thiện tri thức là toàn phần phạn hạnh" (Bảo 2075 dẫn).
Mục 4 sách tiến thực hiện cái tu căn bản của sự xuất gia
Lời nói ngay thẳng mới trái nghịch thính giác, như thế làm sao không ghi khắc vào lòng dạ ? Mà như thế thì tất nhiên có thể rửa tâm, nuôi đức, ẩn dấu, vùi tên, tập trung tinh thần, đình chỉ náo động.
Tiết 3 sách tiến tu tập về Thiền
Nếu muốn tham thiền học đạo
vượt bỏ ngay cửa ngõ phương tiện, thì phải tâm hợp huyền tông, cứu xét tinh yếu, quyết trạch thâm áo , khải ngộ chân nguyên, bằng cách tham vấn sâu rộng với liệt vi tiên giác, gần gũi thân thiết với các bậc thiện tri thức. Thiền tông như thế này thật khó mà nắm được chỗ nhiệm mầu của nó, nên phải khẩn thiết vận dụng cái tâm một cách tinh tế và chín chắn, mới ngay trong khả năng này mà đốn ngộ chánh nhân, mới làm thềm bậc tiến dần trong sự siêu thoát phiền não. Và như thế là phá hủy nhân tố hai mươi lăm hữu trong lĩnh vực ba cõi, các pháp thân tâm vũ trụ
đều biết không thật, duy tâm biến hiện, toàn thị giả danh. Đừng nên đem tâm neo đậu : tâm không neo đậu với cảnh thì cảnh đâu chướng ngại cho tâm. Mặc cho pháp tánh lưu lộ toàn diện, đừng cắt đứt mà cũng đừng tiếp tục ; thấy sắc nghe tiếng quả thật bình thường thì bên nay bên kia ứng dụng đầy đủ.
Hai mươi lăm hữu, hữu đá cắt nghĩa rồi ; 25 hữu là nói rộng về 3 cõi. Một, cõi Dục có 14 hữu, chia ra 3 loại. Loại một là 4 đường dữ (địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, a tu la). Loại hai là 4 đại lục (nam là Diêm phù đề, đông là Thắng thần châu, tây là Ngưu hóa châu, bắc là Câu lô châu). Loại ba là
6 tầng trời (Tứ vương thiên, Đao suất thiên, Hóa lạc thiên, Tha hóa tự tại thiên). Hai, cõi Sắc có 7 hữu : Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, Đại phạn thiên trong sơ thiền, Vô tưởng thiên và Tịnh cư thiên trong Tứ thiền. Ba, cõi Không có 4 hữu : Không vô biên, Thức vô biên, Vô sở hữu, Phi phi tưởng. Thiền ở đây là thiền của Thiền tông, cái danh tuy lấy nghĩa tịnh lự, nhưng cái thể là diệu tâm (Bảo 2771). Vận dụng cái tâm một cách tế nhị và chín chắn. "Thiền vận dụng tâm như đi trên kiếm nhọn, băng mỏng, mà đại dụng như trời xoay, toàn cơ như điện chớp" (Vạn 114/468). Thấy sắc nghe tiếng quả thật bình thường. Thấy nghe của chúng ta không là bình
thường, mà quả thật là thác loạn. Cái thấy bình thường là thấy màu trắng, xanh, hình chữ nhật, nhưng ta cho là thấy tờ giấy bạc. Cái nghe bình thường là nghe tiếng, nhưng ta cho là nghe lời, điệu. Nếu ta phục hồi sự bình thường của thấy nghe thì chính đối tượng thác loạn cũng Thiền hóa tất cả. Bấy giờ ứng dụng không còn cục bộ nữa, mà là toàn diện, đầy đủ. Tâm không neo đậu là tâm không như chiếc thuyền neo đậu vào đối tượng thác loạn, thì đối tượng thác loạn đâu có chướng ngại được tâm.
Sống mà động cũng như tĩnh đều được như vậy mới thật không khoác mặc pháp y một cách uổng phí, cũng tức là báo đáp bốn ân,
cứu giúp ba cõi. Nếu đời đời không thoái chuyển thì quả vị đại giác quyết chắc có thể kỳ vọng, và là người khách qua lại ba cõi nên ra vào đều làm khuôn phép cho người.
Thiền học như thế này cực kỳ huyền diệu. Chỉ lo cho đủ sự "khẳng tâm", đoan chắc không lừa gạt.
Khẳng tâm, khẳng là khứng chịu, khẳng tâm là khẳng định, chấp nhận dứt khoát, không thắc mắc, dao động, mà quyết chí, quyết bước. Khẳng tâm là cơ bản của Thiền.
Tiết 4 sách tiến tu học
và hoằng pháp
Những người trung bình, chưa thể vượt ngay lên được, thì hãy để cả tâm trí vào giáo pháp, ôn cho thuộc và tìm cho rõ kinh điển, cứu xét một cách tinh tường đối với nghĩa lý, rồi truyền bá phu diễn ra để dắt dẫn tương lai, báo đáp ơn Phật. Thì giờ đừng để uổng phí, bằng cách phải lấy công hạnh trên đây mà hỗ trợ đời mình. Như thế thì động cũng như tĩnh đều có uy nghi, biến mình thành bậc "pháp khí" trong hàng Tăng bảo. Không thấy dây sắn quấn theo cây tùng kia sao, nó cao vút lên đến cả ngàn tầm : phải ký thác đời mình vào nhân tố tối thượng, mới có năng lực
tạo được ích lợi rộng lớn. Phải chân thành giữ gìn trai giới, đừng man trá, thiếu sót hay vượt bỏ. Vì chính trai giới là cái nhân tuyệt diệu đem lại cái quả tuyệt diệu trong mọi đời kiếp.
Pháp khí là đồ chứa đựng Phật pháp, tức con người có thể tiếp nhận và thực hành, quảng bá Phật pháp (Bảo 1414). Những người trung bình, gọi những bậc "pháp khí" là người trung bình, chỉ là tập ngữ của Thiền tông. Chính thái độ và tập ngữ này làm cho ai cũng muốn làm "thượng thừa", không muốn làm người "trung bình", nên Thiền tông có cái án lịch sử là làm thịnh Phật giáo chính là làm suy Phật giáo.
Tiết 5 sách tiến tinh tiến,
có 4 mục :
Mục 1 sách tiến sự thắng tiến, mục 2 sách tiến sự tự trọng, mục 3 sách tiến sự hướng thượng và phấn chí, mục 4 sách tiến sự tự chủ.
Mục 1 sách tiến sự thắng tiến
Do đó mà không thể tầm thường hết ngày, nhọc nhằn hết buổi, để thì giờ mất đi một cách đáng tiếc mà không chịu cầu lấy sự bước tới và vượt lên. Như vậy là tiêu thụ của tín thí một cách vô ích, mà cũng phụ bạc tất cả bốn ân. Rồi chất chứa sự hệ lụy càng nhiều thì bụi bặm của tâm trí càng dễ làm cho nó bít lấp, nên đụng đâu tắc đó, ai cũng
khinh khí.
Tầm thường hết ngày, nhọc nhằn hết buổi là sống thiếu hướng thượng mà lại chỉ lo làm lếu.
Mục 2 sách tiến sự tự trong
Phật đã huấn dụ, ai kia đã là đấng trượng phu thì ta đây cũng có thể làm như thế, đừng tự khinh thị mình mà lùi bước và khuất phục. Nếu không như vậy thì chỉ là kẻ ở trong hàng ngũ xuất gia một cách vô ích, dần dà hết cả một đời mà quả thật không có một chút ích lợi nào cả.
Mục 3 sách tiến sự hướng
thượng và phấn chí
Xin phủ phục mà cầu mong
các vị nổi dậy cái chí khí quyết liệt, mở ra cái hoài bão cao xa, hất thảy mọi sự động tĩnh đều nhìn lên các bậc thượng thặng, đừng tự ý sống theo những thói hư hèn. Nội một đời này mà thôi, phải giải quyết bản thân cho xong, và việc đó là tự mình liệu lấy cho mình, không phải do ai đâu khác. Bằng cách ý thì ngưng, thức thì thoát, không còn thoát đối với trần cảnh – vì lẽ tâm vốn không, cảnh vốn lặng, chỉ vì bế tắc lâu ngày nên không thấu triệt được mà thôi.
Mục 4 sách tiến sự tự chủ
Hãy đọc kỹ bài văn này để
luôn luôn cảnh giác sách tiến, cưỡng lại mà tự làm chủ tể, đừng thí thân theo tánh tình con người của mình. Vì lẽ nghiệp quả lôi kéo thì quả thật khó mà trốn tránh, cũng như tiếng mà hòa thì tiếng vang phải thuận, hình mà ngay thì hình bóng phải thẳng : nhân quả rõ ràng như vậy, không thể không lo sợ. Trong kinh đã nói, giả sử trải qua răm ngàn đời kiếp đi nữ, cái nghiệp mình đã làm ra vẫn không tiêu mất : một khi nhân duyên gặp nhau đủ mặt thì quả báo của nó mình phải tự chịu lấy. Vì lý do đó mà hãy ý thức ba cõi toàn là những hình phạt trói buộc và giết chết
con người, phải nỗ lực mà tinh tiến tụ tập, đừng để đời mình đi qua ngày tháng một cách trống rỗng.
Cưỡng lại mà tự làm chủ tể, đừng thí thân theo tánh tình con người của mình, tất cả sự tu tập chỉ ở chữ "cưỡng lại" và "đừng thí thân" ấy.
Phần 3 tổng kết
Bởi nhận thức một cách sâu xa và thống thiết mọi sự tội lỗi, và tai họa của tội lỗi như vậy, nên mới khuyên nhau tu trì. Nguyện rằng trăm kiếp ngàn đời, bất cứ ở đâu, cũng làm "bạn hữu Phật pháp" cho nhau, nên làm bài minh dưới đây
Thân huyễn nhà mộng,
vật sắc trong Không,
khoảng trước không cùng,
khoảng sau đâu biết ?
Thoát đây chìm kia,
lên xuống cực nhọc,
chưa khỏi ba luân,
bao giờ ngừng được ?
Tham luyến thế gian,
âm duyên thành chất,
từ sinh đến già,
không được gì cả.
Căn bản vô minh
vì nó sai lầm.
Thì giờ đáng tiếc,
phút chốc khó lường.
Đời này trôi qua,
kiếp sau bế tắc.
Từ mê đến mê
toàn vì lục tặc.
Qua lại sáu đường,
lăn lóc ba cõi.
Thân huyễn nhà mộng : thân thể thì như ảo thuật (huyền), thế giới của thân thể (nhà) thì như chiêm bao. Vật sắc trong Không : thân thể, và thế giới của thân thể, toàn là Không, là bản thể siêu việt. Khoảng trước không cùng, khoảng sau đâu biết, khoảng (tế) tự điển là ngoại biên, dịch nôm na là mé ; 2 câu này có nghĩa quá khứ thì vô thỉ, vị lai thì vô chung. Ba luân, các bản chú thích đều nói 3 cõi luân hồi ; thiển ý nghĩ 3 luân là hoặc nghiệp khổ. Am duyên, Âm là 5 uẩn, Duyên là 12 duyên khởi. Phút
chốc khó lường, là cái chết xảy ra rất bất ngờ, và chỉ xảy ra trong một sát na, hơi thở ra mà không vào, hya ngược lại, mà thôi. Lục tặc là 6 giác quan. Gọi là giặc, là vì chúng mà từ mê đến mê, từ tối vào tối. Nhưng giặc chính là con, nên biết quay lại thì 6 giác quan làm cho ta từ tối vào sáng.
Sớm hỏi minh sư
thân gần cao đức,
quyết trạch thân tâm,
trừ khử gai góc.
Đời tự giả dối,
cảnh nào bức được ?
Xét cùng pháp tánh
chứng ngộ mới thôi :
tâm cảnh siêu thoát,
vượt cả nhớ quên.
Sáu căn an nhiên,
động tĩnh vắng lặng :
Nhất tâm bất sinh,
vạn pháp thanh tịnh.
Quyết trạch thân tâm, quyết trạch là quyết đoán, chọn lọc. Vượt cả nhớ quên, sát nguyên văn là đừng ghi nhớ, nghĩa là chỉ nói sự nhớ : không chỉnh. Nhất tâm bất sinh, vạn phát thanh tịnh, sát thì phải dịch : một tâm không sinh, muôn phát đều bặt. Nói theo Duy thức học thì Thiền là hiện lượng ; nếu lạc qua tỷ lượng, hay tệ hơn nữa là phi lượng, thì vạn phát thác loạn, nếu an trú hiện lượng thì vạn pháp thanh tịnh tất cả.