Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Tổng Tập Giới Pháp Xuất Gia (Tập 1 & 2)

Tổng Tập Giới Pháp Xuất Gia (Tập 1 & 2)

Tác giả: Tỷ Kheo Trí Quang. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 2264.

Chương 29: 3. Sáu Tiểu Phẩm Hộ Giới: Bốn, Văn Khuyên Phát Bồ Đề Tâm (Trang 2127 - 2202)




Bốn, văn Khuyên phát
bồ đề tâm
Mục lục


Tiểu dẫn......................................................................................................................................... 2131
Tiểu truyện tác giả........................................................................................................................ 2140
Lược chú văn Khuyên phát bồ đề tâm,
có 4 phần :
         Phần 1 mở đầu...................................................................................................................... 2146
         Phần 2 tính chất phát tâm................................................................................................... 2148
         Phần 3 lý do phát tâm.......................................................................................................... 2154
             Một, nghĩ nhớ ơn nặng của Phật.................................................................................... 2155
             Hai, nghĩ nhớ ơn cha mẹ................................................................................................. 2159
             Ba, nghĩ nhớ ơn sư trưởng.............................................................................................. 2161
             Bốn, nghĩ nhớ ơn thí chủ................................................................................................ 2163
             Năm, nghĩ nhớ ơn chúng sinh........................................................................................ 2165
             Sáu, nghĩ nhớ nỗi khổ sinh tử........................................................................................ 2168
             Bảy, tôn trọng tâm tánh linh thiên
                      của mình................................................................................................................... 2178
 
 
Tám, sám hối nghiệp chướng......................................................................................... 2180
Chín, cầu sinh tịnh độ..................................................................................................... 2183
Mười, nghĩ nhớ làm cho Phật pháp
tồn tại lâu dài...................................................................................................... 2187
Phần 4 khuyến khích phát tâm............................................................................................. 2192
 
Tiểu dẫn
 
            Trong tam tạng, bồ đề tâm được nói đến một cách trang trọng, không hơn thì bằng mà thôi, không kém thì bất cứ pháp nào. Đặc biệt nói chuyên về bồ đề tâm thì kinh đã có, luận đã có, mà sách càng có. Trong những đại bộ kinh luận, bồ đề tâm được nói bằng phẩm hay phần. Riêng việc khuyến khích phát bồ đề tâm, 1 tác phẩm từ đời Đường (Chính số 1862 và Vạn số 883) đã dành cho việc này. Tướng quốc Bùi Hưu của đời ấy cũng có 1 bài văn như vậy (Vạn số 1001). Bài văn Khuyên phát bồ đề tâm, được dịch giải
 
thành tiểu phẩm 4 sau đây, chỉ là hậu sinh mà thôi.
            Muốn hiểu tất cả đại phẩm, tiểu phẩm, chuyên phẩm, kể cả bài văn này, thì trước hết phải học và đọc cho thật kỹ tiểu phẩm Phát bồ đề tâm của Thái hư đại sư. Theo đó thì bài văn này chỉ nói nhiều đến nghĩa thứ 1 trong đoạn giải thích bồ đề tâm. Nghĩa ấy là lập cái chí nguyện mong cầu vô thượng bồ đề, gọi là phát đồ đề tâm. Đó là cái nghĩa đầu tiên và quan trọng nhất của người học Phật. Quan trọng đến nỗi bồ đề tâm ấy là căn bản của Bồ tát giới, là yếu tố phân chia đại thừa tiểu thừa, nên Mật tông có sự thọ Bồ đề tâm giới, với 1 nghi thức dành cho việc này (Chính số 915). Lý do của sự phát bồ đề tâm căn bản này, ngoài nỗi thống khổ mà mình mục kích và ý thức, có 2 lý do                   
 
được đề cập nhiều nhất là tự biết mình có thể làm Phật và, tha thiết hơn, nghĩ đến sự suy tàn của Phật pháp. Trong 2 thời công phu, sự phát bồ đề tâm được thể hiện trong 2 lời sau đây, ngoài những văn hồi hướng phát nguyện. Đó là buổi sáng thì "Phục thỉnh Thế tôn vị chứng minh, ngũ trược ác thế thệ tiên nhập, như nhất chúng sinh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ nê hoàn", buổi chiều thì "Ngã kim phát tâm, bất vị tự cầu Thanh văn Duyên giác, nãi chí quyền thừa chư vị Bồ tát ; duy y tối thượng thừa phát bồ đề tâm : nguyện dữ pháp giới chúng sinh nhất thời đồng đắc A nậu đa là tam miệu tam bồ đề". Nên sự phát tâm không phải chỉ một lần rồi thôi, mà phải "thoát luôn luôn, làm cho bồ đề tâm liên tục không gián đoạn" (Lương hoàng sám, cuốn 2). Không những phát luôn luôn, mà sự phát        
 
 
 
ấy không hạn cục vào một việc. Sự phát tâm cần duy nhất trong tính chất, nhưng tính chất ấy thể hiện nơi mọi việc.
            Trường hợp tác giả và tác phẩm Khuyến phát bồ đề tâm văn còn phải nói thêm, ngoài tiểu truyện đã có sau đây.
            Tác giả của tác phẩm này là ngài Thật hiền. Tác phẩm của ngài, tuy tiểu truyện có lược kê, nhưng dò thấy trong Tục tạng kinh bản chũ Vạn, có (một) Chú Tây phương phát nguyện văn (Vạn số 1146), (hai) Đông hải nhược giải (Vạn số 1163), (ba) Tỉnh am pháp sư ngữ lục (Vạn số 1164), 52 năm sau ngày ngài Thật hiền viên tịch (1786), Bành Tế Thanh thu thập ấn hành, nội dung gồm nhiều văn phẩm của ngài, tựu trung có (a) Truyện vãng sinh của 2 thượng nhân Mai phương và Thánh nhãn (Vạn 109/310), (b) Khuyến        
 
 
 
tu tịnh độ thi (Vạn 109/311), (c) 7 văn phẩm khác (cùng nằm trong Vạn 109), (d) Khuyến phát bồ đề tâm văn, được đặt đầu tiên trong Tỉnh am pháp sư ngữ lục (Vạn 109/296).
            Tất cả 7 văn phẩm nơi mục (c) không những liên hệ đến văn Khuyến phát bồ đề tâm, mà còn có những chi tiết quan trọng, bổ túc cho tiểu truyện của ngài. Con người, chí nguyện và việc làm của ngài cũng bộc lộ qua 7 văn phẩm ấy. Tuy nhiên, có một sự thiếu sót mà tôi nỗ lực tìm kiếm vẫn chưa ra, đó là 2 văn phẩm Xá lợi sám và Niết bàn sám. Hai bản này có thật, 7 văn phẩm chứng minh như vậy. Mà quan trọng là vì 7 văn phẩm ấy cho thấy văn Khuyến phát bồ đề tâm chỉ là bài văn viết trong sám hội của 2 văn phẩm ấy. Sau đây là sự việc lược thuật theo 7 văn phẩm. 
 
            Tuy học rộng và chắc, ngài Thật hiền là con người nồng hậu tình cảm, nặng về hành trì, loại hành trì cùng theo bản chất tình cảm ấy. Mới xuất gia, ngài liền hỏi các vị tưởng lão về ngày Phật niết bàn, ngày kỵ của Phật. Rồi mùa xuân năm kỷ hợi (1719), ngài vượt đại giang, đến triều bái Xá lợi của Phật tôn thờ trong tháp dựng ở núi và chùa A dục, tại đất và núi Tứ minh. Tháp này là 1 nơi còn lại trong 19 nơi tôn thờ Xá lợi của Phật tại Trung hoa, được dựng vào năm 280, bởi Lợi tân bồ tát. Triều bái rồi, ngài an cư tại đó. An cư xong, đốt 1 ngón tay cúng Phật. Mùa xuân năm sau, ngày Phật niết bàn, thông lệ là rằm tháng 2, ngài lại đến Tứ minh, mở Niết bàn hội với chủ ý cúng kỵ Phật (từ ngữ của chính ngài viết). hôm sau bái sám, với 2 nghi thức Xá lợi sám và Niết bàn sám mà ngài tự soạn. Ngày thứ 7 hoàn tất, niệm Phật hồi hướng.
Nguyện ước mỗi năm đều làm như vậy, cho đến hết đời. Nhưng thật ra chỉ được 10 năm (kỷ hợi 1719- mâu thân 1728). Sau đó, để mọi người khỏi quá mệt vì đi xa, quá tốn vì đường dài, ngài tổ chức kỷ niệm ngày Phật niết bàn bằng 10 ngày bái sám, tại giới đàn bồ tát, của chùa Tiên lâm, cũng bằng 2 sám văn nói trên. Việc đốt 5 ngón tay cúng Phật mà tiểu truyện nói, chắc tuần tự thực hiện trong 10 năm triều bái Xá lợi tại tháp của núi và chùa A dục.
            Tuy không biết đích năm nào, nhưng văn Khuyến phát bồ đề tâm được viết theo nhu cầu của Niết bàn hội tại núi A dục. Đại chúng đối tượng của bài văn này chính thị là những người cùng bái sám với ngài tại đây. Trong văn nói phát 48 lời nguyện thì 48 lời nguyền ấy nguyên văn còn đầy đủ, mang tên Niết bàn hội
 
phát nguyện văn, 1 trong 7 văn phẩm nói trên. Lại nói "soạn thuật sám pháp, lập pháp hội này", thì sám pháp ấy chính là Xá lợi sám và Niết bàn sám, còn pháp hội là Niết bàn hội. Những lời này thấy ở đoạn giải thích lý do 10 của sự phát tâm.
            Triều bái xá lợi của Phật với sự tưởng nhớ ơn Phật và nghĩ cách làm cho Phật pháp tồn tại, với sự phát bồ đề tâm, lập 48 đại nguyện, bái sám bằng 2 nghi thức, đốt 5 ngón tay hiến cúng, niệm Phật mà hồi hướng về tịnh độ, làm như vậy suốt 10 mùa an cư dưới chân tháp tôn trí Xá lợi của Phật : đó là ý thức cùng nhau cúng kỵ Phật của ngài Thật hiền. Ngoài việc này, sau 10 năm nói trên, ngài cùng mọi người chuyên tu tịnh độ với 2 qui ước, 1 cho mỗi kỳ hạn 3 tuần 3 tuần và 1 cho mỗi kỳ hạn 3 năm. Với qui ước này, ngài bảo tôi đi là trở lại           
 
 
liền, và thành 1 trong những người khách đưa đường giữa Sa bà và Tịnh độ.
            Về bài văn Khuyến phát bồ đề tâm, và tác giả Thật hiền, Bành Tế Thanh đã viết, đọc bài văn ấy không lúc nào tôi khỏi đổ mồ hôi, khỏi rơi nước mắt... Đại sư nhân chiêm bái Xá lợi mà phát tâm rộng lớn, ngôn từ xuất ra như phơi trải gan ruột... Thật là ngọn cờ tinh tiến cho thời đại mạt pháp (Vạn 109/295). Lời này cũng đủ giới thiệu.
 Trí quang
 
Tiểu truyện tác giả
           
            Đại sư húy Thật hiền, tự Tứ tề, hiệu Tỉnh am, con nhà họ Thời, đất Thường thục. Vốn dòng Nho giáo. Sinh ra (1685) là đã không ăn mặn. Tóc chởm là đã có chí xuất trần. Cha mất sớm. Mẹ là Trương thị, biết đại sư có túc căn nên cho làm con Phật. Lên 7, lạy ngài Dung tuyển ở am Thanh lương làm bổn sư. Thông minh dị thường, kinh điển qua mắt là nhớ kỹ. Năm 15 tuổi thế phát, thông suốt cả sách vở thế gian, lại hay thơ và giỏi cách viết. Tiền bối có nhiều người kết giao làm bạn. Nhưng không khoảnh khắc nào đại sư không nhớ sinh tử là đại sư.
 
 
           
Tính chí hiếu. Mẹ mất, quì trước Phật tụng kinh Báo ân đến 7 thất. Hằng năm gặp ngày Vu lan lại thiết cúng. Một hôm đến chùa Phổ nhân, thấy một vị Tăng ngã xuống đất, đại sư thấp thía cái lẽ vô thường nên càng tinh tiến. Năm 24, thọ cụ túc giới tại Chiêu khánh, nghiêm tập giới luật, không rời y bát, ngày ăn một bữa, thường không ngủ nghỉ. Năm canh dần (1710) y chỉ Từ thành pháp sư nghe giảng Pháp hoa, yết kiến Thiệu đàm pháp sư học tập Duy thức, Lăng nghiêm, Chỉ quán. nghiên cứu ngày đêm, chưa hết 3 hạ mà tôn chỉ của Quán và Thừa, học thuyết về Tánh và Tướng, cùng thông suốt cả. Thiệu đàm pháp sư liền thọ ký cho làm thế hệ thứ 4 của ngài Linh phong, thuộc Thiên thai chính tông.
            Năm giáp ngọ (1714) yết kiến Linh thứu hòa thượng tại Sùng phước, tham
 
 
Thiền với công an "người niệm Phật là ai". Tham cứu nghiêm mật, đến nỗi tháng 4 năm ấy đã hoảng nhiên đốn ngộ, "ta tỉnh mộng rồi". Từ đó ứng cơ vô ngại, biện tài vô cùng. Linh thứu hòa thượng muốn phú y bát cho, đại sư từ mà đi, cấm túc ở chùa Chân tịch, ngày đọc tam tạng kinh điển, đêm niệm hồng danh Di đà. Ba năm hết kỳ hạn, chúng trong chùa thỉnh giảng Pháp hoa, đại sư giảng như sông tuôn suối trào. Đầu xuân mậu tuất (1718), đại sư ở chùa Long hưng, thuộc Hàng châu, Thiệu đàm pháp sư bảo giảng kinh luật thay cho mình và ca tụng hết sức.
            Mùa xuân kỷ hợi (1719) đến Tứ minh núi A dục, chiêm bái Xá lợi, trước sau đốt 5 ngón tay cúng Phật. Mỗi năm đến ngày Phật niết bàn, đại sư giảng 2 bản kinh Di giáo và Di đà, khai thị cái nghĩa "tâm này là Phật". Mười năm như vậy, pháp              
 
 
hóa khắp nơi. Đại sư lại nhận lời thỉnh mời của các thiền tịch Vĩnh phước, Phổ khánh và Hải vân. Đến đâu thì sinh hoạt ở đó mới, qui củ ở đó nghiêm.
            Nhưng không bao lâu, đại sư lại thoái ẩn ở chùa Tiên lâm thuộc Hàng châu, không ra khỏi cửa, nổ lực tu tập Tịnh độ. Mùa đông kỷ dậu (1729), tăng đồ tín đồ Hàng châu thỉnh ngài chủ trì chùa Phạn thiên, núi Phụng sơn. Đại sư liền tuyệt hết mọi việc, chỉ nêu Tịnh độ, hạn định trường kỳ, nghiêm lập qui ước, suốt ngày dục nhau nỗ lực, nên ai cũng cho đại sư là ngài Vĩnh minh tái sinh.
            Trước sau đại sư làm chủ các chùa hơn mười năm, đệ tử đến vài trăm. Ai học thi văn thì đại sư thống trách, "mạng người chỉ ở trong hơi thở ra vào, đâu lại có rảnh mà học tập văn tự thế gian ; sơ sẩy một chút là đã qua kiếp khác, muốn
 
được giải thoát thật vô cùng khó khăn.
            Năm quí sửu(1733), ngày Phật thành đạo, đại sư bảo đệ tử, 14 tháng 4 sang năm tôi đi luôn rồi đó. Từ đó đại sư đóng cửa niệm Phật, tự hạn 10 vạn tiếng trong mỗi ngày đêm. Qua năm giáp dần (1734), mồng 2 tháng 4, đại sư mở cửa, ngày 12 bảo đại chúng, 10 ngày trước tôi thấy Tây phương tam thánh, nay lại thấy nữa, thì tôi sẽ sinh tịnh độ. Rồi dặn dò công việc tự viện, từ biệt và khuyến khích mọi người, lại bảo, ngày 14 tôi nhất định vãng sinh, vậy các người tập hợp niệm Phật giúp tôi. Ngày 13 bỏ ăn uống, khép mắt ngồi yên. Canh 5 tắm rửa, thay đồ, quay mặt về hướng tây mà ngồi. Giờ tỵ, mọi người vân tập, gạt lệ, lạy mà thưa, xin đại sư lưu lại hóa độ cho người. Đại sư lại mở mắt, bảo tôi đi là trở lại liền ; sin tử là việc lớn, ai nấy hãy tự tịnh     
tâm mà niệm Phật. Nói rồi, chắp tay niệm danh hiệu của Phật mà tịch. Giây lát, chỉ lỗ mũi hơi xọp, còn nhan sắc thì tươi mãi, khi liệm cũng không biến. Linh cốt của đại sư ban đầu để ở tháp xây phía tây đồi Phất thủy của sông Cầm xuyên. Càn long thứ 7 (1742), rằm tháng 2, ngày Phật niết bàn, lại dời về tháp mới, xây ở phía hữu chùa A dục. Tháp cũ thì tàng y bát của đại sư.
            Đại sư sinh ngày 8 tháng 8 năm Khang hy 24 (1685), 49 tuổi, trong đó có 25 tuổi giới. Tác phẩm có Tịnh độ thi 108 bài, chú Tây phương phát nguyện văn, Tục vãng sinh truyện, Đông hải nhược giải, Xá lợi sám và Niết bàn sám, tất cả đều lưu hành nhân gian.
            Đồng học Luật nhiên, thuật ngày trùng dương năm ất sửu (1745).
 


Bài văn này có 4 phần : phần 1 mở đầu, phần 2 tính chất phát tâm, phần 3 lý do phát tâm, phần 4 khuyến khích phát tâm.
               Phần 1 mở đầu
            Thật hiền tôi, một kẻ xuất gia phàm phu, đã bất tiếu lại ngu hèn, khóc mà lạy, khẩn thiết khuyến cáo đại chúng hiện tiền, cũng như nam nữ có đức tin trong sáng trong thì vị lai. Xin quí vị thương xót, gia tâm một     

chút mà nghe và xét cho.
            Tôi từng nghe, cửa chính yếu để nhập đạo thì sự phát tâm đứng đầu, việc khẩn cấp để tu hành thì sự lập nguyện đứng trước. Nguyện lập thì chúng sinh độ nổi, tâm phát thì Phật đạo thành được. Cái tâm quảng đại không phát, cái nguyện kiên cố không lập, thì dẫu trải qua đời kiếp nhiều như cát bụi, cũng y nhiên vẫn ở trong phạm vi luân hồi. Tu hành dẫu có, cũng toàn là lao nhọc, khổ sở một cách vô ích. Do đó mà kinh Hoa nghiêm đã nói, quên mất tâm bồ đề mà tu hành các biện pháp, thì gọi là
 
hành động theo ma vương. Quên mất còn vậy, huống chi chưa phát. Nên muốn học Như lai thừa thì trước phải phát Bồ tát nguyện, không thể chậm trễ.
            Bất tiếu, nghĩa đen là không giống : con không giống cha, gọi là bất tiếu, kẻ hư hèn cũng gọi là bất tiếu. Đức tin trong sáng (tịnh tín) là chánh tín, tin hợp lý và thuần nhất. Hành động theo ma vương (ma nghiệp) là trái nghịch vô thượng bồ đề. Như lai thừa tức đại thừa, giáo lý đưa đến địa vị Như lai. Bồ tát nguyện tức bồ đề tâm, tâm chí của các vị Bồ tát.
            Phần 2 tính chất phát tâm
            Nhưng tâm nguyện vốn có              
 
nhiều tính chất khác nhau, nếu không trình bày thì làm sao biết mà xu hướng. Nay xin vì đại chúng mà nói vắn tắt. Tình chất tâm nguyện có 8, là tà chánh, chân ngụy, đại tiểu, thiên viên.
            Thế nào là tà chánh, chân ngụy, đại tiểu, thiên viên ? Đời có kẻ tu hành mà tu hành một chiều, không cứu xét tự tâm, chỉ lo những việc ở ngoài, hoặc vụ lợi, hoặc báo danh, hoặc ham lạc thú hiện tại, hoặc cầu vui thích mai sau : phát tâm như vậy gọi là tà. Danh lợi không ham, vui thú không màng, chỉ vì thoát sinh tử, vì chứng bồ đề : phát tâm
 
 
 
như vậy gọi là chánh. Ý niệm này nối tiếp ý niệm khác, ngước lên mà mong cầu Phật đạo, tư tưởng trước liên tục tư tưởng sau, nhìn xuống mà hóa độ chúng sinh, nghe Phật đạo lâu xa mà không lùi bước khiếp sợ, xét chúng sinh khó độ mà không chán nản mệt mỏi, như tréo núi cao đến vạn nhận cũng quyết tận đỉnh, như lên tháp lớn đến chín tầng cũng cố tột nóc : phát tâm như vậy gọi là chân. Có tội không sám hối, có lỗi không từ bỏ, trong bẩn ngoài sạch, tâm tốt dẫu có cũng phần lớn bị danh lợi xen lấn, thiện pháp dẫu tu cũng phần nhiều bị vọng nghiệp nhuốm bẩn :
 
phát tâm như vậy gọi là ngụy. Chúng sinh giới hết nguyện ta mới hết, bồ đề đạo thành nguyện ta mới thành : phát tâm như vậy gọi là đại. Coi ba cõi như lao ngục, nhìn sinh tử như oan gia, chỉ mong tự độ, không dám độ người :phát tâm như vậy gọi là tiểu. Nếu ngoài tâm thấy có chúng sinh, có Phật đạo, rồi nguyện độ, nguyện thành, công phu không xả, thấy biết không tan : phát tâm như vậy gọi là thiên. Nếu biết tự tánh là chúng sinh nên nguyện độ thoát, tự tánh là Phật đạo nên nguyện thành tựu, không thấy một pháp nào tách rời tâm tánh mà có một
 
cách biệt lập, đem cái tâm vô tướng phát cái nguyện vô tướng, làm cái hạnh vô tướng, chứng cái quả vô tướng, cái tướng vô tướng cũng không thấy có được : phát tâm nhưa vậy gọi là viên. Biết 8 tính chất khác nhau nên đây là biết cứu xét, biết cứu xét thì biết lấy bỏ, biết lấy bỏ là có thể phát tâm. Cứu xét như thế nào ? Là coi cái tâm của ta phát ra, đối chiếu với 8 tính chất trên đây, nó là tà hay chánh, chân hay ngụy, đại hay tiểu, thiên hay viên. Lấy bỏ như thế nào ?  Là bỏ tà, ngụy, tiểu và thiên, lấy chánh, chân, đại và viên. Phát tâm như vậy mới được gọi là chân chính phát bồ
 
 
đề tâm.
Phật đạo là tuệ giác của Phật, thành quả của Phật, phẩm chất của Phật, đường đi của Phật. Vạn nhận : nhà Chu định 8 thước là 1 nhận, chừng 6m48 bây giờ. Chúng sinh giới : 1 trong 4 giới (hư không, chúng sinh, nghiệp của chúng sinh, phiền não của chúng sinh), vô hạn trong không gian và vô cùng trong thì gian. Ngoài tâm thấy có chúng sinh có Phật đạo, nên nói thấy chúng sinh và Phật ở ngoài tâm, nghĩa là thấy khác với  tâm. Chữ tâm ở đây nên viết hoa. Biết tự tánh là chúng sinh, là Phật đạo, nên nói biết chúng sinh là tự tánh, Phật đạo là tự tánh. Vô tướng, nguyên văn là hư không ; hư không ở đây là
 
 
 
vô tướng : siêu việt khái niệm. Cái tướng vô tướng : khái niệm về sự siêu việt khái niệm.
            Phần 3 lý do phát tâm
            Bồ đề tâm là chúa tể của mọi thiện pháp, phát khởi phải có lý do. Lý do ấy, nay nói tóm lược thì có 10 thứ. Một, nghĩ nhớ ơn nặng Phật. Hai, nghĩ nhớ ơn cha mẹ. Ba, nghĩ nhớ ơn sư trưởng. Bốn, nghĩ nhớ ơn thí chủ. Năm, nghĩ nhớ ơn chúng sinh. sáu, nghĩ nhớ nỗi khổ sinh tử. Bảy, tôn trọng tâm tánh linh thiên của mình. Tám, sám hối nghiệp chướng. Chín, cầu sinh tịnh độ. Mười, nghĩ nhớ làm cho Phật
           
pháp tồn tại lâu dài.
Một, nghĩ nhớ ơn nặng Phật
Nghĩ nhớ ơn nặng của Phật là thế nào ? Thích ca Phật đà của chúng ta, lúc mới phát tâm, đã vì chúng ta mà thực hành bồ tát đạo, trải qua vô lượng kiếp chịu đủ khổ cực. Khi ta tạo tội, Phật đã xót thương, phương tiện giáo hóa mà ta ngu si, không biết tin tưởng, tiếp nhận. Ta đọa địa ngục, Phật càng đâu xót, muốn chịu thay khổ sở cho ta, nhưng nghiệp ta quá nặng, hết cách cứu vớt. Ta sinh làm người, Phật liền dùng phương tiện làm cho ta gieo trồng thiện căn. Đời đời kiếp kiếp, Phật
 
theo dõi ta, lòng khong6luc1 nào tạm thời rời bỏ. Khi Phật xuất thế thì ta còn chìm đắm, nay được thân người thì Phật đã diệt độ. Tội lỗi gì mà phải sinh nhằm thời kỳ mạt pháp, phước báo nào lại được dự vào hàng ngũ xuất gia, nghiệp chướng gì mà không thể nhìn thấy thân vàng của Phật, may mắn nào lại được đích thân gặp xá lợi của Ngài. Suy nghỉ như vậy mới thấy, giả sử quá khứ không trồng thiện căn thì ngày nay làm sao được nghe Phật pháp, không nghe phật pháp thì làm sao được biết lúc nào cũng hưởng thụ ân đức của Phật. Ân đức như vậy núi no cũng      
 
khó sánh cho bằng. Trừ phi phát tâm quảng đại, làm hạnh Bồ tát, xây dựng Phật pháp, giáo hóa chúng sinh, thì dẫu xương tan hình nát cũng khó mà đáp trả. Đó là lý do thứ nhất của sự phát bồ đề tâm.
            Phật theo dõi ta là hiện đủ thân, làm đủ cách. Thầy bạn tôi tớ, thân thiết đối nghịch, không thiếu một thân một cách nào. Thậm chí kinh Địa tạng còn nói hiện làm cao nguyên, bình nguyên, ao hồ, suối giếng, phương tiện và hình thức nào làm cho chúng ta cảm hóa, Phật hiện đủ cả. Mạt pháp : Sự tồn tại của Phật pháp sau khi Phật diệt đồ, chia làm 3 thời kỳ : chánh pháp (thời kỳ nguyên chất) có giáo lý,
 
có hành trì và có chứng ngộ ; tượng pháp (thời kỳ tương tự) chỉ có giáo lý và có hành trì ; mạt pháp (thời kỳ cuối cùng) chỉ có giáo lý. Đó là giải thích của Pháp hoa huyền tán (Bảo 828). Về thì gian, cổ lai đều dùng thuyết thời kỳ một có 500 năm, thời kỳ hai có 1000 năm, thời kỳ ba có 10.000 năm (Bảo 829). Xá lợi (sarira) là linh cốt của Phật, "do giới định tuệ huân tu nên là ruộng phước tối thượng" (kinh Kim quang minh, phẩm Xả thân). Xá lợi có 3 màu : màu trắng là xương, và đó là chính ; màu đen là tóc, màu hồng là thịt. Xá lợi có 2 thứ : toàn thân xá lợi, như xá lợi của đức Đa bảo ; toái thân xá lợi, như xá lợi đức Thích tôn. Lại có 2 thứ nữa : sinh thân xá lợi, là linh cốt                     
Phật lưu lại ; pháp thân xá lợi, là giáo pháp Phật lưu lại. Trí độ luận nói kinh điển chính là pháp thân xá lợi (Bảo 1518). May mắn nào lại được đích thân gặp xá lợi của Ngài, câu này chứng tỏ bài văn này được viết vào lúc tác giả chiêm bái xá lợi, tổ chức Niết bàn hội.
               Hai, nghĩ nhớ ơn cha mẹ
            Nghĩ nhớ ơn cha mẹ là thế nào ? Cảm thương cha mẹ sinh ta cực nhọc, mười tháng ba năm thai mang bú mớm, nhường khô nằm ướt, nuốt đắng nhả ngọt. Mới được thành người, đã đặt hy vọng thừa kế gia phong, cung phụng khi sống, tế tự lúc chết. Vậy mà nay ta đã xuất gia, mạo xưng
 
Thích tử, nhục hiệu Sa môn, đồ ngọt vật ngon đã không cung phụng, cúng tế chạp dẫy càng không chu tất. Sống, ta đã không có khả năng nuôi dưỡng cơ thể, chết, ta lại bất lực trong việc tiếp dẫn nghiệp thức. Phương diện thế gian ta quá thiếu sót, phương diện xuất thế ta càng vô ích. Hai đường mất cả thì tội nặng khó mà thoát cho khỏi. Suy nghĩ như thế mới thấy chỉ có cách thường hành Phật đạo trong năm đời ngàn kiếp, khắp độ chúng sinh trong mười phong ba đời. Như vậy thì không phải chỉ cha mẹ một đời, mà song thân nhiều kiếp cũng được cứu vớt ; không phải                  
 
chỉ song thân một mình, mà cha mẹ tất cả cùng được siêu thăng. Đó là lý do thứ hai của sự phát bồ đề tâm.
            Nghiệp thức, nguyên văn ở đây dùng chữ thần linh, chỗ khác có khi dùng chữ thần thức, có lúc dùng chữ thần hồn. Nhưng chữ đúng nhất phải là nghiệp thức : thức đã được nghiệp huân tập ; do đó, có lắm kẻ đang sống mà đã hình thành rõ rệt một kẻ sẽ khác hơn. Nghiệp thức, với định nghĩa như vậy, cho thấy, nói rằng sống, có nghĩa là đang trở thành kẻ khác, và kẻ khác ấy như thế nào là tùy ta.
                 Ba, nghĩ nhớ ơn sư trưởng
            Nghĩ nhớ ơn sư trưởng là thế         
 
nào ? Cha mẹ tùy sinh dưỡng thân ta, nhưng nếu không có sư trưởng thế gian thì không biết lễ nghĩa, không có sư trưởng xuất thế thì không hiểu Phật pháp. Lễ nghĩa không biết thì khác gì cầm thú, Phật pháp không hiểu thì cũng như phàm tục. Nay ta được biết qua loa về lễ nghĩa, được hiểu sơ lược về Phật pháp, giới phẩm thấm mình, ca sa phủ thân, ân đức trọng đại như vậy là nhờ sư trưởng mà có được. Vậy nếu ta chỉ cầu quả vị nhỏ nhặt, thì chỉ ích lợi được cho bản thân mà thôi. Hãy theo đại thừa, nguyện ước ích lợi hết thảy chúng sinh. Như thế thì sư trưởng thế gian,                 
 
cũng như sư trưởng xuất thế, đều được ích lợi mà ta cung hiến. Đó là lý do thứ ba của sự phát bồ đề tâm.
                 Bốn, nghĩ nhớ ơn thí chủ
            Nghĩ nhớ ơn thí chủ là thế nào ? Chúng ta hiện tại, mọi thứ cung phụng dùng trong hằng ngày, toàn không phải của mình tự có. Cháo cơm ba buổi, quần áo bốn mùa, tật bịnh cần dùng, thân miệng tiêu thụ, đều xuất từ sức lực kẻ khác mà đem đến cho ta hưởng dụng. Họ hết sức và đích thân cày cấy, vẫn khó có lót miệng, ta ngồi yên và hưởng thụ ăn uống, còn không được vừa ý.                 
 
 
Họ dệt đan mãi hoài mà vẫn chịu khốn khổ, còn ta bận mặc thừa thãi thì đâu biết tiếc giữ. Họ cửa cỏ lều tranh, vất vả suốt đời, còn ta nhà lớn sân rộng, thư thả cả năm. Đem cái cực nhọc của họ cung phụng cái an nhàn cho ta, làm sao yên dạ ; lấy cái nhu dụng của người cung cấp cái thân xác của mình, làm sao hợp lẽ. Do đó, trừ phi vận dụng song song cả hai thứ bi trí, trang nghiêm đồng đều cả hai mặt phước tuệ, để thí chủ nhờ ơn, chúng sinh hưởng phước, thì dẫu gạo chỉ một hạt, vải chỉ một tấc đi nữa, vẫn có phần trong sự trả nợ, vẫn khó trốn trong quả báo xấu. Đó là lý                 
 
 
do thứ tư của sự phát đồ đề tâm.
  Năm, nghĩ nhớ ơn chúng sinh
            Nghĩ nhớ ơn chúng sinh là thế nào ? Ta với chúng sinh, từ bao kiếp đến giờ, làm cha mẹ cho nhau, có ơn với nhau. Nay tuy cách đời mờ ám, không biết nhau được, nhưng lấy lẽ mà suy cứu, thì làm sao có thể không có sự báo bổ. Ngày nay mang lông đội sừng, nhưng biết đâu ngày trước ta đã không là con của chúng. Hiện tại trùng động trùng bay, nhưng biết đâu quá khứ chúng ta đã không là cha của ta. Thường thấy nhỏ mà xa cha mẹ thì lớn lên đã quên hết hình dáng song thân,                    
 
huống chi cha mẹ bà con đời trước, thì ngày nay kẻ họ Trương người họ Vương, khó mà nhớ nhau cho được. Họ gào thét trong địa ngục, vật vã trong ngạ quỉ, thống khổ ai biết, đói khác kêu ai. Ta dẫu không thấy không nghe, nhưng họ tất cầu cứu cầu vớt. Kinh mới nói được việc ấy, Phật mới tả rõ cảnh giới, còn kẻ tà kiến thì đâu đủ để biết đến. Vì lý do đó, Bồ tát nhìn sâu kiến cũng thấy toàn là cha mẹ quá khứ và chư Phật vị lai, thường nghĩ cách ích lợi và nhớ trả ơn của chúng. Đó là lý do thứ năm của sự phát bồ đề tâm.
 
 
            Trùng động trùng bay,  nguyên văn là nhuyễn động quyên phi, mà đúng ra là quyên phi nhuyễn động. Từ hải trang 2568 và 2587 nói, quyên là phi, nghĩa là bay, hình dung sự bay của loài trùng có cử động này ; nhuyễn là động, nghĩa là động, hình dung sự động của loài trùng có cử động này. Bảo 2421 cũng nói quyên phi là trùng bay, nhuyễn động là trùng giòi, và dẫn Long thư tịnh độ văn cuốn 2 mà thêm từ ngữ vi tế vào trước 2 từ ngữ trùng bay trùng động. Sâu kiến, sâu, nguyên văn là lâu, tự điển nói là lâu cô (con dế), một thứ sâu ở lỗ giống như dế mèn. Cha mẹ quá khứ là quá khứ có thể đã là cha mẹ của ta. Chư Phật vị lai là chúng sinh đều có Phật tánh, đều sẽ làm                          
 
Phật. Nhưng nói ơn chúng sinh như bài này thì chỉ nói cái nghĩa cha mẹ nhiều đời, không nói đến cái có thể gọi là ơn xã hội. Sự sống, theo Phật giáo, là sự tương quan sinh tồn (không phải là sự cạnh tranh sinh tồn). Tương quan sinh tồn thì mình đã hưởng thụ tất phải đóng góp. Phật giáo, trong ý thức ơn chúng sinh, thấy tương quan là ơn, mình đã thụ hưởng, thì sự đóng góp không những là bổn phận, mà trước hết là nghĩa vụ. Phật tử thì phải nghĩ đến cái ơn ấy và nghĩa vụ ấy.
            Sáu, nghĩ nhớ nỗi khổ sinh tử
            Nghĩ nhớ nỗi khổ sinh tử là thế nào ? Ta với chúng sinh, bao kiếp đến giờ, ở mãi trong phạm
 
 
Vi sinh tử, chưa được siêu thoát. Không ở trong loài người thì ở trên loài trời, hết ở thế giới này thì ở thế giới khác, ra vào đủ cách, lên xuống liền liền. Thoáng cái làm người, thoáng cái làm trời, thoáng cái làm địa ngục, ngạ quỉ, bàng sinh. Cửa đen sớm ra chiều vào, hang sắt vừa thoát lại sa. Lên núi đao thì cả mình không còn mảnh da nguyên vẹn, víu cây kiếm thì một vuông một tấc cũng bị cắt xả. Sắt nóng không hết đói, mà nuốt vào thì gan ruột nát cả, đồng sôi đâu khỏi thoát, mà uống vào thì xương thịt nhừ hết. Cưa sắt mà xả ra là liền lại, gió quái mà thổi
thì chết rồi lại sống ngay. Trong thành lửa dữ chỉ nghe cái thảm thét gào, trên bàn ram nướng toàn nghe cái tiếng thống thiết. Băng giá đọng lại thì thân như sen xanh kết nhụy, máu thịt rã ra thì mình như sen đỏ nở hoa. Tại địa ngục, một đêm sống chết thường bị đến cả vạn lần, cũng tại đó một buổi thống khổ mà nhân gian hơn trăm năm. Mãi hoài làm cho ngục ốt mệt nhọc, nhưng có ai chịu nghe Diêm vương khuyên bảo. Khi chịu mới biết quá khổ, dẫu hối hận cũng đâu có kịp, lúc thoát thì lại quên ngay, sự tạo nghiệp vẫn y như cũ.
            Đây là nói về cái khổ địa ngục. Cửa đen, hang sắt đều là nói địa ngục. Chỉ nghe cái tiếng thét gào, sát thì phải dịch, thật bất nhẫn khi nghe cái tiếng thét gào. Trên bàn ram nướng, sát thì phải dịch trong chậu nấu rang. Nguyên văn chữ bàn nghĩa là mâm, cũng có nghĩa là chậu. Băng giá, đúng ra thì phải dịch là băng giá và nước đá. Xả ra liền lại, chết rồi sống ngay, sống chết cả vạn lần trong mỗi đêm, một buổi thống khổ mà nhân gian hơn trăm năm, cho thấy muốn sống không được, cầu chết không xong, sống lâu chịu khổ thì sự sống lâu ấy cũng là tội báo.
            Đánh con lừa đến đổ máu, đâu biết đó là cái thảm của mẹ
 
mình ; lôi con heo đến lò thịt, nào hay đích thị cái đau của cha ta. Ăn thịt con ruột mà không biết, Văn vương còn như thế ; ăn thịt cha mẹ mà không hay, phàm phu đều như vậy. Đời trước ơn nghĩa mà đời này thành oán thù, ngày xưa thành oán thù mà ngày nay thành ruột thịt. Quá khứ là mẹ mà hiện tại là vợ, túc thế là cha mà hiện tiền là chồng. Nếu có cái trí túc mạng để biết thì thật đáng hổ thẹn, nếu có con mắt thiên nhãn để nhìn thì quả đáng cười đáng thương.
            Đây là nói về cái khổ bàng sinh. Cái ngu cách đời là quả báo cùng loại với cái ngu của loài vật. Trí túc
 
mạng là trí biết đời trước. Mắt thiên nhãn thì thấy chết ở đâu sinh ở đâu. Văn vương là người mà Nho giáo cho là thánh : thánh mà ăn thịt con còn không biết, nữa là !
            Trong lùm dơ bẩn mà người tháng bị gói lại thì thật khó chịu, ở chỗ máu huyết mà một lần bị dốc xuống quả thật đáng thương. Nhỏ thì ngây ngô, trước mặt sau lưng cũng chẳng rõ, lớn lên hiểu biết, tham lam dục vọng liền tự hiện. Nhưng, thoáng cái là già bịnh truy tầm, phút chốc mà chết chóc hiện đến. Bấy giờ, gió với lửa cùng nung nấu nên nghiệp thức bấn loạn trong đó, khí với huyết đều ráo cạn nên da thịt            
 
 
teo khô từ ngoài. Không một chân lông nào mà không như bị kim xoáy, không một lỗ huyệt nào mà không như bị dao cắt. Con rùa đem nấu, sự thoát vỏ của nó tương đối còn dễ ; nghiệp thức lúc tàn, sự thoát xác của nó quả thật quá khổ.
            Đây là nói về cái khổ sống chết, trước hết tả cái khổ trong thai. Lùm dơ bẩn, chỗ máu huyết, là bào thai. Kế nói cái khổ lớn già bịnh. Nhỏ thì ngây ngô, trước mắt sau lưng cũng chẳng rõ, sát thì phải dịch, nhỏ thì biết gì, đông tây cũng không rõ ; ấy là cái khổ vì ngu của lúc nhỏ. Lớn lên hiểu biết, tham lam dục vọng liền tự hiện là cái khổ vì phiền não    
 
 
nó hành lúc lớn. Cái khổ già bịnh truy tầm thì khỏi nói. Tổng chi, nhỏ lớn già bịnh là cái khổ về sống. Bây giờ đặc biệt nói cái khổ về chết. Gió với lửa cùng nung nấu, đúng ra phải nói cùng hành hạ, vì sắp chết thì cơ thể vừa lạnh vừa nóng một cách dị thường. Riêng cái lạnh, kinh điển có chỗ dùng đến chữ đao gió cắt mình. Như bị kim xoáy, đao cắt, thoát xác khó hơn rùa tuột vỏ là tả sự đau đớn khổ sở khi sắp chết. Nhưng người sống hiền lành, nhất là người có tu, thì không đến nỗi hay hoàn toàn không như vậy – trừ ra trả cho hết nghiệp mà đi.
            Tâm không phải chủ thể vĩnh viễn, nên in như thương khách         
 
 
bôn ba đủ chỗ, thân không có hình dáng cố định, nên khác nào phòng ốc thay đổi đủ cách. Bụi cả thế giới cũng khó sánh thân luân hồi, nước toàn đại dương vẫn không bằng lệ biệt ly. Xương nếu chất thì hơn cả núi cao, thây mà sắp thì tràn quá đất rộng. Giả sử không được nghe lời Phật thì việc ấy ai thấy ai nghe, chưa được đọc văn kinh thì lẽ này nào hay nào biết. Vậy mà có kẻ hoặc vẫn tham luyến như cũ, si mê như xưa, thì chỉ e rằng muôn kiếp ngàn đời mới được làm người, nhưng một lần lầm lỡ là lầm lỡ đến cả trăm kiếp . Thân  thể con người khó được mà dễ     
 
 
mất, thì giờ quí báu dễ trôi mà khó kéo. Rồi tam đồ lại phải tự chịu, thống khổ hết nói mà ai chịu thay. Mô tả đến đây sao khỏi buốt dạ.
            Đây là nói về khổ luân hồi. Bụi cả thế giới dịch đúng là bụi cả đại thiên thế giới nghiền nát ra. Là nói, đối với các khổ luân hồi, không biết hay không cố phản tỉnh, thì vẫn luân hồi tiếp tục.
            Vì vậy, hãy triệt dòng sinh tử, thoát biển ái dục, để cứu mình giúp người, cùng lên bờ giác. Hết thảy công việc phi thường trong bao đời kiếp sắp đến, đều ở trong cử động này đây. Đó là lý do thứ sáu của sự phát bồ đề tâm.
 
 
            Ngữ khí này phải là "khẳng tâm" của Thiền tông hay "vô biệt niệm" của Tịnh độ mới đương nổi.
                    Bảy, tôn trọng tâm tánh
linh thiêng của mình
            Tôn trọng tâm tánh linh thiêng của mình là thế nào ? Hiện tiền nhất niệm của chúng ta cùng ngay với đức Thích ca thế tôn không hai không khác. Vậy mà tại sao  Thế tôn từ vô lượng kiếp đến giờ sớm thành chánh giác, còn chúng ta thì ngu si thác loạn, vẫn làm phàm phu. Thế tôn thì có vô lượng thần thông tuệ giác, công đức trang nghiêm, còn ta chỉ có vô biên nghiệp chướng phiền não, sinh từ thắt buộc. Tâm tánh đồng       
 
 
nhất  mà mê ngộ lại một trời một vực. Lặng đi mà nghĩ, mà không thấy tủi thẹn được sao. Ngọc báu vô giá lấp xuống bùn lầy mà nỡ coi như ngói gạch, không chút thương tiếc quí trọng ! Vì lý do đó, hãy vận dụng vô lượng thiện pháp mà đối trị vô biên phiền não. Tu đức có công, tánh đức mới lộ. Bấy giờ thì như ngọc báu đã được rửa sạch, treo trên cột cờ thật cao, ánh sáng soi thấu khắp nơi, chói lấp tất cả. Như thế mới gọi là không phụ sự giáo hóa của Phật, không phụ tánh linh thiêng của mình. Đó là lý do thứ bảy của sự phát bồ đề tâm.
            Hiện tiền nhất niệm là thành ngữ và triết thuyết của Thiên thai, hãy tạm so sánh với hiện lượng của Duy thức. Tu đức, tánh đức, là phẩm chất tu tập và phẩm chất vốn đủ. Với tánh linh như lý do này nói, cho đến nay, thế giới loài người chưa có học thuyết hay tôn giáo nào nói về giá trị con người đến như Phật giáo.
            Tám, sám hối nghiệp chướng
            Sám hối nghiệp chướng là thế nào ? Kinh nói, phạm một tội kiết la cũng đọa địa ngục bằng năm trăm tuổi thọ của tầng trời Tứ thiên vương. Kiết la là tội nhỏ mà còn bị quả báo đến như thế, huống chi tội nặng, thì quả báo thật khó mà diễn tả. Nay chúng        
 
ta, trong hằng ngày, mỗi một cử chỉ cũng như mỗi một động tác, luôn luôn trái với giới luật, mỗi một bữa ăn cũng như mỗi một lần uống, thường thường phạm vào thi la. Một ngày tội lỗi phạm vào, theo lẽ cũng đã vô lượng, huống chi trọn đời nhiều kiếp, tội lỗi gây ra càng khó mà nói cho hết. Hãy lấy ngũ giới mà nói, thì mười người đã có đến chín kẻ vi phạm, bày tỏ thì ít mà giấu giếm lại nhiều. Ngũ giới chỉ là giới tại gia mà còn không giữ đủ, huống chi các giới sa di, tỷ kheo, bồ tát, thôi thì khỏi nói. Hỏi cái tiếng thì nói là tỷ kheo, xét cái thật thì hãy còn chưa đủ làm ưu bà
 
 
tắc, như thế mà không xấu hổ được sao. Phải biết, giới Phật không thọ thì thôi, thọ thì không được phạm, vì không phạm thì thôi, phạm thì chắc chắn phải bị sa đọa. Trừ phi cảm thương thân mình, lại xót xa kẻ khác, thân và miệng cùng bi thiết, tiếng và lệ đều tuôn đổ, khắp vì chúng sinh khẩn cầu sám hối, thì ngàn đời muôn kiếp đi nữa, ác báo cũng khó mà trốn cho khỏi. Đó là lý do thứ tám của sự phát bồ đề tâm.
                 Kiết la là 1 trong 5 thiên cụ túc giới của tỷ kheo và tỷ kheo ni. Kiết la là tội nhẹ nhất (Bản 2595). Địa ngục, dịch âm là na lạc ca (naraka) hay nê             
 
 
lê (niraya), dịch nghĩa là không thể vui, địa ngục chỉ là dịch ý . Địa ngục có 3 loại : một, địa ngục căn bản (là 8 nhiệt và 8 hàn) ; hai, địa ngục cận biên (là 18 địa ngục du tăng) ; ba, địa ngục cô độc (ở núi non, đồng nội, dưới cây, trong không, v/v) (Bảo 1066). Sám hối là hối hận mà phát lộ tội lỗi, nguyện xin chừa bỏ. Nói tổng quát, sám hối có 2 loại. Một, sám hối theo Luật, là ngoài loại ba la di, những loại khác có thể sám hối, bằng cách đối diện với 1 cho đến 20 vị tỷ kheo mà sám hối. Hai, sám hối trước Phật, chủ yếu là lễ bái, phát lộ, phát nguyện, hồi hướng. Thi la (sila) là giới, tánh tốt. "Không tự phóng dật là thi la" (Trí độ luận 13).
            Chín, cầu sinh tịnh độ
 
 
            Cầu sinh tịnh độ là thế nào ? Tu hành cõi này thì sự tiến đạo rất khó, vãng sinh cõi kia thì thành Phật cũng dễ. Dễ nên một đời đã có thể thấu đáo, khó nên kiếp vẫn chưa chắc hoàn thành. Do đó mà thánh ngày xưa, hiền ngày trước, ai cũng khuynh hướng ; kinh cả ngàn, luận cả vạn, đâu cũng chỉ qui. Quả thật sự tu hành trong thời kỳ mạt pháp này, không có cách nào hơn pháp ấy. Có điều trong kinh đã nói, điều lành mà tính chất nhỏ thì không thể vãng sinh, cái phước mà tính chất lớn mới chắc chắn đến được. Cái phước có tính chất lớn thì không chi bằng sự           
 
 
chấp trì danh hiệu, điều lành hàm tính chất to thì không chi bằng sự phát tâm rộng lớn. Nên nhất tâm chấp trì danh hiệu của Phật hơn cả sự bố thí đến trăm năm, nhất niệm phát tâm bồ đề rộng lớn vượt cả sự tu hành trong nhiều kiếp. Lý do là vì niệm Phật vốn mong làm Phật, vậy tâm lớn không phát thì có niệm cũng không làm gì ; phát tâm vốn để tu hành, vậy tịnh độ không sinh thì có phát cũng dễ thoái chuyển. Nên gieo giống bồ đề, cày bằng cái cày niệm Phật, thì trái hạt tuệ giác tự nhiên lớn lên ; ngồi thuyền đại nguyện, nhập vào biến cả đại nguyện, thì
 
 
tây phương Cực lạc quyết định vãng sinh. Đó là lý do thứ chín của sự phát bồ đề tâm.
            Tính chất lớn là tâm nguyện vừa quảng đại vừa kiên cố. Tính chất này là căn bản to lớn, còn việc làm chỉ là biểu hiện của căn bản ấy. Như vậy, bề ngoài việc làm như thế nào chỉ là tùy theo cơ duyên, lớn nhỏ nhiều ít gì cũng vẫn là tính chất lớn. Đối lại, tính chất nhỏ là bề ngoài việc làm như thế nào đi nữa, căn bản không có tâm nguyện to lớn thì cũng vẫn là nhỏ. Chấp trì danh hiệu, nghĩa đen là nắm giữ danh hiệu của Phật. Với nghĩa đen ấy, sự niệm Phật. Với nghĩa đen ấy, sự niệm Phật vừa là chánh niệm bất thoái, vừa là huân tập đức tính của Phật qua danh hiệu của            
 
Ngài. Chánh niệm bất thoái và đức tánh của Phật lớn lao bao nhiêu thì sự niệm Phật tính chất cũng lớn lao như thế.
                 Mười, nghĩ nhớ làm cho Phật
pháp tồn tại lâu dài
            Nghĩ nhớ làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài là thế nào ? Thế tôn của ta, từ vô lượng kiếp, vì ta mà tu tập đạo bồ đề, khó làm làm được, khó nhẫn nhẫn nổi, nhân trọn vẹn, quả đầy đủ, mới được thành Phật. Thành Phật rồi, Ngài giáo hóa khắp cả. Khi cơ duyên hóa độ đã hoàn tất, Ngài nhập niết bàn. Phật pháp mà Ngài lưu lại thì thời kỳ nguyên chất và thời kỳ tương tự cũng                  
qua cả rồi, còn lại chỉ là thời kỳ cuối cùng, thời kỳ mà Phật pháp có đó, nhưng hành trì vô nhân, tà chánh bất phân, đúng sai hổn tạp, tranh giành nhân ngã, theo đuổi lợi danh. Mở mắt ra là thấy nhan nhãn, cả thiên hạ đều như vậy. Chẳng ai biết Phật là bậc nào, Pháp là nghĩa gì, Tăng là người chi. Suy tàn đến thế, bất nhẫn nói đến. Mỗi khi nghĩ ngợi, bất giác lệ rơi. Thân làm con Phật mà ta không thể báo đáp ân đức của Ngài. Trong vô ích cho mình, ngoài vô ích cho người, sống vô ích đương thời, chết vô ích mai hậu. Trời cao cũng không che ta nổi, đất dày cũng khó chở ta      
 
 
được. Tội nhân cực trọng, phi ta thì ai. Vì vậy mà đau đớn không thể nhẫn nổi, nhưng toan tính thì lại không thấy có cách gì khác hơn, nên quên cả bản chất quê kệch, phát liền tâm chí rộng lớn, tuy không có khả năng vãn hồi mạt vận ngay lúc này, nhưng quyết chí lo tính hộ trì Phật pháp trong mai sau. Do đó, hợp cùng thiện hữu, qui tụ đạo tràng, soạn thuật sám pháp, lập pháp hội này, phát đại nguyện đến bốn mươi tám điều mà nguyện nào cũng hóa độ chúng sinh, mong thâm tâm suốt trăm ngàn đời kiếp mà tâm nào cũng có thể làm Phật, tuy mới khởi đầu từ bây       
 
giờ, nhưng thề cùng tận biên cương của thì nguyện sinh Cực lạc, lên chín phẩm xong thì trở lại Sa bà. Mong sao mặt trời Phật pháp sáng lại, cửa ngõ Phật pháp mở nữa, để tăng giới được trong lặng ở cõi này, dân chúng được tiếp hóa ngay nơi đây, vận hội nhờ đó mà kéo dài thêm nữa, Phật pháp vì vậy mà tồn tại lâu bền. Đó là ưu tư chân thành, thiết tha ấp ủ. Đó là lý do thứ mười của sự phát bồ đề tâm.
            "Đó là ưu tư chân thành, thiết tha ấp ủ", lời này tuy không có chủ từ, nhưng chủ từ đó chính là ngài Thật hiền. Không những lời này, mà cả bài         
 
 
 
này chủ từ toàn là ngài. Nên nghĩ nhớ làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài là lý do tổng quát, quan trọng và thiết tha nhất. Phần sau của bài này cho thấy tác giả phát tâm rộng lớn (bồ đề tâm) soạn sám pháp (Niết bàn sám và Xá lợi sám) lập pháp hội (Niết bàn hội) phát đại nguyện (48 nguyện) và nguyện sinh Cực lạc ( để trở lại Sa bà ) tất cả đều vì "quyết chí lo tính hộ trì Phật pháp".
            Thâm tâm là tâm nguyện sâu xa. Khởi đầu bây giờ nhưng thề cùng tận vị lai là thề không gián đoạn, không thoái chuyển, không hạn định : đó là một trong những đặc tính phải có của bồ đề tâm. Chín phẩm là 9 phẩm hoa sen. Cực lạc tịnh độ không sinh bằng thai, mà sinh bằng hoa sen.
Tùy sự tu hành tịnh độ cạn sâu mà hoa sen ấy nở mau hay chậm thành 9 phẩm. Chín phẩm này là hoa khai (hoa nở), còn có loại hàm hoa (hoa úp) là của những kẻ niệm Phật mà nghi ngờ (Bảo 160 và 1685). Tăng giới được trong lặng..., sát thì phải dịch "biển tăng già được trong lặng ở cõi này, nhân dân được tiếp hóa tại đông phương". Dịch sát như vậy thì Tàu quá, phải chuyển dịch một chýt cho rộng lớn hơn, ít nhất là cõi Sa bà.
               Phần 4 khuyến khích phát âm
            Như vậy 10 lý do đã biết, 8 tính chất đã rõ, thì khuynh hướng có lối, khai phát có chỗ. Chúng ta cùng nhau đã được thân thể nhân loại, ở chỗ đạo pháp, giác quan
 
 
 
kiện toàn, cơ thể thanh thoát, tín tâm đã có đầy đủ, ma chướng may mắn lại không. Huống chi ngày nay chúng ta còn được xuất gia, được thọ cụ túc giới, được gặp đạo tràng, được nghe Phật pháp, được chiêm bái xá lợi, được tụ tập xám pháp, được hội ngộ thiện hữu, được đầy đủ thắng duyên. Như vậy nếu ngày nay không phát tâm rộng lớn thì còn chờ đến ngày nào ?
            Đây là nói sự đáng tự mừng mà khuyến khích phát tâm. ở chỗ đạo pháp, nguyên văn là Hoa Hạ, sát thì phải dịch là Trung hoa. Nhưng ý ở đây là nói những chỗ có Phật pháp mà Trung hoa chỉ là một. Từ ngữ
đúng nhất là trung quốc (nơi có Phật pháp lưu hành) đối lại là biên địa (nơi không có Phật pháp), nhưng là trung quốc chứ không phải Trung quốc. Giác quan kiện toàn, sát là 5 căn không bịnh tật. Cơ thể thanh thoát, sát là 4 đại khinh an. Đạo tràng, nguyên chỉ Bồ đề tràng (Bodhimandala) chỗ Phật thành đạo ; rồi biến nghĩa thành đạo tràng là nơi hành đạo, và Tùy Dượng đế năm 613 còn hạ chiếu gọi chùa là đạo tràng. Ở đây là biến nghĩa. Thắng duyên : yếu tố và hoàn cảnh tốt đẹp.
            Cầu xin đại chúng thương cho thành tâm ngu muội của tôi, xét cho chí nguyện khổ sở của tôi, mà cùng lập nguyện ấy, cùng
phát tâm này. Chưa phát thì nay phát, phát rồi thì tiến triển, tiến triển rồi thì làm cho liên tục. Đừng sợ khó mà khiếp hãi, lùi bước, đừng cho dễ mà khinh thường, hời hợt, đừng ham mau mà không lâu bền, đừng biếng nhác mà thiếu dũng tiến, đừng uể oải mà không phấn khởi, đừng chần chờ mà kỳ hẹn mãi, đừng vì trí tuệ thiếu thông minh mà nhất thiết không lưu ý, đừng vì trình độ thiếu lanh lẹ mà tự khinh không có phần. Như trồng cây, trồng lâu thì rễ cạn ngày càng xuống sâu, như mài dao, mài mãi thì dao đùi cũng thành bén sắc ; không thể vì cạn mà không trồng, 
 
 
mặc cây khô héo, vì đùi mà không mài, để dao vô dụng
            Lại nữa, nếu cho tu là khổ sở thì không biết nhác lại còn khổ hơn. Tu thì khó nhọc tạm thời mà yên vui vĩnh viễn, còn nhác thì một đời thư thả nhưng lắm kiếp khổ đau. Huống chi lấy pháp môn tịnh độ làm thuyền tàu thì lo gì thoái chuyển, lấy tuệ giác vô sinh làm sức nhẫn thì sợ gì khó khăn. Nên biết tội nhân địa ngục mà còn phát bồ đề tâm từ kiếp trước, huống chi đã làm người, lại làm con Phật, mà không lập đại nguyện ngay trong đời này. Vô thỉ hôn mê, cái gì qua rồi đã không
 
 
thể cản lại, thì ngày nay tỉnh ngộ, những cái sẽ đến còn có thể đuổi kịp. Mê mà chưa tỉnh, cố nhiên đáng thương, biết mà không làm, mới càng đáng tiếc. Hễ sợ cái khổ địa ngục thì sự tinh tiến tự sinh, nghĩ cái mau vô thường thì tính biếng nhác tự diệt. Điều cần thiết là lấy Phật pháp làm roi dục, lấy thiện hữu làm tay dắt, trong cơn thảng thốt cũng không tách rời, suốt cả một đời vẫn cố bám víu, thì không làm gì còn có sự thoái chuyển được nữa.
            Tội nhân địa ngục mà còn phát tâm từ kiếp trước, không biết chỉ ai, hay không chỉ ai cả. Nếu nói ở địa ngục mà còn phát bồ đề tâm, thì
 
 
đó chính là trường hợp sơ phát tâm của đức Bổn sư. Có 2 tội nhân cùng đọa địa ngục. Ngục tốt bắt kéo xe, sau khi lột da làm cổ dề (cái vòng da làm cổ ngực với càng xe, ở đây là quàng cổ của họ). Rồi lấy bổng sắt mà đánh, bắt chạy không ngừng. Một trong 2 tội nhân yếu hơn, chết lên chết xuống. Tội nhân kia thấy vậy, thưa với ngục tốt xin thay tội nhân ấy mà kéo một mình. Ngục tốt giận, đánh chết ngay và được sinh Đạo lợi thiên. Tội nhân kia là tiền thân của Phật (Chính 4/439).
            Đừng nói chỉ nghĩ một thoáng là nhỏ nhẹ, đừng cho mới nguyện mà thôi là vô ích. Tâm chân thì sự thật, nguyện rộng thì hạnh sâu.
 
 
Không gian đâu có lớn, tâm vương mới lớn, kim cương đau có chắc, nguyện lực mới chắc. Đại chúng quả thật không bỏ lời tôi, thì bà con giác ngộ từ đây kết hợp, bạn hữu se vàng từ đây kết giao, sở nguyện đồng sinh tịnh độ, đồng thấy Di đà, đồng hóa chúng sinh, đồng thành Chánh giác. Như vậy thì biết đâu bâm hai diệu tướng và trăm phước trang nghiêm sau này chẳng bắt đầu từ sự phát tâm lập nguyện trong ngày hôm nay. Nguyện cùng đại chúng chung nhau nỗ lực, như thế thật vô cùng may mắn.
            Đây là đoạn chót, nói sự quan trọng của tâm nguyện để khuyến khích
 
phát tâm. Bâm hai diệu tướng và trăm phước trang nghiêm là thành Phật. Tâm vương mới lớn, tâm vương ở đây là Tâm, không phải chỉ là tâm vương đối với tâm sở. Bà con giác ngộ là đề quyến thuộc. Bạn hữu sen vàng, sát thì phải dịch họ hàng liên ming trong Liên xã. Liên xã : hội sen, làng sen, làng sen vàng. Liên xã đầu tiên do ngài Tuệ viễn lập, và đặt tên như vậy, tại núi Lô sơn, nhưng sen gợi ý cho ngài đặt tên là sen trắng trong hồ sen của núi ấy. Liên xã đầu tiên do ngài Tuệ viễn lập, và đặt tên như vậy, tại núi Lô sơn, nhưng sen gợi ý cho ngài đặt tên là sen trắng trong hồ sen của núi ấy. Liên xã của ngài Tuệ viễn lập năm 414, gồm có 123 người (Chính 50/358, Siêu 1/16). Ngài Tuệ viễn là vị đệ tử quan trọng của ngài Đạo an, sinh năm 333, mất ngày 6/8 năm bính thìn (416) (Chính 50/361). Nhân cách và hoạt động của
 
ngài liên hệ rất nhiều đến lịch sử Phật giáo Trung hoa và Phật giáo các xứ thuộc ảnh hưởng văn hệ Trung hoa, quan trọng đến mức nào thì nên đọc Siêu 8/11, 9/19, và 10/21. ngài không phải chỉ là sơ tổ Tịnh độ tông mà thôi đâu.
            Quay lại mà nói về văn Khuyên phát bồ đề tâm, thì rõ ràng đây là 1 diễn từ của ngài Thật hiền, trong Niết bàn hội ngài tổ chức, khuyến khích phát bồ đề tâm mà bồ đề tâm ấy chính là 48 lời nguyện ngài lập ra. Bài văn đưa ra 10 lý do phát tâm, nhưng 10 lý do ấy cũng có thể thành 10 đại nguyện của bồ đề tâm mà đại nguyện nào cũng thể hiện 4 tính chất chánh, chân, đại, viên. Mười đại nguyện có thể thành từ 10 lý do là
 
 
 
một, nguyện báo ơn nặng của Phật, hai, nguyện báo ơn cha mẹ, ba, nguyện báo ơn sư trưởng, bốn, nguyện báo ơn thí chủ, năm, nguyện báo ơn chúng sinh, sáu, nguyện thoát khổ sinh tử, bảy, nguyện phát huy tâm tánh linh thiêng của mình, tám, nguyện sám hối nghiệp chướng, chín, nguyện sinh tịnh độ, mười, nguyện làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài.


 
/31
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »