Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Tổng Tập Giới Pháp Xuất Gia (Tập 1 & 2)

Tổng Tập Giới Pháp Xuất Gia (Tập 1 & 2)

Tác giả: Tỷ Kheo Trí Quang. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 2264.

Chương 22: 3. Sáu Tiểu Phẩm Hộ Giới: Một, Sa Di Lục Yếu (Trang 1767 - 1864)




3. Sáu tiểu phẩm hộ giới
Một, Sa di lục yếu
 
 
Mục lục

 

Tiểu dẫn---------------------------------------------------------------------- 1771
Phần đầu : mười giới luật :
một, không sát sinh------------------------------------------------------- 1781
hai, không trộm cướp---------------------------------------------------- 1784
ba, không dâm dục------------------------------------------------------- 1785
bốn, không nói dối------------------------------------------------------- 1786
năm, không uống rượu--------------------------------------------------- 1790
sáu, không mang vòng hoa thơm,
không dùng hương thơm xoa mình------------------------------- 1791
bảy, không ca, vủ, hòa tấu, biểu diển,
không đi xem nghe------------------------------------------------- 1792
tám, không ngồi giường cao và rộng lớn------------------------------- 1793
chín, không ăn phi thời-------------------------------------------------- 1794
mười, không nắm giữ vàng bạc, bảo vật-------------------------------- 1796
Phần kế : các uy nghi :
Thứ 1, kính đại sa môn--------------------------------------------------- 1798
Thứ 2, thờ thầy------------------------------------------------------------ 1801
Thứ 3, theo thầy đi ra---------------------------------------------------- 1809
Thứ 4, nhập chúng-------------------------------------------------------- 1811
Thứ 5, theo chúng họ thực----------------------------------------------- 1817
Thứ 6, lễ bái--------------------------------------------------------------- 1822
Thứ 7, nghe pháp--------------------------------------------------------- 1823
Thứ 8, học tập kinh điển------------------------------------------------- 1824
Thứ 9, vào tự viện-------------------------------------------------------- 1827
Thứ 10, vào nhà thiền theo chúng-------------------------------------- 1828
Thứ 11, làm việc---------------------------------------------------------- 1830
Thứ 12, vào nhà tắm----------------------------------------------------- 1832
Thứ 13, vào nhà xí------------------------------------------------------- 1834
Thứ 14, nằm ngủ---------------------------------------------------------- 1836
Thứ 15, quanh bếp lò---------------------------------------------------- 1838
Thứ 16, ở trong phòng--------------------------------------------------- 1839
Thứ 17, đến chùa ni------------------------------------------------------ 1840
Thứ 18, đến nhà người--------------------------------------------------- 1841
Thứ 19, khất thực--------------------------------------------------------- 1845
Thứ 20, vào chỗ dân cư-------------------------------------------------- 1846
Thứ 21, mua đồ----------------------------------------------------------- 1849
Thứ 22, làm gì cũng không được tự ý----------------------------------- 1849
Thứ 23, tham học--------------------------------------------------------- 1851
Thứ 24, già nạn của sự lãnh thọ cụ túc giới---------------------------- 1853
Thứ 25, phép thỉnh hòa thượng----------------------------------------- 1857
Thứ 26, danh tướng 6 vật của Tỷ kheo--------------------------------- 1858
Phụ lục----------------------------------------------------------------------- 1862
 
Tiểu dẫn
 
            Sách này nằm trong Vạn 106/342-349. Sách không có chú giải, chỉ có rất ít cước chú của chính tác giả. Sách tên Sa di thập giới uy nghi lục yếu, cùng nghĩa với tên Sa di luật nghi yếu lược. Sa di thập giới uy nghi lục yếu nghĩa là bản trích lục những điều cốt yếu về mười giới luật và các uy nghi của cấp bậc Sa di.
            Tác giả sách này là ngài Trí húc. Niên đại của ngài là 3/5 kỷ hợi (1599),
 
 
21/11 giáp ngọ (1654), cuối Minh đầu Thanh, vừa được nước lại mất nước. Ngài tên Trí húc, tự Ngẫu ích, tự hiệu Bát bất đạo nhân, và theo chỗ ngài ở mà gọi ngài là Linh phong. Cha trì chú Bạch y đại sĩ cầu con, mẹ mộng thấy đại sĩ bồng con trao cho mà sinh ngài. Ban đầu học Nho, lấy Nho học làm trách nhiệm của mình, viết Tịch Phật luận vài mươi thiên, 17 tuổi đọc Tự tri lục và Trúc song tùy bút của ngài Châu hoằng thì đem luận ấy đốt đi. Hai mươi tuổi mất cha, đọc kinh Địa tạng mà phát tâm xuất thế. Nghe một vị pháp sưu giảng kinh Lăng nghiêm, đến câu “không sinh đại giác trung” thì phát nghi mà không giải tỏa được, nên đối trước tượng Phật phát 48 nguyện, quyết chí xuất gia. Năm 1622,
ngài 3 lần mộng thấy ngài Hàm sơn (Hám sơn), nhưng bấy giờ ngài này cư trú Tào khê, ngài không thể đến theo, nên theo học trò của ngài Hàm sơn là ngài Tuyết lãnh mà xin thế độ. Rồi đến Vân thê, nghe cổ đức giảng luận Duy thức, nghi không hợp tôn chỉ Lăng nghiêm nên xin hỏi. Vị cổ đức nói, 2 tông tánh tướng không thể dung hợp. Ngài trong bụng lấy làm lạ, Phật pháp há có 2 nẻo ? Do đó mà vào Kính sơn tham thiền, tánh tướng 2 tông một lúc thấu triệt. Ngài thấy Luật học hoang phế, nên lấy việc chấn hưng Luật học làm nhiệm vụ của mình. Đã viết Tỳ ni tập yếu rồi, lại muốn chú giải kinh Phạn võng, nên đối trước Phật, mở kinh Chiêm sát khấn bói để quyết định theo tông nào. Thì bói được Thiên
thai tông. Vậy là ngài để tâm nghiên cứu Thiên thai tông, nhưng không chịu làm con cháu tông này. Sinh bình trước thuật hơn 40 thứ, từng nói, đời tôi không có gì đáng nói, chỉ có sự phát đại bồ đề tâm, quên mình vì người là có thể chất chính với các đấng Từ tôn trong 3 thì gian (Bảo 2200). Trong bài tụng Đại hùng phong có câu “đản tùng Long thọ thông tiêu tức”. Câu ấy có thể biểu thị tôn chỉ của ngài. Cái tự hiệu Bát bất đạo nhân càng chứng tỏ điều ấy.
            Lý do và tài liệu của sách này thì ngài Trí húc đã tự nói trong lời nói đầu. Tôi chỉ nói mấy điều cần thiết sau đây. Một, sách tuy chỉ nói Sa di, nhưng có thể hiểu là cấp bậc Sa di, nghĩa là gồm cả Sa di ni. Hai, sách
tuy bố trí và trích lục khá nhiều theo sách Sa di luật nghi yếu lược, nhưng mọi sự trích lục ấy chỉ sắp thứ tự, hay bớt thêm một chút thôi, cũng nổi bật đặc sắc lên. Ba, đặc biệt về 10 giới luật thì phải có sự cắt nghĩa của giới này mới giúp rõ cho sự hành trì. Bốn, về các uy nghi, thêm các thứ 24 và 25 thật đặc biệt và cần thiết, thứ 23 bổ túc điều chỉnh thật xứng đáng, thứ 26 bổ túc điều chỉnh thật đặc biệt. Nói tóm, giá trị sách này nếu không muốn nói hơn Sa di luật nghi yếu lược thì cũng phải nói có nó mới bổ túc và điều chỉnh khá nhiều cho sách ấy.
            Sách này tôi dịch sát nguyên văn chỉ lời nói đầu tiên và phụ lục sau hết là trích dịch chỗ nào cần. Nguyên văn
sách này có một số rất ít cước chú, chữ nhỏ, viết hàng đôi dưới văn chính. Nay tôi dịch cước chú ấy thì mở đóng vòng đơn. Còn chú thích của tôi chỗ nào cần thì đánh số mà chú thích ngay dưới mỗi đoạn.

 

Cổ Ngô, Ngẫu ích sa môn
Trí húc, y Luật biên tập lại.

            Người xuất gia lãnh thọ 10 giới thì gọi là Sa di, xứ này dịch là tức từ, là chỉ tức cái tình ô nhiễm của thế tục mà từ bi tế độ quần sinh. Lại giải thích, mới vào Phật pháp thì phần nhiều vẫn

còn cái tình thế tục, nên phải chỉ tức  việc ác, thi hành từ bi. Đường Tam tạng nói Thất lị ma na lô ca, dịch là cần sách nam. Ký qui truyện nói truyền thọ 10 giới rồi gọi họ là Thất la mạt ni, dịch là cầu tịch…
            Lại nữa, niết bàn lấy sự bất phóng dật làm thực phẩm. Mà cần sách là nghĩa bất phóng dật. Nên giới Sa di là pháp thực của đại niết bàn…
            Sa di uy nghi nói, Sa di có 5 đức, một là phát tâm viễn ly thế tục, vì cảm bội Phật pháp; hai là hủy bỏ cái đẹp của thân hình, vì thích ứng pháp y; ba là cắt      
 
vĩnh viễn cái ái của người thân, vì không còn thân sơ; bốn là vất bỏ thân hình, vì tôn sùng Phật pháp; năm là chí cầu đại thừa, vì hóa độ mọi người. Tri môn cảnh huấn nói, 5 đức như thế này là đại yếu của sự xuất gia, 5 chúng cùng tôn sùng chứ không phải chỉ chúng nhỏ, trọn đời vẫn thực hành chứ không phải chỉ mới thọ. Do đó mà xét thì giới pháp Sa di gồm cả tánh đức tu đức, suốt cả nhân hành quả chứng, đâu được coi là pháp tiểu thừa. Người lãnh thọ giới này phải hết sức để ý, phải hết sức nỗ lực, không nên tự khinh mình mà lùi bước và khuất phục, không
 
Nên bỏ giới pháp này mà tìm cái pháp nào khác.
            Trong Đại tạng kinh, Thập giới pháp tinh uy nghi thì mất tên dịch giả, văn phần nhiều phồn phức lầm lẫn; Đại tỷ kheo tam thiên uy nghi cũng mất tên dịch giả; Hành bộ uy nghi của ngài Nam sơn phần nhiều là việc thuộc Đại tỷ kheo; Sa di thành phạm cận đại thì tự soạn trái Luật, không thể y theo; Bách trượng thanh qui thì triều Nguyên, thầy trú trì Thế đế xuyên tạc, càng đáng xấu hổ. Chỉ có sách Sa di luật nghi yếu lược của Vân thê đại sư tương đối có châm chước,          
có thể thích hợp căn cơ thời đại; nhưng khai giá khinh trọng và phép sám hối vẫn còn chưa rõ. Nay bất đắc dĩ tôi phải trích lục biên tập lại, nhưng vẫn chia 2 môn là mười giới luật và các uy nghi. Đến như phép truyền giới thì việc ấy thuộc đại tăng, ở đây không đưa ra.
Phần đầu: mười giới luật
Một, không sát sinh
            Phàm có sinh mạng thì không được cố giết. Hoặc mình giết, hoặc bảo người khác giết, hoặc giết bằng phương tiện, hoặc giết bằng chú, làm rơi thai, làm vỡ trứng, đưa thuốc độc cho họ, bất
cứ cách nào, hễ làm cho sinh mạng bị đứt đi, thì cùng bị tội sát cả. Nếu giết cha mẹ sinh thân này, giết La hán thánh nhân, thì phạm tội nghịch, đọa A tì địa ngục; nếu giết người thì phạm tội nặng, mất giới Sa di, không được sám hối; nếu giết trời, rồng, quỉ, thần, thì phạm tội vừa, còn cho sám hối, diệt tội phạm giới mà tánh tội không diệt, nên chung cục phải thường trả; nếu giết súc sinh, sâu kiến, muỗi mòng, chấy rận vân vân, thì phạm tội nhẹ, cũng cho sám hối, diệt tội phạm giới mà tánh tội vẫn phải thường trả. Nếu giết người mà không chết thì phạm tội vừa,             
thuộc phần phương tiện (1) và có thể sám hối; giết trời, thần, súc, trùng vân vân mà không chết thì phạm tội nhẹ, thuộc phần phương tiện, và có thể sám hối. Nếu giúp người khác hay bảo họ giết, thì đều bị tội thuộc phần căn bản (giết người thì tội nặng, giết trời vân vân thì tội vừa, giết súc sinh thì tội nhẹ). Nếu thấy giết mà vui thích thì bị tội thuộc phần phương tiện. Nên nếu thấy kẻ khác giết, mình có sức thì nên cứu, dẫu không cứu được thì nên phát khởi từ tâm, niệm Phật, trì chú, cầu nguyện cho cho họ cởi mở oán kết, đứt hẳn ác duyên.
  1. Mỗi một tội lỗi đều có 3 giai đoạn với 3
 
tên: da hành, căn bản, hậu khởi (chữ của ngài Huyền tráng) hay phương tiện, căn bản, thành dĩ (chữ của ngài Đàm mô sấm). Da hành hay phương tiện là nỗ lực, căn bản là thực hiện, hậu khởi hay thành dĩ là hoàn bị. Thí dụ giết heo: bắt, trói, là da hành; cắt cổ là căn bản; ăn, bán, là hậu khởi.
Hai, không trộm cướp
Phàm vật có chủ thì không được cố lấy bằng tâm lý trộm cướp. Hoặc mình lấy, hoặc bảo người khác lấy, hoặc lấy bằng phương tiện, hoặc lấy bằng chú, nhân người ta gửi mà lấy, mê hoặc mà lấy, lừa gạt mà lấy, chống cự nợ nần mà không trả, trốn thuế, gạt đò, vân vân, bất cứ cách nào, hễ làm cho kẻ khác mất vật của họ thì đều gọi là trộm cướp cả. Vật bị lấy trị giá 5 
tiền (tức 8 phân bạc) là phạm tội nặng, mất giới Sa di, không thông sám hối; 4 tiến sắp xuống thì phạm tội vừa, 2 tiền 1 tiền thì phạm tội nhẹ, còn cho sám hối, diệt tội phạm giới thì tánh tội không diệt, phải thêm lới mà thường trả, nếu không thường trả thì đời sau chuyển nặng, hoàn toàn không có cái lẽ có thể ỷ lại. Nếu trộm mà chưa lấy được thì phạm tội thuộc phần phương tiện, phải cực kỳ chân thành mà sám hối để khỏi dẫn đến sự đọa lạc.
              Ba, không dâm dục
            Tất cả thế gian, dầu đàn ông hay đàn bà, dầu loài người hay
 
loài quỉ, dầu súc sinh vân vân, đều không được giao hợp bằng tâm lý ô nhiễm, cũng không được cho người dâm mình. Bất cứ cách nào, hễ có can phạm dâm dục là đều phạm tội nặng, mất giới Sa di, không thông sám hối. Nếu muốn dâm dục, nhưng chưa giao hợp mà dừng lại ngay, là phạm tội vừa, thuộc phần phương tiện, phải cực kỳ chân thành mà sám hối. Nếu nổi dậy cái tâm dâm dục thì tức khắc phải đau đớn và tự trách mắng.
            Bốn, không nói dối
            Nếu chưa chứng 4 quả mà nói dối đã chứng, chưa được 4 thiền           
 
 
 
mà nói dối đã được, chưa ngộ đạo nói dối đã ngộ, và nói dối trời đến, rồng đến, quỉ thần đến vân vân, dối mà không thật, mê hoặc thế nhân, thì gọi là đại vọng ngữ, phạm tội nặng, mất giới Sa di, không thông sám hối. Nếu công phu hơi đắc lực, vì không rành pháp tướng mà nói chứng quả vân vân, thì gọi là tăng thượng mạn, chứ vốn không có tâm lừa dối nên không mất giới. Tuy nhiên, phải xin hỏi các bậc sư trưởng, những vị tiên đạt, để quyết trạch đúng hay sai, mà ân cần hối lỗi, bỏ cái tâm có sở đắc, tinh thành mà tìm cái nẻo xuất yếu chân thật, mới khỏi
chìm rơi, Nếu bản ý muốn nói dối, thì hoặc nói không rõ, hoặc nói rõ mà người khác chưa hiểu, hoặc nói nửa chừng mà ngừng lại không nói nữa, đều là phạm tội vừa, thuộc phần phương tiện, và có thể sám hối trừ bỏ.
            Lại nữa, cái lỗi của miệng có 4: một nói dối trá, hai nói thêu dệt, ba nói hai lưỡi, bốn nói thô ác. Một, nói dối trá là thấy nói không thấy, không thấy nói thấy; nghe, hay, biết, cũng như vậy. Thêm nữa, thật có mà nói không, thật không mà nói có, lừa dối người khác, đều gọi là nói dối. Đó là tánh tội, kẻ phạm vào tức    
khắc phải sám hối, thề không tái phạm. Nếu không hối cải thì hiện tại bị người khinh tiện, chết rồi tọa lạc tam đồ. Hai, nói thêu dệt là những lời nói phù phiếm, rất vô nghĩa, vô ích và tục lụy, chỉ tăng trưởng phóng dật, quên mất chánh niệm, cũng phải tức khắc sám hối, thề không tái phạm. Nếu không hối cải, thì hiện tại bị người khinh dể, chết rồi tọa lạc ác đạo. Ba, nói hai lưỡi, là đến người này nói người kia, đến người kia nói người này, xúi dục cho nổi dậy những sự thị phi, gây mâu thuẫn cho rã rời những bạn bè thân thiết. Cũng là tánh tội, tức khắc phải sám hối, thề không
tái phạm. Nếu phạm vào thì hiện tại bị người oán thán, chết rồi đọa lạc địa ngục. Bốn, nói thô ác, là mắng chửi rửa nộp, làm cho người khác không thể chịu đựng. Đó cũng là tánh tội, tức khắc phải sám hối đoạn tuyệt. Nếu phạm vào thì hiện tại bị người phẫn nộ, cget61 rồi tọa lạc tam đồ.
            Luật nhiếp dạy, con em của Phật thì nói thường nói thật, không nên thề để tự rửa oan ức, vì lẽ điều ấy nói lên sự không tin của kẻ khác; nên dẫu bị vu khống, phỉ báng, cũng đừng làm cái việc thề thốt.
            Năm, không uống rượu
Bất luận rượu nào, hễ làm cho người uống nó mà có khả năng làm sayu người uống, thì một giọt cũng không được đưa vào trong miệng. Uống là phạm giới, tức khắc phải sám hối. Nếu không sám hối cải thì hiện tại bị người sỉ nhục, chết rồi đọa lạc ác đạo. Nếu bịnh mà phi rượu không thể dẫn thuốc, thì phải bạch với sư trưởng, thiện hữu vân vân, mới được uống.
Sáu, không mang vòng hoa thơm,
không dùng hương thơm xoa mình
            Kết hoa làm vòng để trang sức mình và đầu, đeo mang đẫy hương, dùng sáp và phấn trang điểm dung nhan, toàn là cái thói
làm đẹp lộng lẫy của sĩ nữ, không phải sự thích nghi của người xuất gia.
Bảy, không ca, vũ, hòa tấu, biểu
diễn, không đi xem nghe
            Hát các khúc nhạc và ngâm các bài thơ thì gọi là ca. Tay lắc ứng nhau và chân bước quanh co thì gọi là vũ. Thổi các nhạc khí thổi bằng miệng, đàn các nhạc khí đàn bằng tay; đánh song lục, vi kỳ, trịch đầu, phụ tiền; làm thầy thuốc, thầy bói, coi thiên văn, coi tướng; ném hồ, bắn tên, đua ngựa, đấu kiếm, vân vân đều gọi là hòa tấu, biểu diễn, không phải sự nên làm của người xuất gia.
Cúng Phật thì nên bảo người khác đánh nhạc, không nên tự đánh. Tán Phật thì nên tán kệ, không nên dùng âm thanh khúc hát. Có kiến địa chân thật mới có thể làm kệ, niêm tụng. Không được học tập thi, họa, giống như sơn nhân, thanh khách. Học chữ, chỉ để viết chép ngay ngắn, không được vì viết cho đẹp mà trở ngại phế bỏ chánh nghiệp xuất thế.
Tám, không ngồi giường cao và rộng lớn
Chân giường chỉ cao 1 thước 6 tấc, khi ngồi bàn chân không treo trong không (1), quá cái lượng ấy
là gọi rằng cao. Chỉ có thể dung cái thân chuyển nghiêng, quá lượng ấy gọi rằng rộng. Đã cao lại rộng, là gọi rằng lớn, không phải chỗ nên nằm và ngồi của người xuất gia nữa, huống chi còn sơn vẽ, chạm trổ, và màn nệm bằng sa lụa? Theo chúng mà nằm giường dài liền: không phạm. Thuyết pháp mà lên tòa sư tử: không phạm. Trong nhà bạch y không có giường ghế thấp nhỏ mà tạm thời ngồi nằm giường cao ghế lớn: không phạm.
   (1)  Nghĩa là bàn chân chấm đất.
Chín, không ăn phi thời
Từ lúc ánh sáng xuất hiện cho
đến lúc mặt trời chín ngọ, gọi là thời. Từ lúc mặt trời hơi nghiêng cho đến lúc ánh sáng của ngày kế tiếp chưa xuất hiện, gọi là phi thời. Phi thời mà ăn, gọi là phá trai, mỗi miếng nuốt vào là bị kết tội. Nếu tương phi thời, thuốc ngậm tiêu, thuốc trọn đời, thì toàn là những thứ không phạm. Tương phi thời là nước trái, nước đường mật vân vân, trong, không cặn bã. Thuốc ngậm tiêu là mật, kẹo mạch nha, sữa động lại ở trên, cũng không cặn bã. Thuốc trọn đời là gừng, quế, tiêu, mơ và tất cả thuốc hoàn, tất cả thuốc thang, tất cả thuốc tán, mùi của chúng chua, rít, đắng, cay,
không thể làm thức ăn, có lý do bịnh thì suốt đời cho dùng.
Mười, không nắm giữ
vàng bạc, bảo vật
            Vàng bạc bảo vật loại sinh là không do tác dụng nhân công mà thành; vàng bạc bảo vật loại tượng là do tác dụng nhân công mà thành hình tượng khí cụ (1). Toàn làm lớn tham tâm, có chỗ trái với phong thái cao thượng. Nên cầm nắm thì tất cả đều phạm tội. Trừ ra vì Tam bảo mà tạm cầm, hoặc vì sư trưởng cha mẹ mà tay nắm, tự mình không tham, không chứa, thì không phải là phạm.
(1)  Cách cắt nghĩa này hơi khác thường.
Mười giới trên đây, 4 giới trước nếu phạm thì  gọi là phá căn bản, cũng gọi là tội bên ngoài (1), không phải tác pháp sám (2) đối trị được. Nếu muốn bước với Tỷ kheo giới và Bồ tát giới thì phải kiết đàn tu thủ tướng sám (3). Giới thứ 9 nếu phạm thì gọi là phá trai, dư ra 5 giới nếu phạm thì gọi là phá uy nghi; tất cả đều phải cực kỳ chân thành mà sám hối mới khỏi chướng ngại đạo nghiệp, thận trọng, thận trọng.
(1)  Coi phần sau, thứ 24.
(2)  Sám hối theo nghi thức.
(3)  Sám hối thấy được tướng tốt của Phật.
 
 
Phần kế: các uy nghi
Thứ 1, kính đại sa môn
            Không được gọi tên chữ của Đại tỷ kheo (đối với các vị Tỷ kheo, nên gọi là Thầy xx).
            Không được lén nghe Đại tỷ kheo thuyết giới (tức nửa tháng tụng Tỷ kheo giới, ngày thường giảng Tỷ kheo giới, hoặc làm các tăng sự đúng phép, thì trước hãy bảo những người chưa thọ cụ túc giới phải ra đi. Tất cả không được nghe lén. Nghe lén thì thành cái trọng nạn trộm pháp (1). Cũng không được tự coi Luật và coi Tỷ kheo giới trước).
            (1) Coi thứ 24
 
Không được tìm sở trường sở đoản của Đại tỷ kheo. Không được đi chuyền nói lầm lỡ của các Đại tỷ kheo.
Không được ở chỗ khuất mắng Đại tỷ kheo. Không được khinh dể Đại tỷ kheo, giỡn cười trước mặt, nhái giọng nói, hình dáng và bước đi của ngài. Không được ngồi thấy Đại tỷ kheo đi qua mà không đứng dậy, trừ lúc đọc kinh, lúc ăn cơm, lúc làm việc tăng chúng, lúc cắt tóc, lúc bịnh. Khi đi, gặp Đại tỷ kheo, phải xuống bên đường, đứng nghiêm chỉnh mà nhường ngài.
Tứ phần luật nói, Sa di nên
lấy năm sinh làm thứ tự. Nếu năm sinh ngang nhau thì nên lấy năm xuất gia làm thứ tự. Phương quảng đại trang nghiêm kinh nói, Phật pháp như biển, dung nạp cả trăm sông, bốn dòng (1) đổ về đó đều cùng 1 vị. Căn cứ thọ giới trước hay sau, không căn cứ sang hay hèn. Tứ đại hợp lại, giả gọi là thân, trong đó trống vắng, vốn không bản ngã. Hãy suy nghĩ thánh pháp ấy, đứng sinh kiêu ngạo. (Tỷ kheo thì thể tánh là Tăng bảo, nên kể giới lạp, còn sa di thì chưa nhập Tăng số, nên chỉ kể tuổi sinh. Như vậy, giải sử sa di trăm tuổi cũng phải kính Tỷ kheo mới thọ đại giới).
  (1)  Ấn độ có 4 dòng sông đổ ra biển.
Thứ 2, thờ thầy
            Nên dậy sớm. Muốn vào cửa, nên trước hết đàn chỉ 3 lần. Sắp đủ nhánh dương, nước rửa, trao áo giày, xếp chăn, phất lau giường chiếu, quét đất, thêm nước rửa.
            Thầy đi chưa về, không được bỏ trong phòng mà đi.
            Nếu có lỗi, hòa thượng hay xà lê răn dạy lỗi ấy thì không được nói trả, nói bướng.
            Chiêm ngưỡng 2 vị thầy ấy nên như chiêm ngưỡng Phật.
            Nếu bảo đổ đồ bất tịnh thì không nên nhổ nước miếng, không
 
nên tức giận.
Tối, nên vỗ xoa cho thầy.
Thầy thọ thực, không nên làm lễ. Thầy ngồi thiền, không nên làm lễ. thầy kinh hành, không nên làm lễ. Thầy rửa tay hay súc miệng chưa xong, và chưa tẩy tịnh, hay khi mặc áo lót, đều không nên làm lễ. Thầy ngủ nghỉ, không nên làm lễ. Thầy đóng cửa, không nên ở ngoài cửa làm lễ. Muốn vào cửa làm lễ, nên đàn chỉ 3 lần ; thầy không trả lời thì nên đi.
Cầm đồ uống đồ ăn của thầy, nên 2 tay bưng cao. Ăn rồi, dọn đồ thì phải từ từ. Trao cho thầy
 
trái mới, nên làm sạch trước : hoặc làm sạch bằng lửa, hoặc làm sạch bằng dao, hoặc làm sạch bằng móng tay bóc lột. Nếu thứ trái không thể làm sạch, mà là loại ăn sống, thì không cần làm sạch (1). Trao cho thầy tương phi thời thì phải lấy nước điểm tịnh.
     (1)  Dịch không tự lấy chắc chắn
Hầu thầy, không được đứng đối diện, không được đứng chỗ cao, không được đứng quá xa ; phải đứng sao để thầy nói nhỏ mình vẫn nghe tiếng được, khỏi phí sức thầy.
Xin hỏi Phật pháp thì phải sửa y lễ bái, chắp tay nghe kỹ,
suy nghĩ vào sâu. Hỏi việc thường của trú xứ, thì không cần lễ bái, chỉ đứng ngay thẳng cạnh thầy, cứ thật trình bày. Nếu thầy mệt mỏi cơ thể hay tâm trí, bảo đi thì nên đi, không được lòng dạ không vui, hiện ra sắc mặt.
            Phàm có những việc phạm giới vân vân, không được che giấu, phải mau mau đến thầy, thiết tha xin sám hối. Thầy chấp nhận thì tận tình phát lộ, chân thành hối cải, lại được thanh tịnh (nếu phạm 4 giới căn bản, phải y theo sự quyết nghi của thầy, mới có thể thực hành "thủ tướng sám").
            Thầy nói chưa xong, không    
được nói.
            Không được ngồi chơi chỗ ngồi của thầy, và nằm giường thầy, dùng áo mão của thầy, vân vân.
            Vì thầy đi đưa thư từ, không được lén tự mở coi, cũng không được cho người coi. Đến, người nhận có hỏi, nên trả lời thì nên trả lời thành thật, không nên trả lời thì khéo léo khước từ câu hỏi ấy. Họ lưu giữ thì không được ở liền, phải nghĩ đến việc về cho mau. Hoặc đường xa, tối quá, gió mưa, nạn duyên, vân vân, thì tùy đó mà định.
            Thầy tiếp khách, thì hoặc đứng chỗ thường đứng, hoặc đứng
cạnh thầy, hoặc đứng sau thầy, phải làm cho tai mắt tiếp nhau, hầu thầy cần dùng.
            Thầy đau ốm thì chăm sóc từ đầu đến cuối. Phòng thất, chăn nệm, thuốc thang, cháo cơm, vân vân, nhất nhất chú ý lo liệu.
            Phàm hầu thầy, thầy không bảo ngồi thì không dám ngồi, không hỏi thì không dám thưa, trừ mình có việc muốn hỏi. Phàm đứng hầu thầy thì không được dựa vách, tựa ghế, mà nên mình ngay thẳng, chân tề tỉnh, đứng cạnh thầy.
            Muốn lễ bái, nếu thầy ngăn lại thì nên tuân theo mạng lịnh
 
của thầy, đừng lạy. (Tây độ chỉ 1 lạy, không có cái cách 3 lạy).
            Thầy có sai khiến thì nên kịp thời làm cho xong, không được trái, nhác hay khinh thường.
            Phàm ngủ nghỉ, không được trước thầy, trừ lúc có bịnh, bạch thầy mới ngủ trước.
            Ai hỏi tên thầy, nên nói tên chữ x và dưới chữ x, hỏi hiệu thầy thì nói hiệu xx.
            Không được rời thầy ở riêng. Nếu thầy mạng chung, nếu thầy đi xa mà không được đi theo, thì phải hỏi nên y chỉ thầy nào. Tùy thầy dạy, tức y chỉ mà ở, và tất cả lại làm y như cách thờ thầy.
 
Hoặc thầy không chỉ thị mà mạng chung hay đi xa ngay, thì phải lại chon bậc ninh sư, y chỉ mà ở. Nếu thầy hoàn tục, nếu thầy phá giới, nếu thầy bị đại tăng đuổi, cũng phải lại chọn bậc ninh sư, y chỉ mà ở, không được buông lòng tự dụng.
            Tuổi đầy 20, thành thuộc việc xuất gia, thì phải cầu thầy và kiếm phương tiện mà bước tới Tỷ kheo giới. Hoặc tuổi chưa đầy 20, hoặc tuy đầy 20 mà mọi duyên chưa họp, không thể bước tới Tỷ kheo giới, thì đều nên phát bồ đề tâm, trước cầu thọ Bồ tát giới, làm Sa di bồ tát, học pháp đại
thừa. chờ tuổi đầy, duyên đủ, lại bước tới thọ cụ túc giới, là thành Tỷ kheo bồ tát.
            Căn bản tạp sự nói, nếu ai nhờ thầy, được ở trong Paht65 pháp mà cắt bỏ râu tóc, khoác mặt pháp phục, đem tín tâm thanh tịnh xuất gia tu hành, thì người ấy, đối với thầy, cho đến suốt đời cung dưỡng đủ cả 4 thứ, cũng chưa thể báo đáp ân đức.
            Thứ 3, theo thầy đi ra
            Không được ghé qua nhà người khác. Không được dừng ở bên đường, cùng người nói chuyện. Không được ngoái nhìn trái phải, mà phải mắt bằng, nhìn thẳng, đi
 
 
theo sau thầy.
            Đến nhà đàn việt, nên đứng một bên thầy, thầy dạy ngồi mới ngồi. Đến tự viện khác, thầy lạy Phật hay mình lạy, đều không được chuyên đánh khánh.
            Nếu đi núi thì phải cầm tọa cụ đi theo. Nếu đi xa thì không được rời nhau quá xa. Nếu lội qua nước thì phải cầm gậy từ từ dò thử cạn sâu. Nếu chợt tách nhau mà đi, hẹn ở chỗ nào gặp nhau, thì không được đến sau giờ hẹn.
            Thầy thọ trai thì phải đứng hầu xuất sinh, thọ trai xong lại phải đứng hầu thâu nhận đồ hiến
cúng.
            Thứ 4, nhập cúng
            Không được tranh chỗ ngồi. Không được trên chỗ ngồi mà gọi vói nhau, nói hay cười.
            Trong chúng có ai mất uy nghi, nên ẩn ác dương thiện. Không được khoe cái mệt để tỏ cái công của mình.
            Ngủ không trước người, dậy không sau người.
            Không được cùng Đại tỷ kheo ngồi 1 chỗ, trừ pháp hội lớn. Không được cúng bạch y ngồi 1 chỗ, trừ pháp hội lớn.
            Phàm rửa mặt, không được sử
dụng nước nhiều. Xát răng nhổ nước, cần phải cuối đầu đưa nước xuống, không được phun nước tạt ướt người. Không được cao tiếng hi nước mũi, nhổ nước miếng. Không được nơi điện tháp, và trong nhà sạch, đất sạch, nước sạch, mà hỉ nước mũi, nhổ nước miếng, phải nơi chỗ khuất.
            Khi uống trà nước, không được dúng 1 tay còn lại xá chào người. Không được quay về phía tháp mà tẩy răng, hay xoay về phía 2 vị thầy, Đại tỷ kheo, vân vân.
            Không được nói nhiều, cười nhiều, hoặc cười lớn, và ngáp thì
 
 
phải lấy tay áo bưng miệng. Không được đi gấp gáp.
            Không được đem đèn của Phật đến riêng mình dùng. Thắp đèn, phải lấy lóng che kín, đừng để loại phi trùng gieo vào. Hoa cúng Phật thì phải lấy thứ nở tròn, và không được ngửi trước ; loại trừ thứ héo mới cúng thứ mới ; thứ héo cũng không được bỏ xuống đất dẫm đạp lên, mà nên đặt ở chỗ ngăn che.
            Nên vì đại tăng mà cung cấp nhánh dương, nước rửa, vân vân, tùy sức có thể làm gì là nên làm, không được cầu an cẩu thả.
            Nghe gọi thì niệm Phật mà trả
lời, không được nói có đây hay nói chính thị.
            Phàm nhặt của rơi thì tức khắc phải bạch vị chủ sự.
            Không được cùng người nhỏ tuổi kết bạn với nhau.
            Không được mang bậy 3 pháp y cắt ra may lại, lạm đồng Đại tỷ kheo tăng ; phải mang ca sa man điều mà thôi (man điều nghĩa là không may chấp, ca sa nghĩa là hoại sắc). Căn bản luật nói, những kẻ cầu tịch thì man điều là pháp phục của họ, nếu họ mang ngay 5 điều thì rất là tội lỗi và lạm dụng. Thần châu (1) từ lâu đã quạt lên cơn gió ấy, tạo
 
 
thành sự phi pháp. Không được sắm nhiều y phục, nếu có thừa thì nên bỏ ra mà cho. Không được sắm dây và phất tốt bền, đồ chơi vân vân, trang điểm theo thói giang hồ, chỉ bị thức giả chê cười mà thôi. Không được mặc y phục chính sắc, và y phục cùng đồ trang sức vân vân giống với người thế tục. Không được dùng tơ tằm, tơ to, lụa sống, lụa dệt bằng tơ trần, thuong tổn từ bi, phạm vào sự cấm chế của Phật. Không được tay không sạch mà đắp y.
  (1)  là xứ Trung hoa
Không được ngồi nhìn đại
 
 
chúng làm việc mệt nhọc, mà mình tránh, nhác, cầu an cẩu thả.
            Không được lấy riêng của thường trú như tre cây, hoa trái, rau lá, mọi thứ đồ uống đồ ăn, mọi thứ đồ vật vân vân, để hoặc tự dùng, hoặc cho mà lấy lòng người.
            Không được bàn tán sự lợi và sự hại của việc chính trị thuộc triều đình công sở, và những sự tốt xấu hay dở của người bạch y.
            Phàm tự xưng thì nên nói 2 chữ pháp danh, không được nói ta, nói tiểu tăng, nói xx đây.
            Không được nhân việc nhỏ mà tranh chấp. Nếu việc lớn khó
          
nhẫn thì cũng phải tâm bình tĩnh, khí ôn hòa, lấy lẽ thảo luận ; không được thì từ từ mà đi. Động khí phát thô, tức là không phải pháp khí (2).
  (2)   Đồ chứa đựng Phật pháp, bậc hữu dụng của Phật pháp.
Nếu trái qui chế tăng chúng, nghe bạch kiền chùy, không được kháng cự bất phục.
            Thứ 5, theo chúng thọ thực
            Nghe tiếng kiền chùy là phải chỉnh đốn y phục.
            Kịp đến lúc ăn, chú nguyện thì đều phải cung kính.
            Phàm xuất sinh thì để trong tay trái, niệm thầm bài kệ sau
 
 
đây.
            Chúng quỉ thần các người,
nay tôi cho cúng phẩm.
Cúng phẩm này khắp cả,
quỉ thần cùng hưởng thụ.
            Phàm muốn ăn, trước làm 5 quán tưởng : một, xét kể công lao nhiều ít và ước lượng lý do của thực phẩm ; hai, nghĩ kỹ đức hạnh của mình đủ hay thiếu để ứng thọ sự cúng dường ấy ; ba, đề phòng tâm lý, tránh những tội lỗi mà tham sân si vẫn làm chủ yếu ; bốn, chính vì lấy thực phẩm làm dược phẩm tốt để trị liệu thân hình khô yếu ; năm, vì thành đạo nghiệp mới ứng thọ
 
thực phẩm này.
            Không được la rầy đồ ăn tốt xấu. Không được lấy đồ ăn cho riêng, hoặc trích cho chó.
            Người đến thêm đồ ăn, không được bảo không dùng ; nếu no rồi thì phải lấy tay từ khước đồ ăn ấy.
            Không được gãi đầu, làm cho gió thổi hắt mạt vụn rơi vào chén bát của người ngồi chỗ gần mình. Không được ngậm đồ ăn mà nói. Không đượccười bàn chuyện tạp. Không được nhai đồ ăn ra tiếng. Không được húp cháo canh vân vân ra tiếng.
            Muốn khêu răng, phải lấy tay
áo che miệng trước. Trong đồ ăn hoặc có sâu kiến, nên kín đáo giấu bỏ đi, đừng để người ngồi chỗ gần mình thấy, sinh tâm nghi ngại.
            Phàm ngồi ăn, một lần mà thôi. Không được ăn xong, rời chỗ ngồi rồi, lại ngồi ăn nữa, trừ có việc chính đáng. Không được ăn xong, lấy ngón tay nạo chén bát mà ăn.
            Phàm ăn, không được quá mau, không được quá chậm. Người đi thêm đồ ăn chưa đến, không được xin phiền não. Hoặc có cần gì, thì yên lặng dùng ngón tay mà trao ý, không được lớn tiếng gọi to. Không được làm cho chén bát          
 
phát tiếng.
            Không được ăn rồi dậy trước ; phải chờ kiết trai, cùng dậy, trừ có việc chính đáng.
            Trong cơm có lúa thì hoặc bỏ vỏ mà ăn, hoặc dồn một chỗ, khi ra, đem cho chim chóc.
            Thấy mỹ vị, không được tham lam, phóng túng miệng mà ăn. Không được ăn riêng tăng chúng.
            Nếu cơ thể suy nhược, không thể giữ giới "không ăn phi thời, thì thà lùi lại, làm cận trú nam (1). Đừng mang hư danh, ngày ngày chiêu tập tội lỗi phá trai.
            ( 1) Cận trú là thân cận Tam bảo mà tạm trú, tức người tại gia thọ 8 giới
 
Thứ 6, lễ bái
            Buổi sáng thì đánh răng, gội rửa và súc miệng sạch sẽ, mới làm việc lễ kính.
            Lễ bái, không được chiếm chỗ chính giữa điện Phật, vì đó là vị trí của vị trú trì. Có người lạy Phật, không được hướng tới trước đầu người ấy mà đi tắt.
            Phàm chấp tay, không được 10 ngón so le, không được trống rỗng ở giữa, không được đưa tay cấm vào lỗ mũi ; phải để tay ngang ngực, cao thấp đúng chỗ.
            Không được lễ bái không phải lúc, như muốn lễ bái không phải lúc thì phải đợi lúc mọi người
yên tĩnh.
Thầy lạy Phật, không được cùng thầy lạy ngang nhau, phải theo sau thầy mà lạy. Thầy xà lạy người, không được cùng thầy đồng xá lạy. Ở trước thầy, không được cùng đồng bậc lạy nhau. Tay cầm kinh tượng thì không được xá lạy người. Không được mặc áo trong lạy người, cũng không được mặc áo trong nhận người lạy.
            Thứ 7, nghe pháp
            Chỉnh đốn y phục. Nhìn bằng, tới thẳng. Ngồi, phải thẳng và nghiêm. Không được nói loạn, không được ho và nhổ lớn.
            Phàm nghe pháp, phải nghe
kỹ, nghĩ rõ, tu đúng. không được chuyên nhớ danh ngôn để cung cấp cho việc đàm luận. Không được chưa lãnh hội xưng lãnh hội, vào tay ra miệng. Tuổi nhỏ, giới lực chưa bền chắc, thì nên học tập khổ hạnh của thầy, không được đến pháp tịch sớm.
            Thứ 8, học tập kinh điển
            Trước hết phải học giới pháp Sa di, nhất nhất làm được. Kế đó nên học kinh luật đại thừa. Không được lén xem Luật tạng Tỷ kheo để thành cái trọng nạn trộm pháp.
            Phàm học kinh thì phải bạch thầy trước, kinh ấy xong thì lại bạch mà học kinh khác
Không được dùng miệng thổi bụi trên kinh. Không được trên bàn kinh mà bọc cất trà mạt, tạp vật. Không được đem mão để trên cuốn kinh. Không được đem kinh luật tiểu thừa để trên kinh luật đại thừa. Không được đem sách ngoài để trên sách trong. Kinh điển hư hỏng, phải cấp tốc tu bổ.
            Không được tay không sạch mà cầm nắm kinh điển. Đối với Kinh như đối với Phật, không được giỡn cười. Không được trên bàn kinh mà để quyển pho dọc ngang mất thứ tự. Không được đem áo lót dơ bẩn hay đồ vật không sạch để trên bàn kinh.
 
 
            Mượn kinh của người mà coi thì phải gia tâm quí trọng, đừng làm hư hỏng. Nếu mượn coi rồi không trả, thì trị giá 5 tiền là phạm giới nặng căn bản : không thể không cẩn thận.
            Khi người xem kinh, không được đi qua trước bàn họ. Không được đọc kinh lớn tiếng động chúng.
            Sa di mà việc gốc chưa thành thì không được học tập sách của ngoại đạo, của tư tưởng gia, của sử truyện, của chính trị, thi, từ, ca, phú, vân vân. Trí lực có thừa, vì chiết phục người ngoài nên học tập sách ngoài, thì không được
 
 
theo sách ấy mà sinh kiến giải. Không được chọn kinh sách ứng phó đạo tràng mà học tập trước.
            Thứ 9, vào tự viện
            Vào cửa chùa, không được đi chính giữa. Phải ven theo bên trái bên phải mà đi. Ven bên trái thì trước bước chân trái, ven bên phải thì trước bước chân phải.
            Không được vô cớ lên đại điện đi chơi. Không được vô cớ lên tháp. Vào điện tháp, phải từ nam qua tây qua bắc qua đông, nghĩa là đi vòng bên phải, không được đi quanh bên trái. Nhiễu tháp thì hoặc 3 vòng, 7 vòng, cho đến 10 vòng, 100 vòng, và phải biết số
 
 
vòng ấy.
Không được đem nón gậy vân vân để dựa vào vách điện Phật. Không được mang guốc gỗ vân vân vào trong điện tháp. Không được tay cầm guốc gỗ vân vân vào trong điện tháp.
            Thứ 10, vào nhà thiền theo chúng
            Trên đơn, không được rủ áo chăn phát tiếng, quạt gió, làm người trên đơn bên cạnh động niệm. Xuống giường thì niệm thầm bài kệ sau đây :
Từ buổi sáng sớm
suốt đến buổi tối,
hết thảy sinh vật
nên tự tránh giữ ;
 
 
nếu rủi mất mạng
dưới chân của tôi,
tôi nguyện tức thì
được sinh cảnh Phật.

            Không được lớn lời to tiếng. Nhẹ tay thả sáo phải đỡ tay phía sau. Không được kéo giày ra tiếng. Không được hoc khan ho đàm lớn ra tiếng. Không được cùng người trên đơn bên cạnh chụm đầu, kề tai, bàn tán thế sự.
            Hoặc bạn thân đến thăm, thì không được nói chuyện lâu ở trong thiền đường. Hãy mời đến dưới cây hay bên suối mới có thể khuynh tâm đàm luận.
            Lên đơn xuống đơn đều phải

giữ tế hạnh, đừng làm người trên đơn bên cạnh động niệm.
            Không được trên đơn viết chép văn tự, trừ khi cả chúng coi kinh điển.
            Nếu coi kinh, phải thẳng mình, lắng lòng, yên lặng nghiền ngẫm, Không được đọc ra tiếng.
            Bảng hai kêu, là nên sớm tới thiền đường, về chỗ.
            Không được trên đơn xúm nhau bày trà, nói tạp. Không được trên đơn may vá áo chăn. Không được nằm ngang, cùng người trên đơn bên cạnh nói chuyện, động chúng.
            Thứ 11, làm việc
            Phải thương tiếc vật của tăng chúng. Phải tùy giáo lịnh của vị tri sự , không được trái, bướng.
            Phàm rửa rau, phải 3 lần đổi nước. Phàm múc nước, trước phải sạch tay.
            Phàm dùng nước, phải nhìn kỹ có trùng không trùng ; nếu có trùng thì lấy là dày lọc đi mới dùng ; nếu mùa đông lạnh lắm thì không được lọc nước xóm, phải chờ mặt trời mọc. Phàm đốt bếp, không được đốt củi thối mục.
            Phàm làm đồ ăn, không được để bẩn trong móng tay.
            Phàm đổ bỏ nước dơ, không được đổ ra đường đi, không được
 
cao tay dơ lên rót bắn ra ;  phải cách đất bốn năm tấc từ từ đổ bỏ nước ấy. Phàm quét đất, không được quét ngược gió, không được dồn bụi đất để sau cách cửa.
            Giặt áo trong, trước hết phải nhặt bỏ rận chấy. Những tháng hè, dùng chậu nước rồi, phải lật úp xuống làm cho khô ráo, nếu để ngửa ra là sinh trùng.
            Không được nước sôi đang nóng mà rót bắn trên đất.
                        Thứ 12, vào nhà tắm
            Trước, lấy nước nóng rửa mặt. Rồi từ trên đến dưới, từ từ mà rửa.
            Không được thô táo ( 1), lấy
 
nước nóng tật người khác. Không được trong nhà tắm mà tiểu giãi. Không được cùng người nói cười ; Nhân thiên bảo giám nói, một Sa di vào tắm mà giỡn cười, nên cảm ra quả báo địa ngục Sôi vọt.
   (1)   Đọc thô tháo là sai. Táo, bộ túc, là lấc cấc, náo động. Tháo, bộ mễ, là gạo còn nguyên (tánh tình y nguyên, chưa thuần hóa).
Phàm có ghẻ nhọt ghẻ lở thì nên tắm sau ; hoặc có ghẻ nhọt đáng sợ, càng nên tránh đi. Không được mặc ý tắm rửa lâu, trở ngại người sau.
            Cởi áo mặc áo  nên thung dung tự tại.
            Cần nước nóng đã nguội hay
còn nóng, thì y lệ mà đánh mõ dài, không được gọi lớn (hoặc chỗ tắm không có mõ dài, thì cũng hòa hoãn nhún nhường mà nói).
                        Thứ 13, vào nhà xí
            Muốn đại tiện tiểu tiện là đi ngay, đừng đợi ở trong cơ thề bức bách mà thảng thốt. Trên sào tre treo áo trực chuyết, phải gấp xếp cho tề chỉnh, lấy khăn tay hoặc dây lưng buộc áo ấy, một là làm dấu nhận biết, hai là phòng rơi xuống đất. Phải cởi đổi giày dép, không được mang giày sạch vào nhà xí.
            Đến nhà xí, phải đàn chỉ hoặc dặng hắng, làm cho người và
 
không phải người ở trong đó biết. Không được thúc bách người ở trước trong nhà xí, làm cho họ phải ra. Đã lên nhà xí, lại phải đàn chỉ ra tiếng (1), làm cho loài không phải người ở trong nhà xí biết.
(1)   Đàn chỉ ra tiếng, nói như thế thì rõ ràng đàn chỉ có 2 loại. Có loại không ra tiếng hay tiếng nhỏ, là gảy móng tay. Có loại có ra tiếng hay tiếng lớn, là ngón tay đánh vào vật khác (như gõ cửa) là các ngón tay đánh vào nhau (như vỗ tay) ; phụ với loại này là dặng hắng. Đàn chỉ mà hiểu và dịch gảy móng tay là gần sai.Không được cúi đầu nhìn xuống. Không được cầm cỏ vẽ đất. Không được rán hơi ra tiếng. Không được cách vách cùng người nói chuyện. Không được nhổ nước
miếng vào vách.
            Tiện lợi hoàn tất, phải rửa sạch, kế đó rửa tay ; chưa rửa tay thì không được cầm nắm đồ vật. Chưa rửa sạch và rửa tay, thì gặp người không được thi lễ ; phải nghiêng mình tránh họ. Không được ven theo đường vừa đi vừa buộc áo dải.
            Khi tiểu giải, cũng phải vén tay áo lên. Tiểu giải rồi là rửa tay cho sạch ; chưa rửa tay thì không được cầm đồ, không được làm lễ.
                        Thứ 14, nằm ngủ
            Nằm, phải nghiêng hông bên phải, gọi là cách nằm cát tường.
 
Không được nằm ngửa, nằm nép, và nằm nghiêng hông bên trái.
            Không được cùng Đại tỷ kheo đồng phòng quá 3 đêm ; hoặc đồng phòng mà ai cũng có đồ ngăn chận, thì quá 3 đêm vẫn không phải là phạm. Không được cùng Đại tỷ kheo ngủ cùng giường ; hoặc có nạn duyên thì được đến 2 đêm, đến đêm thứ 3 thì phải đổi nhau ngồi dậy, trừ coi sóc bịnh nặng hoặc mình có bịnh nặng. Không được cùng Sa di đồng sự chung giường ; nếu không có giường khác thì không được chung chăn, nếu không có chăn khác thì phải ai cũng mặc
áo lót mình, không được để 2 cái mình chạm nhau.
            Phàm treo giày, tất, áo nhỏ vân vân, không được quá đầu và mặt người.
            Không được trước thánh tượng và pháp đường mà mang đồ tiểu tiện đi qua.
            Không được trên giường ngủ mà cười nói lớn tiếng.
            Thiện kiến luật nói, khi muốn ngủ thì trước phải niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm thiên, niệm vô thường ; trong 6 niệm như vậy tùy đó mà niệm.
                        Thứ 15, quanh bếp lò
 
 
            Không được giao đầu tiếp tai nói chuyện. Không được gảy búng cáu bẩn vào trong lửa. Không được hơ sấy giày, bí tất.
            Không được tới lửa quá lâu, trở ngại người sau. Hơi ấm, liền nên về chỗ.
                        Thứ 16, ở trong phòng
            Chào hỏi nhau, phải biết lớn nhỏ.
            Muốn cầm đèn vào, phải bảo trước trong phòng biết, rằng đèn vào ; muốn tắt đèn, rằng  đèn vào ; muốn tắt đèn, phải hỏi trước người cùng phòng, dùng đèn nữa không. Không được dùng miệng thổi tắt đèn, mà nên từ từ lùi tim làm cho tắt đi. Sau khi
 
 
 
tắt đèn, không được lớn tiếng tụng niệm.
            Nếu có bịnh nhân thì nên từ tâm coi sóc từ đầu đến cuối. Có người ngủ thì không được đụng đồ ra tiếng, và lớn tiếng nói cười.
            Không được vô cớ vào phòng viện khác.
                        Thứ 17, đến chùa ni
            Có chỗ ngồi khác mới ngồi. Không có chỗ ngồi khác thì không được ngồi. Không được nói không phải lúc. Về, không được nói sự tốt sự xấu của họ.
 
            Không được thư từ qua lại, và mượn nhờ may vá, giặt rủ, vân vân. Không được chính tay mình vì ni cắt sạch tóc. Không được bảo ni cắt sạch tóc cho mình.
            Không được cùng ni ngồi chỗ che ngăn.
            Không được đưa lễ qua lại. Không được dặn nhờ ni tăng vào nhà hào quí mà hóa duyên và cầu tụng kinh sám vân vân.
            Không được cùng ni kết bái làm cha mẹ, thầy trò, chị em.
                        Thứ 18, đến nhà người
            Có chỗ ngồi khác mới nên ngồi, không được ngồi tạp. Không được ngoái nhìn trái phải. Không
được nói tạp. Không được cười nhiều.
            Người ta hỏi kinh, thì phải biết lúc, thận trọng đừng làm cái việc nói không phải lúc. Nếu thuyết pháp cho nữ nhân, không được thấp tiếng, nói thầm.
            Không được nói nhiều.
            Không được nói dối trá chánh pháp của Phật, đáp rối loạn lời hỏi của người, tự khoe đa văn, cầu họ cung kính. Không được trá hiện uy nghi, giả trang thiền tướng, cầu họ cung kính.
            Chủ nhân thiết trai, dẫu không phải pháp hội, cũng đừng bỏ nghi thức.
 
 
 
            Không được ngồi xen tiệc rượu.
            Không được trong nhà vắng, hoặc chỗ che ngăn, cùng phụ nữ ngồi với nhau, nói với nhau. Không được thư từ qua lại, và mượn nhờ vân vân.
            Không được đưa biếu hộp lễ, học đòi sự qua lại của người đời. Không được kết bái người đời làm cha mẹ, chị em, anh em. Không được quản lý việc nhà của người.
            Không được nói lỗi lầm trong tăng chúng.
            Nếu đến nhà tục thăm người thân, phải trước hết vào chỗ thờ mà lạy Phật, hoặc đến trước tượng thánh trong nhà, nghiêm
 
chỉnh chắp tay, thứ đến cha mẹ, bà con vân vân, nhất nhất chào hỏi. Không được hướng về cha mẹ nói những việc như cái nghiêm của phép thầy, cái khó của xuất gia, tịch liêu đạm bạc, gian nan khổ sở, vân vân ; nên vì cha mẹ mà nói Phật pháp, làm cho cha mẹ phát sinh tính tâm, và tăng trưởng phước đức. Không được cùng thân tộc, thiếu nhi vân vân, ngồi lâu đứng lâu, nói tạp giỡn cười ; cũng không được hỏi đến những việc phải trái tốt xấu trong thân tộc.
            Đừng phạm cái lỗi đi đêm.
            Nếu trời tối, ngủ lại, thì phải
dùng riêng một giường, ngồi nhiều nằm ít, nhất tâm niệm Phật ; việc xong về liền, không được lưu luyến.
                        Thứ 19, khất thực
            Nên cùng bậc lão thành đi chung. Nếu không có bậc lão thành đi chung, thì phải biết chỗ có thể đi.
            Đến cửa ngõ của người, phải xét kỹ cử động, không được mất uy nghi. Nhà không có đàn ông thì không được vào cửa.
            Nếu muốn ngồi, trước phải xem kỹ chỗ ngồi : có khí giới không nên ngồi, có đồ quí không nên ngồi, có y phục và đồ trang
sức vân vân của phụ nữ không nên ngồi.
            Muốn nói kinh, phải biết lúc đáng nói, lúc không đáng nói. Không được nói cho tôi đồ ăn làm cho người được phước. Không được khẩn khoản nài nỉ. Không được nói nhiều về nhân quả, mong họ cho nhiều.
            Không được chuyên đến nơi nhà thí chủ thân tình hay chỗ am viện thân tình mà đòi hỏi đồ ăn.
                        Thứ 20, vào chỗ dân cư
            Có duyên cớ cần thiết, là việc của Tam bảo và thăm bịnh vân vân, mới vào ; không có duyên cớ cần thiết thì không được vào.
 
 
            Không được đi như chạy. Không được đi mà lay động cánh tay. Không được đi mà nhìn qua hai bên những người và vật ; nên mình thẳng, mắt bằng, nhìn ngay mà đi. Không được đi mà cùng thiếu niên nói chuyện. Không được đi mà cùng phụ nữ trước sau đổi nhau. Không được đi mà cùng ni tăng trước sau đổi nhau. Không được đi mà cùng người say người cuồng trước sau đổi nhau. Không được cố nhìn phụ nữ. Không được dùng khóe mắt nhìn qua phụ nữ.
            Hoặc gặp tôn túc, thân thức, đều nên đứng chỗ thấp hoặc một
 
bên, chào hỏi trước. Hoặc gặp những sự kỳ quái như trò chơi, ảo thuật vân vân, đều không nên xem. Hoặc gặp quan quyền, bất kể lớn nhỏ, đều nên tránh đi. Hoặc gặp kẻ đánh nhau, cãi nhau, cũng tránh xa họ, không được đứng ngó.
            Phàm gặp nước hố, nước lở, không được nhảy qua ; có đường khác thì nên đi vòng quanh, không có đường khác mà mọi người đều nhảy qua thì được. Không phải lý do bịnh và việc khẩn cấp thì không được cỡi lừa, ngựa, vân vân ; dẫu có việc và lý do mà phải tạm cỡi, cũng không
 
được đùa giỡn, ra roi dục chạy cho mau.
            Không được về chùa khoa trương những sự kỳ lạ đã thấy.
                        Thứ 21, mua đồ
            Đừng tranh đắt rẻ. Đừng ngồi hàng quán phụ nữ. Nếu bị người xúc phạm thì phương tiện tránh đi, đừng theo mà mưu cầu giá cả. Đã hứa mua vật của ai, thì dầu vật của người khác rẻ hơn, cũng đừng bỏ vật kia lấy vật này, làm cho chủ vật kia tức giận.
            Thận trọng, đừng bảo lãnh kẻo dẫn đến lỗi và nợ.
                        Thứ 22, làm gì cũng
không được tự ý
 
            Ra vào đi lại, phải bạch thầy trước. Làm pháp y mới, phải bạch thầy trước. Mặc pháp y mới, phải bạch thầy trước. Cạo đầu, phải bạch thầy trước. Tật bịnh uống thuốc, phải bạch thầy trước. Làm việc tăng chúng, phải bạch thầy trước. Muốn có đồ riêng, thuộc loại giấy bút, phải bạch thầy trước. Nếu tụng kinh tán kệ, phải bạch thầy trước.
            Nếu người đem đồ thi ơn cho mình, phải bạch thầy trước, thầy cho nhận mới nhận ; mình muốn đem đồ thi ơn cho người, phải bạch thầy trước, thầy chấp thuận mới đưa. Người từ mình mượn đồ,
 
phải bạch thầy trước, thầy chấp thuận mới cho mượn ; mình muốn mượn đồ của người, phải bạch thầy trước, thầy chấp thuận mới mượn.
            Bạch thầy, thầy chấp thuận hay không chấp thuận, đều phải làm lễ. Thầy không chấp thuận, không được có ý giận.
                        Thứ 23, tham học
            Muốn quyết trạch tâm địa, phải bạch thầy hỏi chỗ có thể tham học, Thầy hoặc chưa biết thì phải rộng hỏi các vị biết trước. Phải tìm hỏi cho được vị Thiện tri thức chân thật mới có thể đến tham học. Cổ nhân dạy, có đủ con mắt để nhìn thấy mới nên đi
 
tham học phương xa. Đã chưa có đủ con mắt để nhìn thấy, lại không được người thấu đáo trước chỉ bảo cho, thì chỉ tự hành cước một cách vô ích, lấp kín tòng lâm, cơm cháo tốn phí, tập khí y nguyên, đối với công việc quyết trạch tâm địa đâu có ích gì, hãy thận trọng, thận trọng.
            Đi xa cần nhờ bạn tốt. Và không được nhìn ngắm non nước, chỉ toan tính du lịch mà xem cho rộng để khoe bảo với người.
            Đến đâu thì buông hành lý, không được vào thẳng điện đường. Phải một người coi hành lý, một người vào trước chào hỏi, chịu lấy
 
qui củ tiến chỉ của thường trú chỗ ấy, mới có thể thu xếp hành lý vào phía trong.
                        Thứ 24, già nạn của sự
lãnh thọ cụ túc giới
            Mười ba trọng nạn : Một, làm hỏng nội đạo ngoại đạo (là sau khi lãnh thọ cụ túc giới lại vào trong ngoại đạo, bây giờ trở lại xin lãnh thọ cụ túc giới nữa). Hai, phá hư phạn hạnh của người khác (là người khác lãnh thọ giới pháp 7 chúng của Phật, mà đầu tiên làm cho họ phá giới căn bản). Ba, tâm giặc cắp mà nhập đạo (là chưa lãnh thọ cụ túc giới mà lén nghe Tỷ kheo thuyết giới
 
và lén xem Luật tạng Tỷ kheo). Bốn, hoàng môn (là 5 loại không hoàn toàn đàn ông). Năm, hai căn (là 1 thân mà có 2 căn nam nữ). Sáu, súc sinh (là rồng, khỉ, vân vân, biến làm hình người cầu lãnh thọ cụ túc giới). Bảy, không phải loài người (là chư thiên, tu la, quỉ thần, biến làm hình người, cầu lãnh thọ cụ túc giới). Tám, phạm tội bên ngoài (là từng lãnh thọ 5 giới, 8 giới, 10 giới và cụ túc giới, mà sau đó, đối với 4 sự giết người, trộm 5 tiền, tà dâm, đại vọng ngữ, tùy phạm 1 sự). Chín, giết cha. Mười, giết mẹ. Mười một, giết A la hán. Mười hai, phá hòa hợp tăng. Mười ba,
 
làm chảy máu thân Phật.
            Mười sáu khinh già : Một, không được độ cho đày tớ (chủ cho họ của chủ thì được
). Hai, không được độ cho giặc (ngoài ngàn dặm và đổi nết theo lành thì được). Ba, không được độ cho người mang nợ (hoặc trả rồi, hoặc bạn thân trả thay, hoặc chủ nợ đã xóa bỏ, thì được cả). Bốn, không được truyền thọ cụ túc giới cho người tuổi chưa đầy 20 (chờ đầy 20 thì được). Năm đến Chín, không được độ cho 5 loại bịnh nhân : lại, bạch lại, ung thư, càn tiêu, điên cuồng (bịnh lành thì được). Mười, cha mẹ không thuận,
 
không được độ cho xuất gia (xin thuận thì được). Mười một, không được độ cho quan nhân (hết ăn lộc vua thì được, vua thuận cũng được). Mười hai, không được không có ý bát mà lãnh thọ cụ túc giới, cũng không được mượn ý bát mà lãnh thọ cụ túc giới (hoặc người cho mượn hứa cho người mượn sắm đủ rồi mới trả, chứ không đòi ngay thì được). Mười ba, không tự xưng tên. Mười bốn, không chịu xưng tên hòa thượng. Mười lăm, dạy xin giới pháp mà không xin. Mười sáu, mặc áo bạch y, áo ngoại đạo, đồ trang sức vân vân.
            Lại tuổi 60 thì không được
 
 
lãnh thọ cụ túc giới, chỉ cho làm sa di.
                        Thứ 25, phép thỉnh hòa thượng
            Không có vị hòa thượng thì không được lãnh thọ cụ túc giới. Có 2 vị hòa thượng, cho đến có nhiều vị hòa thượng, cũng không được lãnh thọ cụ túc giới. Khi muốn lãnh thọ cụ túc giới, nếu bổn sư hòa thượng truyền thọ 10 giới còn ở trước mắt, thì không cần thỉnh cầu ai nữa. Nếu bổn sư đã không còn ở trước mắt, thì lại phải chọn bậc minh sư mà thỉnh cầu.
            Hãy thiên đản, hồ quì, hiệp chưởng mà nói như vầy. Con tên
 
 
 
xx, nay thỉnh đại đức làm hòa thượng, xin đại đức làm hòa thượng cho con, con nhờ đại đức mà được lãnh thọ cụ túc giới. Nói như vậy 3 lần.
                        Thứ 26, danh tướng 6 vật
của Tỷ kheo
          Một là An đà hội, xứ này dịch là trung túc y, cũng gọi là tạp tác y. Hoặc 5 điều, 1 dài 1 ngắn ; hoặc man điều, hoặc 7 điều, 9 điều, vân vân, đã cũ, giáng xuống làm An đà hội mà thọ trì được cả. Mỗi người tùy thân lượng của mình : dọc 3 trửu, ngang 5 trửu, lấy đó làm mức độ, có thể bớt, không thể thêm ; không được như
 
ngày nay dọc 3 ngang 6. Hai y dưới đây cũng đồng như vậy.
          Hai là Uất đa la tăng, xứ này dịch là thượng trước y, cũng gọi là nhập chúng y. Đúng là phải 7 điều, 2 dài 1 ngắn. Phải cắt đứt vải ra mà may lại. Người nghèo thì thiếp điều cũng được. Hoặc 9 điều vân vân, hơi cũ, giáng xuống làm uất đa la tăng cũng được.
          Ba là Tăng già lê, xứ này dịch là trùng y, cũng gọi là tạp toái y. Phải 9 điều 2 dài 1 ngắn. Tăng kỳ luật cho đến 15 điều, không được quá. Tứ phần luật cho đến 19 điều, không được quá. Căn bản luật cho đến 25 điều, không được
 
quá. Phải cắt đứt vải ra mà may lại. Người nghèo, nếu có Uất đa la tăng cắt đứt vải ra mà may lại thì thiếp điều Tăng già lê cũng được.
          Bốn là Ni sư đàn, xứ này dịch tọa cụ. Phải làm 2 lớp. Dài bằng 2 gang rưỡi của Phật (5 thước của thước nhà Châu) rộng bằng 2 gang (4 thước của thước nhà Châu). Khi nằm thì trải trên đồ nằm để đỡ thân, khi ngồi thì trải trên mặt đất để đỡ y.
          Năm là Bát đa la, xứ này dịch là ứng lượng khí. Hoặc dùng đất hoặc dùng sắt mà làm. Lớn không quá 3 thăng, nhỏ không quá thăng rưỡi. Khất thực thì dùng.
 
           Sáu là Lự thủy nang, dùng lụa thứ mịn, chín và dày mà làm. Không được không có lụ thủy nang mà đi 20 dặm. Đó là cái đồ sử dụng chính yếu trong việc hộ vệ vi sinh, cứu giúp sinh vật, thi hành từ bi, quyết định không thể thiếu.
            Những kệ chú đắp y, văn Luật không chép, tuồng như không quyết định phải dùng đến. Trong Luật, điều tối quan trọng là, trong tất cả thì gian, phải chuyên tu phép quán tứ niệm xử, vậy không thể không cấp tốc giảng giải để người xuất gia tìm hiểu.
 
Phụ lục
            ... Trong luật Tăng kỳ, Phật quở sự che giấu, rằng đã phạm giới mà còn không biết hổ thẹn ăn năn ! Tại sao phải hổ thẹn, Ngài liền nói bài kệ sau đây :
                        Che đậy lại thì lọt,
mở ra không lọt nữa ;
vì vậy, kẻ che đậy
nên mở cho khỏi lọt.
            ... Trong kinh Phật tạng dạy, kẻ phá giới thì không nên, dầu trong khoảnh khắc gảy móng tay
mà thôi, sông dưới hình thức của các vị thánh giả, cái hình thức áo ca sa.
            ... Trong kinh Bồ tát thiện giới nói, 32 tướng, tuy mỗi tướng đều nói về nhân duyên của nó, nhưng cái nhân duyên thật, là sự giữ giới tinh tiến, tại sao, nếu không thể giữ giới, không thể tinh tiến, thì thân người còn không được, huống được 32 tướng ?
 
 
Bản sa di lục yếu này rất cần cho các vị giáo thọ để dạy cho Sa di, lại cần hơn nữa cho Sa di để học giới ấy. Cần lắm lắm. Xin nghiêm chỉnh và chân thành mà thưa như vậy. Cả hai bản Sa di giới và Sa di ni giới đều thiếu khá nhiều điều trong bản Sa di lục yếu này. Cho đến nay, bản Sa di lục yếu này chưa thể thay thế được.
Phật đản 2554,
Trí quang cẩn bạch
 
/31
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »