396 - Kinh Bồ Tát Tùng Đâu Thuật Thiên Giáng Thần Mẫu Thai Thuyết Quảng Phổ - Quyển II - Phẩm 4: Phật Thọ (Trang 689 - 709)">
Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1139.

Chương 28: Kinh Bồ Tát Tùng Đâu Thuật Thiên Giáng Thần Mẫu Thai Thuyết Quảng Phổ - Quyển II - Phẩm 4: Phật Thọ (Trang 689 - 709)

KINH  BỒ  TÁT  TÙNG  ĐÂU  THUẬT THIÊN
GIÁNG  THẦN  MẪU  THAI  THUYẾT
QUẢNG PHỔ

 
QUYỂN  II
 
Phẩm  4: PHẬT  THỌ
 
Sắp nhập vào cảnh giới Niết-bàn Vô dư, Đức Thế Tôn cho nhóm họp các Bồ-tát có thần thông, đức lớn và dùng thần thông biến hóa, giảng nói pháp không thể nghĩ bàn:
–Ta  có  thể  biến  hóa  làm  cây  bảy  báu  vượt  qua  sông  dài  này. Người nào bị chìm đắm trong sinh tử thì được giải thoát. Rồi liền nhập vào định Lưu ly, Tam-muội Vô hình.
Về phương Đông, cách cõi Ta-bà này sáu mươi bốn ức hà sa cõi, Ta biến hóa cây bảy báu đầy khắp trong đó. Thân, nhánh, cành, lá, quả trên các cây báu ấy đều có cung điện bảy báu. Mỗi cung điện có  một Đức Phật. Chư Phật đều giảng nói bốn pháp vô thường. Đằng sau có vườn và ao với  nhiều  loài chim tụ  tập, dạo chơi trong  vườn ấy,  thật hoan lạc không gì tả nổi. Trong ao mọc hoa sen Ưu-bát, hoa Tu-càn- đề, hoa Mạt-càn-đề.  Trên bờ có hoa  Chiêm-bặc, hoa Tu-mạn-la với mùi  hương  Ngưu-đầu-chiên-đàn,  hương  vụn.  Cờ  phướn,  lụa  trời  treo đầy hư không.
Khi ấy, vua thần gió tên Tùy Ý phóng gió đại hương thổi lá cây bảy  báu  đưa  qua  đưa  lại,  mềm  mại  dịu  dàng,  làm  lay  động  cành  lá chạm vào nhau phát ra tám loại âm vang. Kỳ lạ nữa là phóng ra ánh sáng lớn. Tám loại âm thanh của Như Lai là nhằm độ người chưa  độ. Ai thấy điềm ứng ấy liền nói: “Xưa kia ta không nghe như thế và cũng không thấy tướng sinh diệt vô thường, đâu phải là huyễn hóa chăng?”.
Bấy giờ, trong cung điện trên cây bảy báu, chư Như Lai Chí Chân
Đẳng Chánh Giác phát ra âm thanh lớn, xiển dương pháp không thể nghĩ  bàn  khó  có,  giảng  nói  trong  Bát  địa  làm  trang  nghiêm  các  cõi Phật. Giống như có người thích nhìn nước của biển cả, cách biển một trăm do-tuần không thấy các cây cối đâu cả, gặp được một sông lớn liền nếm vào thì biết biển còn xa. Khi ấy, tự mình làm phương tiện  để qua biển. Đến lúc không còn thấy hình tướng, niệm định như hư không thì mới đến bờ biển. Dùng tâm vô úy để tự trang nghiêm thân và  nói: “Lành thay đại Thánh, những gì con mong muốn nay đã đạt được,  thật là sung sướng vui mừng không mệt mỏi”.
Ngay khi ấy, người này xả bỏ hết những gì trong cuộc sống để vào biển. Những ước nguyện xưa  đều hiện  ra  trước  mặt.  Đại  Bồ-tát cũng  vậy,  dứt  bỏ  Nhất trụ  để  lên  đến  địa Lục  trụ, dẹp  trừ  các  kiết  sử cho chúng sinh, không còn vướng lại một chút nào cả. Nay  ta thành Phật, tất nhiên không nghi ngờ. Đó gọi là ở trong thai Đại Bồ-tát trang nghiêm cây giác ngộ.
Lại nữa, Đại Bồ-tát tự mình muốn thân tướng trang nghiêm,  đầy đủ ba mươi hai tướng chân thật của đại nhân không. Từ đỉnh đầu xuống đến chân, chân có ngàn bánh xe, mỗi bánh xe có ngàn căm hoa,  mỗi căm hoa có ngàn tướng, mỗi tướng có sáu độ vô cực tạo thành.  Không thấy đảnh tướng tức là phá núi kiêu mạn, đắc thành tướng nhục kế.
Từ vô số a-tăng-kỳ kiếp, ta đã được quả báo không phạm dâm dục nên được tướng mã âm tàng. Tướng mã âm tàng có công năng phá trừ  các  tà  kiến  và  phóng  tướng  ánh  sáng  khắp  hằng  hà  sa  cõi  trong mười phương, mỗi ánh sáng đều có hóa Phật, mỗi hóa Phật đều ngồi nơi tòa cao bảy báu phát ra âm thanh diễn nói sáu độ vô cực như  pháp mà chư Như Lai thường nói là khổ, tập, diệt, đạo, bố thí, trì giới, nhẫn nhục,  tinh  tấn,  thiền  định,  trí  tuệ  Ba-la-mật,  dùng  phương  tiện  thiện xảo  làm  cho  hiểu  rõ  các  pháp:  Không  không,  đại  không,  vô  lượng không, nội không, ngoại không, tối không, hành không, tướng  không, báo không, diệt tam tai không, tam minh báo không, tam tuệ không, tam  đạt  không,  tam  đẳng  không,  tam  thế  không,  ba  phần  pháp  thân không, ba cõi tịch tĩnh không; quá khứ, hiện tại và vị lai không. Đó  là tướng quả báo do không dâm dục của Đại Bồ-tát.
Từ a-tăng-kỳ kiếp đến nay, ta luôn tu miệng thanh tịnh, không
đến người kia nói chuyện người này, không đến người này nói  chuyện người kia, nên đắc tướng lưỡi dãi rộng biến khắp a-tăng-kỳ hằng hà sa cõi trong mười phương, phóng ánh sáng từ tướng lưỡi, mỗi ánh sáng đều  có  hóa  Phật,  mỗi  hóa  Phật  đều ngồi  trên  tòa  bảy  báu  dùng  âm thanh thanh tịnh diễn nói vô lượng khẩu hành. Do  nghiệp báo thanh tịnh chân thật tạo ra nên thành tựu bốn vô úy, hiểu rõ các pháp  không đến,  không  đi,  âm  vọng  thanh  tịnh,  vượt  qua  nỗi  sợ  sinh  tử  không chướng ngại, phân biệt rõ ràng mỗi âm thanh vọng lại của chúng sinh, diễn  nói  với  vô  lượng  trí  tuệ  biện  tài,  vượt  qua  vực  sâu  trong  năm đường, mỗi pháp mỗi pháp đều được thành tựu, lấy chín giải thoát để tự làm anh lạc, đầy đủ mười lực không tánh vô hình, không thể nào cản trở phá hoại được. Người nào nghe pháp đều được tin hiểu. Đó gọi là quả báo nơi tướng lưỡi miệng thanh tịnh của Đại Bồ-tát.
Từ vô số a-tăng-kỳ kiếp, ta đạt được tướng âm vang biến khắp ba ngàn đại thiên quốc độ, lời nói nhẹ nhàng, hòa  nhã, không thô bạo, xuất ngôn đều thành tựu, không do người khác dạy bảo. Ai nghe âm vang ấy đều vui vẻ. Trong âm vang này cũng có vô số âm vang  thanh tịnh  được  nói  ra,  như  pháp  mà  chư  Như  Lai  thường  nói  là  mười  hai nhân duyên: si, hành… sinh tử. Tự quán thân mình, quán thân người, quán trong ngoài thân, hơi thở dài cũng biết, hơi thở ngắn cũng biết. Giáo hóa chúng sinh đạt đến chứng đắc nhưng cũng không trụ vào chỗ chứng đắc. Âm vang ấy phát ra tướng ánh sáng, mỗi ánh sáng đều  có hóa Phật, mỗi hóa Phật đều ngồi trên tòa cao bảy báu và giảng nói  vô lượng  pháp  môn  cho  chúng  sinh.  Tâm  đạt  đến  giải  thoát  không,  vô tướng, vô nguyện. Quán rõ các pháp đều vô sở hữu. Thường lấy bốn việc từ, bi, hỷ, xả, bốn thiền, bốn đế, pháp môn chúng trí, pháp môn đắc tổng trì, pháp môn nhanh nhạy, pháp môn ứng thanh, pháp môn biện tài, vô lượng pháp môn luôn hiện tiền. Tâm thường hiện bày diệu dụng nơi vô lượng trăm ngàn Tam-muội. Đó gọi là quả báo tướng âm vang của Đại Bồ-tát.
Từ  vô  số  a-tăng-kỳ  kiếp,  ta  luôn  tu  tâm  thanh  tịnh,  nhất  tâm chánh niệm, biết hổ thẹn, giữ tâm một chỗ, không nghĩ đến một việc gì khác, dòng tư tưởng không vướng mắc trần cấu. Nếu có người nào  đến hủy  nhục  cũng  không  có  tâm  lo  buồn.  Giả  sử  được  khen  ngợi  cũng
không lấy làm vui, tâm không bao giờ chuyển đổi. Làm việc gì đều chắc chắn, giống như đất khó lay động. Từ vô số kiếp từng phụng  thờ chư Phật, giảng nói pháp vi diệu cho chúng sinh. Việc làm không  dối trá, một lòng hướng về đạo. Nơi nào có Phật,
Pháp, Tăng thì đích thân đến giáo hóa, giảng nói, bàn luận vô lượng pháp môn tổng trì.  Những pháp bàn luận đó là những bộ luận: Thí luận, Giới luận, sinh thiên, dục là bất tịnh, Niết-bàn là an lạc. Hướng dẫn chúng sinh nhập vào định, Tam-muội, phân biệt về khổ đế để lìa bỏ bốn trói buộc, diệt trừ  pháp tập, diệt hết  đại phần  kiết sử.  Đạo là trừ những tạp uế, chứng pháp nhẫn Vô sinh, trụ vào Bất thoái chuyển, đắc quán thanh tịnh, biết tâm của chúng sinh nghĩ gì và tùy theo mỗi loại để khai thị, giáo hóa, đắc thành đạo quả, giống như tấm vải trắng tinh mới sản xuất thì rất dễ nhuộm màu. Thường tự thâu giữ tâm, không chê trách khuyết điểm của người khác, thường thích nơi yên tĩnh, không ở chỗ ồn ào. Nhập vào chúng Tỳ-kheo thì oai nghi đầy đủ. Nếu nhập vào thiền định thì gắn chặt tâm ý vào ánh sáng. Kinh hành qua lại tâm không biếng nhác, ngã mạn. Ở trong đại chúng có tài năng như sư tử hống, phân biệt không tánh đều vô sở hữu. Đó là tâm thanh tịnh của Đại Bồ-tát.
Từ vô số a-tăng-kỳ kiếp, ta từng tu pháp môn tổng trì không  trở ngại, hư hoại. Nghe một được trăm, nghe trăm đắc ngàn, nghe ngàn đắc vạn, nghĩa của từng câu từng chữ mà chư Phật nói ra đều nằm lòng không quên mất. Đó là Đại Bồ-tát thành tựu pháp môn tổng trì.
Từ vô số a-tăng-kỳ kiếp, ta thường tu tập quán hành vô  thường. Tất cả các pháp đều quy về luật vô thường, có sinh thì có diệt. Ở đâu, nơi nào cũng đều làm hưng thịnh chánh pháp để trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật. Những gì nói ra đều chân thật chắc chắn. Tự mình biết những nơi từng sống trong đời trước, thuyết pháp giáo hóa chúng  sinh, tâm thức kiên cố, có thần thông vô úy không thể nghĩ bàn. Từ vô số kiếp đã chứa nhóm các hạnh khổ. Những thệ nguyện đã phát không bao giờ trái với bản hạnh. Hiện bày tiếp cận các pháp tự tại không nghi ngờ. Đó là Đại Bồ-tát thành tựu pháp môn Tổng trì.
Từ vô số a-tăng-kỳ kiếp, ta từng tu Nhãn thần thông, biết hết tất cả các loài chúng sinh trong mười phương: Hạng hợp với không  hành hay không hợp với không hành, hạng có tâm định hay không có tâm
định, hạng có tâm loạn hay không có tâm loạn, hạng có ý chí như  kim cang hay không có ý chí như kim cang, hạng có định tư duy hay  không có định tư duy. Cõi trời, cõi người, cõi ngạ quỷ, cõi súc sinh, cõi địa ngục,  với  thiên  nhãn  ta  đều  thấy  biết  tất  cả:  Thấy  chúng  sinh  này hướng đến Niết-bàn Vô dư hay Niết-bàn vô dư y; cũng biết chúng sinh này ở trong thân trung ấm chứng Niết-bàn, biết chúng sinh kia hướng về Tu-đà-hoàn đắc quả Tu-đà-hoàn, hướng về Tư-đà-hàm đắc quả Tư- đà-hàm, hướng về A-na-hàm đắc quả A-na-hàm, hướng về  A-la-hán đắc quả A-la-hán, hướng về Phật-bích-chi đắc quả Phật-bích-chi. Cũng quán chúng sinh xuất gia tu khổ hạnh không bỏ lời nguyện xưa, cạo bỏ râu tóc, thân đắp pháp phục nhập vào Tam-muội Sư tử du bộ, ở bên gốc cây Thọ vương tư duy quán, trải qua một ngày, hai ngày, cho  đến bảy ngày; hoặc một năm, hai năm, cho đến bảy năm; hoặc một  kiếp, hai  kiếp,  cho  đến  bảy  kiếp.  Đó  là  Đại Bồ-tát  thành  tựu  Thiên  nhãn thông.
Từ vô số a-tăng-kỳ kiếp, ta từng tu Nhĩ thần thông, nghe hếtthảy quả báo của chúng sinh trong mười phương: đen có quả báo đen, trắng có quả báo trắng, không đen không trắng có quả báo không đen không trắng, hữu lậu có quả báo hữu lậu, vô lậu có quả báo vô lậu. Nghe âm vang thanh tịnh của chúng sinh ấy, tiếng không phải nam, tiếng không phải nữ, tiếng dịu dàng không phải nam không phải nữ, tiếng không dài  không  ngắn,  không  phải  tiếng  phi  nhân,  tiếng  Phạm  âm,  tiếng thanh tịnh, tiếng hòa nhã của Già-la-tỳ la, tiếng không thô, tiếng không tế. Lại dùng thiên nhĩ nghe chúng sinh ấy trừ bỏ trần cấu, đoạn diệt các trói buộc, không trụ vào tướng quá khứ, hiện tại và vị lai. Trụ cũng không  trụ,  không  trụ  cũng  không  trụ.  Ta  không  trụ,  không  trụ  cũng chẳng phải không trụ, người thành Phật hay không thành Phật,  người thành đạo hay không thành đạo, người sinh thiên hay không sinh thiên, người sinh làm người hay không làm người, người sinh vào cõi ngạ quỷ hay không sinh vào cõi ngạ quỷ, người sinh vào cõi địa ngục hay không sinh vào cõi địa ngục, người sinh vào cõi súc sinh hay không sinh vào cõi súc sinh, phân biệt năm đường với thiên nhĩ thông đều nghe biết hết tất cả. Đó là Đại Bồ-tát thành tựu Thiên nhĩ thông.
Từ vô số a-tăng-kỳ kiếp, ta từng tu Tỷ thần thông, ngửi hết  thảy
vô lượng mùi của chúng sinh trong mười phương: biết rõ ràng mùi thiện mùi ác, mùi thô mùi tế, mùi trong mùi ngoài, mùi thế tục, mùi đạo cho đến mùi Bồ-tát ngồi bên gốc cây Thọ vương, mùi giới, mùi định,  mùi tuệ, mùi giải thoát, mùi giải thoát tri kiến, mùi chỉ dạy chúng sinh với đại bi vô biên, mùi thương xót chúng sinh, mùi vui vẻ dịu dàng, mùi buông xả bao la, mùi thần thông vô úy, mùi giác lực căn bản, mùi  phá mạn tự cao, mùi tự nhiên xông ướp tất cả, mùi trang nghiêm Phật đạo, mùi hướng đến ba môn giải thoát, mùi tướng thù thắng, mùi quả báo minh hạnh, mùi phân biệt vi trần, mùi ánh sáng chiếu xa, mùi nhóm chúng hòa hợp, mùi năm tụ thanh tịnh, mùi trì nhập bất khởi, mùi diệt trừ các cấu bẩn, mùi quán diệt các cấu bẩn, mùi nghe giới bố thí,  mùi hổ thẹn không kiêu mạn, mùi thắng pháp của tiên nhân, mùi nói  pháp vô ngại, mùi xá-lợi lưu hành khắp, mùi phong ấn Phật tạng, mùi bảy báu vô tận.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ:
Núi Ma-già xuất hiện
Hoa hương và chiên-đàn
Tất cả hương ba cõi
Không bằng hương của giới.
Hương giới diệt các cấu
Đến đâu đều hiện quán
Bồ-tát bất thoái chuyển
Hướng Niết-bàn bậc nhất.
Ví như người bắn giỏi
Ngước bắn lên hư không
Lực tên vút trên cao
Rồi rơi lại xuống đất.
Đức hương xa cùng tận
Không bao giờ trở lại
Nay nói hương thân
Phật Giới, định, tuệ, giải thoát.
Qua ức ngàn vạn kiếp
Không sao hết hương Phật
Nếu qua ngàn vạn kiếp
Phật khen công đức Phật.
Đại Thánh không thể tận
Thân Phật hương giới đức
Pháp oai nghi chư Phật
Trước thọ ký bổ xứ.
Năm mùi thơm trong miệng
Trên đến trời Đao-lợi
Trở lại đến chỗ Phật
Nhiễu thân Phật bảy vòng.
Chư Thiên rải hoa hương
Khen ngợi chưa từng có
Hương định tỏa rất xa
Cứu độa-tăng-kỳ.
Khi Đức Thế Tôn nói kệ này xong, trong hội có hai mươi na-do- tha chúng sinh tâm thức được khai ngộ và đều phát tâm: Nguyện muốn sinh về cõi Phật Hương Tích. Đó là Đại Bồ-tát thành tựu Tỉ thông.
Từ vô số a-tăng-kỳ kiếp, ta từng tu thần thông về khẩu nghiệp, nói năng qua lại không bao giờ ngưng trệ giữa chừng. Tất cả mỗi lời nói nói ra đều có ánh sáng: Môi có ánh sáng của môi, răng có ánh sáng của răng, lưỡi có ánh sáng của lưỡi. Giữa đại chúng, Như Lai giảng nói pháp thâm diệu, tất cả pháp ấy đồng một tên là A. A là vô. Vô có ngàn vạn  nghĩa,  trong  ngàn  vạn  nghĩa  lấy  một  nghĩa.  Vô,  nghĩa  là  độ  vô lượng chúng sinh.
Hai tên là La. La là trừ cấu. Trừ cấu có ngàn vạn nghĩa. Trong ngàn vạn nghĩa lấy một nghĩa trừ cấu, nghĩa là trừ cấu uế cho vô lượng chúng sinh.
Ba là Ba giá. Ba giá còn tên là Quả thục. Quả thục có ngàn  vạn nghĩa, lấy một nghĩa Quả thục, tức khiến cho vô lượng chúng sinh đều đắc quả thành thục.
Bốn tên là Na. Na là nghĩa phi thường. Nghĩa phi thường có ngàn vạn nghĩa. Trong ngàn vạn nghĩa lấy một nghĩa phi thường, tức  khiến cho họ vô lượng chúng sinh đều hiểu rõ không có thường.
Năm tên là Trà. Trà là vô tận. Nói về vô tận nghĩa là nói có thì không có, nói không thì cũng không không. Nghĩa vô tận có ngàn   vạn
nghĩa. Trong ngàn vạn nghĩa lấy một nghĩa vô tận, tức khiến cho chúng sinh được hiểu rõ sự cùng tận. Đó là nghĩa tận của Trà.
Vô lượng Hằng hà sa chư Phật trong mười phương về oai nghi thọ thực thì dưới từ Diêm-phù-đề trên đến mười tám cõi trời đều thấy Như Lai thọ thực. Bồ-tát từ Nhất trụ đến Tứ trụ thấy yết hầu lưu ly của thân Như Lai. Bồ-tát bất thoái chuyển cho đến cửu địa thấy trời Kiện Tật dâng thức ăn cho Như Lai, rồi đến phương khác thi hành Phật sự. Đó là quả báo về khẩu thần thông của Như Lai. Như Lai hiện tại có ăn mùi vị này đến mùi vị khác nhưng mùi vị bất động, không nuốt không nhai. Khi Thế Tôn đưa bánh vào miệng thì nghĩ nhớ đến chúng sinh trong mười phương đều cũng có mùi vị này. Theo sự nhớ nghĩ đó mà tất  cả đều được no đủ, giống như Tỳ-kheo đắc chín thứ thiền, tâm nhu hòa dịu dàng, luôn thấy no ngon. Đó là Đại Bồ-tát với khẩu thông thanh tịnh.
Xưa kia trải qua vô số a-tăng-kỳ kiếp, ta từng tu thân thần thông, phân biệt rõ ràng trong thân tưởng tịnh hay bất tịnh, tưởng bất tịnh  hay tịnh, ba mươi sáu thứ cấu uế tiết ra ngoài không thật. Tóc, móng tay, răng, xương, máu, nước  mắt, tư duy xuôi ngược, đem pháp thân của mình quán thân chúng sinh cũng như vậy. Tự hóa thân của mình  sình trướng lên, hôi thối nát rữa, máu mủ chảy ra. Hoặc hiện thân với xương trắng màu tro, màu xanh ứ bầm, màu đen điu giống như màu đất. Thấy thân này, vô lượng chúng sinh đều sinh suy nghĩ tưởng đến vô  thường, khổ,  không,  vô  ngã.  Hoặc  giảng  nói  pháp  nghiệp  báo  của  thân  cho chúng sinh: “Thân này chẳng phải là thân, vậy thì cái gì là thân?  Mỗi mỗi phân biệt rõ ràng từ đầu xuống chân đều vô sở hữu. Do không  có thân nên không có thức”. Nghe điều này, chúng sinh suy nghĩ tư duy về thân ô uế bất tịnh, giống như cõi trời Quang Âm thanh tịnh quán xuống đến sự ô uế hôi thối trong cõi Diêm-phù-đề. Mùi hôi thối  xông lên đến cả bảy ngàn vạn dặm. Vì thế Bồ-tát không sinh lên cõi trời Quang  Âm.  Với  thân  thần  thông,  Bồ-tát  nhập  vào  Tam-muội  Kim cang, nghiền nát thân như bụi trần, mỗi hạt bụi đều là một hóa Phật, cứu vớt vô lượng a-tăng-kỳ loài chúng sinh mà hiện tướng sắc thân. Trên thân ra lửa, dưới thân ra nước; dưới thân ra lửa, trên thân ra nước. Phía Đông nổi lên, phía Tây chìm xuống. Phía Tây nổi lên, phía Đông
chìm xuống. Hiện mười tám loại thần biến, Như Lai làm cho các chúng sinh đều thấy Như Lai biến hóa và ngay lúc ấy tất cả đều giác ngộ, đoạn trừ sạch các kiết sử và nhập vào đạo vô vi. Mỗi hạt bụi hóa ra Phật, hiện thân để giáo hóa, cứu độ vô lượng a-tăng-kỳ chúng sinh. Đó là thân Như Lai giáo hóa mật kín nhưng không nói pháp.
Từ  vô  số  a-tăng-kỳ  kiếp,  ta  từng  tu  tập  ý  thức,  thành  tựu  thần thông của Bồ-tát, thâu giữ tâm nhập định, dạo đến vô lượng cõi Phật, giống như lực sĩ co duỗi cánh tay, trong khoảnh khắc đã về lại chỗ cũ. Ý thức của Bồ-tát cũng nhập vào hóa sinh, thai sinh, thấp sinh và noãn sinh, hiện ra thần biến không thể nghĩ bàn để giáo hóa, lập tức ngay chỗ đó thành đạo vô vi. Đối với các thần thông, ý thức Bồ-tát rất tối thượng,  chẳng  phải  điều  mà  Phật-bích-chi,  A-la-hán  suy  nghĩ,  luận bàn. Vì sao? Vì chẳng phải là cảnh giới của họ.
 
**
 
Phẩm  5:  TAM  THẾ  ĐẲNG
 
Khi ấy, trong pháp hội có một vị Bồ-tát tên Hỷ Kiến, với biện tài vô ngại, bước vào Thập trụ. Những gì Như Lai hành, vị ấy đều nắm vững. Bồ-tát ấy đứng dậy, rời khỏi tòa, trịch bày vai phải, gối phải quỳ sát đất, chấp tay đến trước Phật, thưa:
–Lành thay! Bạch Thế Tôn! Hôm nay con nghe pháp thật chưa từng có này. Vậy vô số Hằng hà sa Như Lai ở quá khứ có nhập  Niết- bàn hay không nhập Niết-bàn? Nếu nhập Niết-bàn thì chúng sinh ở cõi Dục làm sao được độ? Nếu Như Lai không nhập Niết-bàn thì chư Như Lai ấy trụ vào cảnh giới Phật nào?
Phật bảo Bồ-tát Hỷ Kiến:
–Lành thay! Lành thay! Ông có khả năng ở trước Như Lai gầm lên tiếng gầm sư tử. Ông hãy nghe thật kỹ, suy nghĩ đúng đắn điều ấy. Nay Ta sẽ phân biệt rõ ràng từng chi tiết cho ông.
Bồ-tát Hỷ Kiến thưa:
–Bạch Thế Tôn! Con rất thích được nghe. Đức Phậtdạy:
–Hằng hà sa chư Phật Thế Tôn trong quá khứ với giả danh    gọi,
không thể ghi nhớ hết, cũng như chúng sinh được đời đời không diệt mất, vô biên, không có biên vực, cũng không có đầu mối. Chư Phật chú trọng tập trung, tâm như không giới. Niết-bàn tức là chúng sinh, cho nên Như Lai không nhập Niết-bàn. Vì sao? Vì là chúng sinh.
Bồ-tát Hỷ Kiến bạch Phật:
–Chúng sinh mà Đức Thế Tôn ở quá khứ đã độ có diệt độ hay không diệtđộ?
Phật bảo Bồ-tát Hỷ Kiến:
–Thế nào, này Bồ-tát Hỷ Kiến! Từ vô số a-tăng-kỳ kiếp ông  luôn phụng thờ chư Phật, lễ lạy cúng dường hương hoa, cờ phướn, lọng báu, ông có thấy Như Lai thủ Bát-niết-bàn không?
Bồ-tát Hỷ Kiến thưa:
–Thưa không!
Đức Phậtdạy:
–Này Bồ-tát Hỷ Kiến! Ta hiệu là Thích Ca Văn Vô Thượng Bồ Đề. Nay ở trong thai mẹ là Niết-bàn hay chẳng phải Niết-bàn?
Bồ-tát Hỷ Kiến thưa:
–Bạch Thế Tôn! Chẳng phải.
Đức Thế Tôndạy:
–Này  Bồ-tát  Hỷ  Kiến!  Chúng  sinh,  Bồ-tát  được  thọ  ký  sẽ  thành đạo Chánh chân vô thượng, là đạo chân thật hay chẳng phải chân thật?
Bồ-tát Hỷ Kiến thưa:
–Đạo ấy chẳng phải đạo chân thật. Vì sao? Vì có Phật, có nói pháp thì thấy giáo hóa chúng sinh, cho nên đạo ấy chẳng phải đạo chân thật.
Duyên vào duyên chúng sinh là đạo, duyên vào duyên tận  cùng chúng sinh là đạo chân thật.
Duyên quá khứ duyên vào tận cùng chúng sinh đối với hiện  tại chẳng phải đạo chân thật.
Duyên hiện tại duyên vào tận cùng chúng sinh đối với quá  khứ chẳng phải đạo chân thật.
Duyên quá khứ, hiện tại duyên vào tận cùng chúng sinh đối với vị lai chẳng phải đạo chân thật.
Duyên  vị  lai  duyên vào  tận  cùng chúng sinh đối  với quá  khứ,
hiện tại chẳng phải đạo chân thật. Vì sao? Vì đạo ấy chẳng phải đạo chân thật.
Duyên quá khứ duyên vào tận cùng chúng sinh, duyên hiện  tại duyên vào tận cùng chúng sinh, duyên vị lai duyên vào tận cùng chúng sinh, đạo ấy là đạo chânthật.
Đại Bồ-tát biết và thấy điều đó nhưng không nơi nào là khôngcó mặt. Vì sao? Giống như chín hành bất tận. Chín hành ấy là:
Thượng thượng, thượng trung, thượnghạ. Trung thượng, trung trung, trung hạ.
Hạ thượng, hạ trung, hạ hạ.
Duyên thượng thượng tận, duyên thượng thượng trung bất tận  thì chẳng phải là đạo chân thật.
Duyên thượng trung tận, duyên thượng hạ bất tận, chẳng phải đạo chân thật.
Duyên thượng hạ tận, duyên trung thượng bất tận, chẳng phải đạo chân thật.
Duyên trung thượng tận, duyên trung trung bất tận, chẳng phải đạo chânthật.
Duyên  trung  trung  tận,  duyên  trung  hạ bất  tận,  chẳng  phải  đạo chân thật.
Duyên  trung  hạ  tận,  duyên  hạ  thượng  bất  tận,  chẳng  phải  đạo chân thật.
Duyên hạ thượng tận, duyên hạ trung bất tận, chẳng phải là đạo chân thật.
Duyên hạ trung tận, duyên hạ hạ bất tận, chẳng phải đạo chân thật.
Duyên hạ hạ tận là đạo chân thật.
Đối với tánh chân thật, Đại Bồ-tát không nắm bắt, không  buông xả, không trụ, chẳng phải là không trụ.
Quá khứ, hiện tại và vị lai như nhau, đạo như nhau, Niết-bàn như nhau, tất cả đều như nhau, không có hai pháp.
Tánh như nhau, tướng tự nhiên như nhau, chúng sinh như nhau, cấu như nhau, năm ấm như nhau, duyên như nhau, si hành như nhau, đạo hạnh thanh tịnh không một, không hai.
Hành duyên cõi Dục tận, chẳng phải hành duyên cõi Sắc tận. Hành duyên cõi Sắc tận, chẳng phải hành duyên cõi Vô sắc tận. Hành duyên cõi Vô sắc tận, hành duyên cõi Sắc tận, hành duyên cõi Dục tận, đó gọi là Bồ-tát như nhau, chẳng phải một, chẳng phải hai.
Bấy giờ, Đức Phật bảo Bồ-tát Hỷ Kiến:
–Ông có muốn biết cõi chư Phật quá khứ diệt hay không diệt không?
Thế rồi Thế Tôn dùng thần lực nhập vào Tam-muội Vô úy không giới, khiến cho tất cả mọi người đều thấy rõ thân Thích Ca Văn im lặng không nói, với thân tướng đầy đủ.
Đức Thế Tôn bảo:
–Bồ-tát nên biết! Thân quá khứ của Ta rất nhiều, không thể tính, không thể lường.
Nói xong, Thế Tôn dùng thần thông hòa vào cảnh giới thấp sinh đầy đủ với các tướng, y như chúng và nói pháp cho vô số a-tăng-kỳ chúng sinh, khiến loài thấp sinh tùy theo sở nguyện đều được giải thoát.
Thế Tôn lại dùng thần thông hòa vào chúng hóa sinh, hiện tướng sắc thân y như chúng và nói pháp cho vô số a-tăng-kỳ chúng sinh, khiến cho loài hóa sinh tùy theo sở nguyện đều được giải thoát.
Thế Tôn lại dùng thần thông hòa vào chúng noãn sinh, hiện tướng sắc thân y như vậy, nói pháp cho vô số a-tăng-kỳ chúng sinh, khiến cho loài noãn sinh tùy theo sở nguyện đều được giải thoát.
Thế Tôn lại dùng thần thông hiện thế giới đương lai, hòa vào bốn sinh của cõi người, hiện tướng sắc thân nói pháp cho vô số a-tăng-kỳ chúng sinh, khiến chúng sinh bốn sinh ấy tùy theo sở nguyện đều được giải thoát.
Giống như ngày nay Ta ở trong thai mẹ nói pháp Bất thoái chuyển khó có cho các Bồ-tát đạt thần thông trong mười phương và lại dùng thần thông bốn sinh của cõi trời, bốn sinh của địa ngục, bốn sinh của ngạ quỷ, bốn sinh của súc sinh. Trong bốn sinh thì hai loại hóa và thai lậu dứt hết mau, còn hai loại thấp và noãn thì lậu dứt hết chậm. Hóa sinh và thai sinh là hàng lợi căn, còn thấp sinh và noãn sinh là hạng độn căn.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại dùng thần thông hiện cảnh giới tịch tĩnh để đại chúng ấy đều thấy biết, cũng không nói tên của khổ, tập, diệt, đạo. Vì sao? Vì chúng sinh nơi cõi đó đều là hạng lợi căn,  thuộc thai sinh và hóasinh.
Phật  lại  dùng  thần  thông  hiện  thế  giới  nơi  phương  dưới,  chiếu sáng thấy chúng sinh ấy giữ gìn đọc tụng, trải qua kiếp số mới thành đạo quả và biết chúng sinh thấp và noãn này là hạng độn căn.
Phật lại dùng thần thông hiện cõi bất tử để đại chúng biết chúng sinh  kia  không  nghe  tên  chết.  Biết  chúng  sinh  này  có  đại  bi   thệ nguyện, là hạng căn tối thắng trong hạng lợi căn.
Phật dùng thần thông hiện cõi chết yểu để đại chúng đều thấy biết. Thấy chúng sinh ấy có người chết yểu vì họ tự tạo gốc khổ,  vốn tuổi thọ xưa kia rất dài, nay tuổi chuyển lại ngắn. Vua cõi ấy tên  Trừ Ưu, lột da người chết  để làm trống,  một trăm năm đánh một lần để chúng sinh ấy đều biết tên chết, tuổi thọ giảm dần còn một trăm  tuổi thì Ta xuất hiện. Nay Ta xả bỏ thọ mạng hơn tám mươi bốn tuổi, ra khỏi thai sinh, hóa sinh trong đời năm trược, đó là phần lợi căn của Ta.
Các ông nên biết, mạng sống không tồn tại lâu dài, thần lực của Phật không thể lưu lại được. Thân này như bong bóng nước, không  trụ lâu. Thân như sương móc, thường làm loạn tư tưởng con người. Thân như mộng, làm tăng thêm sân giận. Thân như huyễn, lừa gạt mê hoặc người  đời.  Thân  như  tiếng  vọng,  tìm  kiếm  nhưng  vô  hình.  Thân như mắt quáng thấy không rõ. Như vậy, thân Ta đây là lần diệt tận cuối cùng, không còn sinh lại nữa.
Bất sinh là gì? Là không sinh vào cõi Diêm-phù-đề này nữa. Lại khi hành Phật sự ở ba mươi hai vạn vạn cõi Phật khắp mười phương, đây chẳng phải ở quá khứ. Do đó, duyên vào duyên tận, duyên vào duyên bất tận thì không có Niết-bàn.
Bấy giờ, Đại Bồ-tát Di-lặc liền đứng dậy, sửa pháp phục, trịch bày vai phải, gối phải quỳ sát đất, bạch Phật:
–Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Tất cả chúng sinh trong thế giới không  giống  nhau.  Quả  báo  của  việc  làm  thiện,  ác  đều  khác  nhau. Vậy, Như Lai nói phap không, không tịch mịch, không thể nghĩ bàn thì nhập vào Tam-muội nào mà có oai thần cảm động khó lường như vậy?
Chúng sinh có thức đều có thể  dễ giáo hóa,  còn như núi, sông, tường, đá, cây, cỏ đều biến làm người thì chúng sinh có thức hay chúng  sinh không có thức?
Phật bảo Bồ-tát Di-lặc:
–Xưa kia Ta cùng ông băng qua sông núi, ông có thấy một con thú dữ muốn ăn thịt vị Bồ-tát Thập Trụ không?
Bồ-tát Di-lặc thưa:
–Bạch Thế Tôn! Không. Vì sao? Giả sử thú dữ đầy khắp ba ngàn đại thiên thế giới muốn ăn thịt vị Bồ-tát thì điều đó không thể được.
Đức Phậtdạy:
–Xưa kia Ta khuyên ông: Ai có khả năng tiến lên trước? Ông  và Bồ-tát Văn-thù đều nói không có can đảm. Ngay khi ấy Ta dùng  thần lực lay vị cam lồ bảo thú đói kia biết: “Nếu giữ tâm kiên cố thì được thành tựu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Ông nói rồi lui dần ra phía sau. Như vậy tất cả đều là loài giáo hóa có thức, chứ chẳng phải giáo hóa vô thức.
Phật bảo Bồ-tát Di-lặc:
–Ông chẳng nhớ vô số a-tăng-kỳ kiếp xa xưa, cách về phương Tây bắc này sáu mươi hai hằng hà sa cõi, có Phật hiệu là Bình Đẳng, nước tên Vô Hình. Phật ấy hiện đang thuyết pháp. Cõi đó không có Phật-bích-chi, Thanh văn thừa; không có mặt trời, mặt trăng, thời  tiết, kiếp số nhiều ít. Phật ấy giáo hóa hết một cõi Phật. Chúng sinh cõi  đó đều được thành Phật và không dời đổi qua ở thế giới Phật khác. Này Bồ-tát Di-lặc! Có thể gọi Phật ấy là quá khứ, hiện tại, vị lai không?
Bồ-tát Di-lặc bạch:
–Bạch Thế Tôn! Vừa quá khứ, hiện tại và vị lai. Vì sao? Vì tất cả đều từ các cõi đi đến cõi đó. Các duyên tận thì chúng sinh tận. Vì được độ thoát nên hiện có hiện tại.
Phật bảo Bồ-tát Di-lặc:
–Hiện ông ở hiện tại chăng?
Bồ-tát Di-lặc thưa:
–Bạch Thế Tôn! Không phải. Mặc dù nói hành hiện tại nhưng không phải hiện tại, vì hành trước đã qua và hành sau thì chưa đến. Thức niệm tư duy ba việc thành tựu cho nên không có hiện tại.
Phật liền hỏi Bồ-tát Di-lặc:
–Tâm có bao nhiêu niệm? Mỗi niệm ấy có bao nhiêu tưởng? Bồ-tát Di-lặcthưa:
–Khoảng bằng khảy móng tay thì có ba mươi hai ức trăm ngàn niệm. Niệm niệm thành hình, mỗi hình đều có thức. Niệm của thức rất vi tế, không thể nào nắm giữ được, chỉ có oai thần của Phật nhập vào thức vi trần đó mới đo lường được. Như vậy giáo hóa có thức chứ chẳng phải vô thức. Lại nữa, thức rất nhỏ, nhỏ hơn bụi trần. Thức bụi trần này không thể thấy được, chỉ có oai thần của Như Lai nhập vào sự giáo hóa ấy thì mới lường xét được.
Đức Phậtdạy:
–Bồ-tát  Di-lặc  nên  biết,  đừng  có hồ  nghi  điều  đó.  Thức  vi  trần này cũng nhận bốn khí, cũng có bốn sinh. Vì sao? Vì chúng sinh vô biên, mà biên cũng vô biên. Như Lai cũng vô biên, đạo cũng vô biên. Tất  cả  nói  hữu,  hữu  cũng  vô  hữu.  Vô giới,  vô  xứ,  vô  trụ  cũng  đều không có người dạy bảo, giáo hóa chúng sinh. Đây gọi là nghịch thuận Tam-muội.  Không  trụ,  không  phải  không  trụ,  một  tướng,  vô  tướng. Không vướng mắc, không trói buộc, cũng không có chân tế, tu tập  nơi đạo tràng, làm thanh tịnh cõi Phật, quyền biến vô số chẳng phải những điều mà kẻ thấp kém sánh kịp.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn giải thích sự hồ nghi cho Bồ-tát Di- lặc nên iền hiện  sắc thân mềm  mại  đẹp đẽ,  với sắc  nhìn  không nhàm chán, sắc trong ngoài thanh tịnh không tỳ vết.
Từ vô số a-tăng-kỳ kiếp, Ta từng tu nhãn thanh tịnh, trong ngoài không  bị  chướng  ngại  nên  nay  được  sắc  thân  này:  Thân  không  phải thân, sắc cũng không phải sắc.
Nếu biết thân không, sắc không, thì thân - sắc đều không. Biết thân - sắc đều không thì không này là không không.
Biết vô thân không, vô sắc không, thì biết vô thân - vô sắc đều không.  Ai  biết  vô  thân  -  vô  sắc  đều  không  thì  không  này  là  không không.
Biết thân quá khứ không, biết sắc quá khứ không, thì biết thân - sắc quá khứ đều không. Ai biết thân - sắc quá khứ đều không thì không này là không không.
Biết thân hiện tại không, biết sắc hiện tại không, thì biết thân  - sắc hiện tại đều không. Ai biết thân - sắc hiện tại đều không thì không này là không không.
Biết thân vị lai không, biết sắc vị lai không, thì biết thân - sắc  vị lai  đều  không.  Ai  biết  thân  -  sắc  vị  lai  đều  không  thì  không  này  là không không.
Biết vô thân quá khứ không, biết vô sắc quá khứ không, thì  biết vô thân vô sắc quá khứ đều không. Ai biết vô thân vô sắc quá khứ đều không thì không này là không không.
Biết vô thân hiện tại không, biết vô sắc hiện tại không, thì biết vô thân vô sắc hiện tại đều không. Ai biết vô thân vô sắc hiện tại  đều không thì không này là không không.
Biết vô thân vị lai không, biết vô sắc vị lai không, thì biết vô thân vô  sắc  vị  lai  đều  không.  Ai  biết  vô thân  vô  sắc  vị  lai  đeu  không  thì không này là khôngkhông.
Biết thân dục giới không, biết sắc dục giới không, thì biết thân dục giới, sắc dục giới đều không. Ai biết thân dục giới, sắc dục giới đều không thì không này là không không.
Biết thân sắc giới không, biết sắc sắc giới không, thì biết thân sắc giới, sắc sắc giới đều không. Ai biết  thân sắc giới, sắc sắc giới đều không thì không này là không không.
Biết thân vô sắc giới không, biết sắc vô sắc giới không, thì  biết thân vô sắc giới, sắc vô sắc giới đều không. Ai biết thân vô sắc giới, sắc vô sắc giới đều không thì không này là không không.
Biết vô thân dục giới không, biết vô sắc dục giới không, thì biết vô thân dục giới, vô sắc dục giới đều không. Ai biết vô thân dục  giới, vô sắc dục giới đều không thì không này là không không.
Biết vô thân sắc giới không, biết vô sắc sắc giới không, thì  biết vô thân sắc giới, vô sắc sắc giới đều không. Ai biết vô thân sắc giới, vô sắc sắc giới đều không thì không này là không không.
Biết vô thân vô sắc giới không, biết vô sắc vô sắc giới không, thì biết vô thân vô sắc giới, vô sắc vô sắc giới đều không. Ai biết vô  thân vô  sắc  giới,  vô  sắc  vô  sắc  giới  đều  không  thì  không  này  là  không không.
Biết thân duyên duyên không, biết sắc duyên duyên không,  thì biết  thân  –  sắc  duyên  duyên  đều  không.  Ai  biết  thân  –  sắc  duyên duyên đều không thì không này là không không.
Biết  vô  thân  duyên  duyên  không,  biết  vô  sắc  duyên  duyên không, thì biết vô thân vô sắc duyên duyên đều không. Ai biết vô thân vô sắc duyên duyên đều không thì không này là không không.
Biết thân thai sinh không, biết sắc thai sinh không, thì biết  thân thai sinh, sắc thai sinh đều không. Ai biết thân thai sinh, sắc thai  sinh đều không thì không này là không không.
Biết vô thân thai sinh không, biết vô sắc thai sinh không, thì biết vô thân thai sinh, vô sắc thai sinh đều không. Ai biết vô thân thai  sinh, vô sắc thai sinh đều không thì không này là không không.
Biết thân hóa sinh không, biết sắc hóa sinh không, thì biết  thân hóa sinh, sắc hóa sinh đều không. Ai biết thân hóa sinh, sắc hóa sinh đều không thì không này là không không.
Biết vô thân hóa sinh không, biết vô sắc hóa sinh không, thì biết vô thân hóa sinh, vô sắc hóa sinh đều không. Ai biết vô thân hóa sinh, vô sắc hóa sinh đều không thì không này là không không.
Biết thân thấp sinh không, biết sắc thấp sinh không, thì biết  thân thấp sinh, sắc thấp sinh đều không. Ai biết thân thấp sinh, sắc thấp sinh đều không thì không này là không không.
Biết vô thân thấp sinh không, biết vô sắc thấp sinh không, thì biết vô thân thấp sinh, vô sắc  thấp sinh đều không. Ai biết vô thân thấp sinh, vô sắc thấp sinh đều không thì không này là không không.
Biết thân noãn sinh không, biết sắc noãn sinh không, thì biết thân noãn  sinh,  sắc noãn  sinh  đều  không.  Ai  biết  thân noãn sinh,  sắc  noãn sinh đều không thì không này là không không.
Biết vô thân noãn sinh không, biết vô sắc noãn sinh không, thì biết vô thân noãn sinh, vô sắc noãn sinh đều không. Ai biết vô thân noãn sinh, vô sắc noãn sinh đều không thì không này là không không.
Biết thân vị chí định là không, biết sắc vị chí định không, thì biết thân vị chí định, sắc vị chí định đều không. Ai biết thân vị chí định, sắc vị chí định đều không thì không này là không không.
Biết vô thân vị chí định là không, biết vô sắc vị chí định   không,
thì biết vô thân vị chí định, vô sắc vị chí định đều không. Ai biết vô thân vị chí định, vô sắc vị chí định đều không thì không này là  không không.
Biết thân Sơ thiền không, biết sắc Sơ thiền không, thì biết  thân Sơ thiền, sắc Sơ thiền đều không. Ai biết thân Sơ thiền, sắc Sơ thiền đều không thì không này là không không.
Biết vô thân Sơ thiền không, biết vô sắc Sơ thiền không, thì  biết vô thân Sơ thiền, vô sắc Sơ thiền đều không. Ai biết vô thân Sơ  thiền, vô sắc Sơ thiền đều không thì không này là không không.
Biết thân trung gian thiền không, biết sắc trung gian thiền không, thì biết thân trung gian thiền, sắc trung gian thiền đều không. Ai  biết thân trung gian thiền, sắc trung gian thiền đều không thì không này  là không không.
Biết vô thân trung gian thiền không, biết vô sắc trung gian  thiền không, thì biết vô thân trung gian thiền, vô sắc trung gian thiền đều không. Ai biết vô thân trung gian thiền, vô sắc trung gian thiền đều không thì không này là không không.
Biết thân Nhị thiền không, biết sắc Nhị thiền không, thì biết thân Nhị  thiền,  sắc  Nhị thiền  đều  không.  Ai  biết thân  Nhị thiền,  sắc  Nhị thiền đều không thì không này là không không.
Biết vô thân Nhị thiền không, biết vô sắc Nhị thiền không, thì biết vô thân Nhị thiền, vô sắc Nhị thiền đều không. Ai biết vô thân Nhị thiền, vô sắc Nhị thiền đều không thì không này là không không.
Biết thân Tam thiền  không, biết sắc Tam thiền không, thì biết thân Tam thiền, sắc Tam thiền đều không. Ai biết thân Tam thiền,  sắc Tam thiền đều không thì không này là không không.
Biết vô thân Tam thiền không, biết vô sắc Tam thiền không,  thì biết vô thân Tam thiền, vô sắc Tam thiền đều không. Ai biết vô  thân Tam thiền, vô sắc Tam thiền đều không thì không này là không không. Biết thân Tứ thiền không, biết sắc Tứ thiền không, thì biết   thân
Tứ thiền, sắc Tứ thiền đều không. Ai biết thân Tứ thiền, sắc Tứ  thiền đều không thì không này là không không.
Biết vô thân Tứ thiền không, biết vô sắc Tứ thiền không, thì biết vô thân Tứ thiền, vô sắc Tứ thiền đều không. Ai biết vô thân Tứ thiền,
vô sắc Tứ thiền đều không thì không này là không không.
Biết  thân  Không  xứ  không,  biết  sắc  Không  xứ  không,  thì  biết thân Không xứ, sắc Không xứ đều không. Ai biết thân Không xứ,  sắc Không xứ đều không thì không này là không không.
Biết vô thân Không xứ không, biết vô sắc Không xứ không, thì biết vô thân Không xứ, vô sắc Không xứ đều không. Ai biết vô thân Không xứ, vô sắc Không xứ đều không thì không này là không không.
Biết thân Thức xứ không, biết sắc Thức xứ không, thì biết thân Thức xứ, sắc Thức xứ đều không. Ai biết thân Thức xứ, sắc Thức xứ đều không thì không này là không không.
Biết vô thân Thức xứ không, biết vô sắc Thức xứ không, thì  biết vô thân Thức xứ, vô sắc Thức xứ đều không. Ai biết vô thân Thức xứ, vô sắc Thức xứ đều không thì không này là không không.
Biết thân Bất dụng xứ không, biết sắc Bất dụng xứ không, thì biết thân Bất dụng xứ, sắc Bất dụng xứ đều không. Ai biết thân Bất  dụng xứ, sắc Bất dụng xứ đều không thì không này là không không.
Biết vô thân Bất dụng xứ không, biết vô sắc Bất dụng xứ không, thì biết vô thân Bất dụng xứ, vô sắc Bất dụng xứ đều không. Ai biết vô thân  Bất  dụng  xứ,  vô  sắc  Bất  dụng  xứ  đều  không  thì  không  này  là không không.
Biết thân Phi tưởng phi bất tưởng xứ không, biết sắc Phi tưởng phi bất tưởng xứ không, thì biết thân Phi tưởng phi bất tưởng xứ, sắc Phi tưởng phi bất tưởng xứ đều không. Ai biết thân Phi tưởng phi bất tưởng xứ, sắc Phi tưởng phi bất tưởng xứ đều không thì không này là không không.
Biết vô thân Phi tưởng phi bất tưởng xứ không, biết vô sắc Phi tưởng phi bất tưởng xứ không, thì biết thân Phi tưởng phi bất tưởng xứ, vô sắc Phi tưởng phi bất tưởng xứ đều không. Ai biết vô thân Phi tưởng phi  bất  tưởng  xứ,  vô  sắc  Phi  tưởng  phi  bất  tưởng  xứ  đều  không  thì không này là khôngkhông.
Phật bảo Bồ-tát Di-lặc:
–Nay Ta sẽ giảng nói cho ông về nghĩa phát sinh và nghĩa căn bản. Ông hãy lắng nghe cho rõ, suy nghĩ thật kỹ.
Sinh nghĩa là gì? Sinh là bảy chín. Căn là nghĩa liên kết lại. Như
Lai không chấp trước dĩ tri, vị tri, vô tri.
Dĩ tri căn là quá khứ, hiện tại, vịlai.  Vị tri căn là sự chướng ngại của kiết sử.
Vô tri căn là Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác.
Chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai thành tựu căn này và phân biệt các căn. Vô căn cũng không phải vô căn, vô thuyết, vô nghĩa. Phân biệt các nghĩa của chữ là không, không sở hữu. Đó là nghĩa căn.
Từ lúc mới phát tâm cho đến ngồi bên gốc cây Thọ vương chuyển pháp  luân  vô  thượng,  nhóm  tập  các  pháp  môn,  hành  pháp  môn  vô hành, pháp môn tư nghì, pháp môn tổng trì căn, pháp môn hư không pháp tàng. Đây là những Tam-muội mà chư Phật thâu nhập.
Bồ-tát Di-lặc nên biết! Ta thọ ký cho ông năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm sau sẽ thành tựu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác bên gốc cây Thọ vương.
Ta sinh từ hông phải, còn Bồ-tát Di-lặc thì sinh từ đỉnh đầu.
Ta sống một trăm tuổi, Bồ-tát Di-lặc sống tám vạn bốn ngàn tuổi. Cõi của Ta bằng đất, cõi của Bồ-tát Di-lặc bằng vàng.
Đất nước của Ta thì khổ, còn đất nước của Bồ-tát Di-lặc thì vui. Khi ấy, Đức Thế Tôn liền nói kệ:
Đấng Như Lai Thập Lực
Hư không không biên giới
Nghiệp lực phước nhẫn tuệ
Sức thệ nguyện tối thắng.
Ông sinh nước an lạc
Không khổ như cõi  Ta
Ông nói pháp rất dễ
Ta nói pháp rất khó.
Đầu: nói chín mươi sáu
Hai: nói chín mươi bốn
Ba: nói chín mươi hai
Đầu: Ta nói mười hai.
Hai: nói hai mươi bốn
Ba: nói ba mươi sáu
Ba hội người ông dạy
Ta đã giáo hóa trước.
Cha ông: Phạm Ma Tịnh
Tám vạn bốn ngàn tướng
Chẳng phải Ta dạy trước
Những người ông hóa độ.
Chín mươi sáu ức người
Thọ năm giới của Ta
Chín mươi bốn ức người
Thọ trì ba quy y.
Chín mươi hai ức người
Chỉ xưng: “Nam-mô Phật”
Trước nói: ngàn Tỳ-kheo
Hai mươi bốn ức trời.
Ba: ba mươi sáu ức
Các chúng sinh diệt độ
Ông vui, Ta khổ cực
Ông lười, Ta tinh tấn.
Khi Phật đang nói kệ này, có bảy mươi hai ức chúng sinh khổ hạnh ngồi yên bất động, đắc pháp nhẫn Bất khởi (pháp nhẫn Vô sinh).
**
/53
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »