396 - Số 380 - Kinh Đại Bi - Quyển I - Phẩm 1: Phạm Thiên (Trang 397 - 418)">
Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1139.

Chương 14: Số 380 - Kinh Đại Bi - Quyển I - Phẩm 1: Phạm Thiên (Trang 397 - 418)

SỐ  380
 
KINH  ĐẠI  BI
Hán dịch: Đời Cao Tề, Tam tạng Na Liên Đề Na Xá,
người nước Thiên Trúc.
 
QUYỂN  I
 
Phẩm  1:  PHẠM  THIÊN
 
Tôi nghe nhưvầy:
Một thời, Đức Thế Tôn an tọa ở giữa hai cây Ta-la, nơi đất  của Lực sĩ sinh, thuộc thành Câu-thi-na, chuẩn bị vào Niết-bàn. Bấy giờ, Phật bảo Tuệ mạng A-nan:
–Ông nên trải tọa cụ giữa hai cây Ta-la, sau đêm nay, Ta sẽ vào Niết-bàn nằm nghiêng hông bên phải như sư tử vương. Này A-nan!  Ta đã đạt cứu cánh Niết-bàn, đoạn trừ tất cả lời nói hữu vi. Ta đã làm Phật sự viên mãn, pháp cam lồ nhuần thấm khắp nơi, tịch diệt và sâu xa  vi diệu, khó thấy, khó biết, khó có thể suy lường, trí sáng suốt biết  được các pháp Hiền Thánh. Ta đã ba lần chuyển pháp luân vô thượng,  hoặc nếu  có  Sa-môn,  Bà-la-môn,  hoặc  Trời,  Ma,  Phạm,  Người  cùng  với pháp thế gian, không ai có thể chuyển được pháp luân vô thượng. Ta đã đánh trống pháp, thổi loa pháp, dựng cờ pháp, đóng thuyền pháp, xây cầu pháp, rưới mưa pháp, đã chiếu sáng khắp ba ngàn đại thiên thế giới, diệt trừ vô minh hắc ám, chỉ bày cho chúng sinh con đường Chánh đạo giải thoát, đầy đủ sự lợi ích cho hàng trời, người, những người đáng độ đều đã được độ. Ta đã hàng phục tất cả ngoại đạo và các phái Dị

luận, làm động cung điện ma, quật gãy thế lực ma, gầm lên tiếng sư tử, làm  các  Phật  sự,  thiết  lập  sự  nghiệp  trượng  phu,  làm  viên  mãn  thệ nguyện xưa, hộ trì pháp nhãn, dạy đại Thanh văn, thọ ký Bồ-tát,  làm cho Phật nhãn đời vị lai không bị đoạn mất. A-nan! Sau đêm nay, Ta không còn làm điều gì nữa, chỉ có việc vào Niết-bàn.
Khi nghe như vậy, A-nan cảm thấy đau buồn, sầu thảm, rơi lệ, như bị mũi tên ưu phiền bắn trúng, bạch Phật:
–Thưa Đức Bà-già-bà! Sao Ngài Niết-bàn nhanh quá vậy! Thưa Tu-già-đà! Sao Ngài Niết-bàn nhanh quá vậy! Từ đây con mắt của thế gian bị diệt mất, thế gian cô độc, thế gian từ đây không còn ai cứu  hộ, không còn ai dẫn đường.
Lúc đó, Phật bảo Tuệ mạng A-nan:
–Thôi, ông chớ có đau buồn, pháp sinh, pháp hữu, pháp hữu  vi, pháp hoại, nếu không diệt thì điều này không thể có. Trước kia, Ta  có dạy ông: Tất cả việc mà mình yêu thích, xứng ý thì nhất định sẽ ly biệt, sẽ tan rã. Này A-nan! Ông đã dùng tâm từ, tâm không hai, tâm thiện và thân nghiệp hiếu thuận, phụng dưỡng, hầu hạ Ta không có hạn lượng. Này A-nan! Nếu hàng trời, người, A-tu-la v.v… cung cấp hầu hạ cúng dường Thanh văn, Duyên giác cho đến giảm một kiếp, hoặc mãn  một kiếp, so với cung cấp cúng dường hầu hạ Như Lai chỉ trong một  niệm, thì phước đức này nhiều hơn phước đức trước. Ông đã cúng dường Phật đại thần thông, cho đến lúc Ngài nhập Niết-bàn thì sẽ được phước lớn, công đức vô lượng vô biên, như cam lồ bậc nhất trong các cam lồ, cam lồ tuyệt đỉnh, Niết-bàn rốt ráo. A-nan, vì vậy ông chớ có buồn rầu,  bi ai.
Khi đó, A-nan buồn rầu gạt lệ trải tọa cụ ở giữa hai cây Ta-la, Như Lai nằm nghiêng hông bên phải như sư tử; tức thời các rừng  rậm, cây cỏ lớn nhỏ ở trong ba ngàn đại thiên thế giới đều hướng về chỗ Như Lai sắp Niết-bàn. Có cây muốn ngã, có cây ủ rũ, có cây muốn nằm rạp trên đất, có cây ngã nhào trên đất. Các dòng sông, suối, ao, hồ lớn nhỏ trong ba ngàn đại thiên thế giới do thần lực của Phật nên nước đứng yên, không chảy. Các loài cầm thú ở trong ba ngàn đại thiên thế giới, do thần lực Phật nên đứng yên lặng, không kêu, không ăn. Mặt trời, mặt trăng, tinh tú, ánh sáng minh châu cho đến ánh sáng đom đóm
trong ba ngàn đại thiên thế giới, do thần lực Phật nên tất cả đều ẩn mất, không ánh sáng nào có thể chiếu sáng. Lửa dữ ở trong ba ngàn đại thiên thế giới, do thần lực Phật nên không cháy, không nóng, không thể thiêu nướng. Tất cả lửa  dữ địa ngục ở trong ba  ngàn đại thiên thế giới,  do  thần  lực  Phật  nên  đều  mát  mẻ.  Các  chúng  sinh  ở  trong  địa ngục đó, vì nhờ thần lực Phật nên trong sát-na đều được an lạc. Các súc sinh ở trong ba ngàn đại thiên thế giới, do thần lực Phật nên tất cả đều khởi tâm từ, tâm bi, không còn sân hận, não hại và giết chóc lẫn nhau, tất cả ngạ quỷ đều không còn đói khát. Do thần lực của Phật nên tất cả chúng sinh, thân tâm vui mừng, phấn khởi, lìa được sự khổ, đầy đủ  sự vui  thích  an  lạc  bậc  nhất.  Khi  Đức  Thế  Tôn  nằm  nghiêng  hông  bên phải  thì  núi  chúa  Tu-di,  núi  đại  Thiết-vi,  núi  Mục-chân-lân-đà,  núi Hương, núi Tuyết và các núi Đen, đại địa, biển cả ở trong ba ngàn  đại thiên thế giới, tất cả đều chấn động đủ sáu cách: rung động, nhô  lên, vọt cao, chấn động, vang rền, không ai không biết. Tất cả gió xoáy  ở trong ba ngàn đại thiên thế giới đều đứng yên không lay động.  Trong sát-na, tất cả chúng sinh xả bỏ các hành nghiệp, được sống an vui, lìa sự ngủ nghỉ, tâm không tán loạn, mọi họat động đều chấm dứt, im lặng không một tiếng động. Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la,  Ca- lâu-la,  Khẩn-na-la,  Ma-hầu-la-già,  Phạm  thiên,  Thích  thiên,  Hộ  thế vương v.v... ở trong ba ngàn đại thiên thế giới, do thần lực Phật nên thấy cung điện, giường  nằm, chỗ ngồi,  vườn cây, tất cả đều  tối  tăm không còn chút ánh sáng, không đáng ưa thích. Quyến thuộc của họ buồn rầu, phiền não không vui. Phạm Thiên vương làm chủ ngàn  thế giới, Đại Phạm Thiên vương làm chủ ba ngàn đại thiên thế giới, tâm cao ngạo tự thị, hiểu thế này: Thế giới và các chúng sinh đây, do ta tạo ra, chính ta biến hóa ra. Do thần lực Phật nên Đại Phạm Thiên vương chủ ba ngàn đại thiên thế giới thấy cung điện, giường nằm, chỗ ngồi v.v... u ám đen tối, không có ánh sáng, không đáng ưa thích. Cõi trời Ma-hê-thủ-la  Tịnh  Cư...  cũng  đen  tối  như  vậy.  Bấy  giờ,  Đại  Phạm Thiên vương, chủ ba ngàn đại thiên thế giới suy nghĩ: Do thần lực  của ai mà hiện ra tướng này, khiến ta không thích cung điện, giường,  ghế v.v... Khi đó, Đại Phạm thiên vương quán khắp trong ba ngàn đại thiên thế giới, thấy chủ Đại Tự Tại tạo ra sự giàu có, phú quý; chính là  Như
Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, sau đêm nay sẽ vào Niết-bàn, vì thế mà hiện thần lực, biến hóa ra việc không thể nghĩ bàn, chưa từng  có. Thần lực này chính là hiện tượng Như Lai sắp vào Niết-bàn. Quán như vậy rồi, Đại Phạm vương ưu sầu không vui, rởn tóc gáy, cùng Phạm chúng vây quanh đi đến chỗ Phật. Các Phạm thiên đó, ở trong ba ngàn đại thiên thế giới, đều đã từng tin thọ thánh pháp, an trụ Thánh pháp.
Bấy giờ, Đại Phạm Thiên vương, chủ ba ngàn đại thiên thế  giới, đến chỗ Đức Phật đảnh lễ và bạch:
–Cúi xin Thế Tôn dạy cho con trụ như thế nào? Tu như thế nào? Thưa như vậy xong, Như Lai liền hỏi Đại Phạm vương:
–Này Phạm thiên! Ông nay có thật nghĩ thế này, ta là Đại  Phạm thiên, ta có khả năng hơn mọi người, người khác không bằng ta, ta  là bậc trí,  ta  là  chủ  đại  tự  tại  trong  ba  ngàn  đại thiên  thế  giới,  ta  tạo  ra chúng sinh, hóa hiện ra chúng sinh, tạo ra thế giới, hóa hiện ra thế giới, có phải vậy không?
Đại Phạm thiênthưa:
–Đúng vậy, thưa Đức Bà-già-bà! Thật đúng vậy, thưa Đức Tu- già-đà!
Phật nói:
–Này Phạm thiên! Ông vì ai mà tạo ra các thứ đó, ông vì ai  mà biến hóa ra các thứ đó?
Lúc đó, Phạm thiên đứng yên, im lặng.
Phật thấy Phạm thiên im lặng, đứng yên, lại hỏi tiếp:
–Này Phạm thiên! Có lúc ba ngàn đại thiên thế giới bị kiếp hỏa thiêu cháy tàn lụi. Ý ông nghĩ sao? Việc này chính ông tạo ra, chính ông biến hóa ra chăng?
Khi đó, Đại Phạm Thiên vương thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn! Phật nói:
–Này Phạm thiên! Như đại địa này nương nước mà tồn tại,  nước nương gió mà tồn tại, gió nương hư không. Như vậy, đại địa này dày sáu trăm tám mươi vạn do-tuần không bị nứt rạn, không tan rã. Phạm thiên, ý ông nghĩ sao? Việc đó chính ông tạo ra, chính ông biến hóa  ra chăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật nói:
–Này Phạm thiên! Ba ngàn đại thiên thế giới đây, lúc trăm ức mặt trời, mặt trăng lưu chuyển. Ý ông nghĩ sao? Việc này chính ông hóa hiện ra chăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật nói:
–Này Phạm thiên! Có lúc Nhật Nguyệt Thiên tử không ở trong cung điện, cung điện trống không. Phạm thiên, ý ông nghĩ sao? Việc này chính ông tạo ra, chính ông hóa hiện, chính ông làm tăng trưởng thêm chăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật nói:
–Này Phạm thiên! Thời tiết Xuân, Hạ, Thu, Đông bốn mùa  thay đổi. Ý ông nghĩ sao? Việc này chính ông tạo ra, chính ông biến hóa, chính ông làm tăng trưởng thêmchăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật nói:
–Này Phạm thiên! Nước, gương, sữa, dầu, ma-ni, pha lê và những vật trong sáng khác phản chiếu các sắc, tượng như: đất, sông, núi, cây, cỏ, vườn hoa, cung điện, nhà cửa, xóm làng, thành ấp, lạc đà, lừa, voi, ngựa, hươu, chim, thú, mặt trời, mặt trăng, tinh tú, Thanh văn,  Duyên giác, Bồ-tát, Như Lai, Thích, Phạm, Hộ thế, nhân, phi nhân v.v... các loại hình tượng màu sắc. Phạm thiên! Ý ông nghĩ sao? Những việc này chính ông tạo ra, chính ông biến hóa, chính ông làm tăng trưởng  thêm chăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn. Phật bảo:
–Này Phạm thiên! Các âm vang phát ra từ đồi núi, khe sâu, tiếng
lớn, nhỏ của trống, ca, múa, đùa giỡn v.v... tiếng kêu của chim, thú, hươu, người, phi nhân v.v... Phạm thiên! Ý ông nghĩ sao? Những điều này chính ông tạo ra, chính ông biến hóa, chính ông làm tăng trưởng thêm chăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật bảo:
–Như  các  chúng  sinh  đang  trong  giấc  mộng  thấy  các  hình  sắc, nghe các âm thanh, ngửi các mùi hương, nếm các vị, cảm thụ các  loại xúc chạm, biết các pháp hoạt động, đùa giỡn, khóc lóc, rên rỉ, sợ sệt, cảm thọ khổ, vui v.v... Phạm thiên! Ý ông nghĩ sao? Chính ông tạo ra điều này, chính ông biến hóa, chính ông làm tăng trưởng thêm chăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật bảo:
–Như có bốn hạng người là đoan chánh, xấu xí; nghèo khổ,  giàu có phước đức nhiều ít; giới thiện, giới ác; tuệ thiện, tuệ ác. Phạm thiên! Ý  ông  nghĩ  sao?  Chính  ông  tạo  ra  điều  này,  chính  ông  hóa  hiện  ra, chính ông làm tăng trưởng thêmchăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật bảo:
–Này Phạm thiên! Tất cả chúng sinh có sợ sệt, thống khổ, não hại, như là sợ nước, lửa, dao, gió, mé núi, thuốc độc, ác thú, nhân,  phi nhân và thêm nhiều loại nguy hại làm cho kẻ khác thường phải  khiếp sợ. Phạm thiên! Ý ông nghĩ sao? Chính ông tạo ra điều này, chính  ông biến hóa ra, chính ông làm tăng trưởng thêm chăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn. Phật bảo:
–Này Phạm thiên! Các loại bệnh tật của chúng sinh: bệnh gió, nóng,  lạnh  và  các  bệnh  khác,  thời  tiết  thay  đổi  bốn  đại  chóng  trái. Hoặc do nghiệp báo đời trước hoặc do kẻ khác tạo ra như: bệnh  mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Hoặc lại có đủ loại sự thống khổ nhiệt não về tâm ý
của chúng sinh. Phạm thiên! Ý ông nghĩ sao? Chính ông tạo ra điều này, chính ông biến hóa ra, chính ông làm tăng trưởng thêm chăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật bảo:
–Này Phạm thiên! Có các nạn như: nước, lửa, trộm cướp,  đồng trống  nguy  hiểm,  hoặc  trong  kiếp  đao  binh,  bệnh  dịch  cho  đến  mất mùa đói khát của chúng sinh. Phạm thiên! Ý ông nghĩ sao? Chính ông tạo ra điều này, chính ông biến hóa ra, chính ông làm tăng trưởng thêm chăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật bảo:
–Này Phạm thiên! Chúng sinh có khổ ái biệt ly, nghĩa là: sự  khổ bị chia lìa cha mẹ, anh em, chị em, bạn bè thân thuộc. Phạm thiên!  Ý ông nghĩ sao? Chính ông tạo ra điều này, chính ông biến hóa ra,  chính ông làm tăng trưởng thêmchăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật bảo:
–Này Phạm thiên! Các loại nghiệp ác của chúng sinh tạo ra như sinh sống đổi chác, buôn bán bằng những nghề: bán rượu, men rượu, đá quý, cầm đồ, gian lận đủ cách hoặc vào biển lớn, đồng trống, chỗ hiểm nguy, đến các  phương xa, hoặc chế thuốc tiên và các việc bói toán. Phạm  thiên!  Ý  ông  nghĩ  sao?  Chính  ông  tạo  ra  điều  này,  chính  ông biến hóa ra, chính ông làm tăng trưởng thêm chăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật bảo:
–Này Phạm thiên! Chúng sinh tạo ra các loại nghiệp, vì  nghiệp nhân này mà phải thọ quả báo ở địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, người, trời. Thân, miệng, ý của chúng sinh rạo ra hoặc thiện hoặc ác và thế gian có mười nghiệp ác. Tất cả chúng sinh đều không có tâm từ thương xót,  tạo  ra  các  việc  khổ  não  không  lợi  ích,  là  nhân  duyên  đọa  vào
đường ác. Hành động ấy là: sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ,  nói hai lưỡi, nói lời ác, nói lời thêu dệt, tham, sân, tà kiến. Phạm thiên! Ý ông nghĩ sao? Chính ông tạo ra điều này, chính ông biến hóa ra,  chính ông làm tăng trưởng thêmchăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật bảo:
–Này Phạm thiên! Có các loại khổ của chúng sinh như bị chặt đầu, bị cắt đứt tay chân, bị xẻo tai, mũi v.v... bị rót dầu nóng, bị đốt lửa, chiên, nấu; bị dao, kiếm, mâu, giáo đâm chém; bị đánh, trói,  nhốt trong  lao  ngục;  bị  tranh  cãi,  cấu  xé.  Phạm  thiên!  Ý  ông  nghĩ  sao? Chính ông tạo ra điều này, chính ông biến hóa ra, chính ông làm tăng trưởng thêm chăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật bảo:
–Này Phạm thiên! Chúng sinh làm việc dâm dục tà hạnh, như: dâm mẹ, chị, em gái, người trì giới trong sạch và làm các nghiệp ác khác. Phạm thiên! Ý ông nghĩ sao? Chính ông tạo ra điều này, chính ông biến hóa ra, chính ông làm tăng trưởng thêm chăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật bảo:
–Này Phạm thiên! Các việc làm sát hại của chúng sinh như: dùng thuốc độc, dùng bùa chú, dùng chú thuật sai khiến thây chết hại người, chế thuốc làm mê hoặc người và tạo các loại phương tiện ác nghiệp đoạn mạng sống khác. Phạm thiên! Ý ông nghĩ sao? Chính ông tạo  ra điều  này,  chính  ông  biến  hóa  ra,  chính  ông  làm  tăng  trưởng  thêm chăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật bảo:
–Này Phạm thiên! Trong thế gian có sinh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ não, pháp vô thường, pháp tận, pháp biến dịch. Có bốn hạng người
không dễ gì quên được tất cả những cái hay khiến họ tham đắm, không chán các vật bại hoại, ly tán. Phạm thiên! Ý ông nghĩ sao? Chính  ông tạo ra điều này, chính ông biến hóa ra, chính ông làm tăng trưởng thêm chăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật bảo:
–Này Phạm thiên! Các loại chướng tham, sân, si, kiết sử, triền phược  và  các  thứ  khổ  não  trói  buộc  khác  của  chúng  sinh,  do  nhân duyến ấy khiến tâm của các chúng sinh mê hoặc, sân hận, chấp  chặt, tạo  ra  vô  lượng các loại  hành  nghiệp.  Phạm  thiên!  Ý  ông  nghĩ  sao? Chính ông tạo ra điều này, chính ông biến hóa ra, chính ông làm tăng trưởng thêm chăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật bảo:
–Này Phạm thiên! Có ba đường ác là địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ. Nơi đó, chúng sinh làm các việc, thọ các khổ não. Phạm thiên! Ý  ông nghĩ sao? Chính ông tạo ra điều này, chính ông biến hóa ra, chính ông làm tăng trưởng thêmchăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật bảo:
–Này  Phạm  thiên!  Tất  cả  cây  cỏ,  dược  thảo  do  hạt giống  sinh hoặc không phải do hạt giống sinh, có những cây hoặc mọc dưới  nước hoặc mọc trên bờ có hoa, quả, mùi hương. Các loại mùi vị thù thắng như: ngọt, đắng, mặn, cay, chua, chát, tùy theo các chúng sinh ưa thích hay không ưa thích mà làm cho mùi vị đó có tăng giảm. Phạm thiên! Ý ông nghĩ sao? Chính ông tạo ra điều này, chính ông biến hóa ra,  chính ông làm tăng trưởng thêmchăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật bảo:
–Này  Phạm  thiên!  Trong  năm  đường  sinh  tử  thành  hoại lưu
chuyển, chúng sinh bị vô minh che đậy cùng tương ưng với ái, kiết  lưu chuyển mãi xưa nay khó biết, đời vị lai sinh tử lưu chuyển không  dứt. Trong ấy, hoặc trời, người, quỷ, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn ở thế  gian chằng chịt như tơ rối, thường lưu chuyển mãi mãi qua lại đó đây.  Các chúng sinh này ở trong sự lưu chuyển không biết đường ra. Phạm thiên! Ý  ông  nghĩ  sao?  Chính  ông  tạo  ra  điều  này,  chính  ông  biến  hóa  ra, chính ông làm tăng trưởng thêmchăng?
Phạm thiên thưa:
–Không phải, thưa Thế Tôn.
Phật bảo:
–Này Phạm thiên! Do đâu mà ông suy nghĩ: Các chúng sinh  này chính tôi tạo ra, chính tôi biến hóa, chính tôi làm tăng trưởng thêm. Các thế giới này chính tôi tạo ra, chính tôi biến hóa, chính tôi làm tăng trưởng thêm.
Phạm thiên thưa:
–Con vì vô minh tà kiến, chưa đoạn được tâm điên đảo, thường ở chỗ Như Lai nói pháp mà không lắng nghe thọ trì. Con trước đây đã từng thấy sai lầm, nói lời sai lầm: Các chúng sinh đây chính con tạo ra, chính con biến hóa ra; các thế giới đây chính con tạo ra, chính conbiến hóa ra. Thưa Thế Tôn! Con nay xin được hỏi: Các thế giới do ai tạo ra? Do ai biến hóa ra? Tất cả chúng sinh do ai tạo ra? Do ai biến hóa ra? Do ai làm cho tăng trưởng thêm? Do năng lực của ai sinh ra?
Phật bảo:
–Này Phạm thiên! Các thế giới do nghiệp tạo ra, do nghiệp biến hóa ra. Tất cả chúng sinh do nghiệp tạo ra, do nghiệp biến hóa ra, do năng  lực  của  nghiệp  sinh  ra.  Vì  sao?  Này  Phạm  thiên!  Vì  vô  minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái  duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sinh, sinh duyên lão tử, ưu, bi, khổ, não. Do vậy mà có khổ lớn tụ tập. Này Phạm thiên! Vô minh diệt cho  đến ưu bi khổ não diệt, trong đó không có tác giả, không có ai an trí tạo ra điều đó, chỉ có nghiệp và pháp, do nhân duyên hòa hợp nên có  chúng sinh. Nếu có người thường hay xa lìa sự hòa hợp của nghiệp và pháp thì nên biết người đó hay xa lìa sinh tử luân hồi lưu chuyển. Này Phạm
thiên!  Như  vậy  nghiệp  thế  gian  hết  thì  phiền  não  hết,  khổ  hết,  khổ chấm dứt. Xuất ly như vậy gọi là đắc Niết-bàn tịch tĩnh. Phạm  thiên, nếu ở đó ai đắc Niết-bàn thì nghiệp đã dứt, xa lìa phiền não và hoàn toàn thoát khỏi khổ đau. Các pháp như vậy là do thần lực chư Phật, do chư Phật gia trì mà có. Vì sao? Này Phạm thiên! Vì nếu chẳng phải chư Phật xuất hiện ở đời hiển bày chỉ dạy thì không ai nghe pháp như vậy. Phạm thiên, nếu khi chư Phật Thế Tôn xuất hiện ở đời, hiển bày, chỉ dạy  pháp  môn  quang  minh  sâu  xa  tịch  tĩnh  khó  hiểu  như  vậy,  các chúng sinh được nghe pháp sinh rồi từ pháp sinh mà được giải thoát; được nghe pháp già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ não, rồi từ pháp già,  bệnh, chết, ưu, bi, khổ não mà được giải thoát. Này Phạm thiên! Vì vậy, việc làm của chư Phật là biểu hiện sự gia trì. Phạm thiên, việc làm của chư Phật là khai  thị hiển  bày. Điều đó có nghĩa:  các hành giống như ảo ảnh, vô thường chuyển động không bền chắc, không rốt ráo, là pháp tận, pháp biến dịch. Giả sử sau khi chư Phật diệt độ, chánh pháp  diệt mất thì điều đó cũng như vậy. Thị hiện sự gia trì nghĩa là, các hành giống  như  ảo  ảnh.  Nếu  Phật  không  thị  hiện,  tất  cả  các  hành  trong khoảng sát-na giống như ảo ảnh thì nên nói tất cả các hành giống như ảo ảnh, như mộng, như âm vang. Này Phạm thiên! Vì chư Phật biết tất cả các hành giống như ảo ảnh, như mộng, như tiếng vang, vô thường chuyển động là pháp tận, pháp biến dịch, cho nên nói các hành  giống như  ảo  ảnh,  như  mộng,  như  tiếng  vang.  Sau  khi  quán  tướng  ấy  rồi, người trí dựa vào tướng ấy, dựa vào nghĩa nhân duyên ấy mà biết được các hành vô thường chuyển động, là pháp tận, pháp biến dịch phá hoại ly tán. Thời tiết thay đổi trong khoảng sát-na, cho đến trong một ngày đêm,  nửa  tháng,  một  tháng,  một  năm,  trăm  năm,  một  kiếp  cho  đến trăm kiếp, tất cả đều hoại diệt cùng tận. Có ngọn lửa lớn cháy rồi cũng phải tắt; có dòng nước lớn chảy siết rồi cũng phải ngừng; có gió thổi mạnh rồi cũng phải dứt; thế giới đại địa có rồi cũng thành không; có các núi lớn, như: núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, núi Tu-di và các  núi Đen v.v... có rồi cũng thành không. Mặt trời, mặt trăng, tinh tú và các hành tinh khác có rồi cũng thành không, không sáng, không chiếu  mà lại rơi rụng. Các cung điện của chư Thiên có rồi cũng thành không. Có các cung vua, thành ấp, tụ lạc, cây cối, vườn tược, ao hồ, sự việc ưa
thích phát sinh rồi nó cũng phải diệt mất. Các hàng trời, người sinh  rồi cũng phải diệt, diệt rồi lại sinh. Các người trí thấy tướng ấy rồi liền sinh tâm nhàm chán xa lìa. Vì thấy các hành này là vô thường, ly tán, hoại diệt, thay đổi, dứt tận nên họ đem lòng tin bình đẳng, bỏ nhà xuất gia. Biết được các hành giống như ảo ảnh, như mộng, như âm vang và thấy nó giống như bóng của mặt trời, mặt trăng, tinh tú v.v... ở trong nước, thấy các ảo ảnh rồi liền dựa vào tướng nhân duyên đó nên  đắc được Bồ-đề. Có các kẻ trí nhờ Phật chỉ dạy và cầu bậc thiện hữu dạy dỗ, hoặc tự tư duy biết được các hành giống như ảo ảnh, như mộng, như âm vang mà sinh lòng tin xả tục xuất gia hoặc chứng đắc được quả Tu- đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, quả A-la-hán. Nếu người Đại thừa thì đắc Sơ nhẫn, hoặc đắc Đệ nhị, Đệ tam nhẫn và có thể đạt đến Bồ-đề  vô  thượng.  Giả  sử  sau  khi  chư  Phật  diệt  độ,  ở  trong  thế  gian cũng  phải  theo  đây  mà  thuyết  pháp  lưu  hành  như  vậy.  Nếu  có  các chúng sinh được nghe pháp rồi thì đối với tam Thừa sẽ được độ  thoát như là Thanh văn thừa, Phật-bích-chi thừa và Nhất thiết chủng trí vô thượng Đại thừa. Phạm thiên, ông nên biết thứ lớp của pháp này  cũng là sự gia trì của chư Phật. Vì vậy, người trí thấy tướng ấy rồi, sinh lòng nhàm chán, xa lìa, hay biết các hành là vô thường, khổ, chuyển  động không bền chắc, là pháp tận, pháp biến dịch, giống như ảo ảnh, như mộng, như âm vang. Phạm thiên, những thứ này cũng là cảnh giới  của chư Phật và là sự gia trì của chư Phật. Có các chúng sinh đã từng tu hành, do đấy mà thành tựu, được nghe âm thanh chánh pháp như  vậy rồi nên đối với Như Lai thì đều nhớ nghĩ, cung kính, tin tất cả các hành là vô thường, hoại diệt giống như ảo ảnh, như mộng, như âm vang.  Có các chúng sinh đối với chư Phật, họ đã  từng tu phạm hạnh, hoặc ở tại gia thọ năm giới, vì nhân duyên này nên hiểu biết được như thật tất  cả các hành là vô thường, hoại diệt giống như ảo ảnh, như mộng, như âm vang, biết rồi liền sinh lòng tin, xả tục xuất gia. Chư Phật Thế Tôn tuy chưa xuất hiện ở đời, nhưng vì có sự gia trì của chư Phật như vậy, và do các căn lành đã trồng ở nơi chư Phật nên họ được Bồ-đề. Này Phạm thiên! Nên biết những thứ này đều là cảnh giới của chư Phật, là sự gia trì của chư Phật. Phạm thiên, ba ngàn đại thiên thế giới đây chẳng phải là quốc độ của Phạm, cũng chẳng phải là quốc độ của lục sư ngoại đạo,
mà là quốc độ của chư Phật chúng ta. Này Phạm thiên! Ngày xưa tại nơi đây, Ta tu hạnh Bồ-tát trong vô lượng trăm ngàn ức na-do-tha a- tăng-kỳ kiếp, ở chỗ các Đức Như Lai vô lượng a-tăng-kỳ đã gieo trồng vô lượng a-tăng-kỳ thiện căn, giữ giới cấm thanh tịnh, hoặc tu phạm hạnh và hành vô lượng trăm ngàn  ức na-do-tha khổ hạnh khó hành, thâu giữ cõi Phật đây sửa sang sắp đặt làm cho trong sạch. Giống  như các thiện căn mà chúng sinh đã tu, tùy theo thiện căn thâm sâu mà nơi đó được thanh tịnh, tùy theo đức độ tu hành mà được độ thoát. Ta đã ở trong nhiều kiếp dùng bốn nhiếp sự thu nhận chúng sinh, nghĩa là  bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự. Do sức thệ nguyện của Ta nên các chúng sinh đó được sinh về cõi Phật này, nghe Ta giảng nói pháp liền có  thể tin hiểu, lại không tin theo Phạm, Thích, Hộ thế và các Thiên vương Phạm thiên, nên biết như vầy: Đây là cõi Phật, chẳng phải là quốc  độ của Phạm, Thích, Hộ thế, cũng chẳng phải là quốc độ của Lục sư ngọai đạo.
Lúc đó, chủ thế giới Ta-bà Đại Phạm Thiên vương và trăm  ngàn Phạm chúng đều hiện tướng ưu sầu, thưa:
–Chư  Phật  Thế  Tôn  thông  đạt  pháp  thắng  diệu  hiếm  có!  Đại Phạm Thiên vương chủ ba ngàn đại thiên thế giới ở chỗ Như Lai  hiếm khi sinh tâm kính tín, nhưng vì chư Phật hy hữu và có vô lượng, vô tận cảnh giới không thể nghĩ bàn nên Đại Phạm Thiên vương liền quy y làm đệ tử Phật, ở trước Đức Thế Tôn thỉnh cầu lời dạy như thế này: Kính thưa Bà-già-bà là Đại sư của con, Tu-già-đà là Đại sư của con. Cúi xin Thế Tôn chỉ dạy cho con: An trụ như thế nào? Tu hành như thế nào?
Phật bảo Phạm thiên:
–Ba ngàn đại thiên thế giới là cõi Phật của Ta, nay Ta đem nó phó chúc cho ông, ông nên thuận theo Ta chớ để cho thiện nhãn  chân đạo bị đoạn mất, vô thượng Phật nhãn,
Pháp nhãn, Tăng nhãn bị đoạn tuyệt, sau cùng chớ làm cho pháp nhân bị diệt. Này Phạm thiên! Sẽ  có Trưởng tử Đồng chân Di-lặc Đại Bồ-tát từ miệng Phật sinh, từ pháp hóa sinh, tâm đại bi thương xót sẽ tạo lợi ích cho tất cả chúng sinh được an vui yên ổn. Di-lặc cũng được bổ xứ như pháp ở trong ba ngàn đại thiên thế giới, như Ta ở đây không có sai khác. Hiện nay, ông đã tùy
thuận lời dạy của Ta thì cũng nên thuận theo Di-lặc, chớ làm cho chân đạo,  pháp  mẫu,  Phật  nhãn,  Pháp  nhãn,  Tăng  nhãn  như  thật  bị  đoạn mất. Vì sao? Này Phạm thiên! Vì trong khoảng thời gian pháp mẫu như thật không bị đoạn mất thì tùy theo đó mà Phật nhãn, Pháp nhãn, Tăng nhãn  cũng  không  bị  đoạn  mất.  Thiên  nhãn  của  Thích,  Phạm;  nhân nhãn,  giải  thoát  nhãn,  cho  đến  Niết-bàn  nhãn  cũng  không  bị  đoạn tuyệt. Vì vậy, này Phạm thiên! Nay Ta phó chúc cho ông ba ngàn  đại thiên thế giới cõi Phật đây của Ta. Phạm thiên, như Ta đã chỉ dạy, ông phải nên tùy thuận chớ làm cho pháp nhân sau này bị diệt mất. Lúc ấy, tất cả Phạm thiên, Đại Phạm thiên trong ba ngàn đại thiên thế giới  ở trước  Thánh  pháp  đều  được  lòng  tin  chân  chánh.  Đại  Phạm  Thiên vương chủ ba ngàn đại thiên thế giới ở trong Thánh pháp được  chánh tín thâm sâu.
 
Phẩm  2: THƯƠNG  CHỦ
 
Thời bấy giờ, con của ma tên là Thương Chủ, có lòng kính tín sâu xa đối với Phật. Khi nghe Phật Niết-bàn, ma ôm lòng buồn rầu, sầu não, sợ rởn tóc gáy, nhanh chóng đến chỗ Phật, đảnh lễ, lui đứng  một bên, bạch Phật:
–Cúi xin Thế Tôn thương xót chúng sinh, làm an lạc chúng  sinh, cứu hộ thế gian. Vì thương xót làm lợi ích cho hàng trời, người nên  trụ thêm ở đời một kiếp, chớ vào Niết-bàn. Con cũng thương xót các hàng trời, người nên kính thỉnh Thế Tôn như vậy. Thế Tôn chớ làm cho  con mắt của chúng sinh mù tối quá sớm, chúng sinh không còn ai chỉ  dạy, không còn ai dẫn đường, không còn ai cứu hộ, không còn nơi nương tựa, không còn hướng nương về.
Sau khi Thương Chủ thưa như vậy rồi, Phật liền bảo:
–Này  Thương  Chủ!  Cha  của  ông  là ma  Ba-tuần,  trước  đã  thỉnh Ta  nhập  Niết-bàn,  nói thế  này:  Bà-già-bà  nhập  Niết-bàn,  Tu-già-đà nhập  Niết-bàn,  Bà-già-bà  nay  đã  đúng  lúc  nên  nhập  Niết-bàn.  Này Thương  Chủ!  Ma  Ba-tuần  cha  của  ông  đã  thỉnh  Ta  như  vậy,  Ta  tùy thuận ý ông ấy nên đã hứa nhập Niết-bàn. Thương Chủ, vì nhânduyên
này, nay đã đến lúc thực hiện điều hứa ấy, nên Ta nhập Niết-bàn.
Thương Chủ lại thưa:
–Bạch Thế Tôn! Ma Ba-tuần chẳng phải là cha của con, chẳng phải là bậc thiện hữu của con. Hắn thường tìm cầu sự sát hại, là oán gia đại  tri thức  ác  của  con, thường  muốn  làm  cho con  không  nghe  được chuyện hòa hợp, an vui, yên ổn, chỉ làm việc hủy hoại, không muốn làm  lợi  ích.  Thưa  Thế  Tôn!  Đối  với  con,  ma  ấy  là  kẻ  hết  sức  tàn  ác, hủy hoại hàng trời, người, là đại oán thù, thường muốn dập tắt ngọn đuốc trí tuệ, ánh sáng trí tuệ và trí lớn sáng suốt. Thưa Thế Tôn!  Nếu có người nói lời ngay thẳng chân thật như thế này: Trong các cõi  trời, người có một người hết sức cực ác xuất hiện ở đời thì nên biết đó là ma Ba-tuần. Thưa Thế Tôn! Nếu có người nói lời ngay thẳng chân thật như thế này: Có người không làm lợi ích cho bản thân, không làm lợi ích cho kẻ khác, không làm lợi ích cho các chúng sinh mà phát tâm thì nên biết,  đó  chính  là  ma  Ba-tuần.  Thưa  Thế  Tôn!  Nếu  có  người  nói  lời ngay thẳng chân thật như thế này: Có người không làm lợi ích, thương xót cho hàng trời, người, ma, Phạm, A-tu-la, Sa-môn, Bà-la-môn, tất cả thế gian, và không muốn làm hòa hợp yên ổn, an lạc, chỉ muốn thoái lui, đọa lạc thọ các khổ não mà phát tâm, thì nên biết đó chính là  ma Ba-tuần. Thưa Thế Tôn! Chính con được nghe Thế Tôn nói thế này: Có hai loại người: Một là như pháp, hai là phi pháp. Nên biết việc Thế Tôn đã hứa với ma Ba-tuần nhập Niết-bàn là không như pháp. Cúi  xin Thế Tôn chớ có giữ chặt lời hứa đó. Vì tạo lợi ích, thương xót, an lạc cho  các  hàng  trời,  người,  tất  cả  chúng  sinh  nên  xả bỏ lời  hứa  đó,  trụ thêm ở đời một kiếp. Nếu Phật trụ dài lâu ở đời thì hàng trời, người được lợi ích, an lạc. Vì vậy, Thế Tôn chớ có vào Niết-bàn quá sớm.
Phật bảo Thương Chủ:
–Lành thay! Lành thay! Vì muốn chúng sinh được lợi ích thì đúng là phải làm như vậy. Này Thương Chủ! Nếu có người cung cấp chođại vương  quán  đảnh  đăng  vị  Sát-lợi,  hoặc  cung  cấp  cho  vương  tử,  đại thần, hoặc cung cấp cho những người bảo vệ đất nước, thành ấp,  làng xóm  v.v...  thì  người này  ở  chỗ  Sát-lợi  vương  được  hưởng  phước  lộc, chức  tước  lớn  và  Sát-lợi  vương  cũng  thường  ban  phước  lộc,  che  chở phòng  hộ  cho  con,  cháu,  họ  hàng  quyến  thuộc  của  người  đó.  Này
Thương Chủ! Ông nay  ở chỗ Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri vô thượng pháp vương, sinh lòng tin trong sạch. Vì ông tin trong sạch nên được Như Lai vỗ về và ban phước  báo. Ta nay vỗ về ông là vì ông trồng thiện căn, sinh lòng tin trong sạch ở chỗ Phật. Thương Chủ,  nên biết như vầy: Nhờ niềm tin thiện căn trong sạch này nên ở đời vị lai sau  khi  Ta  diệt  độ,  ông  sẽ  làm  Phật-bích-chi  hiệu  là  Bi  Mẫn.  Này Thương Chủ! Sau khi Ta Niết-bàn, chánh pháp diệt rồi, chính ma  Ba- tuần sẽ rất vui mừng. Vì vui mừng nên đọa vào trong cung ma, đọa trong đại địa ngục A-tỳ thọ đủ vô lượng, vô số khổ não. Vì sao? Vì ma Ba-tuần sinh vui mừng phấn khởi khi ngọn đuốc tuệ, ánh sáng trí  tuệ thù thắng diệt mất. Này Thương Chủ! Nếu có người nói lời ngay thẳng chân thật như thế này: Có người tự làm hại mình, tự phá họai mình, tự mình làm ác mà phát tâm thì nên biết đó chính là ma Ba-tuần. Vì sao? Này  Thương  Chủ!  Vì  sau  khi  Ta  diệt độ,  chánh  pháp  còn  trụ  ở  đời, trong thời gian đó ma Ba-tuần được ở cung ma. Nhưng khi pháp Ta diệt rồi, chính vì ma hết lòng vui mừng, phấn khởi ưng ý nên trong sát-na đó bị đọa vào cung ma, trong địa ngục A-tỳ. Thương Chủ, thí như có người ở trên cây to lớn, cây đó hoa quả sum sê đủ để dùng, người đó ở trên cây thụ hưởng hoa quả một cách khoái khẩu ưng ý, đã thọ dụng rồi liền trở lại chặt phá cành nhánh chỗ mình ở. Thương Chủ, ý ông nghĩ sao? Lúc ấy, người này có còn ở được trên cây đó nữa không? Ở trên cây thọ hưởng an vui rồi, lại chặt gãy cành cây đó, có thể gọi là  người trí không?
Thương Chủ thưa:
–Không, thưa Bà-già-bà! Không, thưa Tu-già-đà!
Phật bảo:
–Này Thương Chủ! Ma cũng như vậy, thường mong Như Lai Ứng Chánh Biến Tri nhập Niết-bàn, cũng thường vui khi chánh pháp  Tỳ-ni của Như Lai bị diệt. Thương Chủ, trong thời gian chánh pháp còn trụ  ở đời, trong khoảng thời gian này ma Ba-tuần được an trụ trong cung ma. Nhưng khi pháp của Ta diệt thì ma Ba-tuần sinh vui mừng, hết lòng phấn khởi ưng ý nên bị giam trong cung ma, đọa vào địa ngục A-tỳ. Này Thương Chủ! Ví như người kia ở trên cây vì tự hại nên siêng làm việc phá hoại. Ma cũng như vậy, tự làm hại mình, làm hại kẻ khác mà
chuyên cần phát tâm. Thương Chủ, sau khi ma đọa trong địa ngục A-tỳ chịu nhiều thống khổ đau đớn như cái khổ bị cướp đoạt mạng sống,  bị khổ xúc chạm xong sẽ nhớ đến Ta và nói thế này: “Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri là người nói lời chân chánh, nói lời chân thật, lời  nói không hư dối, nói lời lành như thật. Cao quý thay! Thân luật nghi.  Cao quý thay! Khẩu luật nghi. Cao quý thay! Ý luật nghi. Khi thân hành thiện, khẩu hành thiện, ý hành thiện thì đạt được quả báo an vui, như ý, từ ái, ưng ý. Còn thân làm ác, nói lời ác, ý nghĩ ác thì thu được quả báo không an vui, không ưng ý, không ưa thích ưng ý. Trước kia, thân ta hành động tương ưng điều ác, miệng nói ra tương ưng điều ác, ý  nghĩ tương ưng điều ác. Vì nghiệp báo này nên nay ta bị đọa vào địa  ngục, nhận chịu các thống khổ đau  đớn cực não như vậy, như cái khổ của người sắp chết, hết sức đau đớn không thể chịu nổi”. Khi ma Ba-tuần nhớ  lời  nói của Ta nên sinh  được lòng  tin  trong  sạch. Được lòng  tin trong  sạch  rồi,  ma  liền  mạng  chung  ở  địa  ngục,  sinh  về  cõi  trời  Ba Mươi Ba. Vì sao? Thương Chủ, vì nếu đem tâm ác, làm các điều sai trái đối với Như Lai thì khi thân hoại mạng chung sẽ đọa vào địa ngục lớn. Nếu đem tâm từ cúng dường Như Lai, không tìm cầu việc ác thì khi thân hoại mạng chung liền được sinh trong cõi lành của hàng  trời, người. Nhờ căn lành này mà được gặp chư Phật, gặp chư Phật rồi lại trồng thiện căn, trồng thiện căn rồi tuần tự sẽ được vô lậu Niết-bàn. Thương Chủ, ông đối với Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri sinh lòng tin trong sạch, nhờ thiện căn này ông sẽ được gặp Phật Di-lặc xuất hiện ở đời. Gặp Di-lặc rồi, ông có thể làm thức tỉnh các chúng sinh đang thùy  miên,  phóng  dật  v.v...  bằng  cách  nói  thế  này:  Chúng  sinh  các ngươi,  phải  nên  dũng  mãnh  chuyên  cần  làm  các  việc  lành.  Như  Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri thị hiện ở đời rất hiếm có, cũng như hoa Ưu- đàm đúng thời mới nở, Như Lai cũng vậy, đúng thời mới xuất hiện. Có lúc  Phật  dạy:  Không  nơi  nào  là không  có  Niết-bàn,  thân  người  khó được, tám nạn khó tránh, gặp được Phật và sinh ra đời ở giữa quốc  gia cũng  lại  rất  khó.  Vì  vậy,  các  ông  cẩn  thận  chớ  có  phóng  dật,  nên chuyên cần tu hành để sau này chớ có hối tiếc. Này Thương Chủ! Ông phải  nên  vâng  lời  và  lãnh  thọ  giáo  pháp  của  Phật  Di-lặc.  Ông  phai thường đem tâm từ, tâm bi, tâm không oán thù, tâm thương xót, tâm an
vui, tâm quảng đại, tâm hộ trì dưỡng dục mà thu phục dân chúng và quốc độ của Di-lặc vô thượng pháp vương. Ông dùng thiện căn này  ở chỗ cung điện ma, theo thứ lớp làm cho nơi đó được bổ ích, đầy đủ giàu sang và được làm chủ tự tại. Thương Chủ, nếu có chúng sinh ở chỗ Như Lai trồng các căn lành cho đến chỉ phát một tâm niệm trong sạch thì những chúng sinh đó vì căn lành đây mà được gần gũi cam lộ, cam  lộ bậc nhất, cam lộ tối thắng. Thương Chủ, nhờ căn lành nên ông ở nơi đó hưởng được nhiều phước báo của hàng trời, người, sau cùng trải qua tám mươi kiếp, ông được làm Phật-bích-chi hiệu là Bi Mẫn. Vì sao? Này Thương Chủ! Vì sau khi nghe Ta Niết-bàn, ông sinh lòng tin trong sạch đối với Ta và khởi lòng thương từ bi đối với chúng sinh, vì  muốn làm cho các chúng sinh  được an  vui nên  ông cầu thỉnh  Ta trụ  ở đời chẳng nên nhập Niết-bàn. Ông lại ở trong giáo pháp Di-lặc thương xót chúng sinh, giác  tỉnh cho các chúng sinh đang thùy miên phóng dật, dùng pháp thiện dạy bảo làm cho họ nhớ lại mà không còn phóng dật. Nhờ nhân duyên này nên ông được thọ ký làm Phật-bích-chi.  Thương Chủ, Ta sẽ ban cho ông quả báo lành như vậy, chắc hẳn là ông hết sức vui mừng ưng ý. Thương Chủ, những phước báo này là do nhân  duyên thiện căn của ông khuyến thỉnh Như Lai. Như Lai sẽ dùng pháp thí để bảo hộ phước báo thiện căn cho ông.
Khi đó, Thương Chủ lại bạch Phật:
–Thưa  Thế  Tôn!  Nếu  Thế  Tôn  không  chấp  thuận  lời  khuyến thỉnh của con mà nhập Niết-bàn, thì con nguyện từ nay cho đến thời pháp  trụ,  lìa bỏ  năm  dục,  luôn  giữ  đạo  hiếu,  không  thích  rong  chơi, không mặc  áo  khác,  không  dùng  tràng  hoa,  hương  xoa,  hương  bột  và không thọ dụng quả báo thù thắng của chư Thiên. Vì sao? Chính vì Thế Tôn là vật báu sáng suốt của chúng sinh đang xa lìa con để đi nơi khác, không còn hội hợp, không còn quay lại, trọn không còn thấy Thế  Tôn. Thưa Thế Tôn! Làm sao con vui được, làm sao tươi cười được, làm sao có thể thích, làm sao ưng ý được, khi đấng đuốc tuệ lớn, đèn tuệ lớn, đại trí quang minh diệt độ, con có gì mà vui mừng, phấn khởi, ưng ý. Thế  Tôn  là  mặt  trời  đại  trí  có  vô  lượng  trăm  ngàn  ánh  sáng  quyến thuộc, diệt trừ vô minh tối tăm ám muội, là đấng đại trí sáng suốt  diệt độ thì con có gì mà vui mừng, ưng ý. Có gì đáng vui, có gì đáng    cười,
khi  con  đang  xa  lìa  vật  báu  của  chúng  sinh.  Thế  Tôn  là  chúng  sinh không thể đo lường, là chúng sinh chẳng khuyết giảm, là chúng sinh sáng suốt, là chúng sinh vô tội, là chúng sinh không si mê, là chúng sinh vô thượng, là chúng sinh tối thượng, là chúng sinh không ai giống, là  chúng  sinh  không  ai  sánh  bằng,  là  chúng  sinh  cao  tột  trong  tất  cả chúng sinh, là chúng sinh đáng được tất cả chúng sinh cúng dường, là chúng sinh có thể dìu dắt tất cả chúng sinh, có thể cứu vớt tất cả chúng sinh, là chúng sinh vi diệu trong tất cả chúng sinh, là đấng điều phục chúng sinh, là đấng thương xót chúng sinh, là đấng nói lời chân chánh, là đấng nói lời chân thật, là đấng nói đúng thời, là đấng nói hợp thời, là đấng nói không sai khác, là đấng tu hành như lời nói, là đấng trụ đại từ bi, là đấng có tâm vô ngại đối với các chúng sinh, là đấng có tâm  bình đẳng đối với các chúng sinh, là đấng không hý luận, là đấng vô ngã, ngã sở, là đấng không tích tụ, là đấng không nhà cửa, là đấng không nương dựa ai, là đấng không hóc hiểm, là đấng vô cấu, là đấng cứu giúp, là đấng dẫn đường, là đấng hóa độ, là đấng biết đủ, là đấng  cởi trói, là đấng dưỡng dục, là đấng khiến chúng sinh nhớ nghĩ, là đấng khiến chúng sinh tỉnh ngộ, là đấng dạy bảo, là đấng đắc thắng trong chiến  đấu,  là  đấng  nhổ  mũi  nhọn,  là  đấng  y  vương  trị  tâm  bệnh,  là đấng bố thí nhiều thuốc bổ, là đấng cứu khổ rốt ráo, là đấng thuyết pháp, là đấng giúp Thương Chủ sắp khởi hành đốn, là đấng chỉ chỗ nông cạn, là đấng cầm bánh lái, là đấng cầm đuốc, là đấng phát  minh, là đấng tạo ánh sáng, là đấng chiếu sáng, là đấng bố thí nhãn quang, là đấng chỉ đường, là đấng giúp chúng sinh đến cõi nước an ổn, là đấng xa lìa tất cả trần cấu hóc hiểm gai góc, là đấng không khát ái, là đấng xa lìa các kiết sử, là đấng lìa các ràng buộc, là đấng lìa tham, sân, si, là đấng lìa các phiền não, là đấng lìa giận hờn, kiêu mạn. Đúng thật là đại trượng phu, trượng phu giỏi, trượng phu bậc nhất, trượng phu khỏe, trượng phu dũng mãnh, trượng phu liên hoa, trượng phu phân-đà-lợi, trượng phu rồng, trượng  phu thầy rồng, trượng  phu sư tử, trượng phu thượng  thủ,  trượng  phu  chúa  tể,  trượng  phu  mạnh,  trượng  phu  voi, trượng phu vô thượng, trượng phu vô thượng điều ngự, đấng đầy đủ các thừa, đấng đủ tất cả các lực, đấng đủ mười lực, đấng đắc bốn vô sở úy, đấng đủ mười tám pháp bất cộng, đấng đắc đại phước trí lực, đấng đầy
đủ vô lượng pháp tạng, đấng không ganh ghét, đấng làm đẹp lòng  tất cả chúng sinh, đấng đại thí chủ vô thượng, thí chủ tối thắng, tâm không hiềm hận, đấng đắc đại thiền định, đấng đắc cảnh giới các thiền Tam- muội, tam ma bát đề; đấng tuệ vô lượng, đấng tuệ vô chướng, đấng đắc cảnh giới vô đẳng tuệ,  đấng bẻ gãy  cờ  ma,  đấng  vượt  qua  bùn  nhơ, đấng qua đến bờ kia, đấng trụ ở bờ kia, đấng đến chỗ vô úy, đấng trừ sợ hãi cho tất cả chúng sinh, đấng an ủi tất cả chúng sinh, đấng kiên cố đối với tất cả chúng sinh; sau đêm nay, Thế Tôn sẽ biệt ly, con không còn thấy nữa. Thưa Thế Tôn! Như Lai thường ở giữa các đại chúng cất tiếng sư tử, nhưng từ nay con không còn nghe thì có gì mà vui, có gì mà ưng ý. Thưa Thế Tôn! Ví như có người ở chỗ vua quán đảnh Sát-lợi được phước lộc, sau khi vua băng hà thì người đó sinh lòng ưu sầu buồn khổ, biết ân dưỡng của vua, nhớ ân dưỡng của vua mà mình đã từng thọ hưởng. Các chúng sinh đó vì vua ấy nên chuyên nhất gìn giữ  đạo hiếu trong một ngày, hai ngày cho đến bảy ngày, hoặc nửa tháng cho đến một tháng nhớ vua mà rơi lệ. Thưa Thế Tôn! Con cũng như vậy. Sau khi Như Lai diệt độ cho đến lúc chánh pháp trụ thế, trong thời gian đó con xả bỏ năm dục, chuyên nhất gìn giữ đạo hiếu, không thích vui đùa, không mặc áo khác, không dùng tràng hoa, hương bột, hương  xoa và không thọ dụng phước báo thù thắng của chư Thiên.
 
Phẩm  3:  ĐẾ  THÍCH
 
Bấy giờ, Thích-đề-hoàn-nhân đến chỗ Phật, đảnh lễ rồi lui  đứng một bên, bạch Phật:
–Cúi xin Thế  Tôn chỉ  dạy cho con tu hành như thế nào? Thưa Thế Tôn! Trước kia có một thời, Tứ đại A-tu-la vương mặc áo giáp  lát đồng, thắng xe, cùng  với quyến thuộc  tiến  đến cõi trời Ba Mươi Ba khiêu chiến đánh nhau. Lúc chư Thiên và A-tu-la giao chiến thì Thánh giả  Mục-liên  còn  trụ  tại  thế.  Thánh  giả  Mục-liên  đến  chỗ  tứ  A-tu-la, dùng pháp đúng như thật điều phục họ. Nhờ vậy, chư Thiên và các  A- tu-la đều được yên ổn, không còn tranh chấp với nhau, phỉ báng chống trái nhau. Thưa Thế Tôn! Đại Mục-liên đã diệt độ rồi, ngày nay   Như
Lai cũng nhập Niết-bàn. Nếu vậy, sau này mỗi khi chúng con  tranh chấp, chống trái nhau, ai sẽ hòa giải? Xin Thế Tôn chỉ dạy, nếu khi bốn A-tu-la vương cùng con tranh chấp nhau thì con dùng phương kế gì để đối trị họ?
Phật bảo Thích-đề-hoàn-nhân:
–Này Kiều-thi-ca! Thôi chớ có ưu bi, chớ có buồn rầu, chớ có  lo lắng. Nếu ông giữ giới thì sở nguyện ắt được thành tựu. Chỉ có người giữ tịnh giới mới thành tựu, chứ chẳng phải người không giữ tịnh  giới mà được. Người giữ phạm hạnh chứ chẳng phải người không giữ phạm hạnh, người lìa dục chứ chẳng phải người không lìa dục, người lìa  sân chứ chẳng phải người không lìa sân, người lìa si chứ chẳng phải người không lìa si, người trí tuệ chứ chẳng phải người không trí tuệ mà được thành tựu. Này Kiều-thi-ca! Từ nay về sau, Ta sẽ bảo hộ ông cho  đến lúc chánh pháp của Ta chưa diệt. Nếu khi chư Thiên cùng A-tu-la đánh nhau,  ngay  lúc  đó  ông  xưng  danh  hiệu  của  Ta  thì  chư  Thiên  sẽ  đắc thắng.
Lúc đó, bốn đại A-tu-la vương nghe Phật nói việc gia hộ, sợ  rợn tóc  gáy,  trong  lòng  tức  giận  đến  ngay  chỗ  Phật,  đến  rồi  đảnh  lễ  lui đứng một bên thưa Phật:
–Thưa Thế Tôn! Vì duyên cớ gì mà Như Lai nói lời gia hộ như vậy.
Phật bảo bốn đại A-tu-la:
–Các ông chớ có buồn rầu, chớ có lo sợ. Có lúc các ông sẽ được đại tự tại hơn cõi trời Ba Mươi Ba, lại không còn đánh nhau, không còn tranh cãi, không còn cạnh tranh, không còn chống trái. Do vậy các ông phải thận trọng chớ có đánh nhau, chớ phỉ báng nhau, chớ tranh luận nhau, chớ có tâm chống trái, nên khởi tâm từ, tâm thương yêu thì sẽ được như ý muốn. Này các nhân giả! Mạng sống không bao lâu, bậc chủ tự tại cũng phải thuận theo sự vô thường. Này các nhân giả!  Thế gian có đầy đủ sự hội hợp ắt có sự ly tán. Này các nhân giả! Nên quán triệt  để  vô  thường  tế Như  Lai  dạy,  không  oán  thù   các   chúng  sinh, không chống trái, không tranh giành, thường tạo sự hòa hợp. Hết thảy chúng sinh còn phát tâm bình đẳng, huống gì các ông có chút ít  thiện căn mà lại vui thích đấu tranh, xâm lấn nhau sao. Này các nhân giả!
Nếu khởi tâm não hại kẻ khác thì người này sẽ bị não hại trở lại  trong nhiều kiếp. Các nhân giả! Nếu có người ưa thích sát hại thì người này sẽ bị quả báo thọ mạng ngắn ngủi; nếu thích đấu tranh thì người này thường bị quả báo sợ chết, không có bà con quyến thuộc, không có thế lực mạnh. Này các nhân giả! Hai nghiệp thiện và ác trọn không tan mất. Vì vậy, từ nay về sau, các ông phải luôn luôn trụ tâm từ, trụ  thân nghiệp  từ,  khẩu  nghiệp  từ,  ý  nghiệp  từ,  chớ  có đấu  tranh,  chớ  tranh giành, chớ phỉ báng nhau. Nhờ nhân duyên này nên các ông đạt được lợi ích an vui trong nhiều kiếp, sau này không có hối tiếc.
Phật nói lời này rồi, bốn đại A-tu-la vương bạch Phật:
–Thật  đúng  như  vậy,  thưa  Thế  Tôn!  Thật  đúng  như  vậy,  thưa Thiện Thệ! Chúng con xin y theo lời Như Lai dạy, tu như vậy, trụ  như vậy. Thưa Thế Tôn! Từ nay về sau con xả bỏ tất cả sự chiến đấu,  nhất nhất tu tâm từ bi.
Nghe Phật Niết-bàn, Thích-đề-hoàn-nhân như bị mũi tên ưu sầu bắn trúng, lòng sầu não cực độ, xót thương khóc lóc, rơi lệ bạch Phật:
–Thưa  Thế  Tôn!  Từ  nay  cho  đến  lúc  pháp  trụ,  con  không  còn hưởng thọ năm dục, không vào nội cung, không mặc y phục khác. Đại đức Bà-già-bà giống như bậc gia trưởng qua đời. Là người tri thức được ân  dưỡng  thì  tâm  sinh  khổ  não  khi  nhớ  nghĩ  ân  xưa,  vì  nhớ  nghĩ  ân dưỡng ấy nên đau lòng rơi lệ, chuyên nhất gìn giữ đạo hiếu. Thưa  Thế Tôn! Con cũng như vậy. Từ nay cho đến thời pháp trụ, suốt thời gian đó con đau lòng rơi lệ, chuyên trì gìn giữ đạo hiếu, không thọ hưởng năm  dục,  không  vào  nội  cung,  không  mặc  y  phục  khác.  Vì  sao?  Vì đấng Đạo sư sáng suốt vô thượng đang cùng con xa lìa, không còn được gặp, không còn hội hợp. Thích-đề-hoàn-nhân thưa như vậy rồi, đứng đó cúi mặt than khóc.
/53
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »