396 - Kinh Đại Phương Đẳng Vô Tưởng - Quyển II - Phần 1: Đại Vân (Trang 969 - 990)">
Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1139.

Chương 39: Kinh Đại Phương Đẳng Vô Tưởng - Quyển II - Phần 1: Đại Vân (Trang 969 - 990)

KINH  ĐẠI  PHƯƠNG  ĐẲNG  VÔ TƯỞNG
 
QUYỂN  II
 
PHẦN  1:  ĐẠI   VÂN
 
Chương  1:  NÓI  VỀ  ĐẠI CHÚNG   2
 
Này thiện nam! Có kinh Đại Vân là biển lớn tổng trì, là biển lớn Tam-muội, chính là pháp ấn của Như Lai, là thành pháp của chư Phật, là pháp giới hết mực thâm diệu, thường trụ bất biến, là`thường, lạc, ngã, tịnh, không thể nghĩ bàn.
Này thiện nam! Nếu ai thọ trì, biên chép, đọc tụng, giảng nói, thì người ấy có khả năng phá tan phiền não cho chúng sinh, đoạn trừ mọi bần cùng, khốn khổ. Nhằm lúc đói khát, đồng ruộng tiêu điều, nước non quý hiếm v.v… nếu đọc tụng kinh này thì sẽ được mùa màng thêm tươi, đất đai trù phú. Hoặc lúc hạn hán, trời không giáng mưa, hoặc có lúc khát khao pháp thực, đọc tụng kinh này thì sẽ đạt được vị pháp cam lồ tổng trì.
Nếu ai muốn có đầy đủ đại thần thông thì nên thọ trì kinh này.
Nếu muốn tuôn trận mưa pháp thấm nhuần cây khô thì nên  đọc kinh này.
Nếu có bệnh hoạn cũng nên thọ trì kinh này.
Vì sao? Vì kinh này là thần dược cho mọi thứ bệnh hoạn. Kinh này  có  năng  lực  đoạn  trừ  mọi  độc  hại,  là  đại  Đà-la-ni,  là  đại  Tam- muội.  Kinh  này  là  những  hương  thoa,  hương  bột,  hương  đốt,  là  hoa thanh tịnh vi diệu.
Này thiện nam! Nay ông đốt lên ngọn đèn trí tuệ, phá tan sự tối tăm, cuồng ngu cho chúng sinh, thế nhưng các chúng sinh thường nói: “
Pháp  vô  thường,  vô  ngã,  vô  tịnh  của  Như  Lai  là  pháp  hoại  diệt”, chúng  sinh  như  vậy  tức  là  uống  nước  độc,  bị  mũi  tên  cực  độc,  vết
thương lở lói, cuồng say, mất tâm, bị vô minh  che lấp. Hàng  Thanh văn, Duyên giác giống như loài bò già yếu đuối. Vì thế, ông nên tuyên nói rộng rãi, phân biệt công đức của Như Lai, dùng dầu thật tướng làm sáng tỏ thêm ngọn đèn trí tuệ, khai phát mắt tuệ, trừ bỏ sự tối tăm  của vô minh.
Nếu  ai  nói  Như  Lai  thật  sự  sinh  ra  nơi  vương  gia  Du-đầu-đàn, xuất gia học đạo, tu tập khổ hạnh, phá trừ quân ma, ngồi nơi đạo tràng thành đạo Bồ-đề, thì nên biết, đấy là kẻ hủy báng Phật. Thà bị chặt đầu, nhổ đứt cả lưỡi, chớ nên phát ra những lời nói hư vọng như vậy. Vì sao? Vì chẳng thể khéo giải thích được những lời nói bí mật của chư Phật Như Lai. Nếu trong kinh có chép: “Sa-môn Cù-đàm”, thì nên biết đó là mậtngữ.
Này thiện nam! Nếu vì chúng sinh thị hiện thần túc thì nên  biết đó là đứa con chân chánh của Phật.
Này thiện nam! Ông vì đạt được quả báo lớn nên đã trao cho các hàng Thanh văn, Phật-bích-chi những thứ thuốc như thuốc khiến nôn tháo  ra,  thuốc  làm  giảm  đau,  thuốc  xông,  thuốc  uống,  thuốc  trị  các bệnh. Những thuốc ấy là gì? Đó là kinh điển Đại Thừa Phương Đẳng. Ông  nên  biết:  Kinh  này  tức  là  Chuyển  luân  Thánh  vương  trong  các kinh. Vì sao? Vì trong kinh điển này có chép: “Thật tánh, Phật tánh của chúng sinh thường trụ trong tạng pháp. Chúng sinh không hiểu rõ cả đến một câu một chữ”. Nay ông nên lắng nghe, lắng nghe rồi tức đấy sẽ là tạng pháp của ông. Ông lại nên quán cảnh giới của kinh này.
Này  thiện  nam!  Kinh  này  có  pháp  môn  gồm  bốn  trăm  thứ  giải thoát không thể nghĩ bàn của chư Phật, Bồ-tát.
Này thiện  nam!  Kinh  này có  môn Tam-muội  Thần thông vương trong tạng báu của cácpháp.
Này thiện nam! Kinh này có môn Đà-la-ni nơi tạng báu trong  ba mươi sáu trí tuệ không thoái chuyển của chư Phật, Bồ-tát.
Này thiện nam! Kinh này lại có pháp môn gồm ba mươi ba loại phương tiện giải thoát theo đại hạnh hội nhập mọi âm thanh chúng sinh của chư Phật, Bồ-tát.
Này thiện nam! Kinh này lại có pháp môn gồm mười loại thần túc đại hạnh quang vương hội nhập tạng mật hạnh của chư Phật,    Bồ-
tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười loại từ cảnh giới đạo   hành
nghiệp sinh tử, đạt được tâm định giải thoát theo tuệ nguyện tạng của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười trí bất diệt nhập vào tư  duy theo thần thông vương của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười loại tạng pháp tư duykhông sinh, có thể hội nhập nơi thần túc của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười trí thâm diệu hội nhập  vào hạnh pháp vương vô úy của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười loại Đại vân thấy tạng công đức không thể nghĩ bàn nơi giáo pháp của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh  này  lại  có  pháp  môn  nhập  vào  mười  loại  ngôn  ngữ  của chúng sinh, tu pháp hạnh lớn theo phương tiện không dứt bỏ giải  thoát của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười loại thần thông hội nhập nơi sinh hành, hữu hành, hành tạng quang vương của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười loại Tam-muội tâm trụ  nơi hạnh nghiệp sinh tử phiền não giải thoát theo pháp tạng thệ nguyện của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười loại trí hội nhập vào thần túc vương không thể nghĩ bàn của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười loại thần túc vương  không sinh, không thể nghĩ bàn, thông đạt mật tạng của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười trí sâu rộng hội nhập nơi hạnh tinh tấn của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười trí Đại vân tạo các pháp hòa hợp nơi thần túc vương của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn Đại vân với nhãn mục quang minh của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh  này  lại  có  pháp  môn  gồm  đủ  mười  thứ  ánh  chớp  tỏa  sáng của Đại Vân hội nhập nơi hạnh của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn Đại vân xiển dương kinh Đại thừa của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn thần túc biến hiện đèn sáng của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn giảng nói mười loại mưa pháp nhập vào thần túc vương của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười trí kim cang hội nhập nơi tạng pháp của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh  này  lại  có  pháp  môn  gồm  mười  loại  tánh  chánh  hạnh  là chốn hội nhập của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười hạnh vô tận hội nhập nơi thần thông vương của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười loại hành nghiệp vô cùng vi diệu là nẻo hội nhập của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười loại sư tử hống là nơi  chốn hội nhập của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười hạnh sinh khởi hòa hợp hội nhập nơi tâm hộ trì nghiệp thế gian của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười thần thông báu là chốn hội nhập của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười thần thông của chim cánh vàng là chốn hội nhập của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười đại thí vi diệu vương của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười đại lực thần thông vô sở  úy là nẻo hội nhập của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười hạnh rộng lớn như biển  lớn là chốn hội nhập của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười loại chí tâm là nơi chốn hội nhập của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười đại lực vi diệu, dũng mãnh vương là chốn hội nhập của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười loại thiện hành đại thần thông vương, là chốn hội nhập của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười hai tạng thần thông được khai thị của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười trí tạng báu của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mọi hành nơi cảnh giới mười trí là chốn hội nhập của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh  này  lại  có  pháp  môn  gồm  mười  chánh  trí  vi  diệu  nơi  tạng báu của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh  này  lại  có  pháp  môn  gồm  hạt  giống  nơi  mười  thứ  ruộng phước của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn gồm mười thứ thần thông chân thật vua của mọi sự an lạc, là chốn hội nhập của chư Phật, Bồ-tát.
Này thiện nam! Ông quán kinh này là không thể nghĩ bàn,  cảnh giới của công đức cũng là không thể nghĩ bàn. Đây chính là tạng pháp không  thể  lường,  không  thể  nghĩ  bàn  của  chư  Phật,  Bồ-tát.  Cũng  là tạng báu vô tận, không thể nghĩ bàn của chúng sinh.
Lại  nữa,  này  thiện  nam!  Cảnh  giới  của  kinh  này  là  không  thể nghĩ bàn.
Này thiện nam! Kinh này lại có pháp môn là Tạng Đà-la-ni  của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn là Như Lai tạng vi diệu bí mật của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn là Như Lai đại hải (Biển lớn của  Như Lai) của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn là Như Lai thời tạng pháp (Tạng thời gian của Như Lai) của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn là Như Lai thế tạng (Tạng thế gian của Như Lai) của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn là Như Lai nhật tạng (Tạng mặt trời của Như Lai) của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh  này  lại  có  pháp  môn  là  Như  Lai  nguyệt  tạng  (Tạng  mặt trăng của Như Lai) của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn là Như Lai cảnh giới (Cảnh giới của Như Lai) của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn hết mực sâu xa của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn là Như Lai vô sở úy của chư Phật, Bồ-
tát.
Kinh này lại có pháp môn là Như Lai dũng kiện của chư Phật,
Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn là Như Lai địa của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn là Như Lai của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn là A-lê-ha của chư Phật, Bồ-tát.
Kinh này lại có pháp môn là Như Lai tụ của chư Phật, Bồ-tát.
Này thiện nam! Ông quán xét về đại pháp Đà-la-ni của kinhnày, chính là tạng phước vô tận của tất cả chúng sinh, là pháp môn Đà-la-ni, Tam-muội giải thoát không thể nghĩ ban của chư Phật. Đây chẳng phải là cảnh giới mà các ông có thể nhận biết được. Chư Phật Thế Tôn tùy theo thế gian mà nói, nghĩa lý hết mực sâu xa, khó có thể thấu đạt, chỉ có Như Lai mới thấy biết được. Từ xưa tới nay, đối với những việc như vầy, ông chưa từng được nghe, thậm chí đến cả một câu, một chữ.  Vì thế, hôm nay Ta sẽ giảng nói về cảnh giới vô cùng sâu xa này của Như Lai. Ông phải chí tâm lắng nghe, ghi nhận.
Đại Bồ-tát Đại Vân Mật Tạng thưa:
–Thật đúng như lời của bậc Thánh dạy. Bạch Thế Tôn! Con khác nào loài nhặng, loài kiến, thường bị vô minh bao phủ tối tăm. Cúi  xin Như Lai mở lòng thương xót, hãy vì khắp tất cả chúng sinh mà  giảng nói  rõ  về  một  câu,  thậm  chí  một  chữ.  Như  Lai  là  đấng  
Pháp  vương không thể nghĩbàn.
Bạch Thế Tôn! Các hàng Thanh văn, Duyên giác giống như  loại bò già mù, điếc, câm, ngọng, khác nào như đứa trẻ nhỏ. Con cũng  như vậy, xưa nay con thật chưa từng nghe được một câu, thậm chí đến chỉ một chữ. Cúi mong Như Lai hãy vì chúng sinh mà mở rộng lòng thương lớn. Mọi cảnh giới hiện có của  chư Phật Như  Lai là không  thể nghĩ bàn, thường trụ không đổi, thông đạt các pháp. Cúi xin Như Lai hãy  vì chúng  con  cùng  các  chúng  sinh  mà  giảng  nói  rõ  về  tạng  bí  mật  ấy, thậm chí chỉ cần nghĩa lý của một câu hay một chữ, khiến cho chúng con cùng các chúng sinh thấy biết được sự thường hằng bất biến của Như Lai.
Phật nói:
–Lành thay! Lành thay! Này thiện nam! Hôm nay ông đã    khéo
lãnh  hội  những  lời  bí  mật  hiện  có  của  chư  Phật.  Thiện  nam!  Kinh Phương Đẳng này là không thể nghĩ bàn. Những thệ nguyện của ông cũng là không thể nghĩ bàn.
Pháp Đà-la-ni của chư Phật Như Lai là không thể nghĩ bàn. Cảnh giới của kinh này cũng là không thể nghĩ bàn. Ánh sáng của trí thâm diệu cũng không thể nghĩ bàn.
Thiện  nam!  Theo  như  ông  nói:  “Đối  với  kinh  này,  mình  giống như hạng bò già, đứa trẻ mù, điếc, câm, ngọng, không thể nào hiểu rõ. Thiện nam, ông chớ nên sinh lòng hồ nghi, sầu muộn.
Thiện  nam!  Trong  mọi  trường  hợp,  hoặc  đi,  hoặc  đứng,  hoặc nằm, hoặc ngồi, ông thường phải luôn nhớ nghĩ tới kinh điển này. Hoặc giả gặp các nạn: nước, lửa, trộm cướp… cũng nên kiên trí cẩn thận, chớ buông bỏ. Vì sao? Vì trong kinh điển này có năm văn tự, nghĩa lý  rất sâu xa:
1.         Như Lai.
2.         Thường.
3.         Lạc.
4.         Ngã.
5.         Tịnh.
Đây được gọi là công đức vô thượng của Như Lai không thể nghĩ
bàn.
Lại  nữa,  này  thiện  nam!  Giả  sử  trong  lửa  dữ  bùng  cháy  khắp
Hằng hà sa thế giới trong mười phương, có người nhớ nghĩ tới kinh này, thì lửa dữ không thể thiêu đốt họ, vậy nên luôn cúng dường, tôn  trọng Tam bảo, đừng khiến tâm quên mất. Nay ông có được mọi công đức vi diệu, đó là do ông đã từng tán thán chư Phật, đã hay hỏi về chỗ  chưa từng nghe nơi nghĩa lý sâu xa của một câu, một chữ. Không bao lâu, các ông cũng sẽ đạt được sự thấy biết về diệu nghĩa ấy.
Nếu muốn biết sự thường hằng bất biến của Như Lai, ông phải nên thọ trì kinh này, đọc tụng biên chép, giảng nói nghĩa kinh. Vì  sao? Vì những điều được nói trong kinh ấy là không thể nghĩ bàn. Như Lai thường hằng, không có biến đổi, trọn không rốt ráo nhập vào Niết-bàn. Ông nên trình bày giảng nói về thường, lạc, ngã, tịnh cho khắp tất cả chúng sinh. Chư Phật Như Lai không có vị nào rốt ráo nhập vào  Niết- bàn.
Pháp bảo, Tăng bảo thường trụ cũng không diệt tận.
Khi  ấy,  Tỳ  Lam  Đại  Tỳ  Lam  Phong  Vương  -  người  được  thọ hưởng quả báo vui sướng giống như cõi trời - phóng ra cơn gió mát suốt thời  không  đổi,  khiến  cho  hoa  quả  thường  có,  không  lúc  nào  tạm ngừng. Rồi ông đem đầy đủ những đồ cúng dường đến chỗ Phật,  đầu mặt đảnh lễ, chấp tay cung kính, nhiễu bên phải ba vòng và lui rangồi một bên.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn dùng sức thần thông cho nổi lên bốn  đám mây đen, nước ngọt tuôn khắp, phát lên ba thứ sấm, nghĩa là cả tầng trên, tầng giữa, tầng dưới đều phát ra âm thanh cam lồ giống như kỹ nhạc ở cõi trời, tất cả chúng sinh đều vui thích nghe.
Lúc đó, Đức Thế Tôn liền nói chú:
–Kiệt đế, ba ly kiệt đế, tăng kiệt đế, ba la tăng kiệt đế, ba la ty la diên để, tam ba la ty la diên để, bà la bà la, ba ta la, ba bà la, ma văn xà, ma văn xà, giá la đế, giá la để, ba giá la để, tam ba la giá la để  tỳ đề hy ly hy lê, tát lệ ê, tất lệ ê, phú lô phú lô sa ha.
Nếu có các vị rồng nào nghe thần chú này mà không cho mưa ngọt xuống, đầu sẽ bị vỡ ra làm bảy mảnh.
Cùng lúc mười vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ thế giới chư Phật đều chấn động đủ sáu cách. Bấy giờ, nhân nơi đại địa chấn động các chúng sinh khắp chốn mỗi mỗi đều thấy nhau, lần lượt cùng nhau giao động, cho đến cõi trời Tịnh Cư. Trời Tịnh Cư động rồi thì Long vân đều động. Khi  Long  vân  động thì mưa  xuống cơn  mưa  lớn,  chín  vạn tám  ngàn dòng sông lớn hiện có trong cõi Diêm-phù-đề đều chứa đầy bảy  báu. Tất cả ao, suối có đủ các vị thượng dược. Mặc dù mưa suốt bảy  ngày nhưng không làm thương tổn ai. Chúng sinh vui sướng như được  uống cam lồ. Các con sông chứa đầy nước tám công đức, đó là: ngon,  lạnh, nhẹ, mềm, trong sạch, thơm tho, khi uống lan khắp cơ thể, uống rồi không bệnh. Những loại trùng trong nước đều phát ra âm thanh vi diệu.
Tại núi Kỳ-xà-quật thuộc thành Vương-xá, bảy báu trải kín khắp mặt đất, từ nơi không trung lại mưa xuống bảy báu, kết thành những loại hoa: hoa Ưu-bát-la, hoa Bát-đầu-ma, hoa Câu-vật-đầu, hoa Phân- đà-lợi. Những loài thủy tộc đều phát tâm cầu đạt đạo quả Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng. Những chúng sinh thuộc hàng súc sinh thì ham thích Đại thừa, khao khát Đại thừa, lòng từ hướng nhau, xem nhau như
một, đều cùng phát tâm cúng dường Đức Phật. Lúc đó, đại chúng và các chúng trời, rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la,  Khẩn- na-la,  Ma-hầu-la-già,  đem  đầy  đủ  những  đồ  cúng  dường  như:  hoa, hương,  kỹ  nhạc  v.v…  cúng  dường  Đức  Phật.  Từ  không  trung  lại  mưa xuống các loại hương, hoa, y báu, kỹ nhạc, cờ phướn v.v… cúng  dường Đức Thế Tôn.
Thiện nam! Kinh này chính là chỗ thành tựu của vô lượng  công đức, thế nên, có khả năng hiện bày những điềm như vậy.
Bấy giờ, cả đại chúng cùng thưa:
–Bạch Thế Tôn! Hôm nay con mới biết được thường, lạc, ngã, tịnh của chư Phật Như Lai. Cúi xin Như Lai hãy từ bi thương xót nhận y Ưu-đa-la-tăng  của  chúng  con  dâng  cúng.  Sau  đó  toàn  thể  đại  chúng dùng kệ tán thán:
Như Lai chân thật thường
Thành từ vô lượng đức
Nay con vì thường - lạc
Nên cúi đầu đảnhlễ.
Chư Phật bỏ vô thường
Mới đạt thân vô biên
Thiên Trung Thiên vô thượng
Đại lực khó nghĩ bàn.
Như Lai thường không đổi
Dốc tiến thân vô biên
Vì chúng mưa pháp vũ
Giống như Đại Vân vương.
Phật tự đạt an lạc
Vì chúng nói an lạc
Tự đạt các công đức
Khuyên bảo đại chúng theo.
Như Lai, tuệ vô thắng
Thường trụ như hư  không
Vì chúng làm ruộng phước
Thường hành hạnh bậc Thánh.
Thương xót các chúng sinh
Biết được nghiệp của họ
Mở bày tạng bí mật
Mát mẻ như trăng non.
Nay nói kinh ĐạiVân
Đoan nghiêm như trăng tròn
Định biết vô lượng chúng
Phát khởi tâm Bồ-đề.
Thế Tôn bậc Pháp vương
Đối pháp, đạt tự tại
Nên mệnh danh chân ngã
Thành tựu lạc vô thượng.
Như Lai lên tòa báu
Cất tiếng sư tử gầm
Tuyên nói các chúng sinh
Tất cả có Phật tánh.
Ví như trong núi Hương
Thường sinh cỏ nhẫn nhục
Như Lai với sức thần
Khiến cho khắp cả chúng.
Thấy núi Thứu-đầu này
Đều do bảy báu thành
Bấy giờ, trong chúng hội
Thấy rồi rất vui thích.
Giống như Tứ Thiên vương
Ưa trụ núi Tu-di
Như Lai đại phước điền
Thần lực không thể lường.
Phá trừ chúng sinh kiết
Phiền não, mọi uám
Tất cả các chúng sinh
Không thoái tâm Bồ-đề.
Giống như chư Thế Tôn
An lạc không lay động
Chúng sinh đoạn nghiệp ác
Thành tựu giới thiện diệu.
Tu hành hạnh Bồ-đề
Quyết định thấy Phật tánh
Nếu được nghe kinh này
Chỉ đến nghĩa một chữ.
Tức đắc đạo Bồ-đề
Tùy thuận hành phạm hạnh
Cúi mong đấng Vô thượng
Diễn nói cho một câu.
Khiến khắp tất cả chúng
Đều được hiểu nghĩa lý
Các chúng sinh chúngcon
Chậm lụt, không trí tuệ.
Như Lai hãy thương xót
Khai mở, khiến đượchiểu
Tất cả các chúng sinh
Nghèo thiếu đói pháp thực.
Cúi mong đại từ bi
Ban bố khiến đủ đầy khắp
Chúng con được nhận rồi
Lại sẽ chuyển cho người.
Cũng khiến tất cả chúng
Thảy đều được đầy đủ
Tất cả các chúng sinh
Nghèo nàn không phước đức.
Không thường, không có ngã
Cũng không chỗ quy y
Như Lai đã thành tựu
Đaị công đức vô thượng.
Cúi mong đấng đại từ
Ban con cùng tất  cả
Như Lai là Pháp vương
Như biển, vua các sông.
Chúng sinh không biết dựa
Nay con được nương tựa
Vì chúng làm nương tựa
Giống như cha mẹ lành
Ban chúng vị cam lồ
Khiến khắp dứt phiền não.
Thế Tôn Như Lai Chánh Giác không thể nghĩ bàn, sự thương xót chúng  sinh  cũng  không  thể  nghĩ  bàn,  nhưng  lời  nói  bí  mật  khó  thể lường tính.
Chư Phật Thế Tôn là Tam-muội vương, là đại thuyền sư  vương, không thể xưng kể, không thể tínhlường.
Cảnh  giới  như  vậy  chẳng  phải  là nơi  mà  các  hàng  Thanh  văn, Duyên giác biết được.
Như Lai là đấng Nguyệt vương, thường không có sự tăng giảm, là tướng đại mãnh của các công đức, là nơi tích tụ vô lượng phước báo chân thật, là Nhật vương vô thượng đại quang minh, xem các chúng sinh ngang đồng La-hầu-la, sức mạnh đạt được đều đem ban bố cho tất cả. Tự mình không còn sự sợ hãi, lại khiến cho chúng sinh cũng đạt được vô sở úy. Tự bản thân phá tan vô minh, lại trừ bỏ cho chúng  sinh sự tối tăm, u ám của vôminh.
Bạch Thế Tôn! Con bị vô minh ngăn chận nên cũng không  biết, không biết được thường, lạc, ngã, tịnh của Như Lai. Tất cả chúng sinh bị vô minh che lấp nên vọng cho Như Lai là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Vì thế họ mới chịu sự trôi lăn trong ba nẻo ác. Nếu ai cho Như Lai diệt độ hoàn toàn nơi Niết-bàn, nên biết kẻ ấy ắt phải đọa vào địa ngục.
Bạch  Thế  Tôn!  Hôm nay  con  mới  biết  được chư  Phật Như  Lai không  rốt  ráo  diệt  độ.  Biết  được  vậy,  con  đạt  được  vật  báu  lớn  vô thượng. Dựa vào Phật lực, con lại biết được bản tánh thật sự của chư Phật, lại được uống pháp cam lồ vô thượng, dứt hẳn tất cả mọi ràng buộc của phiền não. Những người xưa nay bị cuồng điếc, câm, ngọng, ngày nay thảy đều được chữalành.
**
 
Chương  2:  NÓI  VỀ TAM  MUỘI
 
Bấy giờ, Đại Bồ-tát Đại Vân Mật Tạng nói:
–Bạch Thế Tôn! Sự giác ngộ chân chánh của Như Lai là  không thể nghĩ bàn. Nay Thế Tôn nói kinh này khiến cho vô lượng chúng sinh phát tâm cầu đạt đạo quả Bồ-đề Vô thượng. Cảnh giới của kinh này là không thể nghĩ bàn, chính vì tất cả vô lượng chúng sinh mà hiện đại thần thông, mưa các vị báu. Chúng sinh nào được nghe tất được gặp mưa pháp cam lồ vô thượng. Thế nên Như Lai là không thể nghĩ bàn, cảnh  giới  của  kinh này cũng  không  thể  nghĩ bàn.  Tất  cả chúng  sinh thành tựu đại công đức mới gặp được. Nghiệp báo của chúng sinh là không thể nghĩbàn.
Bạch Thế Tôn! Ngày nay chúng sinh được sự an lạc giống như cái vui ở bậc thiền thứ ba, hình mạo quý lạ như cõi trời không khác. Hôm nay, Như Lai nói tạng kinh này tức là nói đến tạng vô tận của chúng sinh, tuôn mưa đại pháp, đó là pháp tổng trì Tam-muội, thường trụ bất biến của Như Lai.
Nói “Vân” tức là nói các vị Đại Bồ-tát.
Nói “sấm rền vang” tức là nói phá tan mọi hành động tạo sự  ràng buộc của phiền não.
“Ánh chớp lóe sáng” nghĩa là nói các chúng sinh đều có Phật
tánh.
“Âm thanh” tức nói các Bồ-tát vì chúng sinh mà giảng nói  pháp
hữu vi, pháp vô thường, vô ngã, vô lạc, vô tịnh.
“Mưa đá” tức là tám phần Thánh đạo có khả năng phá hủy tất cả mọi ràng buộc của phiềnnão.
“Lại nói có mưa đá” nghĩa là kinh này có năng lực phá hủy  tâm của  hàng  Thanh  văn,  Phật-bích-chi.  Đó  tức  gọi  là  tuôn  đại  mưa  pháp, làm  cho  những  chúng  sinh  đói  khát,  túng  thiếu  được  no  đủ,  nghĩa  là Như Lai thường trụ không đổi, ấy gọi là mưa cam lồ.
Phật nói:
–Lành thay! Lành thay! Này thiện nam! Hôm nay ông đã  khéo giảng nói về mưa pháp như vậy. Thiện nam! Nếu các Bồ-tát nàomuốn mưa pháp làm thấm nhuần đem lại lợi ích cho chúng sinh thì nên thọ trì kinh này, tu hành, đọc tụng, biên chép, cúng dường, giảng nói nghĩa kinh.
Này thiện nam! Hãy lắng nghe, lắng nghe và ghi nhớ. Trong kinh
điển không thể nghĩ bàn này có trụ giải thoát nhập bảo tạng. Thần túc pháp vương cùng bốn trăm Tam-muội. Nay Ta sẽ giảng nói.
Này thiện nam! Kinh này lại có Tam-muội Thâm mãnh đại  hải nhãn mục của chư Phật, Bồ-tát. Nếu Bồ-tát nào thành tựu đầy đủ Tam- muội này thì đạt được đầy đủ đa văn đại hại, đa văn tạng báu của  Bồ- tát, tâm không còn sự hồ nghi đối với đạo quả Bồ-đề Vô thượng.
Nói “vô ngại” tức nói thân không bị ngăn ngại, có thể sinh khắp các thế giới tịnh diệu của chư Phật.
Lại  nói  “vô  ngại”  tức  đạt  Túc  mạng  trí,  ví  các  chúng  sinh  xoay chuyển nămhữu.
Lại,  “vô  ngại”  tức  không  tham  chấp  nơi  nghiệp  nhưng  lại  đạt được quả báo.
Nói “vô ngại” nghĩa là hễ một lần thấy Phật, tâm sinh hoan  hỷ, thì vào đời sau đạt được thân đoan nghiêm, thân được mọi người  yêu mến, thân không tham, thân không ác, thân lớn, thân thượng tộc,  thân đại phú, thân quyến thuộc không hoại, thân không bị phá hoại, thân không thoái, thân không diệt.
Những hạnh nguyện tu tập, niệm vui tạo nghiệp, đều hướng đến đạo quả Bồ-đề Vô thượng, thành tựu được sự hổ thẹn phá tan mọi kiêu mạn, chăm tu tinh tấn, từ - bi - hỷ  - xả, đem  không - vô tướng -  vô nguyện huân nhập nơi tâm.
Lại nữa, “vô ngại” tức là nguyện sinh cõi khác, liền được  vãng sinh. Mọi tà thuyết dị kiến đều không thể hủy hoại được. Những gì mà người  này  muốn  nói  về  cú nghĩa  vô  tận,  hoặc  trời,   hoặc   ma,  hoặc Phạm,  Sa-môn,  Bà-la-môn  cũng  không  thể  mê  hoặc  làm  rối  loạn, khiến tâm họ dao động.
Tuy  đọc  ngoại  điển  nhưng  tâm  không  tham  vướng,  không  ham muốn thân của hàng Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu- la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già. Lại không tham vướng những thứ  như: phòng xá, ngọa cụ, y phục, ẩm thực. Thiên ma Ba-tuần không sao xen tay hại được. Những pháp thiện họ thực hành trọn không quên  mất.
Phàm những lời  người  này giảng nói đều  được mọi người  kính thọ. Tâm họ thoáng đạt giống như đại hải. Trí tuệ của họ cũng như thế, viên mãn trọn đủ giống như trăng tròn, như mặt trời, ngọn đuốc có khả
năng phá tan sự u ám, tối tăm, như tánh của hư không không thể  nào nắm bắt được, không đắm chấp nơi thế gian, như hoa ở dưới nước. Đối với tất cả hữu, tâm không tham vướng, có khả năng hủy hoại pháp giới, giống như kim cương, giữ cõi các pháp giống như núi Tu-di, bản tánh thanh tịnh giống như ngọc báu lưu ly, đạt được giới của Như Lai tâm niệm nơi tuệ luôn sáng tỏ, tánh lực như huyễn hóa, không động  không trụ.
Này thiện nam! Kinh này lại có Tam-muội Tràng báu giải thoát thâm diệu bậc nhất. Nếu Bồ-tát nào có đầy đủ Tam-muội ấy thì  được mệnh danh là bậc  đa văn đại hải,  đa văn tạng  báu, tâm không nghi ngại, cho đến huyễn hóa cũng không động, không trụ.
Này thiện nam! Kinh này lại có Tam-muội
Pháp môn tịnh trí hết sức thâm diệu. Nếu Bồ-tát nào có đầy đủ Tam-muội này thì được mệnh danh là bậc đa văn đại hải, đa văn tạng báu, tâm không nghi ngại,  cho đến huyễn hóa cũng không động, không trụ.
Này thiện nam! Kinh này lại có: Tam-muội Phật căn hương tượng vương  giải  thoát.  Tam-muội  Thủ  lăng  nghiêm.  Tam-muội  Dũng  lực. Tam-muội Dũng thắng. Tam-muội Kiền dũng. Tam-muội Hảo  hương. Tam-muội Chánh quang. Tam-muội Vô ngã quang. Tam-muội  Thậm thâm hạnh tạng. Tam-muội Hành thâm giải thoát. Tam-muội Hành lực giải  thoát.  Tam-muội  Nhất  thiết  pháp  hạnh.  Tam-muội  Hằng  hà  sa đẳng hạnh. Tam-muội Nhất thiết giải thoát. Tam-muội Nhất thiết Tam muội vương. Tam-muội Chánh thượng. Tam-muội Đại hải triều.  Tam- muội Bản giải thoát. Tam-muội Hoại ma ức chúng. Tam-muội Trụ giới điện quang. Tam-muội Hỏa quang. Tam-muội Vô tận ý vương.  Tam- muội Vô tận ý. Tam-muội Hải vương thần túc. Tam-muội Đại cao ý. Tam-muội Chủng tử. Tam-muội Trụ đại hải. Tam-muội Vô ngại. Tam- muội Vô ngại giới. Tam-muội Cao giải thoát. Tam-muội Nhân  duyên ý. Tam-muội Nghiệp tác. Tam-muội Kiền hành vương. Tam-muội  Đại lực. Tam-muội Thậm thâm lưu ly vương. Tam-muội Tu-di sơn. Tam- muội  Sư  tử  hống.  Tam-muội  Cam  lồ  vị.  Tam-muội  Trang  nghiêm. Tam-muội  Hỏa  quang.  Tam-muội  Liên  hoa  quang.  Tam-muội  Quốc thổ  hỷ.  Tam-muội  Nhất  thiết  thân.  Tam-muội  Động  đại  hải  vương. Tam-muội Động đại địa vương. Tam-muội Nhất thiết Tam muội   mẫu.
Tam-muội Hoại nhất thiết nữ thân. Tam-muội Sư tử hạnh vương. Tam- muội  Viên  vương.  Tam-muội  Tế  hạnh.  Tam-muội  Cổ  thanh  vi  diệu. Tam-muội  Đoạn  hữu.  Tam-muội  Lưu.  Tam-muội  Quảng  tuệ.  Tam- muội  Biến  hóa.  Tam-muội  Quang  minh.  Tam-muội  Hoại  ám.  Tam- muội  Đại  hải  trí  tuệ.  Tam-muội  Tán  thán.  Tam-muội  Đại  tán  thán. Tam-muội  Thời.  Tam-muội  Đại  thời.  Tam-muội  Hiện  tại  giải  thoát. Tam-muội  Hợp  tán.  Tam-muội  Phân-đà-lợi  hoa.  Tam-muội  Khinh. Tam-muội Đại lạc. Tam-muội Hư không. Tam-muội Giải thoát thân. Tam-muội Đoạn ngữ. Tam-muội Đoạn thanh. Tam-muội Vô ái.  Tam- muội  Vô  thắng.  Tam-muội  Nhất  thiết.  Tam-muội  Man.  Tam-muội Long  vương.  Tam-muội  Phong.  Tam-muội  Phong  hành  vương.  Tam- muội Vô biên. Tam-muội Vô sắc. Tam-muội Vô biên sắc.  Tam-muội
Pháp ý. Tam-muội Vi diệu hương. Tam-muội Thân ý. Tam-muội  Thủ lăng  nghiêm.  Tam-muội  Hoại  ác.  Tam-muội  Liên  hoa  ý.  Tam-muội Đại lực xí. Tam-muội Hoại vô minh. Tam-muội Bồ đề thọ.  Tam-muội Bảo  mạng  mạng.  Tam-muội  Đại  lực  mạng.  Tam-muội  Nhật  quang. Tam-muội  Nguyệt  quang.  Tam-muội  Đại  hải  môn.  Tam-muội  Nhất thiết pháp giới. Tam-muội Kiết sử căn. Tam-muội Giới vũ.  Tam-muội Giới  vân.  Tam-muội  Am-la  quả.  Tam-muội  Am-la  hoa.  Tam-muội Tịnh.  Tam-muội  Thủy.  Tam-muội  Loa.  Tam-muội  Thời.  Tam-muội Thời vương.  Tam-muội  Chúng. Tam-muội Vô  thân. Tam-muội  Giới. Tam-muội Thiện giới. Tam-muội Địa. Tam-muội Địa thần túc.  Tam- muội  Thủy  đẳng.  Tam-muội  Thanh  liên  hoa.  Tam-muội  Cam  lồ  vị. Tam-muội  Vô  hệ.  Tam-muội  Uyên  ương.  Tam-muội  Xa  luân.  Tam- muội Chuyển luân Thánh vương. Tam-muội Bất động. Tam-muội Bất khinh. Tam-muội Bất trường. Tam-muội Lân mẫn. Tam-muội Tịnh ý. Tam-muội  Nhất  thiết  công  đức  ý.  Tam-muội  Y-la-bát-la.  Tam-muội Vô nghĩa giải thoát. Tam-muội Phong thần túc vương. Tam-muội  Vô lượng tràng. Tam-muội Hư không giới. Tam-muội Vô tuệ tinh.  Tam- muội Quang bảo. Tam-muội Bạc thời. Tam-muội Đồng tử. Tam-muội Vương  tử.  Tam-muội  Đoạn  độc.  Tam-muội  
Pháp  đăng.   Tam-muội Quốc  thổ  vượng.  Tam-muội  Thí  thế  giới.  Tam-muội  
Pháp  quý  đức. Tam-muội
Pháp lực. Tam-muội Thượng hoa. Tam-muội Hỷ. Tam-muội Đại hỷ. Tam-muội Tri đại lực. Tam-muội Tấn-đầu-ca quả.   Tam-muội
Tinh  tấn.  Tam-muội  Xưng.  Tam-muội  Bạch  nga  vương.  Tam-muội Thân quang. Tam-muội Vô tận lực. Tam-muội Vô tận lực giải thoát. Tam-muội Tăng trưởng danh. Tam-muội Đoan chánh. Tam-muội Năng phá  hoại.  Tam-muội  Ma-lâu-ca  hoa.  Tam-muội  Thiện  hạnh  vương. Tam-muội  Thiện  quang.  Tam-muội  Bảo  địa.  Tam-muội  Bạch.  Tam- muội Bạch chủng. Tam-muội Tịnh hạnh ý. Tam-muội Ái quang minh. Tam-muội Hư không tâm. Tam-muội Thiên quan. Tam-muội  Chuyển luân  Thánh  vương  quan.  Tam-muội  Niệm  Bồ  tát.  Tam-muội  Hộ  ý. Tam-muội  Hộ  thậm  thâm.  Tam-muội  Lực  thừa.  Tam-muội  Lực  thừa quang. Tam-muội Lực sĩ. Tam-muội Lực sĩ tinh tấn. Tam-muội Diêm phù quốc. Tam-muội Thố ngư. Tam-muội Mãng xà. Tam-muội  Cảnh giới vương. Tam-muội Tịnh cảnh giới. Tam-muội Sử tâm.  Tam-muội Triêu thanh. Tam-muội Hữu đức ý. Tam-muội Đại thanh.  Tam-muội Đại  hải  sắc.  Tam-muội  Đại  an.  Tam-muội  Huyên.  Tam-muội   Vô huyên. Tam-muội Kim cương ý. Tam-muội Thế Tôn mục. Tam-muội Tu-di sơn vương. Tam-muội Tuyết sơn vương. Tam-muội Thế Tônhiện hạnh. Tam-muội Thắng. Tam-muội Liên hoa. Tam-muội  Câu-vật-đầu hoa. Tam-muội Nguyệt tạng. Tam-muội Hoa phu. Tam-muội Địa man. Tam-muội Hiện tại niệm Thế Tôn vương. Tam-muội Thắng trụ.  Tam- muội Thiện trụ. Tam-muội Thiện hạnh. Tam-muội Đại hải.  Tam-muội Nhất thiết nhập bình đẳng. Tam-muội Nhập nhất thiết nghi. Tam-muội Đại  dược.  Tam-muội  Đại  dược  lực.  Tam-muội  Cam  lồ  dược  vương. Tam-muội Đại dược vương. Tam-muội Đại lãnh. Tam-muội Đại  hải. Tam-muội  Đại  lãnh  vương.  Tam-muội  Vô lãnh  vô  nhiệt.  Tam-muội An. Tam-muội An lực. Tam-muội Nhất thừa. Tam-muội Thích tuệ tinh. Tam-muội Hữu đức. Tam-muội Bảo viên vương. Tam-muội Vô  định sắc.  Tam-muội  Định  hoa.  Tam-muội  Lục  nhập  chân  tịnh.  Tam-muội Đại  giới.  Tam-muội  Năng  hoại  dục  giới.  Tam-muội  Anh  lạc.  Tam- muội Kim sắc. Tam-muội Trí ái. Tam-muội Trí viên vương. Tam-muội Trí tử. Tam-muội Phân-đà-lợi hoa. Tam-muội Nhật quang vương. Tam- muội  Nguyệt  ái.  Tam-muội  Quang  vương.  Tam-muội  Quang  viên vương.  Tam-muội  Tịnh  quang  vương.  Tam-muội  Quang  tạng.  Tam- muội Thanh quang. Tam-muội Thời quang. Tam-muội Đoạn ám. Tam- muội Quang triêu. Tam-muội Tiễn quang. Tam-muội Nhất thiết  thiện
căn.  Tam-muội  Bà-la-na  hương  tượng  vương.  Tam-muội  Vị  sinh  ác vương.  Tam-muội  Điều  nhu.  Tam-muội  Năng  hoại  kiêu  mạn.  Tam- muội Diệu đức. Tam-muội Diệu thanh. Tam-muội Tham vị. Tam-muội Viện địa vương. Tam-muội Thần thông vương. Tam-muội Thần  thông căn. Tam-muội Chuyển luân Thánh vương phan. Tam-muội  Chuyển luân Thánh vương tràng. Tam-muội Sư  tử đầu. Tam-muội Nhật thần thông.  Tam-muội  
Pháp  hộ.  Tam-muội  Quảng.  Tam-muội  Tri  nghiệp thần thông vương. Tam-muội Cao. Tam-muội Vô thượng.  Tam-muội đăng vương. Tam-muội Xá trạch. Tam-muội Đa hỷ. Tam-muội Sơ địa. Tam-muội Giới địa. Tam-muội Đại hải hỷ vương. Tam-muội Đại hải từ vương.  Tam-muội  Đại  hải  bi  vương.  Tam-muội  Đại  hải  xả  vương. Tam-muội  Nhẫn  nhục  vương.  Tam-muội  Nhẫn  nhục  lực  giới  vương. Tam-muội Thần thông chí tâm. Tam-muội Bát giải thoát môn. Tam- muội
Pháp giới tất cánh. Tam-muội Vô giới. Tam-muội Vô tánh. Tam- muội Đại điền chủng tử. Tam-muội Trí từ. Tam-muội Hải.  Tam-muội Hải  lực.  Tam-muội  Phật  nhãn.  Tam-muội  Phật  môn.  Tam-muội  Trí hạnh. Tam-muội Phật diện. Tam-muội Nhất thiết thân. Tam-muội Nhất thiết  phước  đức  vương.  Tam-muội  Hư  không  tạng.  Tam-muội   Hư không huyễn. Tam-muội Phật huyễn. Tam-muội Ác tánh.  Tam-muội Trị  độc.  Tam-muội  Miên.  Tam-muội  Giác.  Tam-muội  Mộng.  Tam- muội  Đắc.  Tam-muội  Thần  thông  vương.  Tam-muội  Vô  ngã   thần thông.  Tam-muội  Thắng  kiến.  Tam-muội  Thắng  hỷ.  Tam-muội  Tùy thế. Tam-muội Phật diện trụ. Tam-muội Chánh kiến. Tam-muội Nhất thiết vi trần. Tam-muội Ngữ vô ngại. Tam-muội Tịnh. Tam-muội Thân quang. Tam-muội Thân đăng. Tam-muội Bất si. Tam-muội Bất cuồng. Tam-muội  Nhất  thiết  thắng  quang.  Tam-muội  Thủy  ý.  Tam-muội Phiêu. Tam-muội Thủy mạt. Tam-muội Vô thắng. Tam-muội Vô thắng trí. Tam-muội Vô thắng thân. Tam-muội Tinh tấn. Tam-muội Hằng  hà sa đẳng thắng vương. Tam-muội Tri kiến viên quang vương. Tam-muội Đoạn súc sinh. Tam-muội Nguyện sinh súc sinh hữu. Tam-muội Súc sinh  thần  thông.  Tam-muội  Lạc  súc  sinh.  Tam-muội  Bất  nhiễm  súc sinh nghiệp. Tam-muội Nhập địa ngục. Tam-muội Bất nhiễm địa  ngục nghiệp. Tam-muội Bất nhiễm địa ngục nghiệp hành thần thông  vương. Tam-muội An lạc hạnh thể. Tam-muội Hữu đức hà. Tam-muội Hữu
đức hải. Tam-muội Tịnh hà. Tam-muội Tịnh hạnh công đức. Tam-muội Phước  đức.  Tam-muội  Phước  đức  thanh.  Tam-muội  Tịnh  phước  đức văn. Tam-muội Hữu đức mộng. Tam-muội Tán thán. Tam-muội  Hữu đức mộng đắc. Tam-muội Hữu đức mộng hạnh. Tam-muội Chánh  hữu đức. Tam-muội Tịnh tăng trưởng. Tam-muội Trí vũ. Tam-muội Phong đồng  hành.  Tam-muội  Cát.  Tam-muội  Cát  trang  nghiêm.  Tam-muội Cát thần thông. Tam-muội Cát thần thông vương. Tam-muội Vô  giới. Tam-muội  Tạp  sắc.  Tam-muội  Thọ  giới.  Tam-muội  Tán  giới.  Tam- muội  Giới  thật.  Tam-muội  Trí  đăng.  Tam-muội  Đắc  giới  thật.  Tam- muội Thường giới. Tam-muội Thường giới nhập tạng kiến.  Tam-muội Tâm.  Tam-muội  Tâm  vương.  Tam-muội  Thường  giới  hỷ.  Tam-muội Thường lạc giới. Tam-muội Giới anh lạc. Tam-muội Giới thiên  quan. Tam-muội  Giới  cụ  túc.  Tam-muội  Giới  man.  Tam-muội  Giới  hương. Tam-muội  Giới  hoa.  Tam-muội  Giới  đồ  mạt  hương.  Tam-muội  Giới thần thông vương. Tam-muội Nhất thiết vị. Tam-muội Nhất thiết hoa. Tam-muội Nhất thiết hương túy. Tam-muội Đoạn nhất thiết hư  không. Tam-muội  Thọ  an  lạc.  Tam-muội  Đoạn  nhất  thiết  thế  pháp  vương. Tam-muội Thường. Tam-muội Hằng. Tam-muội Bất biến.  Tam-muội Địa. Tam-muội Vô thích địa. Tam-muội Vô thạch sa. Tam-muội Địa đẳng.  Tam-muội  Đại  vân  lưu  ly  vương.  Tam-muội  Thanh  cổ.  Tam- muội Đại vân điện. Tam-muội Đại vân bộc thủy. Tam-muội Đại  vân thủy tạng. Tam-muội Đại vân thủy man. Tam-muội Đại vân an thủy. Tam-muội Đại vân thủy ngưng. Tam-muội Đại vân trí hải.  Tam-muội Đại vân thắng lực. Tam-muội Đại vân thủy quang trì vương. Tam-muội Đại vân thủy triều hải. Tam-muội Đại vân hải chủng. Tam-muội  Đại vân bất động thủy. Tam-muội Đại vân thủy bất động thần thông vương. Tam-muội  Đại  vân  đoan  chánh  vương.  Tam-muội  Đại  vân  nhất  vị. Tam-muội Đại vân nhất thừa.  Tam-muội Đại vân an thủy lưu. Tam- muội  Đại  vân  đa  thủy lưu.  Tam-muội  Đại vân  lãnh  thủy.  Tam-muội Đại  vân  bất  lãnh  bất  nhiệt  thần  thông  vương.  Tam-muội  Đại  vân nguyệt vương. Tam-muội Đại vân hữu đức. Tam-muội Đại vân sơ lực. Tam-muội Đại vân khát. Tam-muội Đại vân lạc. Tam-muội Đại  vân thủy hành vương. Tam-muội Đại vân hư không hành. Tam-muội Đại vân thủy bảo. Tam-muội Đại vân hỷ. Tam-muội Đại vân bảo    chủng.
Tam-muội Đại vân hộ. Tam-muội Đại vân thủy tịnh vương.  Tam-muội Đại vân thủy quy y ấn. Tam-muội Đại vân pháp ấn. Tam-muội Đại vân thủy tịnh quang. Tam-muội Đại vân đại thủy tạng vương. Tam-muội Đại  vân  thủy  định.  Tam-muội  Đại  vân  liên  hoa.  Tam-muội  Đại  vân thủy giới. Tam-muội Đại vân thủy đẳng. Tam-muội Đại vân dạ  hành. Tam-muội Đại vân thủy thanh. Tam-muội Đại vân hải vô tận ý. Tam- muội Đại vân phóng quang. Tam-muội Đại vân tạng. Tam-muội  Đại vân  thủy  tụ.  Tam-muội  Đại  vân  thủy  trụ.  Tam-muội  Đại  vân  sư  tử vương. Tam-muội Đại vân lạc. Tam-muội Đại vân tịnh. Tam-muội Đại vân  tham.  Tam-muội Đại vân  tràng.  Tam-muội  Đại  vân  thậm  thâm. Tam-muội Đại vân lôi. Tam-muội Đại vân tăng trưởng thủy. Tam-muội Đại vân dược vương. Tam-muội Đại vân túy vị. Tam-muội Đại vân sư tử  hạnh.  Tam-muội  Đại  vân  đại  hương  tượng  vương.  Tam-muội  Đại vân an lạc. Tam-muội Đại vân phong. Tam-muội Đại vân thủy hành bất động. Tam-muội Đại vân vô úy.  Tam-muội Đại vân thủy  thuận. Tam-muội Đại vân vô tận ý. Tam-muội Đại vân lậu nan sổ. Tam-muội Đại vân lôi đại lực. Tam-muội Đại vân thủy hỷ. Tam-muội Đại vân hải thủy viên. Tam-muội Đại vân thủy phan. Tam-muội Đại vân cam lồ vũ. Tam-muội Đại vân chiên đàn lương. Tam-muội Đại vân cát.  Tam- muội Đại vân tất cánh. Tam-muội Đại vân vô chung thỉ. Tam-muội Đại vân la võng. Tam-muội  Đại vân bảo vũ. Tam-muội Đại vân bí mật. Tam-muội Đại vân tuệ tinh. Tam-muội Đại vân ý mật. Tam-muội  Đại vân đại động. Tam-muội Đại vân diệt. Tam-muội Đại vân vi diệu âm. Tam-muội  Đại  vân  hằng  hà  sa  đẳng.  Tam-muội  Đại  vân  thủy  kiện. Tam-muội  Đại  vân  nga  vương.  Tam-muội  Đại  vân  thủy  hành.  Tam- muội Đại vân mạng. Tam-muội Đại vân cuồng vương. Tam-muội  Đại vân cuống. Tam-muội Đại vân Thủ lăng nghiêm. Tam-muội Đại  vân mã vương. Tam-muội  Đại vân phách thọ. Tam-muội Đại vân vô tận vân. Tam-muội Đại vân nhất thiết đẳng đại. Tam-muội Đại vân  nhất thiết vũ. Tam-muội Đại vân nhất thiết hòa hợp. Tam-muội Đại vân Am la thọ quả. Tam-muội Đại vân sơn phụ. Tam-muội Đại vân kiên tiên. Tam-muội Đại vân mật hạnh. Tam-muội Đại vân mật thật.  Tam-muội Đại  vân  nga  vương  hạnh.  Tam-muội  Đại  vân  bất  khả  tư  nghì.  Tam- muội Đại vân nhập trụ thần thông vương.
Này thiện nam! Nếu Bồ-tát nào có đầy đủ các loại Tam-muội như thế thì đạt được đa văn đại hải, đa văn bảo tạng của Bồ-tát. Đối với đạo quả Bồ-đề Vô thượng, tâm không còn nghi ngại, trọn không còn bị đọa nơi ba cõi ác, không sinh nơi biên địa, đạt được trí túc mạng, tạo nghiệp sinh tử, vui  với sinh tử, thường được gặp Tam bảo: Phật,
Pháp, Tăng; thậm chí ngay trong mộng cũng không lìa bỏ, được thân đoan nghiêm, thân được mọi người yêu mến, thân không tham, thân không ác, thân lớn, thân chủng tánh, hàng quyến thuộc thì hòa hợp, không ngăn trở phá hoại, không lui, không diệt, không đọa, không mất.
Đối với việc tu hành, thâm tâm niệm tuệ, đều hướng tới đạo quả giác ngộ vô thượng được sức hổ thẹn, đoạn trừ kiêu mạn, chăm tu tinh tấn,  từ  bi  hỷ  xả,  huân  tập  nơi  tâm  không  -  vô  tướng  -  vô  nguyện, nguyện sinh tịnh độ tức khắc vãng sinh. Mọi tà thuyết dị kiến không thể phá hoại. Thuyết pháp có thứ lớp, cú nghĩa dồi dào. Tuy đọc ngoại điển nhưng tâm không tham vướng, hoàn toàn không nguyện cầu  thân trời,  thân  rồng,  thân  Dạ-xoa,  cho  đến  thân  của  Chuyển  luân  vương, cũng không tạo tác nghiệp hạnh sinh tử, không cầu sự cung kính chúng sinh của thế gian, hộ trì chánh pháp, khiến ma không thể tùy tiện  thao túng.  Thấy  người trì  pháp  thì  phát  tâm  cung  kính  sâu  xa,  trí  tuệ  đạt đươc giống như đại hải, không tăng không giảm, như trăng tròn đầy, như ánh mặt trời, như ngọn đuốc sáng trừ bỏ sự tối tăm cho chúng sinh, giống như hư không không bị phiền não, không nhiễm phiền não; như hoa dưới nước, như hư không, trụ nơi không trụ; như kim cang nguyên chất phá tan các pháp, giữ gìn tất cả pháp; giống như núi Tuyết,  định biết Như Lai thường trụ không biến đổi, trí tuệ thanh tịnh như ngọc báu lưu ly, đạt được giới Như Lai, uy lực như đại hải, tấm lòng từ ái thương xót chúng sinh, không động, không chuyển, như cây cờ của Đế thích, hoại các pháp ác, đắc vị thượng diệu, giống như quả Ca-đà-ca thơm ngon, tùy thuận thế pháp không chỗ ngược trái.
Này thiện nam! Đây chính là mônTam-muội.
Này thiện nam! Nếu ai thành tựu đầy đủ bốn trăm Tam-muội như vậy thì nên biết, người ấy khéo hộ trì tạng pháp.
Bấy giờ, trong chúng hội có một Thiên tử tên Tịnh Mật cùng  với một vạn tám ngàn các Thiên tử bước tới chỗ Phật, đầu mặt đảnh lễ,
cung kính chấp tay, mưa các hoa trời, hương thơm, cờ phướn, ca nhạc v.v… cúng dường Đức Thế Tôn, nhiễu bên phải ba vòng rồi nói kệ ca ngợi:
Như Lai không nghĩ bàn
Pháp, Tăng cũng như vậy
Con thấy mưa Tam-muội
Như đời gặp cam lồ.
/53
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »