396 - Kinh Đại Bát Nê Hoàn - Quyển V - Phẩm 11: Bốn Đế (Trang 133 - 170)">
Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1139.

Chương 5: Kinh Đại Bát Nê Hoàn - Quyển V - Phẩm 11: Bốn Đế (Trang 133 - 170)

KINH ĐẠI BÁT NÊ HOÀN
 
 QUYỂN V

 
 Phẩm 11: BỐN ĐẾ
 
 Bấy giờ, Phật bảo Ca-diếp:
–Này thiện nam! Nếu như cái khổ đó gọi là khổ đế, thì địa ngục và súc sinh đều có  khổ đế. Gọi khổ đế nghĩa là biết pháp thân của Như Lai thường trụ không phải là  thân uế thực. Chúng sinh không đạt được trí tuệ cao quý của Như Lai. Biết sự khổ,  cho nên lấy phi pháp làm pháp. Phiền não ngu si và tham ái từ thuở lâu xa trói buộc,  bánh xe khổ não xoay chuyển không ngừng nghỉ qua bao đời kiếp sống chết. Giả sử tạm  thời được nghe qua tai hai chữ thường trụ của Như Lai, họ muốn sinh lên cõi trời và  mong cầu sự giải thoát, tất nhiên sẽ đạt được Thánh quả, tự nhiên khoái lạc. Người  trí tự biết đều là do âm thanh của Như Lai thường trụ tạm thời nghe qua tai, cho nên  được kết quả kỳ diệu này. Từ thuở lâu xa đến nay, vì không biết pháp Như Lai thường  trụ, cho nên đi đi lại lại trong vô lượng sự sống chết và khổ đau phiền não, người  biết khổ như thế gọi là biết khổ đế, nếu khác với sự hiểu biết này thì không phải  là người biết khổ đế.
Chân lý cắt nghĩa việc sinh khởi và căn nguyên của mọi nỗi khổ là sự chân thật  của các pháp, vì không biết chân thật cho nên tăng thêm sự tụ tập tham ái  của mình, nuôi nô tỳ và cất giữ các của cải phi pháp. Phi pháp cho là pháp, rồi sinh  ra sự chấp giữ xằng bậy, không biết chánh pháp khởi lên và chẳng biết chánh pháp  tiêu diệt. Vì không có trí nên ở mãi trong vòng sống chết, khổ đau phiền não xoay  chuyển như bánh xe. Nên biết hạng người này làm hủy hoại chánh pháp, rốt cuộc chẳng  được kết quả sinh lên cõi trời và giải thoát. Vì không biết tướng chân thật của  nguyên nhân đưa đến khổ đau, cho nên làm hủy hoại chánh pháp. Tội báo của việc nói  dối cũng lại chịu khổ não sống
chết lâu dài, người biết như thế là biết chân lý nguyên nhân của mọi nỗi  khổ, nếu khác với sự hiểu biết này thì không gọi là người biết nguyên  nhân của sự khổ.
Chân lý đề cập tới việc diệt khổ và nguyên nhân của khổ, nghĩa là nếu tu hành  pháp không, tất cả diệt hết thì hoại Như Lai tánh. Nếu tu hành pháp không, gọi là  chân lý diệt khổ, thì nghĩa trái ngược nhau với các người ngoại đạo kia, họ cũng tu  hành pháp không mà đạt được chân lý diệt khổ chăng? Nên biết hết thảy đều có tính  của Như Lai thường trụ, diệt các sự trói buộc và phiền não mãi mãi hết sạch, tính  của Như Lai thường trụ hiện ra rõ ràng, khởi lên sự nhất tâm, liền được kết quả vi  diệu, thường ưa thích tự tại nên gọi là pháp tự tại vương, đó là sự tu hành Thánh  đế diệt khổ. Nếu họ lại tu hành mà dấy lên tướng không và vô ngã đối với Như Lai,  nên biết hạng người đó giống như con thiêu thân lao vào lửa. Gọi chân lý diệt khổ  chính là Như Lai tánh, ấy là Như Lai chân thực diệt trừ hết thảy vô lượng phiền não.  Vì sao? Vì Như Lai tánh ấy là nguyên nhân. Người biết như thế gọi là biết chân lý  diệt khổ của Như Lai là bình đẳng, nếu khác với điều này thì không gọi là người  biết diệt khổ.
Con đường để diệt khổ là tính giải thoát của Như Lai,
Pháp và Tăng, bốn pháp này gọi  là chân lý đề cập đến con đường để diệt khổ. Bởi vì không biết thật sự đối với  bốn pháp, cho nên ở mãi trong vòng sống chết, chịu vô lượng khổ đau phiền não.  Ở trong sinh tử có thể siêng năng tu hành, biết rõ sự giải thoát của Như Lai, 
Pháp và Tăng, đó là pháp thường trụ, không phải pháp biến đổi, không phải pháp phai  diệt, không cùng tận cũng chẳng hủy hoại, khởi lên ở sự nhất tâm, được quả vi  diệu, tự tại vui thích. Nếu người nào dấy lên tư tưởng phi pháp đối với bốn pháp bất  không thường trụ này, thì nên biết hạng người ấy mắc phải quả báo tà kiến. Con  đường để diệt hết khổ đau là tu tập thường trụ ở trong ba pháp này, như thế là  người biết chân lý diệt khổ và con đường để diệt khổ. Việc tu hành và khởi lên tư  tưởng thường trụ như thế, nên biết hạng người ấy là đệ tử của Ta, biết bốn chân lý   mà các bậc Thánh nhân thấy được, đó là hạng Bồ-tát biết bốn chân đế.
 Ca-diếp bạch Phật:   –Nay con bắt đầu biết tu tập bốn chân lý mà các bậc Thánh nhân
thấy được.
??
Phẩm 12: BỐN THỨ ĐIÊN ĐẢO
 Phật lại bảo Ca-diếp:
–Điều mà Ta gọi là điên đảo, có tư tưởng vui đối với sự khổ, Như Lai vô thường diệt  tận Nê-hoàn, như củi hết lửa tắt thì cho là nỗi khổ lớn mà quán tưởng như thế này,  Như Lai vô thường, đó là điên đảo. Có tư tưởng khổ đối với sự vui, đối với sự  trường tồn của Như Lai mà khởi lên cái vọng kiến cố chấp thực hữu của chúng sinh,  đó là điên đảo. Sự khổ não ở ba cõi mà khởi lên tư tưởng vui sướng, đó cũng là  điên đảo, ấy là điên đảo thứ nhất.
Điên đảo đối với vô thường mà quán tưởng cho là thường, điên đảo đối với thường mà  quán tưởng cho là vô thường. Đối với vô thường mà quán tưởng cho là thường, nghĩa là  Như Lai Nê-hoàn, họ bèn tu lẽ Không tướng tột bực, đó là điên đảo. Tu lẽ  Không cùng cực xong, chúng sinh có tuổi thọ ngắn ngủi liền được sống lâu, do đó  kết quả tu tập là pháp tồn tại lâu dài, gọi là điên đảo, ấy gọi là điên đảo thứ  nhì.
Điên đảo đối với vô ngã mà quán tưởng cho là ngã, điên đảo đối với ngã mà quán  tưởng cho là vô ngã, họ nói rằng tất cả thế gian có ngã, đó là điên đảo. Phật nói  Như Lai tánh chính là ngã chân thực, thế nhưng đối với nghĩa này họ tu tập vô ngã, đó  gọi là điên đảo thứ ba.
Điên đảo đối với tịnh mà quán tưởng cho là bất tịnh, điên đảo đối với bất tịnh mà  quán tưởng cho là tịnh, Như Lai thường trụ không phải thân uế thực, thế nhưng  người phàm mắt thịt nói rằng thân uế thực, không phải pháp thanh tịnh,
Pháp,  Tăng và giải thoát cũng sẽ diệt mất hết, đó gọi là điên đảo. Họ đối với thân bất  tịnh mà không có một phép quán tưởng thanh tịnh, vì ngu si điên đảo mê hoặc mà khởi  lên quán tưởng thanh tịnh, đó gọi là điên đảo thứ tư.
Như thế, này thiện nam! Đó gọi là bốn thứ điên đảo. 
Ca-diếp bạch Phật:
–Quý hóa thay! Bạch Thế Tôn! Từ trước đến giờ, con thường dính mắc vào sự  điên đảo, nay mới bắt đầu biết chánh kiến của Như
Lai.
 ??
 Phẩm 13: NHƯ LAI TÁNH
 Ca-diếp lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Như Lai có cái ta, hai mươi lăm cõi là có hay là không có?
Phật bảo Ca-diếp:
–Cái ta chân thật chính là Như Lai tánh, nên biết tất cả chúng sinh đều có, nhưng  chúng sinh kia bị vô lượng phiền não che lấp nên chẳng hiện ra. Ví như người nhà nghèo,  bên trong căn nhà có kho tàng quý báu, song người ấy không thể biết. Khi ấy có một  người khéo biết của báu, bèn nói với người nghèo: “Ông hãy làm việc cho ta, ta sẽ  cho ông tiền của và vật báu”. Người nghèo trả lời: “Tôi không thể đi. Vì sao? Vì  trước đây trong nhà có kho tàng quý báu nên tôi không thể bỏ đi”. Người kia lại  nói: “Ông là người ngu si, chẳng biết chỗ cất vật báu, vả lại ông hãy làm việc với  ta, ta cho ông của báu, sử dụng nó không bao giờ hết”. Người nhà nghèo bèn nghe theo  lời của người ấy, sau đó người kia mới lấy của báu trong nhà người nghèo ra rồi cấp  cho. Người nghèo mừng rỡ dấy lên ý nghĩ lạ kỳ, biết người sĩ phu kia thật sự là  người đáng nương cậy. Hết thảy chúng sinh cũng như thế, ai nấy đều có bản tính của Như  Lai, thế nhưng do vô lượng phiền não che lấp ẩn mất, nên không thể nào tự mình hay  biết, Như Lai phương tiện khuyên dỗ họ tiến bước để dìu dắt hóa độ, khiến cho họ  biết, chính bản thân mình có Như Lai tánh rồi vui mừng tin theo và thọ trì. Lại nữa, này thiện nam! Ví như người mẹ sinh ra đứa con, đang còn nhỏ mà bị mắc  bệnh. Người thầy thuốc phương tiện hòa hợp vị thuốc hay với bơ sữa và thạch  mật rồi khiến đứa con uống vị thuốc ấy. Thầy thuốc nói với người mẹ ấy: “Bà hãy  thận trọng đừng cho nó bú, để cho thuốc của đứa con mới uống được tiêu hóa, rồi sau  mới cho nó bú”. Bà mẹ lại hòa hợp vị thuốc đắng rồi xoa lên vú của mình. Đứa con  muốn bú vú mẹ, thế nhưng nó ngửi mùi thuốc đắng nên liền bỏ đi. Người  mẹ biết vị thuốc ấy tiêu hóa, sau đó mới rửa vú để cho đứa con
Như thế, này thiện nam! Như Lai khuyên dỗ chúng sinh, hãy tiến bước và giáo hóa họ, thoạt đầu ta nói pháp tu hạnh vô ngã đối với hết thảy pháp  cho chúng sinh. Lúc tu vô ngã thì chúng sinh diệt trừ cái ý kiến chấp trước có ta,  diệt ngã kiến xong mới vào Nê-hoàn. Vì muốn trừ bỏ cái ngã của thế tục nên ta nói  phương tiện giáo pháp bí mật vô ngã, rồi sau đó mới nói bản tính của Như Lai cho  chúng sinh, đó gọi là cái ta chân thật lìa khỏi cõi đời.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Lúc người ta mới chào đời, trí tuệ hãy còn ít ỏi. Dần dần người ấy  lớn khôn, trí tuệ cũng theo đó mà sáng suốt. Nếu có cái ngã ấy thì trước sau phải  như một. Vì trí tuệ kia dần dần tăng thêm, cho nên biết không có cái ngã. Lại nữa,  cái ngã ấy không có sự sống chết, thế nhưng có sự sống chết nên biết rằng không  có cái ngã. Ví phỏng tất cả chúng sinh đều có Như Lai tánh thì phải không có sự khác  nhau, thế nhưng hiện tại có những hạng người như Trưởng giả, Phạm chí, Sát-lợi, Cư sĩ,  Chiên-đà-la v.v... mọi loài chúng sinh chịu đủ các thứ nghiệp khác nhau, việc thọ thân  cũng chẳng giống nhau. Nếu như chúng sinh có Như Lai tánh thì cần phải ngang hàng với  nhau, thế mà nay họ không giống nhau, do đó biết rằng chúng sinh không có bản tính  của Như Lai. Hoặc giả lại có Như Lai tánh thật sự, thì họ không nên giết hại, trộm  cắp, gây ra đủ mọi hành động tội ác và bất thiện. Nếu cho rằng chúng sinh có Như Lai   tánh, thì người điếc lẽ ra phải nghe được, người mù mắt lẽ ra phải nhìn thấy, người  câm lẽ ra phải nói năng. Ví phỏng mỗi người đều có Như Lai tánh, thì tính ấy được ở  chỗ nào? Đối với đủ thứ màu sắc, xanh, vàng, đỏ, trắng trong thân thể hòa hợp kia,  tính ấy được ở một chỗ hay là trong khắp cả thân thể?
Phật bảo Ca-diếp:
–Ví như vị quốc vương có châu báu ma-ni đại lực sĩ, có năng lực trừ khử độc hại đau  đớn, vua buộc viên ngọc trên đầu rồi đánh nhau với nước đối địch. Vua bị người kia  đánh, khiến cho viên ngọc báu ma-ni lọt vào trong thân thể, viên ngọc bị máu thịt và  da che phủ, thế là vua bị mất ngọc báu, tìm hoài chẳng được, vua bèn khởi lên ý  tưởng mình mất viên ngọc báu. Bấy giờ có người thầy thuốc giỏi đến chữa bệnh
cho nhà vua, nhân đó nhà vua bèn nói với người thầy thuốc: “Ta có châu báu liền bị  đánh mất, ta tìm kiếm khắp nơi mà chẳng biết ở đâu, nên biết của báu là vật phi  thường giống như bong bóng trên mặt nước, sinh ra nhanh chóng, tiêu diệt nhanh chóng,  giả dối như huyễn”. Như thế, nhà vua dấy lên sự suy nghĩ mình đã mất ngọc  báu vĩnh viễn. Người thầy thuốc trả lời: “Viên ngọc báu không mất, xin đại  vương đừng dấy lên tư tưởng mất ngọc. Nhân lúc đại vương đánh nhau, viên ngọc đã lọt  vào trong thân mình, vì máu thịt và da che phủ cho nên nó không hiện ra”. Vị vua kia   không tin mà nói với người thầy thuốc: “Bên trong máu thịt, chỗ nào có ngọc  báu, đó là lời dối trá mà thôi”. Khi ấy, người thầy thuốc kia liền lấy viên châu  ngọc ra cho nhà vua, vua kia được châu ngọc rồi mới tin điều hiểu biết lạ kỳ của  người thầy thuốc. Tất cả chúng sinh cũng như vậy, mỗi người đều có bản tính của Như  Lai, song họ quen theo tri thức ác mà khởi lên sự dâm dục, tức giận, ngu si rồi đọa   vào ba đường ác, cho đến thọ lãnh đủ các thân khắp cả hai mươi lăm cõi, bản  tính của Như Lai ví như viên ngọc báu ma-ni ẩn mất ở vết thương phiền não dâm dục,  tức giận, ngu si, chẳng biết nó ở nơi nào. Đối với cái ngã của thế tục, họ tu quán  tưởng vô ngã, chẳng hiểu giáo pháp bí mật phương tiện của vị thầy thuốc tài giỏi Như  Lai, họ dấy lên quán tưởng vô ngã mà không thể biết cái ngã chân thật. Do vậy Như  Lai lại làm phương tiện, khiến cho vô lượng phiền não đang rực cháy bị dập tắt, khai  thị bản tính của Như Lai hiện ra rõ ràng.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như ở ngọn núi Tuyết có phương thuốc ngọt ngào  tên gọi là Thượng vị, khi vị Chuyển luân Thánh vương chưa xuất hiện ở đời thì nó ẩn  mất mà chẳng hiện ra, các người bệnh ấy đều đến nơi có thuốc, họ đào đất  chôn ống tre để tìm cầu nước thuốc, có người hứng được mùi vị ngọt, có người  được mùi vị đắng, có người được mùi vị cay, có người được mùi vị chua, có người được  mùi vị mặn, có người được mùi vị nhạt. Thế rồi những người bệnh ấy hứng được các  mùi vị này, mà chẳng được phương thuốc Thượng vị chân thật. Họ đào đất không  sâu vì phước đức mỏng manh. Nhờ sức mạnh phước đức nên khi Chuyển luân Thánh  vương xuất hiện ở đời, liền được phương thuốc Thượng vị chân thật.
Như thế, này thiện nam! Như Lai tánh là mùi vị đủ loại, vì vô
  lượng phiền não ngu si che lấp, cho nên chúng sinh không được bản tính của Như Lai  thượng vị, họ có đủ mọi thứ hành nghiệp, đâu đâu cũng thọ thân. Như Lai tánh kia  không thể nào giết hại được, các người chết ấy gọi là tuổi thọ ngắn ngủi, bản tính  của Như Lai gọi là tuổi thọ chân thật, không cắt đứt cũng chẳng hủy hoại, cho đến  thành Phật. Bản tính của Như Lai không có hại không có giết, chỉ có thân nuôi lớn,  bởi vì có làm hại có giết chóc giống như những người bệnh kia gây ra mọi nghiệp tà  vạy, chịu đủ các thứ báo ứng. Dòng dõi Sát lị, Phạm chí, cho đến hai mươi lăm cõi  sống chết, chẳng được Như Lai tánh chân thật.
Lại nữa, này thiện nam! Giống như người đào đất tìm vật báu kim cương, tay  cầm cái đục bén đào khoét đất đá cứng đều có thể khiến cho đất đá vỡ  vụn, chỉ có kim cương không ai có thể cắt đứt. Tính của Như Lai cũng như thế, gươm bén  của thiên ma không thể nào làm thương tổn, chỉ có thân nuôi lớn chịu sự tổn thương  hủy hoại ấy không phải là Như Lai tánh. Vì vậy, nên biết rằng bản tính của Như Lai  không có sự tai hại, không có sự giết chóc, đó là lời dạy quyết định của Như Lai,  khế kinh Phương đẳng vừa làm cam lộ, vừa là thuốc độc.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Ý nghĩa cam lộ và thuốc độc của khế kinh Phương đẳng quy  hướng nơi nào?
Phật bảo Ca-diếp:
–Này thiện nam! Nay ông hãy lắng nghe, Ta sẽ nói cho ông rõ. Bấy giờ, Đức Thế Tôn  liền nói bài kệ:
Có người ăn cam lộ 
Được sống lâu như tiên 
Có người uống cam lộ 
Tổn thọ mà chết sớm 
Hoặc chết do uống độc 
Hoặc sống bởi uống độc
Cam lộ ấy là trí vô ngại của Ma-ha-diễn, thuốc độc ấy cũng là trí vô ngại của  Ma-ha-diễn. Giống như đề hồ, dầu bơ, đường phèn, nếu ăn chúng không tiêu thì gọi là  thuốc độc, nếu ăn chúng mà tiêu hóa thì gọi là cam lộ. Chúng sinh không có trí chẳng  hiểu giáo pháp bí mật của Phương đẳng Đại thừa, thì đối với người ấy gọi là   thuốc độc; hàng
Thanh văn và Duyên giác trụ vào pháp Đại thừa, cho đến các Bồ-tát, bậc oai hùng ở  trong loài người gọi là cam lộ. Ví như con bò sữa, mặc dù màu sắc của chúng không  giống nhau, song sữa của nó chung một mùi vị. Như thế, này Ca-diếp! Nên biết đó là  điều mà Bồ-tát thành tựu sự không sợ hãi, rồi quay trở về và nương dựa vào pháp  tánh của Như Lai. Tính của người kia và tính của Ta đều cùng một vị như nhau. Do đó Bồ-tát Ca-diếp liền nói bài kệ:
Con quy y Tam bảo 
Như Lai tánh sâu xa 
Tự thân Như Lai tạng
Phật Pháp Tăng là ba 
Người quy  y như thế
Là nương dựa cao nhất.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại vì Ca-diếp mà nói bài kệ:
Người chẳng biết Tam bảo 
Sao gọi biết quy y
Ý nghĩa còn không rõ 
Làm sao biết Phật tánh. 
Nếu nhờ quy y Phật
Đó là an lành nhất 
Lại có nhân duyên gì 
Mà lại quy y Pháp. 
Người quy y với  Pháp
Đó  là tưởng tự tâm 
Lại có nhân duyên gì
Mà quay về chúng Tăng. 
Không tin quy y Phật 
Bậc chân thật quyết định 
Tam bảo Như Lai  tánh 
Làm sao có thể biết.
Chưa biết nghĩa thế nào 
Mà sinh suy tính trước
Phật  Pháp Tỳ-kheo Tăng 
Ghế thang của  Tambảo.
Giống như không có thai 
Mà mong muốn sinh con 
Người suy nghĩ như thế 
Chỉ thêm rối loạn  mình. 
Như người tìm tiếng vang 
Lìa Ưu-bà-tắc thật
Nên chăm cầu phương tiện 
Nghĩa quyết định Đại thừa. 
Như Lai tùy thuận nói 
Khiến ông trừ  lưới nghi.
Bồ-tát Ca-diếp lại nói bài kệ:
Phép làm Ưu-bà-tắc 
Quay về nương với 
Phật Tất cả các thiên thần 
Không sinh tưởng quy  y. 
Phép làm Ưu-bà-tắc 
Quay về hướng với Pháp 
Không theo pháp hại sinh 
Mà cúng tế phi pháp.
Phép làm Ưu-bà-tắc 
Quay về nương dựa Tăng 
Chẳng theo chúng tà đạo 
Cầu xin ruộng phước tốt. 
Cho nên nương Tam bảo 
Trừ ba phi pháp tục
Ba pháp quay về này 
Cũng là Như Lai nói. 
Xưa ta do pháp này 
Nay được chỗ yên ổn 
Các ông cũng nên làm 
Rốt cuộc đến chỗ ta.
Đường phẳng phiu như thế 
Theo đó các ông đi 
Chóng tránh khỏi các khổ
Hoặc sống chết luân hồi. 
Bản tính của Như Lai 
Cũng từ Thế Tôn nói
Ta và các chúng sinh 
Cùng Như Lai tánh này. 
Đạo chư Phật thuận theo 
Chúng con đều theo  đó 
Cho đến các ma trời 
Cũng có cam lộ này.
Kết cục giống chư Phật 
Đấng Mâu-ni lìa hữu
Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại nói bài kệ một lần nữa cho Ca-diếp:
Ông đừng như Thanh văn 
Trí tuệ của trẻ con
Chỉ quy y một ngôi 
Nên biết không có ba. 
Đạo bình đẳng như vậy 
Một vị Phật Pháp Tăng 
Vì diệt si tà kiến
Nên lập ba pháp này. 
Nay ông muốn thị hiện 
Kẻ tùy thuận thế gian 
Phải theo chỉ dạy  này 
Quy y với Tam bảo.
Nếu người quy y Phật 
Chính là quy y Ta
Quy y Đẳng Chánh Giác 
Chánh giác Ta đã đắc.
Kẻ phân biệt quy y
Thì loạn Như Lai tánh 
Nên ở chỗ Như Lai
Mà khởi tâm bình đẳng. 
Chắp tay cung kính lễ 
Là lễ tất cả Phật
Ta là chỗ dựa thật
Cho các loài chúng sinh. 
Vì Ta đã đầy đủ
Thân thanh tịnh diệu pháp 
Nếu lễ tháp xá-lợi
Hãy nên kính lễ Ta. 
Ta là tháp chân thật
Cho mọi loài chúng sinh 
Cũng là xá-lợi thật
Cho nên phải kính lễ. 
Ví phỏng quy y Pháp 
Hãy nên quy y Ta 
Bởi Ta đã đầy đủ
Thân thanh tịnh diệu pháp. 
Ta là pháp chân thật
Cho các loài chúng sinh 
Nếu quy y chúng Tăng 
Cũng nên quy y Ta.
Hết thảy chúng còn lại 
Đều nhiếp bởi Phật Tăng 
Ta là Tăng Chánh Giác 
Cho các hàng chúng sinh. 
Loài chúng sinh không mắt 
Sinh đạo nhãn cho họ
Cho nên chúng Thanh văn 
Và các Tăng Duyên giác. 
Tăng Như Lai đều nhiếp 
Quy y chân  thật nhất.
Phật bảo Ca-diếp:
–Như thế, này thiện nam! Đại Bồ-tát nên suy nghĩ thế này, dù cho sự chẳng tốt lành  và không biết gì cả gom góp lại, thế nhưng cần phải biết rằng, Ta có Phật tánh.  Giống như người khỏe mạnh kia lúc đang chiến đấu, nên biết ta là vị tướng lĩnh trong  quân, là chỗ nương cậy của tất cả mọi người. Ví như con vua lúc làm thái tử, cần  phải biết
ta là người ở trên tất cả vương tử, ta sẽ nối ngôi vua để làm chỗ nương dựa chân  thật cho các vương tử, rốt cuộc không sinh tâm nghĩ rằng mình là kẻ thấp hèn. Này thiện nam! Đại Bồ-tát cũng như thế, lập ý chí kim cương vượt lên hẳn ba  pháp kia, giống như vị vương tử kia thành tựu sự không sợ hãi. Ở trong ba pháp, vị ấy  lìa khỏi các thứ suy nghĩ, Như Lai là bậc cao nhất dường như tướng trên đỉnh đầu là bậc  nhất; không phải Phật, không phải
Pháp, không phải Tỳ-kheo Tăng, đủ mọi thứ khác  nhau như bậc thang vậy. Như Lai làm chỗ nương dựa cho thế gian, vì việc độ thoát thế  gian, nên đối với pháp chân thật, Như Lai thị hiện đủ mọi thứ, mà đặt ra ba pháp  khuyên bảo giáo hóa chúng sinh thơ dại không biết gì, khiến cho họ đi vào trí tuệ sâu  sắc của Đại thừa.
Bồ-tát Ca-diếp lại nói bài kệ:
Biết nghĩa chân thật này 
Mà hỏi đấng Như Lai 
Muốn hiển phát Bồ-tát 
Dũng mãnh lìa nhơ bẩn. 
Hay thay Thế Tôn nói 
Việc Bồ-tát tu hành
Trí sâu sắc Đại thừa
Như luyện tuệ kim cương. 
Hay thay Thế Tôn nói
An lập các Bồ-tát 
Như Lai khéo tỏ rõ
Nay con cũng đương nhiên. 
Tất cả loài chúng sinh
Đều nên tự quán xét 
Như Lai tạng tự thân 
Đều là ba quy y.
Phàm hết thảy chúng sinh 
Người tín thọ kinh này 
Nếu đã lìa phiền não
Và các dục chưa lìa. 
Đều nên về tự thân
Như Lai tạng vi diệu 
Chỉ quy y chính đáng
Không hai cũng không ba. 
Nguyên cớ vì sao vậy
Thế Tôn phân biệt rộng 
Tự thân ai nấy có
Như Lai tạng vi diệu. 
Do biết nghĩa lý này 
Chẳng quay về ba nữa 
Con đã vì tất cả
Thế gian dựa chân thật. 
Pháp và Tỳ-kheo Tăng 
Tất cả việc thâu giữ 
Thanh văn Phật-bích-chi 
Thảy đều nên kính lễ.
Vì thế các Bồ-tát
Hướng đúng đạo Đại thừa 
Như Lai tánh như thế
Là không thể nghĩ bàn. 
Vì đủ băm hai tướng 
Và tám mươi vẻ đẹp
Phật bảo Ca-diếp:
–Quý hóa thay! Quý hóa thay! Này thiện nam! Các Bồ-tát ấy cần phải học trí lanh lợi  rất sâu sắc như thế. Lại nữa, này thiện nam! Ta sẽ giảng nói lại lần nữa về việc  vào Như Lai tạng.
Phật liền nói bài kệ:
Có ngã tồn tại lâu
Trọn chẳng trải khổ hoạn 
Nếu như không có ngã  
Là tu phạm hạnh suông. 
Tất cả pháp vô ngã
Gọi là đoạn diệt giáo 
Người nói ngã trường tồn 
Thì gọi thuyết chấp thường.
Tất cả pháp vô thường 
Đó là thuyết đoạn diệt 
Tất cả pháp là thường 
Thì gọi là thuyết thường. 
Tất cả pháp là khổ
Đó là thuyết đoạn diệt 
Hết thảy pháp là vui
Đó là thuyết chấp thường. 
Tất cả tu thường tưởng 
Là chóng được đoạn diệt 
Tất cả tu vô thường
Là mau được thường tưởng. 
Ví như bóc côn trùng
Được một vội trông hai 
Người tu thường như thế 
Là chóng được đoạn diệt. 
Nếu người tu đoạn diệt
Cũng chóng được thường tưởng 
Nói thí dụ như thế
Được một lại cầu dư. 
Pháp khác nếu tu khổ 
Thì nói phần bất thiện 
Pháp khác nếu tu lạc 
Chính là nói phần thiện. 
Pháp khác tu vô ngã 
Vô lượng các phiền não 
Pháp khác tu thường còn 
Phật tánh và Niết-bàn.
Pháp khác tu vô thường 
Thì thân không bền vững 
Pháp khác nếu tu thường 
Tam bảo bậc Như Lai.
Và bình đẳng giải thoát 
Là các pháp chân thật 
Điều mà Như Lai nói
  Chẳng giống với dụ kia. 
Nên biết trừ hai mé
Ở giữa mà nói pháp 
Chấp thường và đoạn diệt 
Lìa cả hai kiến ấy.
Hạng phàm ngu thế gian 
Mê hoặc lời Phật dạy 
Dụ như người bệnh gầy 
Chợt uống bơ mê loạn.
Có người không thêm hoạn 
Ví như người bệnh nặng 
Bốn đại thêm bớt nhau
Mà không được hòa hợp. 
Đàm ấm tăng không ngừng 
Chủng gió nổi thiêu đốt 
Phong ấm đã trái ngược 
Nước bọt cũng thêm nữa.
Chẳng hòa hợp như thế 
Toàn thân phát cuồng loạn 
Lương y khéo điều trị 
Thuận theo an bốn chủng. 
Trừ diệt tất cả bệnh
Vui đẹp toàn thân khỏe 
Như rắn độc bốn đại
Vô lượng hoạn phiền não. 
Lương y khéo điều trị 
Tính bình đẳng yên ổn 
Tính bình đẳng ấy là
Tên gọi Như Lai tạng. 
Được nghe Như Lai tánh 
Lìa khỏi tất cả cõi
Thường trụ không biến đổi 
Chẳng dính sự có không. 
Phàm ngu mà nói bừa 
Chẳng hiểu pháp sâu xa
Như Lai vì chúng sinh 
Phương tiện nói thân khổ. 
Phàm ngu không thể rõ 
Nói thân ta đoạn diệt 
Người tuệ hiểu chân đế 
Không gộp tất cả thọ.
Biết được trong thân ta 
Có hạt giống an vui 
Nghe ta nói vô thường
Phương tiện cho chúng sinh. 
Phàm ngu bảo thân ta
Như đồ hỏng thợ gốm 
Người tuệ hiểu chắc rằng 
Không gộp tất cả thọ.
Biết được thân ta có 
Giống pháp thân vi diệu 
Nghe ta nói vô ngã
Phương tiện cho chúng sinh. 
Phàm ngu nói pháp Phật 
Hết thảy không ngã sở 
Người trí hiểu chắc rằng 
Không nói giả danh hết.
Với thanh tịnh chẳng lầm 
Chân pháp tánh Như Lai 
Nghe Phật vì chúng sinh 
Phương tiện nói pháp Không. 
Người ngu không thể biết
Bảo dứt ngôn ngữ thảy 
Người tuệ hiểu chắc rằng 
Không gộp tất cả thọ.
Biết pháp thân Như Lai 
Trường tồn chẳng biến đổi 
Nghe ta nói giải thoát 
Phương tiện cho chúng sinh. 
Người ngu nói thân Phật
  Giải thoát đều hao mất 
Người tuệ hiểu chắc rằng 
Không đoạn hết qua lại. 
Nhân Sư tử, Như Lai
Tự tại đi một mình
Ta nói cho chúng sinh 
Vô minh duyên các hành. 
Phàm ngu không thể biết 
Nói đó là hai pháp 
Người tuệ hiểu chắc rằng 
Minh, phi minh tuy khác. 
Pháp giải thoát chân thật 
Thì không có hai tướng 
Duyên các hành sinh thức 
Phàm ngu nói là hai.
Người tuệ biết hành duyên 
Tuy hai mà chẳng hai 
Mười thiện và mười ác 
Phàm ngu theo hai tướng. 
Người tuệ có thể rõ
Tuy hai mà chẳng hai 
Có tội và vô tội 
Phàm ngu bảo là hai.
Người tuệ hiểu chắc rằng 
Tự tính chẳng phải hai 
Tướng thanh tịnh bất tịnh 
Phàm ngu bảo là hai.
Người tuệ hiểu chắc rằng 
Tự tính chẳng phải hai 
Người làm và không làm 
Nói tất cả các pháp.
Phàm ngu không thể biết 
Cho đó là hai pháp 
Người tuệ hiểu chắc rằng 
Tự tính chẳng phải hai.
Nói tất cả các pháp
Là phần khổ và vui
Phàm ngu không thểbiết
Cho đó là haipháp.
Người tuệ hiểu kỹ rằng 
Tự tính chẳng phải hai 
Ta nói cho chúng sinh 
Hết thảy hành vô thường. 
Phàm ngu không thể biết 
Tu chung Như Lai tánh 
Người tuệ hiểu kỹ rằng 
Tự tính chẳng phải hai. 
Ta nói cho chúng sinh 
Tất cả pháp vô ngã 
Phàm phu không thể biết
Bảo Phật nói vô ngã.
Người tuệ hiểu tự tính 
Ngã, vô ngã chỉ một 
Vô lượng vô số Phật 
Nói là Như Lai tạng.  
Ta cũng nói khế kinh
Tích tụ mọi công đức 
Ngã, vô ngã chẳng hai 
Các ông khéo thọ trì.
Này thiện nam! Nên nghĩ nhớ lại, kinh tích tụ tất cả công đức, Ta nói kinh Bát Nhã Ba  La Mật và kinh Đại Bát Niết Bàn là không phải hai kinh, kinh kia nói về cái ngã và  không có cái ngã như thế là không phải hai. Ví như từ sữa tươi làm ra sữa cô đặc,  từ sữa cô đặc chế làm ra kem, từ kem làm ra bơ, từ bơ chế ra đề hồ, gọi rằng trước  sau là một, gọi là từ chỗ khác đến. Nếu tức là một tức làm ra sự kiện gốc, nếu  sữa tươi tức là từ sữa cô đặc, thì khi hiện còn sữa tươi mà không có tướng sữa cô,  nhân duyên phát sinh lẫn nhau từ vị sữa này sang vị sữa khác như thế, không phải đã  có trước kia mà nói rằng chuyển đổi từ vị sữa này sang vị sữa khác.
  Nếu sự việc từ chỗ khác đến, thì sự việc kia trụ tại chỗ nào, cho rằng vào lúc  còn vị sữa tươi, không thấy các vị sữa như sữa cô từ chỗ khác đến. Hết thảy thành  phần của các vị sữa kia đều có tự tính của vị đề hồ, nhưng vì các lỗi che lấp, nên  thành phần khác hiện ra. Bò ăn quá mức nên sữa biến thành huyết khí, bò ăn cam thảo  thì sữa có mùi thơm ngọt, bò ăn cỏ đắng thì sữa có vị đắng. Ở dưới núi Tuyết có  thứ cỏ thấm ngọt, con bò ăn thứ cỏ ấy sản xuất thành đề hồ, không làm ra màu sắc  khác. Coi như bò ăn cỏ đủ thứ mùi vị, thì có đủ các thứ màu sắc khác. Minh và vô  minh không phải là hai pháp, cũng như thế, vì hành nghiệp lỗi lầm nên minh chuyển  thành phi minh. Hết thảy pháp tốt lành và pháp chẳng tốt lành đều không có hai pháp,  cho nên phải biết rằng, tính của Như Lai giống như vị đề hồ kia, tự tính vốn thanh tịnh,  vì lỗi lầm phiền não nên có tướng khác hiện ra.
Ví như người ta nói nước trong biển cả mặn, không phải là tất cả nước ấy đều mặn,  trong ấy cũng có nước tám mùi vị. Ví như núi Tuyết có nhiều thứ cỏ độc, thế nhưng  trước đây núi Tuyết kia có cỏ thuốc hay. Thân thể của tất cả chúng sinh cũng như  thế, bốn đại hòa hợp ví như rắn độc, nhưng lại ở trong thân này trước đây có Phật  tánh, giống như vị thuốc hay kia, Như Lai tánh ấy trước sau luôn luôn có, không phải  tạo tác và đối tượng tạo tác, chỉ vì vô lượng phiền não cạnh tranh khởi lên ở  khoảng giữa. Phàm các chúng sinh muốn cầu quả Phật, nên trừ bỏ vô lượng phiền não  tai họa trói buộc. Ví như tháng mùa xuân, bầu trời nổi lên đám mây lớn, sấm sét vang  rền, nhưng chưa đổ mưa xuống, cỏ cây hoa quả đều chưa đâm chồi nẩy mầm; mùa hạ đổ  mưa lớn, tất cả sum sê tươi tốt. Tánh của Như Lai cũng như vậy, vì bị che lấp bởi vô  lượng phiền não tai họa trói buộc, tuy nghe khế kinh và các Tam-muội, cho nên chẳng  biết tánh của Như Lai, vì không biết mà khởi lên tưởng ngã và vô ngã.  Khế kinh Phương Đẳng Đại Bát Nê Hoàn, pháp tạng mật giáo nghe ở thế gian, chúng  sinh nghe xong thì tánh của Như Lai thảy đều nảy mầm, có thể nuôi lớn nghĩa lớn, cho  nên gọi là Đại Bát-nê-hoàn.
Như thế, này thiện nam! Nếu có chúng sinh học Phương đẳng Bát-nê-hoàn này,  gọi là người ấy đã đền trả ân đức của Như Lai xong xuôi.
Ca-diếp bạch Phật:
–Quý hóa thay! Bạch Thế Tôn! Đối với các hàng Thanh văn và Phật-bích-chi, tánh của  Như Lai rất là quý báu khó thấy và khó được.
Phật bảo Ca-diếp:
–Đúng thế, đúng thế! Này thiện nam! Ta cũng thường nói tánh ấy rất là khó thấy. Ví  như có người không thấy được năm màu vì bị màn da che mắt, người ấy đến vị thầy thuốc  tài giỏi kia để chữa mắt của mình. Người thầy thuốc bèn trừ bỏ ít phần da thịt làm  che mắt cho người đó, rồi lấy một vật biểu hiện khiến cho người đó nhìn. Ngườikia do  lầm lẫn lộn xộn cho rằng có hai, có ba vật, nhìn kỹ hồi lâu thì trông thấy lờ mờ.  Như thế, này thiện nam! Đại Bồ-tát tu sửa thanh tịnh đạo đức, thành tựu mười trụ, ở  trong tự thân quán xét tánh chân thật của Như Lai, vẫn còn bị bánh xe vô ngã  làm mê hoặc, huống chi lại là hàng Thanh văn và Phật-bích-chi mà có thể biết  điều đó chăng? Thiện nam! Nên biết tánh của Như Lai khó thấy như thế. Lại nữa, giống như có người ngước lên xem chim bay, trông xa thì không biết có phải hay  là không phải, nhìn rõ hết tầm mắt của mình thì chỉ nhận biết phảng phất. Bồ-tát  Thập trụ cũng như vậy, vị ấy quán xét Như Lai tánh ở trong tự thân vẫn còn sinh ra ý  tưởng lầm lẫn, quán lâu ngày mới biết phảng phất, huống gì lại là Thanh văn và  Phật-bích- chi.
Lại nữa, giống như người mắc bệnh đàm ấm tăng thêm, nên mê muội đối với các phương  hướng, người ấy muốn có chỗ đi đến, từng tâm tư nối tiếp nhau chuyên lòng nhớ nghĩ  cố nhận ra nhưng vẫn lạc đường đi. Bồ-tát Thập trụ cũng như thế, vị ấy quán xét Như  Lai tánh ở trong tự thân, chuyên tâm phương tiện song vẫn còn có sự tán loạn mê  hoặc, huống gì lại là hàng Thanh văn và Phật-bích-chi.
Lại nữa, giống như kẻ đi xa giữa chốn đồng không mông quạnh, bị sự nóng bức và khát  nước làm rối loạn, xa xa nhìn thấy ánh nắng bụi bặm tựa hồ sóng nắng, hoặc cho là  nước, hoặc nói là cây rừng, hoặc nói rằng thôn xóm. Bồ-tát Thập trụ cũng như thế,  vị ấy quán xét Như Lai tánh ở trong tự thân cũng sinh ra tưởng sai lầm. Lại nữa, ví như có người bước lên trên cao nhìn xuống, xa xa thấy tháp Phật, hoặc cho  là nước, hoặc nói là hư không, hoặc nói rằng  nhà
  cửa, hoặc cho là sóng nắng, núi, đá, cỏ, cây; phương tiện quan sát kỹ mới biết đó  là ngôi tháp. Bồ-tát Thập trụ cũng như thế, vị ấy quán xét Như Lai tánh ở trong tự  thân vẫn còn sinh ra tưởng sai lầm, phương tiện nhìn hết mức mới biết chân thật. Lại nữa, giống như người đi thuyền trên biển cả, xa xa thấy thành quách rồi sinh ra  tưởng sai lầm, hoặc cho là hư không, hoặc nói là hình dáng sự vật. Bồ-tát Thập trụ  cũng như thế, vị ấy quán xét Như Lai tánh ở trong tự thân cũng sinh ra tưởng sai lầm. Lại nữa, ví như vị vương tử xem đào hát suốt đêm, đến khi ánh nắng mặt trời hiện ra,  vị ấy nhìn thấy mọi người rồi sinh ra mê hoặc, thấy người thân mà tưởng lầm kẻ  khác. Bồ-tát Thập trụ cũng như thế, vị ấy quán xét Như Lai tánh ở trong tự thân  cũng sinh ra tưởng sai lầm.
Lại nữa, ví như vị quan lớn đi đến chỗ vua để tư vấn tường tận mọi chuyện với nhà  vua, đêm tối ông trở về nhà, ở trong ánh điện chớp, dường như ông thấy  con trâu trắng mà sinh ra tưởng sai lầm, hoặc cho là nhà cửa, hoặc bảo  là gò đống. Bồ-tát Thập trụ cũng như vậy, vị ấy quán xét Như Lai tánh ở trong  tự thân cũng sinh ra tưởng sai lầm.
Lại nữa, ví như vị Tỳ-kheo giữ giới tự lọc nước sạch, nhìn kỹ lại một lần nữa dường  như vị ấy trông thấy sợi lông nhỏ, hoặc cho là vi trùng, hoặc cho là mảy bụi. Bồ-tát  Thập trụ cũng như thế, vị ấy quán xét Như Lai tánh ở trong tự thân cũng sinh ra tưởng  sai lầm.
Lại nữa, giống như người trông lên đỉnh núi cao, nếu có người đi bộ, lầm cho là cầm  thú. Cũng như thế, Bồ-tát Thập trụ quán xét Như Lai tánh ở trong tự thân cũng sinh ra  tưởng sai lầm.
Như người đau mắt xem tranh vẽ vào đêm tối trời, hoặc cho là tranh vẽ người ta, hoặc  cho là tranh vẽ vị thần, hoặc cho là tượng Phật, hoặc cho là tranh vẽ Phạm vương, Đế  thích và các vị Bồ-tát. Cũng như thế, Bồ-tát Thập trụ quán xét Như Lai tánh ở trong  tự thân cũng sinh ra tưởng sai lầm.
Như thế, này thiện nam! Tánh của Như Lai rất sâu xa khó thấy, chỉ có cảnh giới của  Phật, không phải là điều mà các hàng Thanh văn và Phật-bích-chi có thể thấy biết.  Như thế, này thiện nam! Giáo pháp của Như Lai mà người trí tuệ biết, phải nên có  lòng tin và thọ trì.
Ca-diếp bạch Phật:
–Như lời Thế Tôn nói, tánh của Như Lai rất sâu xa vi diệu, những người  phàm mắt thịt làm sao thấy được?
Phật bảo Ca-diếp:
–Ví như cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng, chỉ có cảnh giới của Phật mới có  thể thấy, còn tất cả hàng Thanh văn và Phật-bích-chi làm sao có thể thấy được. Chỉ  cần những vị kia thuận theo khế kinh của Như Lai, có lòng tin và phương tiện, rồi sau  mới quán xét một cách bình đẳng. Như thế, này thiện nam! Hết thảy hàng Thanh văn và  Phật- bích-chi nên đối với kinh Phương Đẳng Bát Nê Hoàn mà phát sinh lòng tin, biết tự  thân của mình có Như Lai tánh. Cho nên, phải biết rằng, tánh của Như Lai chỉ có cảnh  giới của Phật, không phải cảnh giới của các hàng Thanh văn và Phật-bích-chi.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Chúng sinh trong thế gian đều nói có cái ta, so sánh ý nghĩa thế nào?
Phật bảo Ca-diếp:
–Ví như vào một thuở nọ, hai người làm bạn với nhau, một người là con vua, một người  là kẻ nghèo túng, họ qua lại thắt chặt tình bạn tốt đẹp. Vị vương tử ấy có con tê  giác cái đã được điều phục, ngườinghèo trông thấy nó. Vào thời gian sau này, người  kia cùng đi chung với vị vương tử đến đất nước khác, trời tối hai người cùng dừng chân  ngủ lại ở một nhà khách. Thế rồi ở trong giấc mơ, người nghèo kia nói: “Con tê giác  đến, con tê giác đến”, tiếng nói vang thấu ra ở bên ngoài. Khi ấy có người nghe, bèn  đi đến chỗ nhà vua rồi đem những điều mình nghe được tâu đầy đủ rõ ràng cho vị quốc  vương. Nhà vua liền hỏi: “Nơi nào có con tê giác cái?”. Bấy giờ, người nghèo kia bèn  tâu với nhà vua: “Tôi không có con tê giác cái, người bạn tri thức tốt lành của tôi  có, đã có lần tôi thấy nó”. Tức thời nhà vua lại hỏi hình dạng của nó thế nào,  người kia lại tâu với vua: “Sừng của nó tương tự con dê”. Người nghèo nói lời như thế  xong, vua bèn nói với người nghèo: “Ông tự trở lại nơi nào có con tê giác”. Người kia  không nói dối, thế mà chuyện con tê giác tựa hồ con dê truyền khắp thiên hạ. Như  thế chẳng bao lâu vị vua ấy qua đời, thái tử lên ngôi cũng hỏi thăm tìm con tê giác  song  không
thể nào được; sau này, người con của thái tử nối ngôi làm vua cũng như thế, mong cầu  con tê giác chẳng được; đời vua này đến đời vua khác thường xuyên tương truyền về  chuyện con tê giác mà dấy lên tư tưởng con dê. Như thế, khi Đại Bồ-tát xuất hiện ở  đời, vị ấy nói về cái ngã chân thật cho chúng sinh. Trong số đó, kẻ không biết gì  nghe tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, họ chẳng biết tính chân thật ấy bèn vọng  tưởng nói rằng, cái ngã giống như cây đèn nhỏ xíu nằm ở trong tâm, đủ các thứ ngã,  nhân và thọ mạng của chúng sinh. Giống như người kia nằm mơ nói, rồi người này nối  tiếp người kia đều khởi lên tà kiến, so đo suy tính có cái ta và tính của cái ta,  không được ngã chân thật rồi nói rằng không có cái ngã. Thế nhưng hết thảy chúng  sinh trong thế gian thường dấy lên ý tưởng xằng bậy, so đo suy tính có cái  ngã và tưởng không có ngã.
Như thế, này thiện nam! Ta nói tánh của Như Lai là chân thật nhất. Nếu thế gian nói  ngã thuận theo pháp, nên biết đó gọi là lìa khỏi thế tục, nên biết đều là Bồ-tát  biến hóa, thị hiện nói giống như thế tục.
??
 Phẩm 14: VĂN TỰ
 Phật lại bảo Ca-diếp:
–Tất cả lời lẽ, chú thuật, ký luận được Như Lai nói là nguồn gốc của hết thảy.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Nghĩa ấy thế nào? 
Phật bảo Ca-diếp:
–Thoạt đầu Ta bày rõ bán tự làm nguồn gốc của tất cả. Hết thảy chú thuật, ngôn  ngữ vốn nắm giữ và tích tụ pháp chân thật, chúng sinh thơ dại ngây ngô từ căn bản  của văn tự này mà học tập thông suốt các pháp, đó là pháp hay phi pháp và biết  sự sai biệt của nó. Cho nên Như Lai biến hóa thị hiện gốc của chữ mà không gọi là  phi pháp.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Sao gọi là gốc của chữ? 
Phật bảo Ca-diếp:
–Mười bốn âm đầu tiên gọi là căn bản của chữ, mười bốn âm ấy thường gọi là căn  bản bất tận của tất cả. Bất tận có nghĩa gì? Nghĩa chẳng thể bị phá hoại, nghĩa chẳng  tiết lậu, nghĩa Như Lai gọi là nghĩa bất tận.
Pháp thân Như Lai là kim cương không thể  bị phá hoại, cho nên gọi là chẳng hoại. Như Lai không có các lậu của chín đường, cho  nên gọi là chẳng tiết lậu. Như Lai thường trụ, cho nên nói ý nghĩa của sự vô tác  bất tận.
Âm a ngắn đầu tiên nghĩa là tốt, tốt là ý nghĩa của Ba ngôi báu. Thứ hai, âm a dài  (à) nghĩa là hiện Thánh trí, tên gọi của nó là bậc Thánh lìa khỏi số thế gian, thanh  tịnh, ít sự ham muốn, có khả năng vượt qua tất cả biển của ba cõi, cho nên gọi là  Thánh. Thánh là chân chính, có thể làm đúng khuôn phép, hành xử luật nghi và phép  tắc mực thước của thế gian, đó là ý nghĩa của những chữ ấy vậy.
Lại nữa, âm a là có sự nuôi lớn đều nương dựa vào bậc Thánh, là gốc rễ của tất  cả chánh hạnh chân thật. Hiếu dưỡng cha mẹ đều dựa vào sự hiểu biết ấy, hiểu rõ  chánh pháp trụ ở Ma-ha-diễn, thiện nam, thiện nữ, Tỳ-kheo và Bồ-tát giữ giới, điều  mà những vị ấy thực hành như thế đều nương dựa vào bậc Thánh. Lại nữa, âm a là chỗ nương dựa của quy luật và sự cấu tạo ngôn ngữ thế giới, như  nói thiện nam A-già-xa, như nói nam tử đừng làm A- na-giá-la, cho nên a cũng là chỗ  nương dựa của ngôn ngữ thế gian.
Âm i ngắn là “đây”, nói pháp này chính là pháp Như Lai, phạm hạnh, xa lìa, nhiễm  bẩn của mọi phiền não, thanh tịnh. Vì chư Phật Thế Tôn giống như mặt trăng vành  vạnh lộ rõ pháp này mà thể hiện tên gọi này.
Lại nữa, âm i là như nói rằng, đây là nghĩa đúng, đây là nghĩasai trái, đây là ma  nói, đây là Phật nói, nương dựa vào sự phân biệt ấy nên gọi là này.
Âm i dài (ì) ấy gọi là tự tại, gọi là đại tự tại. Phạm vương tự tại có thể đối  với giáo pháp Như Lai khó có được, đem sức tự tại để hộ trì chánh pháp. Vì nguyên do  đó nên gọi là tự tại.
Lại nữa, âm i là tự tại đối với kinh Đại Thừa Phương Đẳng Bát Nê Hoàn này, tự tại  thâu giữ, khiến cho giáo pháp này tự tại rực cháy, khiến cho chúng sinh khác tự tại  chịu sự học tập kinh Phương Đẳng
này.
Lại nữa, âm i là tự tại, Phương đẳng có năng lực tiêu trừ âm i  là ghen ghét và tà kiến, giống như sửa sang lúa mầm ở ruộng đồng, nhổ bỏ các loài cỏ  dại. So sánh những việc như thế, do đó cho nên Như Lai nói âm i tự tại.
Âm u ngắn là ở trên vậy, Ta nói nghĩa cao nhất đối với khế kinh này, có lẽ là điều  mà các hàng Thanh văn và Phật-bích-chi chưa từng nghe qua tai dù một câu, một chữ,  một vài lời. Ví như Uất-đan-việt là châu đứng hàng đầu về sự phước đức trong   các phương, Đại Thừa Phương Đẳng cũng như thế, hễ một lời được nghe qua  tai, nên biết hạng người ấy là bậc cao thượng của trong loài người, gọi là Bồ-tát,   vì thế cho nên Như Lai nói chữ u này.   Âm u dài (ù) là giống như sữa bò thơm, mùi vị thơm của sữa ấy chính là mùi vị cao  nhất của kinh Đại Thừa, giảng nói rộng rãi về tính chân thật của Như Lai, sự  kiêu mạn trái ngược chánh pháp thảy đều tiêu diệt.
Lại nữa, âm u còn tên gọi là u lớn. Đối với Như Lai tạng, người ấy cắt đứt cội rễ  trí tuệ và thọ mạng mà dính mắc vào thuyết vô ngã, nên biết hạng người ấy gọi là  đại ưu, vì thế cho nên Ta nói âm u.
Âm ai là như thế vậy. Nói đó là pháp Phật; Như Lai Nê-hoàn, cũng nói pháp ấy. Âm ai  là Như Lai, có nghĩa là đến và đi, bởi thế cho nên nói Như Lai, Như Khứ. Âm o là dưới thấp vậy. Phiền não thấp hèn đều trừ diệt xong thì gọi là Như Lai, cho  nên Ta nói âm o.
Âm au chính là Ma-ha-diễn. Ở trong số mười bốn âm thì âm au là rốt ráo, cho nên Ta  nói tên gọi là Ma-ha-diễn, đối với tất cả luận đó là luận rốt ráo, cho nên Ta nói  âm au.
Âm ạm là tất cả vậy. Giáo pháp của Như Lai xa lìa hết thảy tiền tài vật báu. Âm  ạm nghĩa là che ngăn, nghĩa là Nhất-xiển-đề.
Âm ạh cuối cùng là hết vậy. Tất cả khế kinh Ma-ha-diễn là hết sức cùng tận. Âm ka là suy nghĩ hết thảy chúng sinh như con một, đối với tất cả các chúng sinh đều  khởi lên lòng từ bi, cho nên Ta nói âm ka.
Âm kha là đào lên vậy, khai phát đào lên pháp tạng hết sức sâu
xa của Như Lai, trí tuệ ăn sâu vào không có sự bền chắc, do đó Ta nói âm kha. Âm ga là tàng chứa vậy. Tất cả chúng sinh có Như Lai tạng cho nên Ta nói âmga. Âm gha đọc nặng là tiếng gầm vậy. Thông thường con sư tử gầm nên nói Như Lai thường  trụ.
Âm na là giòn vậy. Hết thảy các pháp hữu vi do nhân duyên sinh ra lưu chuyển trong ba  đời, thoắt khởi thoắt diệt, cho nên gọi là na.
Âm ca là hành vậy. Vì thành tựu chúng sinh nên gọi là ca.
Âm cha là soi sáng. Tính thường trụ của Như Lai, cho nên Ta nói âm cha.
Âm ja là sinh vậy. Sinh ra các sự giải thoát, không phải như sinh của sinh tử nguy  hiểm dễ vỡ, cho nên Ta nói âm ja.  Âm jha đọc nặng là thiêu đốt vậy. Tất cả phiền não thiêu đốt khiến dập tắt mau  chóng, cho nên nói là jha.
Âm na là trí vậy. Thật sự biết pháp cho nên nói là na.
Âm tạ là tỏ rõ vậy. Ở cõi Diêm-phù-đề biểu hiện chẳng đầy đủ, thế mà pháp thân  của Như Lai kia thường trụ cho nên nói là tạ.
Âm tha là biểu thị sự thỏa mãn đầy đủ vậy. Đầy đủ một cách bình đẳng cho nên nói  là tha.
Âm da là nhẹ nhàng tự tại không ẩn mất, cho nên Ta nói âm da.
Âm dha đọc nặng là chẳng biết hổ thẹn, không báo đền ân sâu cho nên Ta nói âm dha.
Âm na là không chính đáng giống như các kẻ ngoại đạo, cho nên nói là na.
Âm ta là che lấp tất cả hữu, khiến cho nó không nối tiếp nhau, cho nên nói âm ta. 
Âm tha là không biết vậy. Giống như con tằm làm kén, cho nên nói là tha.
Âm da là phương tiện vui vẻ đối với Ma-ha-diễn, cho nên nói âm da.
Âm dha đọc nặng là gìn giữ vậy. Hộ trì Ba ngôi báu giống như không làm cho núi Tu-di chìm lỉm, cho nên nói là dha.
Âm na là giống như cờ phướn của Nhân đà la bên cạnh cửa
thành, dựng lên Ba ngôi báu, cho nên nói âm na.
Âm pa là khởi lên tưởng đảo ngược. Ba ngôi báu chìm lỉm mà tự mê loạn, cho nên nói  âm pa.
Âm pha là thế giới thành bại, giữ giới thành bại, tự mình thành bại, cho nên nói âm  pha.
Âm ba là sức lực vậy. Như các Đức Như Lai có vô lượng thần lực, không phải chỉ mười  lực, cho nên nói âm ba.
Âm bha đọc nặng là có thể làm mái che chánh pháp là Bồ-tát đạo, cho nên nói âm  bha.
Âm ma là giới hạn vậy. Vào ngưỡng cửa khuôn phép của hàng Bồ-tát, tự cứng rắn ý  chí của mình, làm lớp mái che cho chúng sinh, cho nên nói âmma. Âm ya là tập thực hành bốn thứ công đức của Bồ-tát, cho nên nói là ya.
Âm ra là diệt bỏ sự dâm sục, giận dữ, ngu si; đi vào pháp chân thật, cho nên nói âm ra.
Âm la đọc nhẹ là không lĩnh thọ thừa Thanh văn và Phật-bích-chi mà nhận lãnh sự học  tập Đại thừa, cho nên nói là âm la.
Âm va là chú thuật của tất cả thế gian đặt ra, hàng Bồ-tát đều nói, cho nên nói âm  va.
Âm sa là ba thứ gai độc thảy đều đã nhổ, cho nên nói là âm sa. Âm sạ là nghĩa đầy  đủ, đều có thể nghe và lĩnh thụ khế kinh Phương đẳng, cho nên Ta nói âm sạ.
Âm sa là dựng lên chánh pháp, cho nên Ta nói âm sa.
Âm ha là tiếng làm kinh động vậy. Kỳ lạ thay các pháp hữu vi do nhân duyên sinh ra,  lưu chuyển trong ba đời thảy đều rốt ráo. Kỳ lạ thay Như Lai mà vào Nê-hoàn rời xa  các sự vui sướng, cho nên nói âm ha.
Âm kta là ma vậy. Thiên ma hàng ức ngàn không có ai năng lực phá hoại vị Tăng chân  chính Như Lai, vì thuận theo thế gian mà thị hiện có sự hủy hoại.
Lại nữa, thuận theo thế gian làm cha mẹ và các người họ hàng thân thuộc cho nên nói  âm ksa.
Âm r, r, l, l, bốn chữ này là trưởng dưỡng bốn nghĩa Phật và
Pháp, Tăng; thị hiện có đối đãi thuận theo thế gian, thị hiện hữu đối (chướng ngại)  giống như Điều-đạt phá hoại Tăng. Ngôi báu Tăng thật sự không bị phá hoại, Như  Lai phương tiện thị hiện việc phá hoại Tăng, hóa làm hiện tượng như thế là để  kết thành giới luật. Nếu người biết nghĩa phương tiện của Như Lai thì chẳng nên sợ  hãi, nên biết đó gọi là thuận theo thế gian, do vậy Ta nói bốn chữ sau cùng này.  Thanh âm hút khí, thanh âm lưỡi, thanh âm theo mũi, âm thanh vượt lên cao, âm thanh  dài, lấy những ý nghĩa đó mà hòa hợp với chữ này, giống như những chữ này hòa  thuận các thanh, đi vào âm thanh ngôn ngữ của mọi người, đều y theo lưỡi và răng mà  có sai biệt, vì nhờ các chữ này, thân tích tụ vô lượng các tai họa phiền não, làm  nhân duyên hòa hợp ấm, giới, các nhập; tịch diệt nghỉ ngơi, vào Như Lai tánh, Phật  tánh hiện ra rõ ràng, thành tựu trọn vẹn tột cùng. Cho nên, bán tự gọi là căn bản  của hết thảy các chữ. Nếu quán xét lý chân thực của các pháp và sự giải thoát  của Như Lai cũng không có tướng của văn tự ngôn ngữ, tướng của chữ và tướng của vị  thảy đều xa lìa. Cho nên, hết thảy sự xa lìa gọi là giải thoát, sự giải thoát ấy tức  là Như Lai. Nhân bán tự này có thể khởi lên các pháp, mà không có tướng của các  pháp nương theo chữ, đó gọi là khéo hiểu ý nghĩa của văn tự. Nếu khác như thế là  không hiểu văn tự phân biệt các pháp là pháp hay phi pháp. Tính của Như Lai và Ba  ngôi báu giải thoát, nhưng không thể biết đó là kinh hay không phải kinh, đó là luật  hay không phải luật, đó là ma nói hay Phật nói, tất cả đều không thể biết lời nói  của Ta. Do hạng người ấy không biết chữ, cho nên này thiện nam, các ông cần phải  khéo học bán tự, cũng nên đi vào sự hiểu rõ số văn tự kia.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Con sẽ khéo học những bán tự này. Nay Thế Tôn của chúng con bắt đầu  cho người con Phật có được bậc thầy cao cả trên hết, nay con mới vào trường học tập.
Phật bảo Ca-diếp:
–Quý hóa thay! Quý hóa thay! Này thiện nam! Người ưa thích tu tập chánh pháp cần phải  học như thế.
*
**
Phẩm 15: LẤY CHIM LÀM THÍ DỤ
 Phật lại bảo Ca-diếp:
–Chim nhạn, chim hạc, chim xá-lị, điều gọi là các thứ pháp vô thường, khổ, không  và vô ngã thì giống như những loài chim nhạn, chim hạc, chim xá-lị.
Ca-diếp bạch Phật:
–Ý nghĩa này thế nào? Phật bảo Ca-diếp:
–Có pháp vô thường, có pháp là thường; có pháp là khổ, có  pháp là vui; có pháp  là ngã, có pháp là vô ngã. Ví như người làm ruộng gieo trồng năm thứ lúa dùng hạt  để ăn và các cây ăn quả. Từ khi chúng nảy mầm cho đến mọc ra hoa lá, người ấy  thường xuyên khởi lên tư tưởng phi thường. Đến như khi chúng chín muồi, thu hoạch trái  cây ấy, lúc được thọ dụng mà nảy sinh tư tưởng thường còn. Vì sao? Vì sự chân thật  hiện rõ ra.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Sao gọi là sự thường còn của ngũ cốc? Sự thường còn đó  không hoại diệt giống Như Lai chăng?
Phật bảo Ca-diếp:
–Cũng như đem Như Lai tỉ dụ núi Tu-di, lúc thế giới bại hoại, núi Tu-di ấy lẽ nào  không hoại chăng? Thiện nam! Không nên đối với thí dụ mà đặt ra câu hỏi ấy, tất cả  các pháp đều trở về với sự hoại diệt, chỉ có Nê-hoàn là pháp thường còn mà thôi,  lời nói tùy theo thế gian nên lấy núi kia làm ví dụ.
Ca-diếp bạch Phật:
–Thưa vâng, bạch Thế Tôn! Hay thay lời nói này! 
Phật bảo Ca-diếp:
–Như thế, này thiện nam! Việc tu tập các Tam-muội theo tất cả khế kinh, cho đến việc  chưa nghe khế kinh Phương đẳng Đại Bát Nê Hoàn, các hàng chúng sinh tu quán tưởng vô  thường, khi họ nghe kinh này rồi, nếu thiện nam và thiện nữ vốn ôm lòng phiền não thì  mãi mãi lìa khỏi sự trói buộc bởi lòng nghi ngờ, hiểu rõ pháp thường. Vì sao? Vì tính  của Như Lai ở tự thân mỗi người được hiện ra rõ ràng.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như thợ vàng nung chảy kim loại ấy, đến mức đồ dùng chưa  thành thì người thợ ấy dấy lên tưởng phi thường, khi đồ quý báu dã hoàn thành  thì thường được thọ dụng. Như thế, Thiện nam! Việc tu tập các Tam-muội theo tất  cả khế kinh, ngay cả việc chưa nghe khế kinh Phương Đẳng Đại Bát Nê Hoàn, các chúng  sinh ấy tu tưởng vô thường, khi họ nghe kinh này xong thì vĩnh viễn lìa khỏi sự trói  buộc bởi lòng nghi ngờ và điều phiền não ôm ấp trong lòng, hiểu rõ pháp  thường. Vì sao? Vì tánh Như Lai ở tự thân mỗi người được hiện ra rõ ràng.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như có người trồng cây mía, cây mè, cả đến lúc cây và  hạt chưa chín, họ thường dấy lên tư tưởng đủ mọi thứ mùi vị. Khi đã chế thành dầu  mè, đường phèn xong xuôi, người ấymới biết mùi vị thật sự. Như thế, này thiện nam!  Sự tu tập các Tam-muội theo tất cả khế kinh, ngay cả việc chưa nghe khế kinh Phương Đẳng  Đại Bát Nê Hoàn, các chúng sinh ấy tu tưởng vô thường, khi họ nghe kinh này xong, thì  mãi mãi lìa khỏi sự trói buộc bởi lòng nghi ngờ và điều phiền não ấp ủ, hiểu rõ  pháp thường còn. Vì sao? Vì tánh Như Lai ở tự thân mỗi người được hiện ra rõ ràng.
Ví như trăm sông đều đổ về biển, như thế hết thảy khế kinh và các Tam-muội đều trở  về với kinh Phương đẳng Bát-nê-hoàn. Vì sao? Vì tính của Như Lai là rốt ráo nhất, do đó  ta nói có pháp vô thường, có pháp là thường, như chim xá-lị, kiếm đâm lo buồn Như Lai  đã cắt đứt, thế mà có nhiều người nghi ngờ đối với luận này. Nhưng sự lo buồn của  Như Lai ấy là hiện có trước mắt, không giống như sự lo buồn của hàng người, trời  và chúng sinh khác. Như phi tưởng xứ làm sao có tưởng, nếu không có tưởng thì  không cần phải có tuổi thọ, có sống lâu song không có tưởng, thì làm gì có tên gọi  của tưởng ấm, giới và nhập.
Lại nữa, như cây rừng đều có thần nương dựa, nếu cây có thần nương dựa, là nương dựa  vào thân rễ, hay là nương dựa vào nhánh cây. Các chỗ như thế thảy đều không hiện,  gọi là trụ vào chỗ nào để nương dựa. Như vậy, giáo pháp Như Lai rất sâu sắc, nên  biết sự lo buồn của Như Lai là thị hiện, đối với La-hầu-la mà khởi lên lòng từ, cho  đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ cũng như thế, chỉ có Phật với Phật mới biết ý nghĩa  này. Những điều này đều là pháp của chư Phật mà còn không có
làm sao có lo buồn, lo buồn nếu không có thì giáo pháp trái nhau. Ý tưởng  xem như con một đó là lời nói suông, nói tất cả pháp đều không thể nào tin được,  nhưng lời Như Lai nói là không thể nghĩ bàn, giáo pháp của chư Phật cũng chẳng thể  nghĩ bàn, pháp Phật của Như Lai không thể nghĩ bàn, đó là chân thật.
Ví như hư không, không thể tạo lập cung điện hay nhà cửa ở trong đó, thế  mà nhà ảo thuật có thể tạo ra ở trong đó, kẻ phàm phu ngu si trông thấy xong rồi   dấy lên ý nghĩ thế này, làm sao giữa hư không mà có thể an lập như sự  chuyển đổi của tâm ý, lời nói như thế còn không có tâm ý thì làm gì có sự lo  buồn, lo buồn nếu như không có, thì ví dụ về La-hầu-la ấy là chẳng chân thật. Như  giữa hư không, Như Lai lo buồn là việc không thể được, như sự huyễn hóa ấy, tùy theo  sự chuyển đổi của tâm ý, Như Lai thì có tâm tưởng lo buồn, nghe bát Nê- hoàn mà dấy  lên sự suy nghĩ như thế này, làm sao có lo buồn, người nghe sự chuyển đổi ấy thường  có sự lo buồn. Do đó Như Lai thường trụ, nếu vô thường thì có lo buồn, nhưng nay Như Lai  không phải là vô thường. Như Lai lo buồn và không có nỗi lo buồn đều không  thể biết được.
Dưới là biết dưới mà không biết giữa và trên; giữa là biết giữa và dưới mà chẳng  biết trên ấy; chỉ có trên là tất cả đều biết. Các hàng Thanh văn và Phật-bích-chi  ấy ai nấy đều tự biết, nhưng không thể biết cảnh giới của Như Lai, Như Lai đều biết  hết, cho nên gọi là xa lìa mọi chướng ngại.
Ví như nhà ảo thuật thị hiện biến hóa đủ mọi thứ, Như Lai cũng vậy, tùy thuận thế  gian mà thị hiện đủ mọi thứ, có thể biết đây gọi là người thông tuệ, tưởng của  người phàm phu mắt thịt là vô tưởng, không phải cảnh giới của họ, thế mà đối với  Như Lai, họ dấy lên tưởng buồn lo và không buồn lo. Cho nên Ta nói, có pháp là ngã,  có pháp là không phải ngã, giống như chim xá-lị.
Lại nữa, này thiện nam! Giống như chim nhạn, chim hạc và chim xá-lị, vào tháng mùa hạ,  lúc trời mưa nước sông tràn ngập, chúng lựa chọn chỗ cao ráo mà xếp đặt cho con mình  yên ổn, rồi sau mới bay đi. Như thế, Như Lai xuất hiện và làm hưng thịnh cho đời, hóa  độ vô lượng chúng, khiến cho họ đi vào chánh pháp, phương tiện nói pháp cho
 người chịu sự giáo hóa, hoặc nói pháp khổ, hoặc nói pháp vui. Các hành  hữu vi gọi là khổ, Nê-hoàn rất mực vui sướng, lìa khỏi các hành hữu vi thì Ta nói  tên gọi là vui.
Ca-diếp bạch Phật:
–Nghĩa ấy là thế nào? 
Phật bảo Ca-diếp:
–Điều đó gọi là như như. 
Ca-diếp bạch Phật:
–Sao gọi là chúng sinh được vui thú Nê-hoàn? 
Phật dạy:
–Này Ca-diếp! Như trước đây Ta nói tất cả các hành không có sự sinh, già và chết,  điều đó gọi là:
Nếu không buông lung 
Chỗ ấy bất tử
Nếu kẻ buông lung 
Đó là đường chết.
Người không buông lung 
Được chỗ chẳng chết 
Nếu người buông lung
Thường ở sinh tử.
Nếu người buông lung là hành hữu vi, người kia có hành hữu vi thì đó là pháp khổ.  Không phải Nê-hoàn, đó là chỗ chết. Nếu tạo tác sự buông lung thì đó gọi là tạo  tác hành, nên biết hành này thì gọi là rất khổ, không hướng đến Nê-hoàn gọi là  con đường chết, người không có sự buông lung là không tạo tác hành, tuy lại tạo tác  hành cũng chẳng sinh tử, đó gọi là thân kim cương chẳng hủy hoại. Kẻ thế tục ấy  gọi là buông lung, người xa lìa thế tục là không có sự buông lung, khỏi sinh, già,  chết là khoái lạc Nê-hoàn, cho nên Như Lai có nói pháp khổ, có nói pháp vui, có nói  phi ngã, có nói đó là ngã. Như chim bay giữa hư không, chẳng trông thấy dấu tích của  nó. Người không có thiên nhãn, phiền não chưa dứt bỏ, không tự nhìn thấy thân và  tính của Như Lai. Cho nên Ta nói có pháp vô ngã, vì phiền não nên nói giáo pháp bí  mật vi diệu. Các chúng sinh ấy không có thiên nhãn mà tính toán so đo ngã và ngã sở,  tạo tác hành hữu vi vô lượng phiền não, cho nên Ta nói các
  pháp vô thường cho họ. Do đó Ta nói có pháp vô thường:
Giống như mắt sáng trụ đỉnh núi 
Biết rõ hạng phàm phu nơi ấy 
Như Lai đạo nhãn lên đài tuệ 
Không còn lo nghĩ loại quần sinh.
Như thế, vô lượng phiền não đều tiêu diệt, gọi là trụ đỉnh núi, nhìn vô lượng phiền  não ấy rực cháy, chúng sinh thấp kém ai là người bước lên đài tuệ. Thế nào gọi là  không có sự lo lắng, nếu người không có sự lo lắng, thì sao gọi là lo nghĩ thế gian.  Nếu Nê-hoàn diệt tận, thì sao có việc xem xét kẻ ngu. Ví phỏng Như Lai Nê-hoàn diệt  tận, sao gọi là có thể bước lên đài cao trí tuệ. Nếu cho rằng Nê-hoàn, làm sao ở  đỉnh núi có thể nhìn xuống dưới ấy. Đài trí tuệ là nói rằng, diệt tận Nê- hoàn là  người không có nỗi lo và lo nghĩ, gọi là Như Lai lo nghĩ vô lượng quần sinh trong thế  gian. Đỉnh núi là nói giải thoát, trụ là người thực hành, địa là hành hữu vi, người  ngu là người không có phương tiện khéo léo khi nói. Hiểu rõ kỹ càng là chánh giác.  Như Lai là mãi mãi xa lìa sự lo lắng khổ sở vì đó là pháp thường còn. Nhờ tự mình lìa  khỏi âu lo, thấy chúng sinh bị đồ sắc bén đâm vào, lo lắng buồn bực, rồi phát sinh  nỗi lo lắng cho họ. Nếu như Như Lai vĩnh viễn xa lìa sự lo lắng thì không gọi là bậc  Chánh giác, tùy chúng sinh kia mà đáp ứng sự thâu giữ giáo hóa, Như Lai Đẳng Chánh  Giác liền thị hiện cho họ, do đó nên biết Như Lai thường trụ, thị hiện mọi thứ giống  như chim nhạn, chim hạc và chim xá-lị.
 
*
**
 Phẩm 16: LẤY MẶT TRĂNG LÀM THÍ  DỤ

 
 Đức Phật lại bảo với Ca-diếp:  –Này thiện nam! Giống như mặt trăng không hiện ra, mọi người cho là mặt trăng lặn  mất, hết thảy dân chúng đều dấy lên tư tưởng lặn mất, mặt trăng xuất hiện ở phương  khác thì dân chúng ở phương khác bảo rằng mặt trăng mọc, thế nhưng mặt trăng  kia không lặn cũng chẳng mọc, nhân vì sự xuất hiện của núi Tu-di nên có sự xuất  hiện và
tàng ẩn. Như vậy, Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác ở Đại thiên thế giới hoặc cõi  Diêm-phù-đề nương tựa nhân duyên cha mẹ mà thị hiện sinh ra làm con, người trong  cõi Diêm-phù-đề đều dấy lên tư tưởng sinh ra. Lại nữa, Ta thị hiện vào Nê-hoàn  ở lên tư tưởng diệt độ, thật ra Như Lai chẳng sinh chẳng diệt.
Lại nữa, này thiện nam! Giống như mặt trăng ở phương khác xuất hiện tròn vành vạnh,  chúng sinh ở phương kia đều dấy lên ý tưởng tròn đầy; cõi Diêm-phù-đề này hiện có  trăng non, dân chúng phương này dấy lên ý tưởng trăng non mới mọc, mặt trăng dần  dần lớn thêm, cho đến khi vầng trăng tròn vành vạnh, họ bèn dấy lên ý tưởng tròn  đầy. Thế nhưng vầng trăng kia không thêm cũng chẳng bớt, bởi vì núi Tu-di hiện có  tăng giảm. Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác cũng như thế, hoặc Ta ở cõi Diêm-phù-đề  thị hiện có Nê-hoàn, thế rồi các chúng sinh đều dấy lên ý tưởng diệt độ. Hoặc Ta ở  cõi Diêm-phù-đề thị hiện sinh ra đời giống như mặt trăng mới mọc, người ở cõi  Diêm-phù-đề dấy lên tư tưởng trẻ con như mặt trăng mọc ngày mồng ba. Ta thị hiện hành  động đi bộ dạo chơi như trăng mọc ngày mồng bốn. Ta thị hiện hành động học tập sách  vở như trăng mọc ngày mồng tám. Ta thị hiện xuất gia tu hành cho đến khi mặt trăng  tròn vành vạnh. Ta thị hiện ánh sáng rõ ràng phá hoại vô lượng chúng ma, tốt lắm thì  thị hiện vào Nê-hoàn. Trang nghiêm thân của mình bằng ba mươi hai tướng tốt và tám  mươi vẻ đẹp. Giống như vầng trăng sáng, các tinh tú chung quanh lặn mất mà chẳng hiện  ra. Người ở cõi Diêm-phù-đề, hoặc dấy lên tư tưởng sinh, hoặc dấy lên tư tưởng  diệt. Thật ra Như Lai không thêm cũng chẳng bớt, thường như vầng trăng tròn vành  vạnh, do đó nên biết rằng Như Lai thường trụ.
Lại nữa, này thiện nam! Giống như vầng trăng sáng rỡ, tất cả mọi người ở chốn ao  đầm, núi non, xóm làng, thành ấp, khắp nơi đâu đâu cũng trông thấy. Tùy theo đồ  đựng lớn nhỏ, nước chứa trong các thứ ấy, mặt trăng đều hiện ra tất cả. Nếu người  đi chơi xa trăm ngàn do-tuần mà mặt trăng thường theo, rồi những hạng người kia dấy  lên ý tưởng thế này, có người cho đó là vầng trăng ban đầu, có người cho đó là  vầng trăng  khác.  Người  ngu  trông  thấy  mặt  trăng  dường  như  chiếc gương  soi mặt, người bậc trung trông thấy mặt trăng dường như bánh
xe, bậc thượng nhân thấy mặt trăng tròn năm do-tuần, cho đến chúng sinh còn lại, đều  trông thấy tùy theo sức mình. Mặt trăng sáng ngời, Như Lai cũng như thế, tất cả đều  trông thấy, thế rồi các chúng sinh, mỗi người dấy lên sự suy nghĩ thế này, họ bảo  rằng, Đức Phật Thế Tôn thương xót chúng ta cho nên trú tại nhà chúng ta, cho đến các  loài ở đường súc sinh cũng như thế. Người bị điếc, đui, câm, và những kẻ tàn tật,  ngọng ai nấy đều bảo rằng, Như Lai là vị giống như mình, các thứ ngôn ngữ, các thứ  sách vở, các thứ thân thể. Mọi người đều dấy lên sự suy nghĩ này, chư Phật Như Lai  chỉ nói ngôn ngữ của ta, học sách vở của ta, thị hiện thân như ta, ăn món ăn như ta. 
Họ lại còn dấy lên tư tưởng khác, có người cho Như Lai là Thanh văn, có người bảo Như  Lai là Duyên giác, có người cho rằng Như Lai xuất gia ở đạo khác, có  người cho Như Lai vì ta mà làm hưng thịnh ở đời. Thế nhưng, pháp thân chân thật  của Như Lai ấy không có sự biến đổi khác, vì chúng sinh nên dùng thân phương tiện thị  hiện đủ mọi tướng giống như cây thuốc hay. Như Lai cũng vậy, vì chúng sinh nên thị  hiện trăm ngàn sự thay đổi thuận theo thế gian, vì thế cho nên Như Lai chính là pháp  thường trụ.
Lại nữa, này thiện nam! Giống như khi La-hầu A-tu-la nắm giữ mặt trời và mặt  trăng, các chúng sinh ấy cho là A-tu-la kia ăn mặt trăng, vị kia bỏ mặt trăng  xong họ cho là vị kia nhả mặt trăng. A-tu-la kia ngăn ánh trăng không hiện ra ở thế  gian, họ bèn dấy lên ý tưởng thực. Vị kia bỏ mặt trăng xong, mặt trăng xuất hiện trở  lại ở thế gian, họ cho là vị kia bỏ mặt trăng. Thế nhưng mặt trăng kia khi ẩn mất khi  lộ rõ, thật ra không có thêm bớt. Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác cũng như thế,  giống như ông Điều-đạt kia làm tổn thương hủy hoại thân Phật, gây ra những  nghiệp vô gián cho đến hạng Nhất-xiển-đề, đều là vì các chúng sinh trong đời sau mà  thị hiện làm thương tổn thân Phật, hoại
Pháp, phá Tăng. Thật sự pháp thân Như Lai  không có sự thương tổn hủy hoại, cho dù số ma trời có hàng ức trăm ngàn, cũng không  thể nào dứt bỏ
Pháp và phá hoại Tăng được. Cho nên phápthân Như Lai chân thật  không có sự tổn thương và hủy hoại, Ta thị hiện tướng tổn hoại là thuận theo  thế gian.
Ví như hai người đánh nhau, tùy theo sự tổn thương và hủy  hoại
của họ mà so lường tội nhẹ hay nặng. Chư Phật Như Lai cũng như thế, các vị thị hiện  tướng tổn thương hủy hoại, biểu hiện tội vô gián là nhằm chế ra pháp luật  để răn dạy người đời sau.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như người thầy thuốc giỏi khéo chỉ dạy con mình, khiến cho  nó học cách thức chữa bệnh, nhận biết các thân rễ, hoa lá, mùi thơm, màu sắc, hình  dạng của cây thuốc, ông đều khiến cho nó hiểu rõ. Sau khi vị lương y qua đời, người con  ấy nối tiếp sự gây dựng, khéo biết phương pháp chữa bệnh. Chư Phật Như Lai  cũng như thế, các vị biến hóa đủ mọi cách để điều trị chúng sinh, thị hiện năm tội  trái ngược với đạo lý và bôi nhọ chê bai kinh pháp, ngay cả hạng Nhất-xiển-đề, chư  Phật cũng đều hóa hiện là vì chúng sinh đời sau. Sau khi Phật vào Nê-hoàn, khiến cho  các vị Tỳ-kheo thuận theo kinh luật. Giống như lời của Như Lai nói, các vị ấy biết tội  nặng nhẹ để tự mình thận trọng dè chừng.
Lại nữa, này thiện nam! Như mặt trăng ở nhân gian, nguyệt thực một lần sáu tháng,  thế mà ở trên cõi trời, chư Thiên thấy nguyệt thực vào ban ngày, hoặc lại thấy  nguyệt thực trong giây lát. Vì sao? Vì ngày tháng ở cõi trời thì dài, còn ở nhân gian  thì ngắn. Chư Phật Như Lai cũng như thế, hoặc cho là chư Phật sống lâu như sáu tháng  nguyệt thực, cho đến chư Phật vào Nê-hoàn trong phút chốc. Vì ma phiền não, ma ấm, ma  chết, ma cõi trời Tự tại, hàng ức trăm ngàn loại vốn không thể nào phá hoại, Ta  thị hiện vô lượng sự sinh ra là thuận theo thế gian. Tuổi thọ của Như Lai  thật sự không có đo lường nổi, do đó Như Lai là pháp thường trụ.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như vầng trăng sáng ngời, tất cả chúng sinh thảy  đều yêu thích. Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác cũng như thế, đem lại pháp an vui,  chúng sinh đều ưa thích, an lạc.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như mặt trời mọc có ba mùa thay đổi, mùa xuân, mùa hạ,  mùa đông khác nhau. Ngày mùa đông thì ngắn, ngày mùa xuân ở mức trung bình, ngày  mùa hạ rất dài. Mặt trời Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác cũng như thế, thị hiện ba  thứ tuổi thọ. Ta thị hiện tướng thọ mạng ngắn ngủi cho các chúng sinh, Thanh văn và  Duyên giác, hạng này thấy Ta diệt độ rồi thì trong lòng buồn bã than thở: “Sao mà kỳ  lạ vậy, tuổi thọ của Như Lai ngắn ngủi quá”. Ta
vì các Bồ-tát mà thị hiện tuổi thọ bậc giữa, hoặc đến một kiếp, hoặc hơn một kiếp.  Chỉ có Phật xem xét Phật thì tuổi thọ ấy không lường nổi.
Lại nữa, này thiện nam! Giáo pháp vi diệu bí mật Phương đẳng Đại thừa do Như Lai nói,  thị hiện tuôn trận mưa pháp lớn cho thế gian, nếu có chúng sinh ở đời sau này đem  phẩm Ma-ha-diễn chánh pháp này để khai thị thế gian, thì nên biết hạng người này là  Bồ-tát chân thật giống như cơn mưa vào mùa hạ. Cũng như ngày mùa đông, có  nhiều nỗi lo lạnh rét khiến tuổi thọ của con người giảm bớt, hàng Thanh  văn và Duyên giác nghe giáo pháp phương tiện vi diệu bí mật của Phật, Phật thị hiện  báo thân thọ mạng ngắn ngủi cho những vị ấy, giống như ngày mùa đông. Những hàng  Bồ-tát thành tựu trí tuệ vi diệu, thế rồi Phật thị hiện thường pháp của bậc Như Lai  cho những vị kia, ví dụ như ngày mùa xuân. Như thế, Như Lai thuận theo thế gian thị hiện  thọ mạng ba mùa.
Ví như ban ngày, những vì sao không hiện ra, kỳ thật chúng chẳng mất. Như  thế, Như Lai cùng với các Thanh văn và Phật-bích-chi đều xuất hiện ở đời và đều thị  hiện Nê-hoàn, không phải riêng một mình tất cả Thanh văn và Duyên giác có sự vô  thường vậy. Nên biết đó cũng là pháp thường trụ giống như các ngôi sao vào ban ngày  vậy.
Lại nữa, này thiện nam! Cũng như bầu trời râm, mặt trời và mặt trăng không hiện ra,  người phàm ngu si nói rằng, mặt trời và mặt trăng lặn mất, thời kỳ chánh pháp của  Như Lai diệt hết, Ba ngôi báu hiện giờ ẩn mất cũng như thế, không phải là diệt mãi  mãi. Nên biết Như Lai chính là pháp thường còn, cũng chẳng thay đổi, cũng chẳng phai  mờ tiêu diệt, không phải các lỗi lầm kia có thể làm nhiễm ô.
Lại nữa, này thiện nam! Chỉ như sao Đẩu và mặt trăng vào lúc cuối đêm sắp hết, giữa  lúc tranh tối tranh sáng, tạm thời hiện ra ánh sáng, mọi người trông thấy rồi, chẳng  bao lâu liền diệt mất trở lại. Mọi người cho rằng ánh sáng ấy tắt mất song thật ra  không diệt. Như thế, này thiện nam! Giống như thời kỳ chánh pháp Như Lai diệt hết, các  hàng Phật-bích-chi xuất hiện ở đời, khai thị giáo hóa vô lượng chúng sinh, kiến lập  chánh pháp, rồi chẳng bao lâu các vị ấy liền diệt độ, kỳ thật các vị ấy tồn tại  lâu dài mà chẳng diệt độ mãi mãi, nhưng mà các
 chúng sinh không thể nào thấy biết được.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như mặt trời mọc thì mọi sự tăm tối đều tiêu trừ. Như  thế, Thiện nam Kinh Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn này xuất hiện ở thế gian, nếu có người  nghe, thì tội nghiệp vô gián tích tụ vô lượng thảy đều tiêu diệt. Như thế, Thiện nam!  Cảnh giới hết sức sâu xa của Ma-ha-diễn Đại Bát-nê-hoàn này không thể nghĩ bàn,  khéo nói tính vi diệu của Như Lai. Nếu thiện nam hay thiện nữ nào muốn biết Như Lai là  pháp thường trụ, chánh pháp không có sự cùng tận, ngôi báu Tăng không bao giờ mất  được, nên chăm chỉ phương tiện tu học kinh này, ta nói người này là được gần gũi với  địa vị Phật.
*
**
/53
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »