396 - Kinh Đại Bát Nê Hoàn - Quyển II - Phẩm 4: Xót Xa Than Thở (Trang 40 - 71)">
Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1139.

Chương 2: Kinh Đại Bát Nê Hoàn - Quyển II - Phẩm 4: Xót Xa Than Thở (Trang 40 - 71)

KINH ĐẠI BÁT NÊ HOÀN
 
QUYỂN II
 
Phẩm 4: XÓT XA THAN THỞ
 
Đúng lúc ấy, sáu thứ chấn động khắp cả cõi đất, trong đó thôn xóm, thành ấp, núi  non, biển cả, cho đến mười phương, toàn bộ đều chuyển động mạnh. Khi ấy, các chúng  sinh ai nấy đều hết sức hoảng sợ, hàng trời người, A-tu-la đều than vãn xót thương.  Họ rập đầu làm lễ dưới chân Đức Phật và cúng dường xong, cùng một lúc tất cả đều  dùng bài kệ ca tụng:
Lạy Đấng Hùng loài người 
Xót con nay côi cút
Gieo mình dưới chân 
Phật Ngửa nhớ diệu công đức. 
Nghe con nói sống chết 
Đủ mọi khổ khôn xiết
Các trời, người nghe đó 
Ai cũng sinh lìa chán. 
Ví như con côi cút 
Bệnh khốn tự quấn  thân
 Tuy gặp lương y chữa 
Bệnh ấy vẫn chưa khỏi.
Nhưng bỗng dưng nửa chừng 
Thầy bỏ đi nơi khác
Chúng con và tất cả 
Kẻ cùng khổ cũng thế.
Mới được phương tiện chữa 
Mọi tà kiến phiền não
Đại y vương Thế Tôn
 Chợt sắp bỏ con đi. 
Bèn như kẻ bệnh nặng 
Mất thầy không chỗ cậy 
Ôi thôi thế gian này
Từ rày luôn trống trải. 
Cũng như nước rối ren 
Lại mất chúa hiền minh 
Xót thay các trời người 
Đều chịu nạn La-sát.
Giống như kiếp thóc quý 
Dân gặp khổ đói kém 
Thương thay các trời người 
Mất mãi vị cam lồ.
Ví như lửa dữ bùng 
Chúng sinh đều chết thiêu 
Xót thay các trời người 
Đường ác rực  cháy mãi.
Thương thay các trời người 
Chịu khổ lớn đêm dài 
Quay vòng dòng sinh tử 
Như voi lún  bùnsâu.
Xót thay nay trời người 
Từ thân máu chảy ra 
Khổ não thêm lo buồn 
Lòng luyến mộ  như thế. 
Do Thế Tôn diệt độ
 Hành nghiệp lại khó lường 
Trời trăng ẩn lớp mây
Từ đây ánh tuệ diệt.
Thương thay chúng trời người 
Sống đêm dài tăm tối
Do đó buồn canh cánh 
Không vật nào dụ được. 
Nhìn thân không đáng vui 
Muốn bỏ như  nhổ bọt
Chẳng ham sống đời hoài 
Nghe tiếng Phật Nê-hoàn. 
Chỉ mong đấng Đại trí
Ở đời nói cam lồ
Mây tan ánh dương tỏ 
Mịt mùng thảy đều diệt. 
Ánh dương tuệ Như Lai 
Mãi tiêu chướng sinh  tử.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các vị Tỳ-kheo:
–Này các Tỳ-kheo! Đừng giống như các hàng trời, người, phàm phu khóc lóc ưu sầu, các  vị hãy nên siêng năng chịu khó vâng giữ giáo pháp chân thật của Như Lai nói ra,  chuyên chú nhớ nghĩ theo đúng mà tu hành.  Khi ấy, các hàng trời, người, A-tu-la v.v… nghe Đức Phật thuyết pháp cho các vị Tỳ-kheo  rồi, họ nguyện xin dứt ngay nỗi đau thương luyến tiếc. Ví như người mẹ hiền từ  vừa qua đời, đứa con hiếu thuận làm lễ tế để tiễn đưa mẹ đến nấm mồ,  từ biệt mẹ mãi mãi rồi trở về nhà, tự mình gắng gượng dằn xuống nỗi xót xa  cảm xúc và thảm buồn não ruột. Thế rồi, Đức Thế Tôn liền nói bài kệ:
Các ông nên mở ý 
 Pháp chư Phật phải vậy 
Ai nấy về chỗ ngồi 
Lắng nghe điều Ta nói.
Nhiếp tâm đừng buông thả 
Giữ giới hạnh thanh tịnh 
Định các ý tưởng loạn
Tự khéo giữ tâm mình.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo! Nếu có điều ngờ vực thì các vị đều phải nên hỏi. Hoặc là  không, bất không; thường, vô thường; quay về, không quay về; nương tựa, không nương  tựa; lâu dài, không lâu dài; chúng sinh, không phải chúng sinh; thật, không thật;  chân lý, không phải chân lý; Nê-hoàn, không phải Nê-hoàn; mật, không mật;  pháp nhị, pháp bất nhị. Trong mọi thứ pháp như thế, các vị có điều gì hoài nghi thì nay  đều nên hỏi, Ta sẽ tùy thuận lời hỏi mà nói cho các vị, Ta
sẽ khai mở cánh cửa bất tử cho các vị rồi sau đó mới diệt độ. Do đó, hiện giờ các  vị có điều gì nghi ngờ trong lòng thì mỗi mỗi nên hỏi. Vì sao? Phật ra đời khó gặp,  được làm thân người là khó, có được lòng tin cũng khó, lìa khỏi tám chỗ khó khăn  chướng nạn và giữ gìn giới luật trọn vẹn, việc này lại càng khó hơn, giống như tìm  hạt vàng trong cát sông Hằng, cũng như hoa Ưu-đàm nở.
Lại nữa, này Tỳ-kheo! Trăm thứ lúa má hoa màu, cây thuốc, cho đến các thứ quý báu  đều từ đất đai sinh ra, tất cả chúng sinh nương dựa theo đó mà được sinh trưởng. Như Lai  sinh ra các pháp cam lộ tốt đẹp như thế, nhân đó chúng sinh nuôi lớn pháp thân. Do  vậy, Tỳ-kheo nên hỏi những điều mình còn thắc mắc, Như Lai đều nói ý nghĩa quyết định  cho các vị, sau đó mới nhập Nê-hoàn, vì làm vui tất cả chúng sinh.
Khi ấy, các vị Tỳ-kheo nghe Đức Như Lai quyết định nhập Nê- hoàn xong, họ ấp ủ trong  lòng nỗi thương đau sợ hãi, lông trên thân thể đều dựng đứng. Giống như ánh mặt trời  ló dạng rọi vào cây lá xanh tươi, gân đỏ đều hiện rõ. Thân mình của các vị ấy cũng  như thế, lóng đốt tay đốt chân khắp cả cơ thể, máu và nước mắt cùng lênh láng đầm  đìa, họ rập đầu lễ dưới chân Đức Phật, đi vòng quanh về phía tay phải xong rồi  bạch Phật:
–Quý hóa thay! Bạch Thế Tôn! Xin Thế Tôn hãy mau maugiảng giải giáo pháp phi thường,  khổ và không. Như dấu chân voi là trên hết so với dấu vết của cả thảy chúng sinh,  như thế, bạch Thế Tôn! Thế Tôn nói sự quán tưởng vô thường là phép quán đứng hàng  đầu tiên ở trong các sự quán tưởng. Người nào siêng năng chăm chỉ tu tập thì có thể  lìa khỏi tất cả tham ái, sắc ái và hữu ái trong cõi Dục, vô minh và kiêu mạn này  từ nay mãi mãi tiêu diệt.
Lại nữa, bạch Thế Tôn! Ví như vào thời tiết mùa thu, cỏ và hạt chưa chín, người làm  ruộng cày sâu mảnh đất của mình, sang mùa xuân gieo trồng thêm ngũ cốc, loài cỏ dại  chẳng mọc lên. Nếu người tu hành siêng năng tu tập và nhớ kỹ sự quán tưởng vô  thường một cách sâu xa như thế, thì họ có thể xa lìa hết thảy tham ái, sắc ái và  hữu ái ở cõi Dục, vô minh và kiêu mạn mãi mãi không nảy sinh nữa. Bàn về con nhà  làm ruộng thì họ cho việc cày bừa vào tháng mùa thu là trên hết. Bạch Thế Tôn!  Trong giáo pháp lấy sự quán tưởng vô thường làm phép
quán đứngđầu.
Lại nữa, giống như vị vua chúa biết mạng sống của mình sắp sửa kết thúc, ông bèn ban  ân tha tội cho những người bị giam cầm ở chốn ngục tù trong thiên hạ, nhờ ơn vua, họ  lại được thoát khỏi cảnh tù tội, rồi sau đó ông vua ấy mới qua đời. Hôm nay, Thế  Tôn cũng như vậy, đến lúc sắp diệt độ còn giảng nói giáo pháp cam lồ, ban ơn lợi ích  cho chúng sinh, nhà lao tham ái đều giải thoát tất cả, sau đó mới nhập Nê- hoàn. Như  người bị ác quỷ nắm giữ, gặp được vị pháp sư trì chú, liền được giải thoát. Như thế,  chúng sinh bị loài La-sát tham ái nắm giữ, may mắn được nhờ bài thần chú trí tuệ  bậc Thánh của Như Lai, họ được giải thoát khỏi loài La-sát ân ái và mọi tà  vạy. Như người mắc bệnh sốt rét gặp được thầy giỏi thuốc hay, bệnh hoạn khổ sở thảy   đều tiêu trừ. Chúng con cũng như vậy, vô lượng tà kiến, phiền não, bệnh tật nơi  thân, nhờ được vị thuốc diệu pháp của Thế Tôn, bệnh đều được trừ khỏi. Như người say  rượu chẳng nhận biết người thân thuộc, kẻ xa lạ; bậc cao quý, hạng thấp hèn; người  lớn, kẻ nhỏ; sau đó chẳng bao lâu người ấy tỉnh ngộ, ấp ủ trong lòng nỗi hổ thẹn,  tự trách cứ mình hết sức nghiêm khắc. Chúng con cũng như thế, ở trong vô lượng, vô  biên sinh tử, say sưa theo tình dục, mê muội với tà kiến, mới được tỉnh  ngộ. Giống như cỏ lau và cây y-lan không có sự vững vàng chắc chắn, thân này cũng  như thế, ta, người, thọ mạng v.v… không có sự vững bền.
Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Như thế là các ông tu phép quán tưởng không có cái ta chăng? Các Tỳ-kheo trả lời:
–Thưa vâng, bạch Thế Tôn! Chúng con thường tu phép quán tưởng vô ngã, số  người còn lại cũng tu quán tưởng vô thường, khổ, không, vô ngã. Bạch Thế  Tôn! Như người ta nói, mặt trời, mặt trăng, các vì sao trên bầu trời, núi non, đất đai  chuyển động, đây không phải là chuyển, nhưng chúng sinh hoa mắt lầm lẫn nói đó là  chuyển động. Như thế người ta nói vô thường, khổ, không, vô ngã, nên biết   các chúng sinh này cũng chính là sự hoa mắt lầm lẫn của thế tục, điều  chúng con tu ấy là tu bình đẳng.
Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Như ví dụ của các ông nói, trong ví dụ này, các ông nói ý vị hay
                 là nói ý nghĩa, các ông vẫn chưa giải thích. Ta sẽ nói lại như lời người ta nói,  rằng mặt trời, mặt trăng, núi non, đất đai chuyển động; đây không phải là  chuyển động, nhưng chúng sinh hoa mắt lầm lẫn mới nói là chuyển động; hạng chúng sinh  ngu si điên đảo như thế, họ chấp cái ta, chấp thường, chấp lạc, chấp tịnh. Nhưng Phật  kia chính là nghĩa của ngã, pháp thân là nghĩa của thường, Nê-hoàn là nghĩa  của lạc, các pháp giả danh là nghĩa của tịnh. Này các Tỳ-kheo! Các vị đừng hoa mắt  quán tưởng lầm lẫn mà nói rằng, Ta tu quán tưởng vô thường, khổ, không, bất tịnh đối  với tất cả pháp vậy.
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Chúng con cũng tu ba pháp tu thanhtịnh. Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Ở trong pháp của Ta, ba pháp này cũng không có nghĩa lý chân thật. Vì phân biệt sự  lên xuống của tính tự nhiên và sự chịu khó tu tập, nên đảo lộn khổ tưởng lại cho là  lạc tưởng, đảo ngược lạc tưởng lại cho là khổ tưởng; đảo lộn tưởng vô thường lại  cho rằng thường, đảo ngược tưởng thường lại cho rằng vô thường; đảo lộn tưởng không  phải cái ta mà lại cho rằng cái ta, đảo ngược tưởng cái ta lại cho rằng không phải  cái ta; đảo lộn tưởng bất tịnh mà lại cho là tịnh, đảo lộn tưởng tịnh mà lại cho  rằng bất tịnh. Bốn tưởng đảo ngược như vậy, nếu không nhận biết rõ sự bình đẳng đối  với điều sửa đổi này thì không phải là sửa đổi chính đáng. Sửa đổi khổ thành  không khổ, sửa đổi vô thường thành thường, sửa đổi vô ngã thành ngã, sửa đổi  bất tịnh thành tịnh; bốn thứ sửa đổi này chính là lạc, thường, ngã, tịnh thuộc thế  gian; lìa khỏi thế gian cũng có bốn thứ lạc, thường, ngã, tịnh. Các ông nên biết tên  gọi ý vị ấy là pháp thế gian, tên gọi ý nghĩa ấy là pháp ra khỏi thế gian.
Khi ấy, các Tỳ-kheo bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Chúng con nên tu ba tưởng và thấy bốn sự đảo ngược như thế nào để  giống như lời dạy của Thế Tôn. Chỉ có điều là cầu mong Như Lai ở cõi đời một kiếp  hoặc hơn một kiếp, như lời Thế Tôn dạy bảo, chúng con phải tu hành. Nếu Như Lai chẳng  trụ lại trong cõi đời, thì làm sao chúng con có thể ở lâu dài cùng với loài rắn độc  chung ngôi nhà hầm của mình khi vĩnh viễn cách xa Như Lai! Vị nào sẽ ở trong cõi  đời để gánh vác và nắm giữ giáo pháp chân chính?
Chúng con sẽ theo Như Lai vào Nê-hoàn.
Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Đừng nói lời như thế, đừng nói lời như thế! Tỳ-kheo nên biết rằng, chánh pháp của  Như Lai giao cho Đại Ca-diếp, nay Đại Ca-diếp sẽ làm chỗ quay về và nương tựa cho các  ông, cũng cứu giúp che chở khắp hết thảy chúng sinh giống hệt như Phật. Tỳ-kheo nên  biết, ví dụ như đại vương trông coi và dẫn dắt các nước, nếu ông ấy muốn đi chơi đất  nước khác, cần phải lập một vị quan lớn kiêm nhiệm biết mọi việc trong nước như thời  gian nhà vua đang trị vì. Ta cũng như thế, ở thế giới này chẳng bao lâu nữa sẽ an lập  Ma-ha Ca-diếp. Thế nhưng, này các Tỳ-kheo! Điều tu tập trước tiên là quán  tưởng vô thường, khổ, không, vô ngã, đó chẳng phải là tu chân thật. Ví như vào  tháng mùa xuân là đến lúc các hạng người buôn bán họp nhau lại vui thích, đùa giỡn  dạo chơi trên bờ sông, có một người trong đám người đó đánh rơi mất ngọc lưu ly xuống  đáy nước sâu. Bấy giờ, các người lái buôn ai ai cũng nhảy vào nước để tìm vật báu.  Có người nhặt được đồ sành, đá sỏi, gỗ trầm rồi bảo rằng của báu thật, họ vui  mừng cầm lên khỏi mặt nước mới hay đó không phải là báu thật, do đó ngọc lưu ly kia  vẫn còn trong nước, ánh sáng màu sắc soi chiếu đến cùng sáng ngời quá đỗi vượt hẳn  ánh sáng mặt trời và mặt trăng. Mọi người trông thấy ánh sáng biết đó là vật  báu nổi tiếng, họ khen ngợi vật báu ấy đặc biệt kỳ lạ, ai ai cũng muốn tìm  giữ. Khi ấy có một người trí tuệ khôn khéo dùng phương tiện lấy được vật   báu chân thật. Như thế, này các Tỳ- kheo! Đối với hết thảy khổ, không, vô thường,  bất tịnh, các vị hãy dấy lên ý tưởng dứt bỏ hết những điều đó để thọ nhận lời dạy  bảo tu tập của Ta nói. Cũng như người kia, tay cầm vật không phải quý báu mà tự lừa  dối mình. Này các Tỳ-kheo! Các vị đừng tự lừa dối mình giốngnhư người kia mà phí công  vô ích, hãy nên giống như người trí tuệ trong đám người lái buôn. Này các  Tỳ-kheo! Nên biết, Phật có ngã, có thường, có lạc, có tịnh; những điều các ông  tu tập và hết thảy những điều các ông thâu giữ đều là đảo lộn, giống như người kia  không nhận ra ngọc báu lưu ly vậy. Này các Tỳ-kheo! Người tu pháp chân  thật giống như được châu báu, còn người tu quán tưởng vô thường là tu  pháp không chân thật.
  Các Tỳ-kheothưa:
–Như lời Thế Tôn dạy, tất cả các pháp thảy đều vô ngã, nên tu như thế, tu như thế  thì khi ấy ngã tưởng liền diệt, ngã tưởng diệt rồi đúng là lúc sắp vào Nê-hoàn.  Điều này có ý nghĩa thế nào, chúng con chỉ mong Thế Tôn xót thương nói lại cho.
Đức Phật dạy:
–Quý hóa thay! Quý hóa thay! Này các Tỳ-kheo! Các vị muốn trừ bỏ tâm mê vọng của tự  thân mình và vạn vật ở ngoài ta nên hỏi như thế. Ví như có ông vua ngu độn, tâm trí  kém cỏi, bấy giờ có người thầy thuốc cũng chẳng hiểu biết rõ, ông ta lừa dối cả  thiên hạ và nhận lãnh bổng lộc của nhà vua. Người ấy chỉ biết một phương thuốc được  làm từ sữa, lại chẳng tài giỏi hiểu biết gì, thế mà ông thường đem vị thuốc này để  chữa bệnh. Dân chúng trong nước lại chẳng biết những phương thuốc thích hợp  thuộc chứng bệnh về phong đàm, nước dãi, thế mà ông vua ngu độn kia lại bảo rằng ông  ấy là thầy thuốc bậc trên.
Bấy giờ có người thầy thuốc sáng suốt, thông hiểu tám thứ học thuật, từ phương xa  đến nói với người thầy thuốc cũ: “Ông hãy làm thầy tôi, tôi làm học trò, tôi sẽ  theo ông để học”.
Người thầy thuốc cũ nói: “Quý quá! Tôi sẽ chỉ dạy cho ông phương thuốc  uống vào không chết, ông nên chăm chỉ học tập suốt bốn mươi tám năm, sẽ khiến ông  biết hết thuật y học cao hơn cả”.
Thế rồi, ông ấy đem người thầy thuốc đến sau vào cung vua, ông vua ngu độn này và  người thầy thuốc đến sau cũng mến thích nhau, người thầy thuốc đến sau kia bèn nói với  nhà vua: “Tâu đại vương! Đại vương phải nên học các môn kỹ nghệ”. Vua hết sức vui mừng, liền theo người ấy chịu sự chỉ dạy để học tập, dần dần tăng  thêm trí tuệ, vua mới biết người thầy thuốc cũ không có trí và lừa dối, vua ra lệnh  đuổi người thầy thuốc cũ ra khỏi nước, lại tăng thêm lòng kính trọng người thầy  thuốc đến sau. Người thầy thuốc đến sau kia biết thời đã đến, lại tâu với nhà vua:  “Thần có việc muốn thỉnh cầu, xin Đại vương chấp thuận theo ý của thần”. Vua trả lời:“Được”.
Người thầy thuốc nói: “Tâu đại vương! Phương thuốc được làm từ sữa của người thầy  thuốc kia rất độc hại và nguy hiểm, đại vương
không thể uống thuốc đó nữa mà phải bỏ cách thức chữa bệnh này đi”. Lập tức, vua nghe theo, ra lệnh cho dân chúng khắp cả nước từ nay trở đi, ai uống  thuốc sữa thì sẽ bị trừng phạt nặng nề. Bấy giờ, người thầy thuốc đến sau  bèn đem năm loại thuốc có năm thứ mùi vị là ngọt, chua, mặn, đắng và cay dùng để trị  liệu tất cả bệnh. Khi ấy nhà vua mắc bệnh, bèn mời thầy thuốc đến chữa. Thầy thuốc  xem bệnh của vua phải dùng thuốc sữa để trị, ông liền nói với vua: “Chỉ có thuốc sữa  là có thể khiến cho vua không chết”.
Vua nói với người thầy thuốc: “Nay ông điên rồi chăng? Trước kia ông nói thứ thuốc  ấy là độc hại, khiến ta đuổi người thầy thuốc kia, thế mà nay ông lại bảo ta phải  uống thuốc sữa”.
Người thầy thuốc đến sau trả lời: “Chẳng phải vậy, tâu đại vương! Lời nói  này có ý. Ví như tấm ván có dấu vết loài trùng ăn tựa hồ tên chữ của nhà vua.  Người không biết chữ bảo là thật, còn người giỏi viết chữ mới biết đó không phải  là chữ chân thật. Người thầy thuốc trước kia cũng thế, tuy hòa hợp thuốc sữa song  người kia chẳng biết phân biệt điều thích ứng của thời tiết. Nên biết rằng, thuốc  sữa có khả năng giết người song cũng không giết người. Thuốc không giết người là khi  nuôi bò sữa phải thả bò ở nơi đồng cỏ bát ngát không có cỏ độc hại, chọn nước  rồi mới cho bò uống, thêm nữa không lấy gậy đánh đập khi theo nó ra vào. Khi cấu  thành sữa kia, bọt không sủi lên, nên biết thứ sữa này cứu được hết thảy bệnh tật,  là phương thuốc uống vào không chết”.
Vua nói: “Tốtlắm”.
Nói xong nhà vua liền uống thuốc sữa. Khi ấy, dân chúng nghe tin vua uống thuốc sữa,  ai nấy đều sợ hãi, họ đi đến chỗ vua nói: “Ông thầy thuốc này chẳng phải là quỷ đó  sao? Trước đây, ông ấy nói thuốc giết người, nay ông khiến đại vương uống thuốc sữa  trở lại”.
Khi ấy, nhà vua liền giảng nói về sự lên và xuống của sữa cho dân chúng, vua và dân  chúng tăng thêm lòng cung kính và cung phụng cho người thầy thuốc đến sau, họ vâng theo  cách sử dụng ấy và thường uống vị thuốcsữa.
Các Tỳ-kheo nên biết! Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ,  Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều  Ngự
Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn là bậc vua lớn trong hàng thầy thuốc, xuất  hiện và làm hưng thịnh cho cõi đời, nhằm phá hoại thuật chữa bệnh tà vạy của ngoại  đạo, nên Như Lai cùng với vị vua của chúng sinh gần gũi và tập làm quen với nhau dần  dần, khi biết hai vị đã mến thích nhau rồi, Như Lai liền dạy bảo, khiến vị vua ấy bỏ sự  thọ lãnh và tà vạy của ngoại đạo mà nói với vị vua ấy: “Không có ta,  người, chúng sinh và thọ mạng, như loài trùng ăn gỗ ván thành chữ viết,  những kẻ theo đạo giáo khác nhận ta và người mà nói không có cái ngã, tất cả  chúng sinh vâng theo lời dạy của Như Lai, từ người này sang người khác chỉ bảo lẫn nhau  đều nói không có cái ngã, đây là vì Như Lai biết phải lúc phương tiện cứu giúp  chúng sinh, nên nói tất cả pháp, tính cách của nó là không có cái ngã, không phải  tự ta và người mà thế gian thọ nhận, do đó nói tất cả pháp, bản tính của nó là  không có cái ngã. Khi ấy Ta lại nói ngã, như người thầy thuốc tài giỏi kia hiểu rõ  cách thức sử dụng thuốc sữa. Nên biết cái ngã ấy là chân thật, cái ngã ấy thường  trú, không phải là pháp thay đổi, không phải là pháp phải diệt. Cái ngã ấy chính là  đức, ngã là tự tại. Như người thầy thuốc giỏi về vị thuốc sữa, Như Lai cũng vậy, Ta  nói pháp chân thật cho các chúng sinh, tất cả bốn chúng hãy nên học như thế”.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo:
–Đối với các giới luật trong giáo pháp, nếu các vị có điều nghi hoặc thì hãy nên hỏi  Như Lai.
Các Tỳ-kheo thưa:
–Thưa vâng, bạch Thế Tôn! Chúng con đã tu các sự tu tập như trên, hiểu biết được thân  tướng thảy đều không tịch.
Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Các ông đừng như bậc Nhất thiết trí nói mà nói rằng: Ta tu cả thân tướng thảy đều  không tịch.
Phật lại nói với các Tỳ-kheo:
–Đối với giới luật trong giáo pháp, các vị còn có điều gì nghi hoặc thì phải nên hỏi  lại.
Các Tỳ-kheothưa:
–Bạch Thế Tôn! Ý nghĩa bình đẳng của Đức Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác không phải  là cảnh giới của ngã, chúng con đâu dám
 hỏi lại. Những điều chư Phật nói là điều không thể nghĩ bàn, do đó chúng con và các  chúng dự hội thảy đều không thể nào hỏi lại Đức Như Lai. Bạch Thế Tôn! Ví như có  người sống thọ một trăm hai mươi tuổi, mắc bệnh lâu ngày, thân thể ốm yếu nằm liệt  giường chiếu. Có một người trượng phu không có trí, của cải giàu có khôn xiết, ông  ta đi đến chỗ người mắc bệnh đang nằm trên giường kia rồi nắm tay người bệnh, nói với  người ấy: “Này thiện nam! Ông nên nhận lấy kho tàng châu báu của ta, ta sắp đi đến  đất nước xa xôi, có lẽ trải qua mười năm, hoặc hai mươi năm. Sau này khi ta trở về,  ông phải gộp lại trả hết cho ta”.
Bấy giờ, người bệnh kia không có con cái nối dõi, không có người họ hàng thân  thuộc, bệnh tình chuyển đổi tăng thêm trầm trọng, thế rồi ông ta qua đời, của cải  của người đi xa gửi đều mất mát. Người chủ giàu có sau khi trở về muốn đi đến người  kia để đòi của cải song chẳng biết ở nơi nào.
Như thế, Thế Tôn bảo với chúng con rằng, đối với các giới luật trong giáo pháp, nếu  có điều gì nghi ngờ thì nay đều nên hỏi. Nếu như hàng Thanh văn hỏi Như Lai, e rằng  chánh pháp này không được ở đời lâu dài. Lại nữa, chúng con chẳng biết phải nên  hỏi thế nào, để có thể khiến cho tất cả chúng sinh đều được nhờ phước của Phật. Do  đó, bạch Thế Tôn! Nay chúng con không thể hỏi lại nữa.
Như có người sĩ phu, thầy tướng số xem bói cho ông ấy nói rằng, ông ấy sống thọ đến  một trăm hai mươi tuổi, quyến thuộc thành tựu, giàu có của cải không xiết. Lại có  người đến nói với sĩ phu: “Ta có tiền của châu báu, nay đem gởi cho ông, ông nên chi  ra thu vào để sinh lợi tức cho ta. Hoặc giả trải qua mười năm, hoặc hai mươi năm, lúc  ta trở về ông hãy trả hết toàn bộ cho ta”.
Khi ấy, người sĩ phu kia liền nhận lấy tiền của rồi sinh lợi cho người ấy. Sau đó  người chủ trở về rồi đến đòi tiền, sĩ phu đều trả lại toàn bộ cho người chủ. Như  thế, bạch Thế Tôn! Tôn giả A-nan và các vị Thanh văn v.v… hộ trì pháp tạng mà Như Lai  nói ra, muốn làm cho tồn tại lâu dài thì không có lý như thế. Lý do thế nào? Vì các  vị ấy thuộc thừa Thanh văn. Chỉ có các Đại Bồ-tát như Ca-diếp v.v… mới khiến  các vị ấy hỏi han ngõ hầu gánh vác và vâng giữ pháp tạng của
Như Lai trong trăm ngàn muôn kiếp, tất cả chúng sinh đều sẽ được nhờ phước. Do đó,  bạch Thế Tôn! Thế Tôn nên khiến hàng Bồ-tát vì chúng sinh, nên thỉnh cầu Thế Tôn  giải quyết điều nghi ngờ, không phải hạng người tầm thường như chúng con vốn kham nổi.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Quý hóa thay! Quý hóa thay! Này các Tỳ-kheo! Các vị được pháp vô lậu, thành bậc  A-la-hán, cho nên có khả năng hiểu sâu ý Ta mà nói lên lời chân thật này. Có hai  nhân duyên sẽ làm cho hàng Bồ- tát gánh vác và nắm giữ chánh pháp, có thể khiến  cho pháp tạng Đại thừa ở mãi cõi đời, lại còn khiến cho hết thảy chúng sinh đều  được nhờ ơn phước ấy.
 ??
Phẩm 5: SỐNG LÂU
 Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo khắp cả đại hội:
–Này các thiện nam, thiện nữ! Ở trong ba pháp (giáo pháp, hành pháp và chứng pháp)  và các lời giảng dạy về giới luật, nếu có điều gì còn thắc mắc thì nay các vị đều  phải hỏi.
Đức Thế Tôn nói đi nói lại như thế mấy lần.
Lúc này, trong hàng ghế ngồi có Bồ-tát Na-la-tụ-lạc, người họ Ca- diếp, dòng  Bà-la-môn, vâng nhờ uy đức thần lực của Đức Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại y  phục để hở vai bên phải, rập đầu lễ dưới chân Phật,  đi  quanh  trăm  ngàn   vòng,  quỳ  gối  phải  chạm  đất,  dùng hương hoa cõi trời cúng dường xong rồi  bạch:
–Bạch Thế Tôn! Con có điều muốn hỏi, xin Thế Tôn từ bi thương xót diễn bày rộng rãi  cho.
Phật bảo Đại Bồ-tát Ca-diếp:
–Tùy ý ông hỏi điều gì, Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác sẽ giảng nói choông. Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Những điều con hỏi đều là được nhờ sức uy thần của Như Lai, cũng là  do gốc rễ tốt lành của tất cả chúng sinh. Hôm nay, Như Lai lấy bốn chúng hiền đức  lớn làm quyến thuộc, lấy các đại
sư tử làm quyến thuộc, lấy các kim cương sĩ làm quyến thuộc, lấy biển cả trí tuệ  tuyệt vời làm quyến thuộc. Còn hạng phàm phu thấp kém như chúng con có điều muốn  hỏi, song vì không được nhờ thần lực của Như Lai trợ giúp thêm, nên chúng con không  thể nêu ra câu hỏi. Vì thế, nay con có điều dám hỏi, nên biết đều là nhờ thần lực  của Như Lai.
Ở trước Đức Phật, Ca-diếp liền dùng kệ hỏi:
Nhân gì được sống lâu 
Thân kim cương chẳng hoại 
Thọ trì thế nào đây
Nghĩa khế kinh rất sâu. 
Bồ-tát dạy chúng sinh 
Nói pháp có mấy thứ?
Hạng người nào kham được 
Gọi là nương chân thật.
Tuy chẳng phải La-hán 
Lượng ngang với La-hán 
Thiên ma Như Lai nói 
Làm sao phân biệt  được. 
Làm sao biết bình đẳng 
Nghĩa Bốn thánh chân đế 
Và bốn tướng đảon gược
Hành,  khổ, không, vô ngã. 
Làm sao thấy Bồ-tát
Khó thấy tánh Như Lai 
Làm sao được đầy đủ 
Hiểu rõ nghĩa “bán tự”. 
Làm sao khéo  hóa hiện 
Như nhạn hạc xá-lợi 
Làm sao được trí tuệ
Như tú vương nhật nguyệt. 
Làm sao vì Bồ-tát
Nguyện thương nói quyết định 
Các pháp môn như vậy
Nghĩa rất sâu vô lượng.
Điều chúng con nênbiết
Nên nêu câu hỏi này
Đâu dám hỏi Như Lai
Cảnh giới của chư  Phật.
Phật bảo Ca-diếp:
–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Người nào dần dần bước lên thềm bậc Nhất thiết  chủng trí của Như Lai, mới có thể hỏi nghĩa lý kinh điển rất sâu xa này. Từng phương  diện một, chư Phật hiểu rằnga- tăng-kỳ cát sông Hằng, từ khi có nguồn gốc đến nay,  chư Phật tự ở thế giới mình, ngồi nơi gốc cây Đạo thành bậc Đẳng Chánh Giác, con số  ấy rất nhiều không đếm xuể. Các vị ấy vốn dĩ là Bồ-tát đắc đạo Bồ đề, lần lượt  khai phát sự tỉnh thức, thảy đều là do họ hỏi về pháp tạng sâu xa của Như Lai. Hôm  nay các ông cũng như vậy, các ông có thể lấy cảnh giới Nhất thiết chủng trí mà hỏi  Ta, ngõ hầu đem lại an vui cho tất cả chúng sinh.  Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Con không thể nào gánh vác nổi sự việc xin hỏi Thế Tôn về cảnh giới  Nhất thiết chủng trí. Ví như con muỗi, con ve, chúng nó không thể bay vượt hư không để  sang bờ bên kia biển cả, chúng nó cũng không thể nào uống hết nước biển. Cũng như  thế, con không thể vượt qua trí tuệ rất mực sâu rộng dường hư không và biển cả của  Thế Tôn mà không có nỗi sợ hãi. Lại như viên ngọc sáng trong búi tóc của vị đại  vương, người giữ kho tàng của đại vương tăng thêm sự trông nom giống như chăm giữ đỉnh  đầu của mình. Cũng như thế, nay con hỏi chánh pháp rất sâu xa của Như Lai, Như  Lai sẽ giải quyết mạng lưới ngờ vực ấy mà giảng nói rộng rãi.
Phật bảo Ca-diếp:
–Này thiện nam! Nay Ta sẽ nói về nghiệp của sự sống lâu, Đại Bồ-tát thực hành  nghiệp này để làm nhân cho bậc Đẳng giác. Này thiện nam! Ta cũng nhờ thực  hành nghiệp kia và giảng nói rộng rãi cho mọi người, nên chứng đắc  A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề. Ví như đại vương, đứa con của ông phạm tội bị nhốt  tại nhà giam, vì đứa con ấy nên ông tha tội cho những người tù khắp cả để  cứu đứa con của mình. Bồ-tát tu nghiệp sống lâu như thế, nhớ nghĩ tất cả chúng sinh
 giống như đứa con một. Đối với các chúng sinh, Bồ-tát đem tâm đại từ, đại bi, đại  hỷ, đại xả, vâng giữ giới hạnh thanh tịnh, không làm hại chúng sinh, xây dựng tất   cả chúng sinh ở dấu tích năm giới cấm và mười nghiệp thiện. Tùy theo sức lực  của mình, Bồ-tát có thể cứu giúp địa ngục, quỷ đói, súc sinh, để cắt đứt hết thảy  nghiệp duyên đường ác. Giải thoát cho người chưa giải thoát, hóa độ cho kẻ chưa được  độ, chí hướng và sự suy nghĩ vững mạnh thành trí thông đạt về pháp phương tiện. Do  thực hành nghiệp này mà được quả dựa theo và quả báo do hành động tạo  tác, vị ấy sống lâu không cùng tột, thành trí tuệ rất tuyệt diệu, sống tự tại  và không có nỗi sợ hãi, như thế Bồ-tát mãi mãi lìa khỏi khuôn pháp của sự  chết.
Ca-diếp bạch Phật:
–Như lời Thế Tôn nói, Đại Bồ-tát bình đẳng xem chúng sinh dường như đứa con  một, điều này có ý nghĩa gì? Nếu nói Đại Bồ-tát bình đẳng xem chúng sinh như con một,  chẳng lẽ có ý này. Vì sao? Vì trong pháp Phật, hoặc có kẻ gây ra năm tội trái ngược  với đạo lý, nói xấu chánh pháp, đối với hạng chúng sinh này, đều phải tu tập ý  tưởng con một chăng?
Đức Thế Tôn bảo:
–Đúng thế, này Ca-diếp! Ta coi tất cả chúng sinh giống như La- hầu-la.
Ca-diếp bạch Phật:
–Nếu đúng như vậy, thế thì tại sao một hôm nọ, vào ngày mười lăm hàng tháng, giữa  chúng Tăng thanh tịnh, Bồ-tát trong đại hội, có một người chưa thọ giới Cụ túc lén  vào nghe trộm giới luật, khi ấy kim cương lực sĩ ngước nhìn thần chỉ của Phật, bèn cầm  cái chày kim cương đập nát khiến cho người kia dường như bụi bặm, sao gọi là bình đẳng  coi tất cả chúng sinh như con.
–Đừng nói như thế, đồng tử kia là người biến hóa thành mà thôi, muốn chánh pháp  sáng tỏ thì phải dẹp bỏ kẻ phạm tội, để răn đe người đời sau, khiến cho kẻ ôm  lòng vụng trộm và tâm xấu ác của hạng Nhất-xiển-đề phải ẩn núp. Giống như  ông quan lớn của nhà vua bắt giữ kẻ phạm pháp, tùy theo tội trạng của kẻ ấy mà  trừng trị. Như Lai cũng như vậy, có người phá hoại giáo pháp, liền đem đạo lý để  trừng  phạt,
 khiến cho kẻ phạm vào điều xấu ác tự thấy quả báo của tội lỗi. Như Lai thường đem  ánh sáng từ thân mình để an ủi chúng sinh, không e sợ cũng chẳng làm hại. Tuy có   chúng sinh không được nhờ ánh sáng, nhưng đến chết, đối với người kia, Như Lai  cũng không bỏ lòng đại bi.
Lại nữa, này Ca-diếp! Nếu các ông có thể khéo hiểu ý nghĩa vi diệu bí mật của  Như Lai, thì nay Ta sẽ nói lại. Ca-diếp! Ví như ở phương khác có các Tỳ-kheo  giữ giới thanh tịnh, đạo đức thuần nhất, uy nghi đầy đủ. Đức Như Lai ở phương kia đã  vào Nê-hoàn, các chúng Tỳ-kheo không có người gánh vác nắm giữ. Bởi vì  chúng Tăng kia không có vị Đại sư, cho nên người không có đạo đức làm não hại các  vị Tỳ-kheo. Bấy giờ, có vị quốc vương tốt rất ưa thích pháp Phật, trừng trị kẻ xấu ác  kia, hoặc là đuổi người kia ra khỏi đất nước. Nhờ đuổi người ác kia, làm cho chánh  pháp được đứng vững yên ổn, cho nên ông vua gặt hái được phước đức không lường. Lý  do ấy thế nào? Vì ông vua trừng phạt lỗi nặng của người kia và xây dựng giáo pháp  lớn lao. Lại nữa, như nhà người mọc lên cây cối độc hại, thì hãy nên mau chóng cắt  bỏ và tiêu diệt. Như thế, người phạm giới và làm loạn pháp ở trong pháp Phật, như  chủ và tôi tớ tai hại đều phải đuổi ra khỏi, nếu không đuổi họ ra khỏi, nên biết  hạng người ấy cách giáo pháp của Ta quá xa, nếu người nào đuổi họ ra khỏi thì chính  là đệ tử của Ta.
Ca-diếp bạch Phật:
–Vì ý nghĩa ấy, cho nên chẳng bình đẳng coi chúng sinh giống như con một. Mổ xẻ và quán  xét một cách đồng đều thì lời nói này trái nghịch. Nếu nói rằng Như Lai trị người phá  hoại giáo pháp thì làm sao có ý nghĩa này?
Phật bảo Ca-diếp:
–Như nhà vua, quan lớn, trưởng giả, cư sĩ sinh ra đứa con đoan chánh, thông minh, sáng  láng, trí tuệ khôn khéo, cả thế giới chỉ có một không hai, được mọi người yêu  mến quý trọng. Người cha đem con mình đi đến nhà thầy để xin cho con học các môn  kỹ nghệ, ông thưa với người thầy: “Tôi tuy sinh ra đứa con phước đức và đoan chánh này  song nó chưa học kỹ nghệ, xin thầy dạy dỗ nó học hành giúp tôi, ắt hẳn khiến nó  được thành tựu. Nếu nó không giữ đúng phép tắc, thì thường xuyên đánh roi vọt thêm.  Tôi có bốn đứa con đều đến học với thầy, cho
dù ba đứa con bị gậy đánh mà chết, chỉ có một đứa con còn lại nên phải chịu khó  trông nom việc học, cốt yếu làm cho nó thành tựu, thì tôi vẫn không ân hận”.
Phật bảo Ca-diếp:
–Ý ông nghĩ thế nào? Cha mẹ và thầy vất vả dạy dỗ đứa con ấy đến nỗi mất mạng, cha  mẹ và thầy phạm tội giết người chăng?
Ca-diếp trả lời:
–Bạch Thế Tôn! Không phải vậy! Vì yêu thương và lo nghĩ con cái, muốn cho con cái được  thành tựu, tuy thêm roi gậy đau đớn, song họ không có ý ghét hại, phước ấy vô  lượng, không có mang tội giết người.  Phật dạy:  –Như thế, này thiện nam! Như Lai cũng vậy, trong số đó có người phạm giới  và phá hoại pháp, Ta xem chúng như con với tâm đồng đều, xót thương răn dạy,  muốn làm cho kẻ phạm giới và phá hoại pháp thành tựu, nên phải nhọc sức trông nom  dạy dỗ, Ta không có lỗi. Do đó nên biết rằng, Đại Bồ-tát bình đẳng xem chúng sinh,  nghĩ tưởng như con một, tu tập tâm bình đẳng Tam-muội, như thế thì không ôm lòng làm  hại, đó là nghiệp sống lâu của Bồ-tát, trí tuệ tự tại.
Ca-diếp bạch Phật:
–Tưởng nghĩ tất cả chúng sinh như đứa con một, Đại Bồ-tát tu hành tưởng này rồi được  sống lâu chăng?
Đức Phật dạy:
–Đúng thế. 
Ca-diếp lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Chỉ có điều con ước mong rằng Thế Tôn đừng nói ý nghĩa này như bắt  chước trẻ con đùa giỡn bằng hai thứ tiếng nói vậy. Bạch Thế Tôn! Ví như trẻ con đùa  giỡn trong đại hội, nói rằng khen ngợi và cúng dường cho cha mẹ đủ thứ, tự nhiên trở  về nhà mình thì lại bất hiếu ngược ngạo, làm rối loạn buồn bực hai đấng sinh thành,  chẳng đền trả ân đức nuôi nấng. Thế Tôn cũng như thế, Ngài nói Đại Bồ-tát coi tất  cả các chúng sinh nghĩ như đứa con một, nhờ công đức ấy liền được sống lâu, trí tụê  tự tại, thường trụ không chết. Thế nhưng, nay tuổi thọ của Thế Tôn và người trong  cõi đời giống nhau, lẽ nào  chẳng
phải là Thế Tôn thường ôm ý tưởng dao gươm đối với tất cả chúng sinh ở trong vô số  kiếp chăng? Kỳ lạ thay! Bạch Thế Tôn! Thế Tôn chịu quả báo làm hại chúng sinh với  tuổi thọ ngắn ngủi này, giống với thọ mạng trăm tuổi của người đời kia, thì Thế Tôn  còn không phải là Bồ- tát, huống nữa là đấng Như Lai.
Phật bảo Ca-diếp:
–Ông đừng phát ra lời lẽ thô lỗ này ở trước Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh  Giác. Thiện nam! Ông nên biết, Như Lai sống lâu không lường được, nên biết Như Lai   là pháp thường trụ, nên biết Như Lai không phải là pháp thay đổi, nên biết Như  Lai chẳng phải là pháp phai mờ tiêu diệt.
Ca-diếp bạch Phật:
–Làm sao biết được Như Lai sốnglâu? Phật bảo Ca-diếp: –Như nước trong tám con sông lớn và các con suối thuộc cõi Diêm-phù-đề  thảy đều chảy về biển, không có chỗ cùng tột, nên biết biển cả là chỗ dung nạp  của sông suối. Như Lai cũng vậy, tất cả thọ mạng của chư Thiên và người đều trở về  với biển cả thọ mạng của Như Lai, do ý nghĩa đó, nên biết tuổi thọ ấy của Như Lai là  vô lượng.
Lại nữa, này Ca-diếp! Ví như hư không thường trụ không biến đổi, sự thường trụ  của Như Lai cũng như thế. Cũng như đề hồ là vị thuốc mát mẻ, có thể trừ  diệt nóng sốt phiền não, Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác thường đem vị thuốc diệu  pháp đề hồ mát mẻ, để diệt trừ hết những hoạn nạn cho chúng sinh, vì thế Như Lai  thường trụ trì mát mẻ, không có các phiền não tai họa.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Nếu đúng là Như Lai sống lâu không lường, lại muốn cho tất cả chúng  sinh an vui, thì hôm nay Thế Tôn phải nên ở cõi đời một kiếp hoặc hơn một kiếp, để  cho nước chánh pháp mát mẻ mưa xuống khắp cả chúng sinh. Chúng con chỉ ước mong   Thế Tôn xót thương mà ở cõi đời.   Phật bảo Ca-diếp:
–Đừng dấy lên ý tưởng tận diệt đối với Như Lai. Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc,  Ưu-bà-di và những người ngoại đạo vẫn còn
 năm đức, thì họ có thể sống lâu ở đời một kiếp hoặc hơn một kiếp, họ đi dạo giữa  hư không, ngồi nằm tự tại. Sườn bên trái ra lửa, sườn bên phải ra nước, từ thân  thể ra khói, họ có thể làm cho thân thể mình to lớn mà không có chỗ cùng cực  và nhỏ bé vào nơi không có khe hở. Người có năm đức này liền được sức thần  thông tự như thế, huống chi là Như Lai thành tựu tất cả vô lượng công đức, mà sức  lực không thể ở cõi đời một kiếp hoặc hơn một kiếp hay sao? Do đó, nên biết Như Lai  thường trú, không phải pháp biến đổi và pháp phai diệt. Nên biết thân này không  phải là thân uế thực, thân ứng hóa ở thế giới này như cây thuốc độc nay nên vứt  bỏ. Cho nên, này Ca-diếp! Nên biết pháp thân của Như Lai là thường trú, không phải  là pháp biến đổi, không phải là pháp phai mờ tiêu diệt, ông hãy giảng nói rộng  rãi cho mọi người.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Thế gian và xuất thế gian khác nhau những gì? 
Đức Phật dạy:
–Như Lai thường trú, người đời cũng nói thường trú. Ca-diếp nói rằng Phạm thiên  trước kia, vị thần ấy lại thường chu du tới lui. Nếu Như Lai thường trú thì chưa thấy sự  khác nhau giữa pháp thế gian và pháp lìa khỏi thế gian.
Phật bảo Ca-diếp:
–Ví như ông trưởng giả có một con bò sữa giao cho người chăn bò, ông ra lệnh cho người  ấy chăn nuôi bò phải thả riêng ở đồng bằng bát ngát, nơi không có cỏ độc hại,  không được buộc chung một chuồng cùng với đàn bò, ông trưởng giả muốn được bơ sữa  tốt để cung cấp cho bà con thân thuộc. Như thế ít lâu người trưởng giả ấy qua đời,  rồi chẳng bao lâu sau đó, kẻ chăn bò kia lại chết. Khi ấy có người dân quê mùa đi  chơi trong đầm bắt được con bò sữa này, bèn vắt sữa con bò ấy để tự cung cấp cho  cuộc sống, ông muốn làm bơ sữa song chẳng biết cách thức sử dụng, ông ta chứa sữa  vào đồ đựng xấu và độ lạnh ấm không thích hợp, rốt cuộc không thành sữa mà cũng  chẳng được bơ. Lại nữa, mùi vị sữa bị hỏng, sữa ôi đông đặc và đục ngầu, vậy mà  ông cũng gọi đó là bơ sữa, nghĩ là bơ sữa rồi giữ lấy để dùng.
Sự ngu si của chúng sinh cũng như vậy, ao đầm chánh pháp tưới thấm nghĩa lý vi diệu  rộng sâu, Phật đã diệt độ giống như ông chủ con
bò qua đời, những chúng sinh kia đang ở vùng đầm rộng sinh tử giống như người quê mùa  kia, đối với chánh pháp của Phật, họ đem trí tuệ thế tục tưới thấm uy nghi giới luật  rồi dấy lên tư tưởng đảo ngược, bèn nói có chúng sinh, ngã, nhân, thọ mạng; nói đây  chính là giải thoát, đây chính là thường trú, tích tập quen các kiến chấp khác, không  được giải thoát sinh tử bằng con đường cốt yếu, xa lìa sự hành xử luật nghi thuộc  chân đế, không biết Như Lai chính là pháp thường trụ. Như người quê mùa ngu si không  được năm thứ mùi vị thích hợp của sữa bò, tự cho là mình dùng bơ sữa, song thực ra  người ấy chẳng được một thứ mùi vị trong năm thứ mùi vị của sữa. Chỉ dính mắc đấng  tạo hóa Phạm thiên thế tục rồi nói đó là thường, là chúng sinh, là giải thoát. 
Nhân vì mong cầu Phạm thiên, họ tu chút ít phạm hạnh, lìa xa tà dâm nên hiếu dưỡng  cha mẹ, một ít người được sinh trên cõi trời, món ăn ưa thích tự nhiên, như người  quê mùa kia dùng thứ sữa ôi ấy. Này thiện nam! Phạm hạnh thế tục cúng  dường cha mẹ song chẳng biết quay về Ba ngôi báu, nên biết rằng, quả này không   phải là hữu thường. Cúng dường cha mẹ, không tà dâm v.v…, có thể được như điều  Phật hóa hiện vô thường là pháp thế tục mà thôi. Chỉ có Như Lai thường trụ bất  diệt. Cho nên, này thiện nam! Nên làm phương tiện xa lìa các hồ nghi, chăm  chỉ tư duy về Như Lai chính là pháp thường trụ.
Lại nữa, này thiện nam! Bấy giờ, người nhà quê chăn nuôi con bò sữa kia, gặp dịp  Chuyển luân Thánh vương xuất hiện làm hưng thịnh cho đời. Phép vua Chuyển luân cần  phải có con bò sữa, do lực uy đức của vua nên khiến cho người quê mùa kia phải rời  bỏ con bò. Con bò đi nốt quãng đường, tự nhiên đi đến chỗ bầy tôi của vua coi giữ kho  tàng. Người bầy tôi coi giữ kho báu biết con bò sữa này chắc chắn sinh sản ra loại  sữa có mùi vị tinh túy thích hợp với năm thứ mùi vị của sữa, nhất định chính là phước  đức của Thánh vương cảm ứng. Phật là đấng
Pháp vương, lúc xuất hiện ở đời cũng như  vậy. Giống như con bò sữa kia vốn được thọ nhận âm thanh pháp thường của thế gian,  biến đổi thành âm thanh pháp thường của Như Lai, nó bẻ gãy phá tan khiến  người quê mùa phàm tục bỏ bò mà đi bởi âm thanh pháp thường của bò sữa. Thế rồi  nó đi đến đứng ở nước người bầy tôi coi giữ kho báu là đệ tử của Như Lai, nhờ sức  mạnh phước đức của chúng sinh nên khiến cho
 con bò sữa pháp thường sinh sản ra những thứ sữa luôn có mùi thơm. Cho nên, này  thiện nam! Nên biết pháp thường của Như Lai không phải là pháp biến đổi, hạng  phàm phu ngu si trong thế gian vốn không thể nào hiểu rõ, đều là nhờ âm thanh thường  trụ của Như Lai nênđược biết mà thôi. Những người ở thế gian kia phải nên dấy lên  sự suy nghĩ như thế. Nói đến âm thanh pháp thường tức là âm thanh pháp thường của Như  Lai. Từ âm thanh này nên biết Như Lai vô số vô lượng. Như thế, này thiện nam và  Thiện nữ! Nếu nắm giữ hai chữ thường trụ của Như Lai, trải qua nhiều kiếp tu  tập, thì những chúng sinh như vậy chẳng bao lâu sẽ thành đạo Đẳng Chánh  Giác giống như Ta không khác. Này thiện nam! Ông hãy cẩn thận chớ buông  lung, nhận lãnh nắm giữ hai chữ “thường trụ” một cách vững chắc. Hôm nay, Như Lai  sẽ nhập Nê-hoàn, đây là pháp nhất định của hết thảy chư Phật.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Những gì là pháp?
Pháp có ý nghĩa như thế nào? Con mong muốn được nghe pháp nhất định và tánh của nó thế nào?
Phật bảo Ca-diếp:
–Nay ông muốn nghe pháp tánh chăng? Ca-diếp bạch Phật:
–Con mong muốn được nghe Thế Tôn giảng nói rộng rãi. Phật bảo Ca-diếp:
–
Pháp tánh là xả thân. Ca-diếp bạch Phật:
–Xả thân là tăng thêm sự bàn luận vì nghi ngờ. Phật bảo Ca-diếp:
–Ông đừng quán xét như vậy mà nói rằng, Như Lai xả thân rồi lại thọ thân.
Ca-diếp bạch Phật:
–Con không hỏi sự thọ thân. Phật bảo Ca-diếp:
–Ông chớ nói năng như thế, các pháp dứt bỏ vậy. Lại nữa, này Ca-diếp! Vô sắc ấm  kia thuộc cõi trời Phi tưởng, các chúng sinh ấy trụ như thế nào? Chết thế nào?  Hiện thế nào? Các âm tưởng kia hồi chuyển thế nào? Ấy là cảnh giới của Phật,  ông phải nên hỏi; ông cũng
cần nên hỏi việc Ta lại thọ thân nữa.
Nếu người ta hỏi ông về hình sắc, ý tưởng, chỗ ở, sự hưởng thụ vui sướng của chúng  sinh trong cõi Vô tưởng kia như thế nào, thì ông trả lời làm sao? Nhưng không phải là  cảnh giới của hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát theo kịp, mà chỉ là cảnh giới của  Như Lai hành xử.
Lại nữa, này thiện nam! Thân Như Lai so sánh hơn hẳn các cảnh giới đó và lại khó  biết nữa, không phải là cảnh giới của các Thanh văn, Duyên giác, theo kịp. Như Lai   lấy nơi nào làm chỗ trụ, Như Lai lại hiện thân thế nào? Thân phương tiện  không thể nghĩ bàn của Như Lai không phải là cảnh giới của ông. Này thiện nam! Đối  với Ta, ông chỉ cần suy nghĩ thế này, Như Lai thường trụ,
Pháp và Tăng cũng vậy. Ba  sự việc này không phải là pháp vô thường, đó là pháp thường trụ, không  thay đổi, mát mẻ, chân thật, xa lìa những phiền não và tai họa. Nếu không như thế,  thì thiện nam và thiện nữ kia thảy đều không thành tựu đối với Ba pháp quay  về một cách thanh tịnh, nên cần phải tu pháp thường trụ không thể nghĩ bàn như thế. Này thiện nam! Ví như có cây này thì chắc chắn có cái bóng này; nếu không có cây kia  thì tất nhiên cũng không có cái bóng kia; nếu chẳng trông thấy cây mà nói rằng thấy  bóng cây thì thật là vô lý. Như thế, đã có Như Lai thì nhất định Như Lai thường làm  cây lớn cho hết thảy, che chở chúng sinh và làm nơi nương tựa cho chúng sinh. Nếu Như  Lai là vô thường, thì không gọi là bậc Ứng Cúng làm chỗ nương dựa cao nhất cho hàng  trời, người.
Ca-diếp bạch Phật:
–Đức Thế Tôn nghĩ thế nào, trong đêm tối tăm có bóng cây hiện ra chăng? Đức Phật dạy:
–Đã có cây ấy ắt có bóng, sao gọi là không có bóng? Chỉ không phải con mắt thịt  của phàm phu thì mới có thể thấy điều đó mà thôi. Do đó nên biết rằng, đã có Như  Lai thì mới là thường trụ, không phải là pháp biến đổi, chẳng phải là pháp phai mờ  tiêu diệt, giống như bóng cây kia, con mắt thịt không thể thấy được trong đêm tối  tăm. Phật nhập Nê-hoàn rồi, thường trụ không thay đổi, cũng như thế, con mắt   thịt 
 chẳng thấy, nhưng kẻ vọng tưởng kia dấy lên ý nghĩ vô thường đối với Như Lai. Thiện  nam! Nếu cha mẹ các ông cho đến những người các ông tôn trọng dấy lên ý tưởng không  phải là thường đối với Phật
Pháp Tăng, thì hết thảy đều không thanh tịnh đối với ba  pháp quay về, nay ông nên đem ba pháp thường trụ mà dạy bảo khuyên nhủ họ, khiến cho  họ được thành tên gọi Bồ-tát tam quy ở trong ba pháp.
Ca-diếp bạch Phật:
–Thưa vâng! Bạch Thế Tôn! Kể từ hôm nay, con sẽ bắt đầu đem Ba pháp thường trụ Phật 
Pháp Tăng, nhằm gợi mở sự thức tỉnh cha mẹ đời này cho đến cha mẹ bảy đời, đều  khiến cho các vị ấy kính vâng giữ pháp thường trụ. Kỳ lạ thay! Bạch Thế Tôn! Con sẽ  nhận được sự học tập Ba pháp thường trú và giảng nói rộng rãi cho mọi  người. Nếu những người kia không chịu học giáo lý chân thật vi diệu này, nên biết  hạng người ấy là kẻ mê hoặc vô thường. Thế nhưng ngày ngày ba thời con sẽ giảng nói  cho họ hiểu, khiến cho họ được gần gũi pháp ấy.
Đức Phật dạy:
–Quý hóa thay! Quý hóa thay! Này thiện nam! Người bảo vệ và nắm giữ chánh pháp phải  nên như thế, họ cũng thường tu tập lòng từ không làm hại ai, nhờ kết quả không làm  hại kia, người ấy liền được sống lâu không cùng tột và đạt được trí tuệ tự tại  của Bồ-tát.
??
Phẩm 6: THÂN KIM CƯƠNG
Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại nói với Ca-diếp:
–Này thiện nam! Thân Như Lai là thân kim cương, không phải là thân uế thực. Đó chính  là pháp thân, ông hãy nên quán xét như thế.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Không phải hạng phàm phu tầm thường nhưcon vốn có năng lực quán xét  điều đó. Vì lẽ gì? Nếu đích thực Như Lai nhập Nê-hoàn, thì thân ấy chính là thân hư  hoại, thân đất bụi, thân uế thực. Nếu thực sự Như Lai vĩnh viễn chẳng nhập Nê-hoàn,  thì phải nên thuận theo phép tu quán tưởng bình đẳng.
Phật bảo Ca-diếp:
–Này thiện nam! Ông đừng nói rằng thân Ta cùng với thân người đời bị hư hoại, nguy  hiểm, dễ vỡ, quay lăn mãi trong vòng sống chết trải qua kiếp số lâu dài giống như  nhau. Thân Như Lai chính là thân không thể nào bị hư hoại; không phải là thân người  đời, cũng chẳng phải là thân cõi trời; không phải là thân uế thực, chính là thân  vô ngã; cũng không sinh, cũng chẳng diệt; không tập khởi, cũng chẳng lưu  chuyển; không có ranh giới bến bờ, không có dấu vết; không phải trí, cũng chẳng  phải hạnh, bản tánh thanh tịnh; không thật có, không có đối tượng thọ nhận; không  có đến, không có đi; không trụ, cũng chẳng động; không mùi vị, cũng chẳng   xúc chạm; không có sự nhận biết, không có sự suy nghĩ; không có gì so sánh  bằng, không có gì lớn hơn được nữa; đi đến chỗ không phải là nơi đi đến, đi đến chỗ  đúng là nơi đi đến; pháp dứt bỏ vĩnh viễn, pháp không phải dứt bỏ; không phải sự,  cũng chẳng phải thật; không phải giác, cũng chẳng phải tưởng; không phải bắt đầu  tạo ra, cũng chẳng phải rốt cuộc hoàn thành; không phải lập nên, chẳng phải đầy  tràn; không phải nơi chốn, chẳng phải nhà cửa; không phải dừng nghỉ, chẳng phải yên  tĩnh; mở rộng sự thanh tịnh, xa lìa các phiền não; không phải nắm giữ, cũng  chẳng phải bám víu; không phải can ngăn, lìa khỏi tranh cãi; thường trụ mà không  phải trụ cho nên không khuất phục cũng chẳng cứng nhắc; không phải pháp, cũng chẳng  phải phi pháp; không phải điền, cũng chẳng phải phi điền; không thể nào cùng tận;  không phải Tỳ-kheo, cũng chẳng phải phi Tỳ- kheo; lìa bỏ danh tự, lìa bỏ sự khen ngợi,  lìa bỏ lời ăn tiếng nói, lìa bỏ sự tu tập, lìa bỏ suy nghĩ ước muốn; không phải hòa  hợp, cũng chẳng phải phi hòa hợp; không phải lượng, cũng chẳng phải phi lượng; không  phải đến, cũng chẳng phải không đến; không phải thông suốt, cũng chẳng  phải trở ngại; không phải lìa tướng; từng tướng một  trang nghiêm song không  nắm giữ, phi hữu, lìa hữu, có năng lực làm ruộng phước, thực sự không thể nhìn  thấy, không thể tỏ rõ, như như chân thật; độ tất cả chúng sinh mà không có điều gì  để độ; giải thoát hết thảy chúng sinh mà không có gì giải thoát cả; thanh tịnh cho  tất cả chúng sinh mà không có gì để thanh tịnh; che chở cho tất cả chúng sinh mà không  có gì để che chở; giảng dạy chúng sinh mà không có hai; không có gì so sánh bằng,  không có gì cao hơn cái không có gì cao hơn đó; vô
 lượng đẳng, hư không đẳng, vô đẳng, vô sinh đẳng, vô hữu đẳng, vô đẳng, lìa đẳng,  tịch diệt không phải dứt hẳn hành, chẳng phải chuyển biến mà chuyển biến rốt ráo,  tất cả thâu nhận và cắt đứt sự tuyệt diệu hết sức sâu sắc, hiện giáo pháp bất  nhị, không bỏ tự tính; không phải thành, không phải dài, cũng chẳng phải ngắn; không  phải Ấm, không phải Giới, cũng chẳng phải Nhập; không phải tướng hữu vi, không phải  xứ vô vi, cũng chẳng phải nuôi lớn; không lên cao cũng chẳng xuống thấp; không phải  tàng chứa, cũng không phải chứa cất; không phải địa, cũng chẳng phải phi địa. Công  đức như thế rất nhiều không sao đếm xuể và không thể nào suy nghĩ luận bàn, đó là  thân Như Lai. Khôngcó người biết, không có người thấy, không có người nói, không có  người bàn luận, không phải là việc mà thế gian thâu nhận; không phải  nguyên nhân, cũng không phải là không có nguyên nhân, nắm giữ cái tướng của hết  thảy vọng tưởng rồi nói rằng, Nê-hoàn không thể lấy gì để so sánh, vô lượng công  đức thành tựu như thế gọi là thân Như Lai. Như vậy, này Ca-diếp! Thân tướng của Như  Lai, có lẽ hàng Thanhvăn và Phật-bích-chi biết được, thành tựu thân Như Lai như thế,  đó là pháp thân, không phải là thân uế thực, làm sao hủy hoại bệnh khổ như đồ hư  hỏng? Tùy theo người nhận lãnh sự giáo hóa mà Ta hiện nay thân già, bệnh, chết.
Pháp  thân của Như Lai là thân kim cương khó hủy hoại. Này Ca-diếp! Từ nay về sau ông nên  biết như thế này, thân Như Lai không phải là thân uế thực, ông hãy giảng nói rộng  rãi cho mọi người biết, từ nguyên nhân vi diệu sinh ra, đó chính là pháp thân, là  thânkim cương, là thân thuần hậu, nên biết ấy là pháp thường trụ vậy.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Công đức của Như Lai đầy đủ như thế thì sao gọi là thân có bệnh, hoặc  là chết. Kể từ hôm nay, con sẽ quán xét pháp thân Như Lai thường trụ, không phải là  pháp  biến  đổi,  tốt  đẹp, tịch diệt, con sẽ giảng nói rộng rãi cho mọi người.  Thưa vâng, bạch Thế Tôn!
Pháp thân kim cương của Như Lai không hủy hoại, thế nhưng con  chưa thể biết được sở nhân thế nào?
Phật bảo Ca-diếp:
–Người hộ trì pháp ấy không phải là người giữ năm giới cấm, cũng chẳng  phải là bậc hiền đức thực hành thông thạo giới luật uy nghi.
Người ấy ở trong đời ác chẳng tiếc thân mạng, tay cầm giữ đồ sắc bén để che chở  bảo vệ pháp sư và những người giữ giới, đó là người hộ pháp.
Ca-diếp bạch Phật:
–Tỳ-kheo và người cầm khí cụ gậy gộc kia đều cùng đi chung hay ngừng lại, há không có  người nào là không phải Tỳ-kheo chăng?
Đức Phậtnói:
–Chẳng phải vậy.
Ca-diếp lại bạch Phật:
–Thế thì đây là hạng cư sĩ cạo đầu mà thôi. Phật bảo Ca-diếp:
–Ông chớ nói lời như thế. Vì sao? Nếu có người nào một mình ở chỗ vắng vẻ yên  lặng, tu hành chín pháp của hạnh Đầu-đà, xin ăn, ít ham muốn, im lặng, thiền định, suy  nghĩ, quán xét thân thể, kinh hành; cũng giảng nói về pháp bố thí, giữ giới, tu tập,  đạo đức, hành nghiệp, nhân quả cho mọi người; thế nhưng người ấy không thể tuyên  giảng rộng rãi về sự không sợ hãi; cũng lại không thể hàng phục và giáo hóa người  xấu ác, giả dối, lừa bịp. Nên biết rằng người này không thể tự độ mình, cũng chẳng  hóa độ người khác, họ chỉ tu trì phạm hạnh và hoàn thiện riêng cho mình mà thôi. Nếu lại có Tỳ-kheo thực hành pháp tu Đầu-đà, được có cả sự không sợ  hãi; vị ấy tuyên giảng rộng rãi chín bộ: Tu-đa-la (Khế kinh), Kỳ-dạ (Trùng tụng kệ),  Thụ ký, Già-đà (Phúng), Nhân duyên, Như thị ngữ (Bản sự), Bản sinh, Phương quảng, Vị  tằng hữu (Chưa từng có), để giáo hóa chúng sinh, tự độ mình, độ cho người khác. Vị ấy  lại còn nói những câu trọng yếu trong Khế kinh cho mọi người, như nói rằng, trong bộ  kinh nọ có nói không được nuôi dưỡng đầy tớ, nô bộc, bò, ngựa, các loài súc sinh  cho đến không đồng ý nhận tài vật phi pháp, nếu nhận cất giữ thì không phải là pháp  của người xuất gia, người này phạm vào quy chế nên phải bãi đạo và đuổi ra khỏi.  Những kẻ phạm giới nghe nói lời như thế bèn cùng bè đảng giận dữ làm hại vị pháp sư  kia, vị kia tuy chấm dứt mạng sống, song vẫn còn có thể tự độ mình và cũng có thể  hóa độ người khác. Cho nên, này Ca-diếp! Các Ưu-bà-tắc hoặc vua chúa, quan  lớn nên hộ trì pháp, cũng nên hàng phục hạng cư sĩ cạo
đầu.
Lại nữa, này Ca-diếp! Thời quá khứ lâu xa a-tăng-kỳ kiếp,  thế giới ấy có Đức Phật tên là Nan-đề-bạt-đàn Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác xuất  hiện làm hưng thịnh cho đời, Đức Phật cũng thường trú ở thành Câu-di này. Khi ấy thế  giới này rộng rãi nghiêm tịnh ví như cõi nước Cực lạc ở phương Tây, những chúng sinh  ở đó thảy đều yên vui, không có ý tưởng đói khát, hoàn toàn là các vị Bồ-tát.  Đức Phật kia sống ở đời vô lượng ức kiếp rồi mới vào Nê-hoàn, đã để lại giáo  pháp ở đời cũng lại vô lượng ức kiếp. Như thế, còn lại bốn mươi năm khi Phật  pháp chưa diệt, khi ấy có vị Tỳ-kheo tên là Phật-độ-đạt-đa xuất hiện ở thế  gian, đại chúng và quyến thuộc kẻ trước người sau lần lượt đi về bên phải. Vị ấy  thành tựu sự không sợ hãi mà nói pháp cho mọi người, rồi đem chín bộ kinh để giảng  dạy các Tỳ-kheo: “Trong bộ khế kinh nọ nói rằng, không được nuôi dưỡng đầy tớ, nô  bộc, loài súc sinh và không đồng ý nhận tài vật không đúng pháp”.
Những kẻ phạm giới bèn nổi tức giận, kết bè lập đảng giúp nhau muốn làm hại
Pháp  sư. Khi đó, vị quốc vương kia tên là Bà-già-đạt-đa nghe tin những người ác kia sắp làm  hại
Pháp sư, nhằm để hộ trì Phật pháp, lập tức ông liền cầm vũ khí sắc bén, cùng  chung khổ cực chiến đấu tiêu diệt đám người xấu ác. Thân thể nhà vua bị thương tích,  ông bèn đi đến chỗ ở của
Pháp sư,
Pháp sư nói về công đức hộ pháp cho nhà vua nghe,  nghe pháp xong, chẳng bao lâu nhà vua qua đời, sinh về cõi nước của Đức Phật A-súc. Khi  ấy, những người quyến thuộc cùng hộ pháp với vua đều lần lượt qua đời, được sinh cõi  nước của Đức Phật A-súc, những người phát tâm hoan hỷ với công đức ấy đều thành  tựu Bồ-đề. Rồi chẳng bao lâu
Pháp sư Phật-độ-đạt-đa lại chấm dứt mạng sống, cũng  sinh về cõi nước của Đức Phật A-súc kia, làm vị đệ tử hàng đầu của Đức Phật A-súc,  vua Bà-già-đạt-đa làm vị đệ tử thứ nhì.
Phật bảo Ca-diếp:
–Bấy giờ, vị quốc vương hộ pháp đó đâu phải người nào khác mà chính là Ta, vị 
Pháp sư hồi ấy chính là Đức Phật Ca-diếp. Này Ca- diếp! Nên biết rằng công  đức hộ trì chánh pháp là vô lượng, Ta vốn nhờ không tiếc thân mạng hộ trì chánh  pháp, nên được pháp thân kim cương chẳng hoại này.
Ca-diếp bạch Phật:
–Như lời Thế Tôn dạy, pháp thân của Như Lai chân thật, thường trụ, không phải là  pháp phai mờ tiêu diệt, tâm ý con tin chắc dường như khắc vào đá.
Phật bảo Ca-diếp:
–Cho nên, này thiện nam! Các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di nên chăm chỉ  phương tiện hộ trì chánh pháp, các vị cũng nên giảng nói rộng rãi về quả báo của  việc hộ pháp cho mọi người rõ. Lại nữa, này Ca-diếp! Luận rằng, người làm 
Pháp sư giữ gìn giới hạnh thanh tịnh thì hãy thường phải tự bảo hộ mình, không có  dụng cụ để tự phòng ngừa, thì chớ coi thường cử động của mình. Nếu người Ưu-bà-  tắc không thọ giới cụ túc mà học Đại thừa, vì sự hộ trì chánh pháp mà cầm khí cụ  gậy gộc, thì ông hãy nên nương tựa những người ấy để làm bè bạn.
Ca-diếp lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Thế Tôn đã nói, cùng người cầm gậy gộc kết giao đều là không phải  uy nghi giới luật.
Phật bảo:
–Sau khi Ta vào Nê-hoàn, trong cõi đời vẩn đục, nhân khi lúa gạo đắt đỏ, tật dịch lan  tràn, kẻ trá hình lợi dưỡng đông nhiều vô số. Khi ấy có
Pháp sư trì giới trì luật, uy  nghi đầy đủ, bị những người kia xua đuổi, hoặc làm hại, hoặc giết. Đang lúc ấy, vị 
Pháp sư giữ giới dạo chơi đến các thành ấp, chốn đồng không mông quạnh tai  nạn nguy hiểm. Ta nghe tin bèn cùng với vị quốc vương kia, quan lớn, người  nông thôn, cư sĩ, chiên-đà-la v.v…, họ không thọ giới cụ túc song có khả năng hộ  pháp, ta kết làm bè bạn với họ. Mặc dầu các hạng người kia không thọ giới, nhưng  quả báo của công đức hộ pháp vô lượng hơn hẳn những người thọ giới. Vị
Pháp sư ấy  vâng giữ giới hạnh, thanh tịnh uy nghi, hết sức ưa thích Đại thừa và giảng nói rộng  rãi cho mọi người. Có thể đem dầu thơm, phướn, hoa, các vật dụng cúng dường, cùng với  các quốc vương, quan lớn, trưởng giả thay nhau hiến tặng mà chẳng hủy mất pháp hạnh  sa-môn. Gọi rằng
Pháp sư giữ giới như thế là tự thân vị đó thâu nhận và nắm giữ  pháp chân thật dường như biển cả, uy nghi đầy đủ, ấy gọi là giữ giới. Hoặc giả có  người giữ giới mà không ưa
thích vui sướng, chẳng ham chuộng danh dự, chán ghét lợi dưỡng, thường nói về  hạnh ít muốn và biết đủ cho mọi người. So sánh những sự việc như thế, lợi ích của  mình giảm bớt, bà con thân thuộc không vui lòng, nên họ không gọi là
Pháp sư. Từ đó,  đối với các chúng học trò họ bèn khởi lên ý tưởng chán nản uể oải, tự phá hoại  quyến thuộc, cũng gọi là phá hoại Tăng. Tăng có ba hạng: Tăng phạm giới, Tăng như  trẻ con ngây ngô và Tăng thanh tịnh. Hai loại Tăng trước không thể phá hoại Tăng  thanh tịnh. Tăng phạm giới là hạng phàm phu lần thần ngu xuẩn, họ thuận theo người  phạm giới, không kiểm tra xem xét nhau, vì sự tham lam bẩn đục mà họ chung cùng hòa  hợp, đó gọi là Tăng phạm giới. Cho dù tự bản thân họ có khả năng giữ giới, song  cũng lại gọi họ là số Tăng phạm giới vậy. Những hạng Tăng như thế không đúng với  việc tu hành mà họ cứ làm, nếu người nào có khả năng cảm hóa các người phi pháp  này thì gọi người ấy là
Pháp sư.
Tăng ngây ngô khờ dại là hạng Tăng không chịu học tập tu hành, căn trí ngu si chậm  chạp. Giả sử được lợi dưỡng, họ tự cung cấp cho mình và quyến thuộc, nhưng việc  tu tập thì người nào lo xây dựng người nấy, không cùng chung cùng hòa hợp. Lại  nữa, họ cũng không cùng người phạm giới làm phép Tự-tứ hay Bố-tát chung với nhau.  Nếu như vị nào có năng lực cảm hóa hạng người ngu si phi pháp này, thì gọi vị ấy là  pháp sư.
Tăng theo đúng giới pháp luật nghi, những hạng Tăng như thế khiến chúng ma dù sao cũng  không thể nào ngăn trở phá hoại. Dường như hạng Bồ-tát Tăng tính thường thanh tịnh,  hai hạng Tăng kia là thầy phạm giới. Vị thầy giữ gìn giới luật là người khéo giáo  hóa, biết thời, biết nặng, biết nhẹ, không phán đoán điều sai trái giới  luật, cũng không phán đoán xác đáng.
Thế nào gọi là
Pháp sư theo đúng giới pháp luật nghi khéo biết thời gian giáo hóa?  Đó là Bồ-tát, hoặc là như con trẻ thơ dại, nếu Bồ- tát giáo hóa nhằm việc hộ trì  chánh pháp, cũng không quán xét đúng thời hay trái thời, dư hay không dư, hoặc cho  phép, hoặc ngăn cấm, tùy theo sự việc ấy mà thích ứng. Vị ấy tự tại dạo chơi hay  dừng lại ở thôn xóm, giữa gò mả, do tâm hộ pháp nên không vi phạm điều gì. Chỉ  trừ các nhà người con gái chuyên nghề ca múa, nhà đàn bà góa chồng, nhà
dâm nữ, nhà trẻ em gái, chỗ học luyện thanh là những nơi không nên đi đến, tất cả  các chỗ còn lại, Bồ-tát hộ pháp suốt ngày vòng quanh qua lại mà không có lỗi, đó  gọi là
Pháp sư biết thời giáo hóa. Biết nặng, nghĩa là nếu thấy Như Lai chế ra giới  luật, thoạt đầu khởi sự từ nguyên nhân, người nào mà phạm vào tâm khinh rẻ  và bốn pháp nặng thì không gọi là người xuất gia, đó gọi là biết nặng. Biết  nhẹ, nghĩa là nếu thấy Tỳ-kheo phạm vào giới nhẹ từng duyên khởi một, tâm cũng  không coi trọng hoặc là tự mình nhớ lại, như trong các giới của Như Lai,  người ấy phạm mà không đầy đủ, đó gọi là biết nhẹ. Không phán đoán giới luật hữu  dư, nghĩa là nếu nuôi dưỡng đầy tớ v.v…, cất chứa các tài vật bất tịnh, đối với giới  luật còn sót lại, không cần phải phán đoán, nên thường không muốn cãi cọ với người  phạm giới, đó gọi là sai trái luật. Không cần phải phán đoán thỏa đáng nghĩa là tuy  rằng sai trái luật, nhưng ở trong kinh khác nói thì hoàn toàn giống với giới luật, đó  cũng là luật, không cần phải phán đoán thỏa đáng, tùy lời lẽ nói năng mà gọi đó  là theo đúng câu văn song chẳng hiểu một chữ. Nếu người nào có thể hiểu được lời  nói của chư Phật ba đời nói trong kinh, tâm được sự không sợ hãi, có năng lực hộ trì  lời Phật giảng dạy sâu rộng vô lượng như thế, thì người ấy đạt đến thành tựu bậc 
Pháp vương Như Lai không thể nghĩ bàn.
Ngay sau đó, Ca-diếp bạch Phật:
–Thưa vâng! Bạch Thế Tôn! Đấng
Pháp vương Như Lai không thể nghĩ bàn, Như Lai thường trụ  không phải là pháp biến đổi, con sẽ vâng giữ và giảng nói rộng rãi cho mọi người  biết.
Đức Phật dạy:
–Quý hóa thay! Này Ca-diếp! Vị nào vâng giữ pháp thân kim cương bất hoại,  muốn học sự quán xét thân Như Lai đều bình đẳng, thì vị ấy nên tu phép quán Kim cương  bất hoại, Đại Bồ-tát hãy tu tập như thế, liền được phép quán pháp thân vô thượng  một cách bình đẳng.
??
 Phẩm 7: THỌ TRÌ
 –Lại nữa, này thiện nam! Nay Ta sẽ giảng nói công đức thọ trì
Khế kinh rất mực sâu xa, nếu có chúng  sinh nghe được  kinh này, thì đời đời chẳng  rơi vào trong bốn nẻo, ở chỗ mình sinh ra thường gần gũi chư Phật.
Ca-diếp bạch Phật:
–Chúng con nên gọi kinh này là gì và phải vâng giữ như thế nào? Phật bảo Ca-diếp:
–Kinh này tên gọi là Đại Bát-nê-hoàn, lời nói thoạt đầu cũng tốt lành, lời nói  chặng giữa cũng tài tình, lời nói sau cùng cũng thanh tịnh tràn đầy. Nay Ta sẽ giảng  nói về kho chứa châu báu Kim cương. Này thiện nam! Giống như nước trong tám con sông  lớn thuộc cõi Diêm- phù-đề đều đổ về biển cả, nước ấy không bao giờ cùng tận, kinh   Đại Bát Nê Hoàn cũng như thế, trừ diệt phiền não, hàng phục chúng ma, quay lưng với  sự sống chết, lìa bỏ thân biến hóa, cho nên gọi là Nê- hoàn, tất cả chư Phật giống  như giáo pháp vi diệu này, không có sự cùng tột.
Lại nữa, giống như phương pháp trị bệnh có thuật tinh tế bí mật tên gọi là Đại y,  tất cả các phương thuốc đều đưa vào trong đó, giáo pháp hàm chứa nhiều nghĩa lý  vi diệu bí mật do Như Lai nói cũng như vậy, tất cả chín bộ kinh thảy đều ở vào trong  đó, cho nên gọi là Đại Bát-nê-hoàn.
Ví như công việc cày ruộng và gieo hạt vào tháng mùa hè thì thường có hy  vọng, đến khi đã thu hoạch quả thì mọi trông mong đều dứt. Người tu hành cũng như vậy,  họ thường có hy vọng khi tu tập thiền định đối với tất cả kinh điển, học tập kinh này  xong, họ chóng thành tựu sự giải thoát và vượt ra khỏi ba cõi.
Lại nữa, này thiện nam! Như người mắc bệnh nặng dùng đề hồ làm thuốc, thế rồi người  ấy lại uống tám thứ thuốc mùi vị ngọt ngào, vị thuốc ấy hay nhất. Như thế, đối với  giáo pháp bí mật của Phật, chúng sinh mắc bệnh mê hoặc và tán loạn, Ta đem Khế kinh  Đại thừa mà giáo hóa cho họ dần dần, rồi sau mới nói phương thuốc diệu pháp có tám  vị Đại Bát-nê-hoàn cho chúng sinh. Tám thứ mùi vị đó là:
Pháp thường trụ, pháp tịch  diệt, không già, không chết, mát mẻ, thông suốt như hư không, bất động và khoái  lạc; tám thứ mùi vị đó gọi là Đại Bát- nê-hoàn. Nếu có Bồ-tát trú tại Đại  Bát-nê-hoàn này, thì đâu đâu vị ấy
 cũng thường có thể thị hiện nê-hoàn, cho nên gọi là Đại Bát-nê-hoàn. Nếu thiện nam  nào muốn ở Đại Bát-nê-hoàn mà vào Nê-hoàn, thì phải nên học pháp thường trụ của  Như Lai như thế,
Pháp và Tăng cũng vậy. Nếu như trong số ấy có thiện nam và thiện nữ  thực hành kinh Đại Bát Nê Hoàn này, thì nên học tập thường trụ ở Như Lai.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn!
Pháp thân của Như Lai chẳng thể suy nghĩ và bàn luận, giáo pháp vi  diệu mà Phật nói ra không thể nghĩ bàn, công đức của chúng Tăng không thể nghĩ bàn,  kinh này chẳng thể nghĩ bàn. Kể từ hôm nay, như có chúng sinh tâm tính cứng cỏi, thì  con sẽ trừ diệt bóng tối tăm còn sót lại trong đêm dài sinh tử vô tri cho những  chúng sinh kia.
??
/53
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »