396 - Kinh Đại Bát Nê Hoàn - Quyển IV - Phẩm 9: Bốn Hạng Người Để Nương Tựa (Trang 105 - 132)">
Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1139.

Chương 4: Kinh Đại Bát Nê Hoàn - Quyển IV - Phẩm 9: Bốn Hạng Người Để Nương Tựa (Trang 105 - 132)

KINH ĐẠI BÁT NÊ HOÀN
 
 QUYỂN IV
 
 Phẩm 9: BỐN HẠNG NGƯỜI ĐỂ NƯƠNG  TỰA

 Đức Phật lại bảo Ca-diếp:
–Có bốn hạng người, đối với kinh Đại Bát Nê Hoàn này, những vị ấy có thể hướng đến  chánh pháp, hộ trì chánh pháp, có thể làm bốn chỗ nương tựa để độ thoát cho nhiều  người, làm nhiều điều lợi ích cho kẻ khác để vượt ra khỏi thế gian. Bốn hạng người  để nương tựa là hạng nào?
Một là hạng phàm phu tuy chưa xa lìa phiền não và ra khỏi thế gian, song họ có thể độ  thoát cho nhiều người và làm nhiều điều lợi ích cho kẻ khác. Hai là hạng người đắc  quả Tu-đà-hoàn và Tư-đà-hàm. Ba là hạng người đắc quả A-na-hàm. Bốn là hạng người  đắc quả A-la-hán. Đó là bốn hạng người làm nơi nương tựa chân thật, độ thoát cho  nhiều người và làm nhiều điều lợi ích cho kẻ khác.
Hạng phàm phu kia là người tự mình giữ gìn giới đức, uy nghi đầy đủ, để làm bức thành  hộ pháp nên họ đã nghe và lãnh thọ chánh pháp ở chỗ Như Lai, đọc tụng và nắm giữ  nghĩa lý cùng ý vị, giảng nói rộng rãi cho mọi người, có thể tự mình ít sự ham muốn.  Người ấy lại còn giảng nói Tám pháp nhớ nghĩ của bậc đại nhân cho mọi  người, giáo hóa những người phạm giới đều khiến họ sám hối, vị ấy khéo biết đủ thứ  ngôn ngữ của chúng sinh, học tập thực hành công đức hộ pháp của Bồ-tát, đó gọi  là Bồ-tát phàm phu đứng hàng đầu. Những người phàm phu này chưa được Như Lai ghi nhận  về sự việc họ làm địa vị Bồ-tát trong tương lai.
Hạng người Tu-đà-hoàn và Tư-đà-hàm kia là những vị đã đạt được chánh pháp,  xa lìa các sự nghi hoặc. Chư vị ấy chẳng giảng nói kinh sách không phù hợp chánh pháp  cho mọi người, chẳng rời bỏ khế
kinh của Phật mà ca tụng ký luận, văn chương trau chuốt của thế gian; chẳng nuôi đầy  tớ và cất chứa của cải phi pháp, đó gọi là Bồ-tát Tu-đà- hoàn. Mặc dù chưa được   an trụ địa vị thứ hai và thứ ba của Bồ-tát, nhưng họ đã được chư Phật trao cho  lời ghi nhận ngay trước mặt về việc sẽ thành Phật trong tương lai.
Hạng A-na-hàm là người đã đạt được chánh pháp, lìa khỏi những sự hồ nghi. Chư vị  không giảng nói kinh điển sách vở không phù hợp chánh pháp cho mọi người; chẳng rời  bỏ khế kinh của Phật mà ca tụng ký luận, văn chương trau chuốt của thế gian; chẳng  nuôi đầy tớ và cất giữ của cải phi pháp. Các sự trói buộc chưa khởi lên thì có thể  hiểu biết được ngay, những sự kết tập vào thời quá khứ mãi mãi chẳng còn trói  buộc được nữa. Các vị ấy có nói ra giáo pháp gì cũng không dứt bỏ Phật tánh, đức  hạnh thanh tịnh, thân thể không có bệnh tật bên ngoài, rắn độc bốn đại nương theo đó  mà khởi lên các bệnh là điều không thể mắc phải. Lại khéo giảng nói về lý không  phải cái ta, vượt chấp ngã, sự cố chấp phân biệt ta và người, xa lìa cái ngã của  thế gian mà thực hành phương tiện thuận theo thế gian. Chư vị thường cảm hóa người  bằng giáo pháp Đại thừa, không nói đạo lý gì khác. Trong thân thể không  có tám vạn hang ổ vi trùng và vô lượng tai ương hoạn nạn. Tâm xa lìa sự ái dục,  không có tâm tưởng ác mộng, lìa khỏi tất cả hữu, sống chết, sợ hãi. Ai thực hành  như thế thì gọi là người A-na-hàm ở quả vị thứ ba, không quay trở lại cõi Dục nữa  nên có tên là A-na-hàm. Các vị ấy tập quen các gốc rễ công đức, điều xấu ác lầm  lỗi từ thuở lâu xa không thể làm ô nhiễm, gọi là A-na-hàm. Đó gọi là Bồ-tát  A-na-hàm phát tâm ghi nhận lời quyết đoán. Phát tâm ghi nhận lời quyết đoán là người  ấy chẳng bao lâu nữa sẽ thành Phật đạo.
A-la-hán là phiền não đã hết sạch, lìa bỏ những gánh nặng, những điều đáng  làm các vị ấy đã làm xong, đầy đủ mười địa. Các vị ấy đã được Phật ghi nhận pháp  nhẫn hết sức sâu sắc, hết thảy sắc thái hình tượng đều có thể biến hóa thị hiện,  tùy theo ý của mình muốn đối với các phương diện, là bậc Như Lai Ứng Cúng  Đẳng Chánh Giác. Công đức như thế đều đầy đủ tất cả, gọi là A-la-hán. Đó là bốn hạng người đối với kinh Đại Bát Nê Hoàn này. Chư vị độ thoát cho nhiều  người, làm nhiều điều lợi ích cho kẻ khác và vượt ra
gian. Các vị ấy làm bậc thầy của hàng trời và người, giống như các Đức Như  Lai. Đó là bốn hạng người làm nơi nương dựa chân thật.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Con không thể tin bốn hạng người ấy là chỗ nương tựa chân  thật, nguyên do ấy thế nào? Vì, như Thế Tôn giảng nói cho trưởng giả Cù-sư-la rằng,  nếu ma vương ở cảnh trời thứ sáu cõi Dục và Phạm Thiên vương ở cõi Sắc hiện thân  làm Phật có ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp, ánh hào quang phóng ra từ vòng  tròn trên đỉnh đầu xa đến một tầm, hiện ra tướng sợi lông trắng ở giữa  chặng mày, nếu vị Phật ấy đi đến chỗ của ông, thì ông nên nhận biết khiến cho Phật  kia phải hàng phục. Nay ta để mặc ông làm khuất phục ma xấu ác kia, tại sao phải như  thế? Vì chúng không phải A-la-hánmà tự xưng là La-hán. Nếu như loài ma xấu ác có  ngồi nằm giữa hư không, hông bên trái phát ra lửa, hông bên phải tuôn ra nước, hoặc  cả mình mẩy cháy rực mà bốc ra mây khói, đủ các thứ biến hóa. Lại nữa, chúng có  thể giảng nói chín bộ khế kinh còn không thể nào tin được, cho nên ông phải khuất  phục loài ma xấu ác kia, đừng sinh lòng nghi hoặc. Ví như có người ở trong đêm tối  gặp con chó tinh ranh lẻn vào nhà, người ấy hay biết con chó tinh ranh lẻn vào nhà mình  bèn mắng ngay: “Con chó tinh ranh hãy cút đi, đừng để ta giết mày trong giây lát”. Ngay  sau đó, con chó tinh ranh bèn chạy nhanh ra ngoài, không dám trở lại nữa. Ma Ba-tuần  xấu ác cũng như vậy, ma biến hóa đến thì ông nên đem năm pháp trói buộc của ta mà  cột trói nó lại. Bị năm pháp ràng buộc xong, ma Ba-tuần xấu ác khiếp sợ bỏ chạy  nhanh, ví như con chó tinh ranh. Như thế, Phật giảng nói cho trưởng giả Cù-sư-la: “Nay  nếu như ông có thể hàng phục loài ma xấu ác thì dần dần sẽ gần gũi Nê-hoàn”. Bạch  Thế Tôn! Vì những nguyên cớ gì mà hôm nay Thế Tôn nói bốn hạng người làm chỗ nương  tựa chân thật? Vì thế, hôm nay con chẳng sinh lòng tin.
Phật bảo Ca-diếp:
–Đúng thế! Này thiện nam! Ta giảng nói pháp này đều nhân vì hàng Thanh văn và những  hạng phàm phu mắt thịt mà nói cần phải hàng phục, chẳng phải vì người lãnh thọ và  thực hành pháp Ma-ha-
diễn. Trong các vị Thanh văn, tuy có vị được thiên nhãn, song Ta nói những pháp ấy  là nhắm vào số người phàm mắt thịt. Cho dù người phàm mắt thịt tin vào  Ma-ha-diễn, song Ta nói những pháp ấy là nhắm vào số người có con mắt Phật. Vì sao? Vì  người ấy có năng lực nắm giữ kinh Ma-ha-diễn là Phật thừa.
Lại nữa, này thiện nam! Giống như vị đại tướng khéo biết phép dụng binh, ông ta dạy  cho người hèn kém nhút nhát học võ thuật của mình, bèn nói với người ấy: “Ngươi  phải nắm giữ các vũ khí như dao kiếm như thế này, nên giữ tâm mình cho chính xác,  giống như lửacháy hừng hực, hãy thận trọng chớ quay đầu nhìn lại. Cho đến khi lâm  trận, mỗi người cầm đồ binh khí, xắn tay áo hô lớn. Giống như lửa rực cháy, binh giặc  chắc hẳn rút lui. Đấng Đạo sư Thế Hùng là vị tướng của ba cõi, dạy bảo các Thanh  văn hàng phục chúng ma cũng như thế.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như có người chủng tánh dũng mãnh, được tập làm quen với  phép tắc chiếc tranh, không có sự nhút nhát yếu hèn, đối với các chiến sĩ, người ấy  đứng hàng đầu, là người đi trước. Như thế, này thiện nam! Người nào tập học Đại  thừa, nghe khế kinh Ma-ha-diễn hết sức sâu xa và giáo pháp bí mật vi diệu mà chẳng  phát sinh sự sợ hãi, nên biết người ấy đã từng cúng dường vô lượng chư  Phật, nhận sự học tập Đại thừa, cội rễ niềm tin vững chắc. Ức trăm ngàn loài ma  biến hóa hiện ra đủ thứ, rốt cuộc người ấy không có nỗi sợ hãi, cũng chẳng có  một chút suy nghĩ đối với loài ma kia, thế nhưng chúng ma kia thấy có người học  Ma-ha-diễn thì sinh lòng sợ hãi giống như hạng đàn ông nhút nhát yếu hèn. Ví như rắn  độc thấy các chú dược thì phát sinh lòng sợ hãi, thiên ma Ba-tuần cũng như thế, ức  trăm ngàn ma được nghe kinh Ma-ha-diễn như vậy, âm thanh, mùi thơm, ánh sáng  rọi chiếu, khiến chúng lìa khỏi các sự kiêu mạn, cao ngạo, tự đại.
Lại nữa, này thiện nam! Giống như có người nếu thấy rồng dữ, rắn độc, sư tử, cọp,  beo, lang sói, người ấy đều sợ hãi; hoặc giả nghe tiếng kêu của chúng cũng sinh  lòng khiếp sợ. Hoặc lại có người có năng lực hàng phục thú dữ như vị trượng  phu kia, nếu thấy người kia thì thú dữ sinh lòng sợ hãi. Nên biết hết thảy hàng Thanh  văn và Duyên giác cũng như thế, nếu trông thấy loài ma, các vị ấy bèn sinh lòng sợ  hãi, thì bị các loài ma có dịp làm hại. Như vị trượng phu kia có năng
  lực hàng phục loài thú dữ, nên biết đó là người học Ma-ha-diễn cũng như vậy, vị ấy  có thể hàng phục chúng ma, đã hàng phục xong mà lại còn thuyết pháp cho chúng. Giống  như loài thú độc hại kia, tâm của bọn ma Ba-tuần đã điều phục, họ bèn nói lời này:  “Kể từ hôm nay, đối với chánh pháp của Đức Phật, con phát sinh lòng tin và ưa thích,  không còn gây rối loạn nữa”. Nên biết hàng Thanh văn sẵn có phiền não, tập khí, sự  sợ hãi; Ma-ha-diễn là dứt bỏ vĩnh viễn nỗi sợ hãi; Ma-ha-diễn là sức mạnh rất  siêng năng, cho nên Ta nói những hàng Thanh văn cần phải hàng phục, đừng phát  sinh nỗi sợ hãi. Như thế, này thiện nam! Kinh Ma-ha-diễn Đại Bát-nê-hoàn này  rất là hiếm có, nếu nghe kinh nàythì Như Lai tồn tại lâu dài, thật kỳ lạ và hiếm  có, người nào có lòng tin và vâng giữ, thì giống như hoa Ưu-đàm-bát, khó có thể gặp  được. Kinh Đại Thừa này cũng như thế, hiếm có và kỳ lạ thay! Ta vào Nê- hoàn rồi,  gặp được kinh Đại Thừa này cũng như vậy. Hiếm có và kỳ lạ thay! Ta vào Nê-hoàn  rồi, các hàng chúng sinh nghe được kinh này cũng rất là hiếm có. Sao mà  kỳ lạ thế! Này thiện nam! Vào đời sau này, sẽ có chúng sinh chê bai kinh này.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Thời gian lâu dài, nếu như có những hạng chúng sinh sẽ phỉ báng kinh  này, thì hạng người nào hộ trì pháp này ở đời mai sau?
Phật bảo Ca-diếp:
–Sau khi Ta diệt độ, pháp này được truyền khắp nơi trong bốn chục năm rồi sau mới mai  một. Này thiện nam! Ví như thế gian lấy mía đường, gạo tẻ, váng sữa, dầu, bơ để làm  đồ ăn thức uống; có các chúng sinh ăn uống món ăn này rồi lại phát sinh ốm đau;  trở lại họ dùng thức ăn sơ sài, cây cỏ, hoa trái. Các món ăn ngon, gạo tẻ, dầu bơ  kia như kinh Ma-ha-diễn, họ chẳng muốn nghe, trái lại họ ăn thứ sơ sài, cây cỏ, hoa  trái. Các thừa Thanh văn mãi mãi vứt bỏ món ăn ngon là kinh pháp Đại Bát-nê-hoàn  như thế, mà chẳng muốn nghe nói.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như có vị vua cư trú trong núi non sâu thẳm, không có các  món ăn gạo tẻ, dầu bơ v.v... Các dân chúng trong nước ấy có những món ăn ngon đều  gửi dâng cho nhà vua, còn tự mình ăn đồ sơ sài, cây cỏ, hoa trái. Trong số đó có  những người gần gũi nhà
vua, do được nhờ uy lực của vua, thoạt đầu họ chưa hề thấy món ăn nào sánh bằng các  món ăn này, thế mà họ được ăn món đó. Như thế, này thiện nam! Bốn hạng người  kia là vị tướng dũng mãnh ở trong pháp Phật, trong những vị Đại Bồ-tát kia, nếu  có một người xuất hiện để làm hưng thịnh cho đời, ở nơi vị ấy đến, đem kinh Đại Bát  Nê Hoàn Ma-ha-diễn để giáo hóa chúng sinh. Họ liền tự biên chép và thọ trì, hoặc  bảo kẻ khác biên chép, viết cuốn kinh ấy xong xuôi rồi đem bố thí cho các chúng sinh.  Hoặc có chúng sinh ở bên cạnh vị Đại Bồ-tát kia cảm nghe được món ăn giáo pháp Đại  thừa Bát-nê-hoàn đều là nhờ ánh sáng thần lực của Bồ-tát, khiến cho họ được nghe  văn chữ, câu nghĩa, cho đến một chữ của pháp chưa từng có này, như chúng sinh kia nhờ  uy lực của vua nên được các thức ăn ngon. Do đó, này thiện nam! Kinh Đại Bát Nê Hoàn  Ma-ha-diễn đến ở chỗ nào, ông nên biết vùng đất này thảy đều thành kim cương, nơi đó  nếu có chúng sinh ngheđược pháp này, rồi biên chép, thọ trì, đọc tụng, giảng nói,  thậm chí mộtchữ, ông nên biết toàn thân thể của họ cũng là kim cương. Những chúng  sinh ấy đức mỏng phước ít, thế mà kinh Đại Thừa Ma-ha-diễn này là chánh pháp  được lưu truyền ở đất nước mình mà họ chẳng nghe và nhận lãnh, giống như  chúng sinh kia, từ đất nước mình sản sinh ra đủ thứ mùi vị cao cấp thượng hạng mà mình  không ăn được. Thương thay chúng sinh! Nghe nghĩa lý chân thật mà chẳng vâng theo và  thọ trì.
Ca-diếp lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Sau khi Như Lai diệt độ, pháp này hưng thịnh ở đời trong bốn mươi năm  rồi mới mai một, sau đó bao lâu nữa thì pháp này lại được lưu truyền rộng khắp?
Phật bảo Ca-diếp:
–Này thiện nam! Sau khi Ta vào Nê-hoàn, pháp này tồn tại tám mươi năm, sau đó thì  chánh pháp sắp mai một, kinh Đại Thừa này sẽ lại được lưu truyền rộng rãi ở cõi  Diêm-phù-đề, trải qua bốn chục năm thì kinh này lại mai một.
Ca-diếp lại bạch Phật:
–Như lời Thế Tôn nói, khi kinh pháp Đại Bát-nê-hoàn này sắp sửa diệt mất, rồi sẽ  lại hưng thịnh trong đời. Đang lúc này, người giữ giới ít ỏi, kẻ phạm giới quá nhiều,  chánh pháp sắp sửa diệt mất, sự
hướng tới chân chính giảm bớt, thì hạng người nào đủ năng lực nghe theo và thọ trì  pháp này, ai có thể nắm giữ, ai có thể đọc, ai có thể tụng, ai có thể cúng dường,  ai có thể hiểu rõ và giảng nói, người nào có thể tự mình biên chép, ai có thể dạy  bảo kẻ khác viết chép pháp này, xin ước mong Thế Tôn phân biệt giảng giải cho rõ ra,  khiến cho tất cả chúng sinh nhờ đây mà được độ thoát. Có các Bồ-tát ưa thích học  giáo pháp sâu sắc, nghe lời Thế Tôn nói, họ sẽ vâng theo sự chỉ bảo của Thế Tôn.
Phật bảo Ca-diếp:
–Quý hóa thay! Quý hóa thay! Này thiện nam! Nếu có chúng sinh ở chỗ các Đức  Như Lai nhiều bằng số cát của sông Hi-liên để phát tâm Bồ-đề, thì những chúng sinh  ấy có thể khởi lên tâm Bồ-tát vào lúc chánh pháp sắp sửa mai một. Tuy rằng  chưa quyết định ở đạo Vô thượng, song vị ấy có năng lực không phỉ báng kinh Phương  Đẳng này.
Nếu có chúng sinh phát tâm Bồ-đề ở chỗ các Đức Như Lai nhiều bằng số cát của một  con sông Hằng, thì có thể vào lúc chánh pháp sắp sửa diệt mất, đối với kinh điển  Phương Đẳng này, vị ấy không khởi lên tâm phỉ báng, được tâm tin tưởng và ưa thích,  nhưng chưa đủ khả năng giảng nói rộng rãi cho chúng sinh.
Nếu có chúng sinh phát tâm Bồ-đề ở chỗ các Đức Như Lai nhiều bằng hai lần số cát  sông Hằng, thì có thể vào lúc chánh pháp sắp sửa diệt mất, đối với kinh điển Phương  Đẳng này, vị ấy không khởi lên tâm chê bai, bản thân tự tiếp thu sự học tập, cũng  lại chưa thể giảng nói rộng rãi cho người khác.
Nếu có chúng sinh phát tâm Bồ-đề ở chỗ các Đức Như Lai nhiều gấp ba lần số cát  sông Hằng, thì có thể vào lúc chánh pháp sắp sửa diệt mất, vị ấy không khởi lên  tâm phỉ báng đối với kinh Phương Đẳng; vị ấy có thể thọ trì, có thể giảng nói, có  thể viết chép, song chưa thể nào giải thích ý nghĩa.
Nếu có chúng sinh phát tâm Bồ-đề ở chỗ các Đức Như Lai nhiều bằng bốn lần số cát  sông Hằng, thì có thể vào lúc chánh pháp sắp sửa diệt mất, vị ấy không khởi lên  tâm phỉ báng đối với kinh Phương Đẳng; vị ấy có thể thọ trì, có thể giảng nói và  giải thích một phần mười sáu nghĩa lý giáo pháp sâu xa.
Nếu có chúng sinh phát tâm Bồ-đề ở chỗ các Đức Như Lai nhiều bằng năm lần số cát  sông Hằng, thì có thể vào lúc chánh pháp sắp sửa diệt mất, vị ấy không khởi lên  tâm phỉ báng đối với kinh Phương Đẳng; vị ấy có thể nhận lãnh, có thể giảng nói, có  thể biên chép, có thể nắm giữ, hiểu rõ một phần tám nghĩa lý giáo pháp sâu xa. Nếu có chúng sinh phát tâm Bồ-đề ở chỗ các Đức Như Lai nhiều bằng sáu lần số cát  sông Hằng, thì có thể vào lúc chánh pháp sắp sửa diệt mất, vị ấy không khởi lên  tâm phỉ báng đối với kinh Phương Đẳng; vị ấy có thể nhận lãnh, có thể giảng nói, có  thể biên chép, có thể nắm giữ, hiểu rõ một phần tư nghĩa lý giáo pháp sâu xa. Nếu có chúng sinh phát tâm Bồ-đề ở chỗ các Đức Như Lai nhiều bằng bảy lần số cát  sông Hằng, thì có thể vào lúc chánh pháp sắp sửa diệt mất, vị ấy không khởi lên  tâm phỉ báng đối với kinh Phương Đẳng; vị ấy có thể nhận lãnh, có thể giảng nói, có  thể biên chép, có thể chỉ bảo người khác biên chép, có thể nắm giữ, giải thích rõ  một phần hai nghĩa lý giáo pháp sâu xa.
Nếu có chúng sinh phát tâm Bồ-đề ở chỗ các Đức Như Lai nhiều bằng tám lần số cát  sông Hằng, thì có thể vào lúc chánh pháp sắp sửa diệt mất, vị ấy không khởi lên  tâm chê bai đối với kinh Phương Đẳng; vị ấy có thể nhận lãnh, có thể biên chép, có  thể dạy bảo người khác biên chép, có thể nắm giữ, có thể đọc tụng giảng nói, có  thể tùy theo nhân duyên mà truyền bá, có thể khéo nói ý nghĩa ẩn náu kín đáo bên  trong. Vị ấy cũng có năng lực trông giữ hộ vệ, cũng có thể chỉ bày rõ ràng, thương  xót thế gian, khiến cho khắp cả mọi người đều cung kính cúng dường Kinh, chuyển dạy  người khác khiến những người ấy cúng dường, trí tuệ đầy đủ, hiểu rõ nghĩa lý trọng  yếu sâu sắc. Vị ấy khéo biết Như Lai chính là pháp thường trụ, không phải  pháp biến đổi, không phải pháp phai mờ tiêu diệt; yên ổn diệu lạc, khéo  hiểu rõ chúng sinh, từ đó phân biệt mỗi mỗi hạng người có Như Lai tánh, mở mang  khắp cả cho mọi người. Các Bồ-tát ấy đã từng trải phụng thờ vô lượng chư Phật  thuở quá khứ, cho nên có thể hộ trì chánh pháp của Như Lai. Nếu hôm nay lại phát tâm  Bồ-đề, thì ở đời sau, người kia cũng sẽ có thể kham nổi việc hộ trì chánh pháp. Đối  với hạng người này và các hàng chúng sinh khác, này thiện nam! Ông nên quán xét thế  này, nay ở
thời hiện tại và đời sau này, nếu có người ưa thích pháp mà phát tâm Bồ-đề, nên  biết người ấy là vị hộ pháp.
Lại nữa, này thiện nam! Có các kẻ ngoại đạo, vì sự lợi dưỡng nên khi nghe tin Phật  Nê-hoàn, họ bèn hô hoán bảo rằng Ta chết mãi mà chẳng lo buồn, trái lại họ lại  còn vui mừng. Vào đời sau này, có kẻ giả dạng khoác áo ca-sa, xuất gia học đạo ở  trong pháp của Ta, song họ lười biếng uể oải, phỉ báng khế kinh Phương Đẳng ấy, nên  biết hạng người này đều là các lớp dị đạo ngày nay. Thành tựu vô lượng công đức như  thế, tin Phương Đẳng Đại Bát Nê Hoàn này và ưa thích giáo pháp sâu xa, cho dù vị Thiện  nam ấy đã từng gây ra vô lượng các tội lỗi và làm đủ mọi nghiệp ác vào thời quá  khứ, các tội báo nhức đầu ấy tức thời trừ diệt. Hoặc bị khinh dễ, hoặc hình  dáng xấu xí, áo quần không đủ mặc, ăn uống sơ sài, mong cầu của cải thì không  thuận lợi, sinh vào nhà nghèo hèn và nhà tà kiến. Hoặc gặp phải tai nạn lớn và  các thứ quả báo đau khổ trong nhân gian còn sót lại, người ấy chịu quả báo trong đời  hiện tại một cách nhẹ nhàng, đây là do nhờ sức lực của công đức hộ pháp.
Này thiện nam! Ví như sương tuyết, khi mặt trời chưa mọc thì không giảm bớt  sự tích tụ ngưng đọng; ánh sáng mặt trời đã xuất hiện thì sương tuyết thảy đều tiêu  tan hết. Cũng như thế, chúng sinh gây ra vô lượng việc ác, ánh sáng mặt trời của  kinh Đại Bát Nê Hoàn này chưa xuất hiện thì vô lượng quả báo xấu ác không  giảm sự tích tụ ngưng đọng; khi ánh sáng mặt trời Đại Bát-nê-hoàn này xuất hiện  rồi, thì vô lượng quả báo xấu ác đều bị tiêu diệt toàn bộ.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như có người xuất gia học đạo, mặc dù người ấy không giữ   giới, song được cùng chung với đại chúng đi theo Như Lai, ở khắp mọi nơi, người ấy  giả vờ khoác áo ca-sa để nhận sự cúng dường của mọi người, tên người ấy được liệt  vào Tăng số của Như Lai. Như thế, này thiện nam! Nếu có Đại Bồ-tát thành tựu trọn  vẹn mười địa và các người ngoại đạo có thể tin tưởng và thọ trì kinh  Ma-ha-diễn này dù chỉ một lời nghe qua tai, thì những hạng người này đều được kể vào  số đại chúng Bồ-tát của Như Lai. Cho dù vì lợi dưỡng hay vì danh dự mà đọc tụng kinh  này nhưng mà họ không phỉ báng, những hạng người như thế thảy đều sẽ thành tựu  đạo Như Lai Ứng
Cúng Đẳng Giác. Vì vậy, Ta nói bốn hạng người kia là bốn chỗ nương tựa thật sự,  trong bốn hạng người kia, chỉ cần một người có năng lực tự mình quyết định, không theo  ký luận của ngoại đạo thế tục mà gọi là lời nói của Như Lai, cho nên gọi là bốn  chỗ nương tựa chân thật, nên thêm sự cúng dường, nhận lãnh sự học tập và hộ pháp.  Sao gọi là cúng dường? Nếu có người đủ khả năng thọ trì kinh Ma-ha-diễn, thì ông phải  nên đi theo người ấy trọn đời để thu nhận sự học tập và hộ pháp. Theo người ấy học  tập xong lại tăng thêm sự cúng dường, cho nên Ta nói bài kệ này:
Nếu người biết chánh pháp
Chẳng hỏi họ lớn bé
Hết lòng thêm cúng dường
Như phép người thờ lửa.
Nếu người biết phápấy
Chẳng hỏi họ lớn bé 
Hết lòng cung kính lễ
Như trời thờ  Đế thích.
Ca-diếp lại thưa:
–Bạch Thế Tôn! Như lời Phật nói, đối với những vị sư trưởng, phải nên tăng thêm sự  cung kính, thờ phụng, lễ lạy, cúng dường, giả sử người già cả theo người trẻ tuổi để  học tập, thì cũng phải cung kính làm lễ hay không? Lại nữa, nếu người cao tuổi  tuy biết kinh pháp song không giữ giới cấm, còn người học trò trẻ tuổi mà có thể  giữ gìn giới hạnh, thì phải nên kính lễ hay không? Lại nữa, người cư sĩ  mặc áo trắng khéo biết kinh pháp, người xuất gia theo người ấy để nhận sự học tập,  thì phép tắc cung kính, vâng mệnh, phụng thờ phải nên thế nào?
Phật bảo Ca-diếp:
–Đối với người thế tục áo trắng, người xuất gia không nên lễ lạy, vì người thế tục  không phải là ruộng phước. Phàm là người cao tuổi, thì người xuất gia ấy là ruộng  phước của tất cả, phải nên kính lễ, nếu là người phạm giới thì không nên. Vì sao? Vì  nuôi lớn cỏ dại sẽ làm hại mầm non cây lúa.
Ca-diếp lại bạch Phật:
–Như Thế Tôn nói, hết lòng cung kính làm lễ, giống như chư
  Thiên phụng thờ Đế thích, như thế, hai bài kệ cùng với ý nghĩa trái ngược nhau. Nếu  tất cả mọi người nên lễ kính người cao tuổi, thì phần nhiều các vị Tỳ-kheo giữ giới  có sự phạm tội, ý Thế Tôn thế nào mà nói bài kệ ấy? Lại nữa, ở khế kinh này,  Như Lai nói cần phải hàng phục kẻ phạm giới.
Phật bảo Ca-diếp:
–Ta vì hàng Bồ-tát ở đời sau nên mới nói, hết lòng làm lễ một cách cung kính như chư  Thiên phụng thờ Đế thích, hai bài kệ này là nói cho hàng Bồ-tát, chứ không  phải nói cho hàng Thanh văn. Này thiện nam! Sau khi Ta vào Nê-hoàn, lúc chánh  pháp của Như Lai sắp sửa diệt mất, số đông người giữ giới giảm bớt, số đông người  phạm giới tăng thêm, những vị thanh tịnh được giải thoát ấy thảy đều ẩn  náu, những người xuất gia nhận của cải không hợp pháp, nuôi dưỡng đầytớ. Đang lúc  ấy, trong bốn hạng người, nếu có một người xuất hiện ở đời tin rằng nhà mình không  phải là nhà, bèn xuất gia học đạo; người này cũng thị hiện nhận của cải phi  pháp và nuôi dưỡng đầy tớ giống như người kia, thế nhưng người này tự mình có  thể phân biệt đúng pháp và phi pháp, đúng luật và trái luật; biết người khác không  giữ giới hạnh, cũng biết bản thân mình đã phạm vào điều nhẹ hay nặng, có thể biết  Như Lai hành xử điều thích ứng, hiểu biết được thời tiết, nơi chốn, pháp  dụng. Khi tụng đọc chín bộ kinh điển của Như Lai, có người học tập và đọc tụng chín  bộ kinh điển mà phạm giới trái luật, tuy người này biết kẻ kia phạm tội nặng, song vì  việc hộ pháp nên phương tiện im lặng, chẳng nói lỗi của người kia, thế rồi tự khiêm  tốn theo người kia để nhận sự học tập, với lòng hộ pháp mà không hủy hoại điều gì.  Nên biết người này vì việc hộ pháp nên xuất hiện ở đời.
Này thiện nam! Ví như có đất nước nọ, nhà vua ở nước ấy qua đời, thái tử con vua còn  nhỏ dại yếu đuối nên chưa thể trị vì đất nước. Có một người dân dã dòng dõi  Chiên-đà-la, nhờ sức mạnh nên làm vua nước kia. Bấy giờ, các vị trưởng giả,  Bà-la-môn dấy lên sự suy nghĩ thế này, nay người Chiên-đà-la làm chủ lãnh đạo đất  nước này, duyên cớ gì chúng ta tới lui vâng thuận, họ bèn bỏ chạy trốn đến đất  nước khác. Vua Chiên-đà-la kia sai người đuổi theo, chặn con đường tắt của họ. Vua  Chiên-đà-la đánh trống ra lệnh, bảo những vị trưởng giả và Bà-la-
môn: “Các ngươi đừng bỏ đi, ta sẽ chia một nửa đất nước cho các ngươi cai trị”. Dân  chúng trong nước có người không bỏ chạy, vua lại nói: “Này các vị Bà-la-môn! Các ông  hãy bảo cho nhau biết lời nói của ta, bảy ngày sau, các hàng Bà-la-môn và những  người có học thức sẽ thiết lập đại hội cho vua Chiên-đà-la, các người nên cùng nhau  đi đến chỗ nhà vua, để cùng với vị quốc vương kia và hàng Chiên-đà-la là thân tộc  của vị vua ấy ăn uống và ngủ nghỉ. Nếu có một người không nghe theo lời chỉ bảo ấy,  ta sẽ trị tội gắt gao”. Vua lại còn nói: “Trong nhà ta có vị thuốc cam lộ của tầng  trời Ba Mươi Ba. Người nào ăn uống vị thuốc đó thì có thể khiến cho người ấy không  chết, lại có cách truyền lại cho nhau”.
Bấy giờ, có một vị Phạm chí tóc quấn chuyên tu tịnh hạnh, nghe chỉ giáo của nhà vua  xong, bèn đi đến chỗ vua, đem đầu mặt làm lễ dưới chân, rồi tâu vua: “Tâu đại vương!  Đại vương nên biết, người có thể làm điều bất nhẫn, tội ác lớn lao trong thiên hạ  thì người đó chính là tôi đây. Nhà vua nên ban quan tước bổng lộc cho tôi,  tôi có thể xướng lệnh”.
Tức thời, nhà vua đồng ý. Bấy giờ, người Phạm chí kia lập tức nhận chỉ thị của vua  rồi xướng lệnh ở trong nước. Khi ấy, các người Bà-la-môn trong đất nước thảy đều tức  giận và quở trách người đó, thế nhưng người Phạm chí ấy vẫn cùng với ông vua   kia trông coi việc nước. Mãi đến vào thời gian sau này, vị đại thần Phạm chí bèn  thưa với nhà vua: “Tôi và đại vương cùng nhau trông coi việc nước cho đến  ngày hôm nay, song đại vương vẫn chưa thể hiện sự tin cậy mà chẳng chỉ bảo cho tôi  học một pháp thuật”.
Vị vua nói với Phạm chí: “Từ từ ta sẽ dạy bảo ông học pháp thuật, nay  nhà ta có vị thuốc cam lộ của vị vua đời trước để lại, ta sẽ cùng ông dùng chung”. Tức thời, vua bèn lấy vị thuốc cam lộ này cùng bày cách thức sử dụng cho người  Phạm chí kia. Đại thần Phạm chí được vị cam lộ và phương pháp sử dụng này  rồi, bèn hòa thuốc với đồ ăn cho ông vua kia dùng. Nhà vua uống phương thuốc kia tức  thời qua đời. Khi ấy đại thần Phạm chí liền lập thái tử của Tiên vương lên nối ngôi  vua, ông vẫn hộ trì Tiên vương dùng chánh pháp để giáo hóa cai trị. Như thế, đại   thần
  Phạm chí không vứt bỏ phép tắc Bà-la-môn mà tập quen theo phép tắc của hạng  Chiên-đà-la, cho nên vị Phạm chí tu hành theo hạnh nghiệp cứu giúp của Bồ-tát. Dân  chúng ở trong cõi nước khen ngợi: “Quý hóa thay! Người Bà-la-môn này hộ trì phép tắc  của nhà vua”.
Bấy giờ, vị Bồ-tát vì việc giữ gìn chánh pháp nên làm người Bà- la-môn, tạo tác  các phương tiện, vị ấy lập người con của nhà vua kia để làm vua trong nước, mọi người  ở bên trong và bên ngoài cung điện cho đến các vị quan lớn đều tiếp nhận chánh pháp,  còn vợ con quyến thuộc của vua Chiên-đà-la đều cho uống thuốc độc khiến cho họ mê  say, rồi sau mới đuổi họ ra khỏi nước. Đại Bồ-tát cũng như vậy, thị hiện tướng Phạm  giới, nuôi dưỡng nô tỳ, tiếp nhận của cải không hợp pháp, rồi Bồ-tát đi đến chỗ  Tỳ-kheo xấu ác phạm giới kia để phụng sự, học tập, viết chép kinh của Tỳ-kheo đó.  Viết chép kinh xong, vị ấy chuyển đến dạy dỗ cho người giữ giới, cùng với kẻ xấu ác  kia ngủ nghỉ, tiếp đãi ăn uống, tự tay làm thức ăn, không cho người khác làm thức  ăn, vì việc hộ trì chánh pháp bèn làm phương tiện, đem các sự việc của tám loại phi  pháp mà hàng phục họ khiến cho họ mê say, lại chẳng cùng với người kia hòa hợp tự  tứ và bố-tát. Hàng phục hết thảy những người phạm giới là cùng với các chúng thanh  tịnh hòa hợp làm phép bố-tát và tự tứ, đem thuật pháp Ma-ha-diễn Phương đẳng nói  rộng rãi cho mọi người yên ổn, tế độ vô lượng chúng sinh, đó là Bồ-tát hộ   trì chánh pháp, Ta vì những hạng người ấy mà nói bài kệ này.   Nếu có hàng Tỳ-kheo nghe điều  Ta giảng nói, họ không có tâm hộ pháp, nhưng muốn  phương tiện bắt chước vị Bồ-tát kia, khởi lên các lỗi lầm, là điều Phật chẳng cho  phép. Họ tự nói mình là Bồ-tát, mà thực ra họ khoan hồng dung túng người làm chuyện  xấu ác lỗi lầm, Ta nói những kẻ ấy là hạng người biếng nhác. Giáo pháp phương tiện  bí mật tinh tế này của Ta là vì Bồ-tát hộ pháp, nên Ta nói bài kệ này:
Nếu người biết chánh pháp
Chẳng hỏi họ lớn bé
Hết lòng thêm cúng dường
Như phép người thờ lửa.
Nếu người biết phápấy
Chẳng hỏi họ lớn bé
Hết lòng cung kính lễ 
Như trời thờ Đế thích.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Như thế, Bồ-tát kiêu mạn, phóng túng, lười biếng, thì đối  với giới Cụ túc, vị ấy được thanh tịnh hay không?
Phật bảo Ca-diếp:
–Thiện nam! Người thọ giới Cụ túc kia nếu biết sám hối thì nên nói họ là người thanh  tịnh. Thiện nam! Ví như bờ đê bị phá vỡ thì nước giữ ở bờ đê chảy ra. Vì sao? Vì   người chẳng ân cần sửa sang. Thế nhưng, này thiện nam! Bờ đê bị phá vỡ thì sửa  sang lại, nước trong bờ ao ấy chảy trở lại; người biếng nhác kia cũng như thế, đối  với giới Cụ túc, bố-tát, tự tứ bị phá vỡ, nước giới pháp tuôn chảy ra. Vì sao? Vì  sự siêng năng giảm bớt, sự biếng nhác tăng thêm, nhưng giới hạnh của vị Tỳ-kheo ấy  giảm bớt cần phải sửa chữa lại. Từ chỗ của các vị Bồ-tát hộ pháp kia, họ gắng  sức sửa đổi và sám hối khiến cho được thanh tịnh.
Ca-diếp bạch Phật:
–Giống như điều Thế Tôn nói trong kinh với ví dụ quả A-ma-lặc; việc giữ giới, phạm  giới, tướng của chúng khó thể biết được, phải phân biệt thế nào?
Phật bảo Ca-diếp:
–Thiện nam! Sự giữ giới và phạm giới, muốn biết tướng của chúng thì phải  dựa vào kinh Đại Bát Nê Hoàn mới có thể khéo phân biệt. Thiện nam! Ví như người làm  ruộng gieo trồng năm loài cây có hạt dùng để ăn, nhổ bỏ cỏ dại rậm rạp thì gọi là  thửa ruộng sạch. Vì có giống cỏ kê in hệt mầm lúa tốt tươi, đến khi giống cỏ ấy đơm  quả thì cỏ và lúa mỗi thứ khác nhau, rồi sau đó mới biết có sự phân biệt giữa chân  và ngụy. Bồ-tát hộ pháp cũng như thế, phương pháp sửa sang thửa ruộng tu  tập, trước tiên trừ bỏ tám thứ hành động thô ác tội lỗi, diệt trừ lỗi lầm thô ác  xong thì gọi là chúng Tăng có con mắt thịt thanh tịnh, ruộng phước tươi tốt hơn cả cho  đến quả vị bậc Thánh. Ngoài vị Tăng mắt thịt ra thì gọi là Tăng thanh tịnh, chỉ cần  trừ bỏ tám thứ lỗi lầm lớn lao như rắn độc, thì gọi là chúng Tăng có ruộng phước  tốt hơn cả. Tuy chưa hoàn toàn thanh tịnh, nhưng đã là chỗ của hàng trời và người  cúng dường, là thửa ruộng phước tốt tươi, huống chi kết cục lại thành tựu
    diệu quả Hiền thánh và ruộng phước thanh tịnh, vượt ra khỏi sự biểu hiện của con mắt  thịt kia trông thấy.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như trong nước có hai cây ăn quả, một cây gọi là Ca-lưu,  cây thứ hai gọi là Triêm-mâu. Cây Ca-lưu là thứ cây ra quả đắng, cây Triêm-mâu là  loại cây ra quả ngọt, hình dáng hoa lá, trái cây na ná như nhau. Có người không nhận  biết bèn hái lẫn lộn những quả ấy, đem ra chợ bán, người ăn chúng bị chết rất  nhiều. Bấy giờ, có người trí tuệ nghi ngờ đó là quả độc, bèn đi đến hỏi thăm người  bán: “Các ông hái quả này ở đâu mà mang đến đây”. Người kia trả lời: “Ở vùng đất  nọ”. Người có trí bèn nói với người kia: “Đây ắt hẳn là có quả độc lẫn lộn, cho  nên giết chết nhiều người, ông nên mau mau vứt bỏ nó đi”. Như thế, này thiện nam! Vị  Tăng biếng nhác thành tựu tám việc ác, cùng lúc có người giữ giới ở trong số đó,  giống như quả ngọt kia ở trong rừng cây độc hại. Bồ-tát hộ pháp dạy bảo  khiến cho số Tăng ác bỏ đi, không bảo những hạng đệ tử có lòng tin lễ lạy, cúng  dường, cung kính, gần gũi, để bị cắt đứt gốc rễ tuệ mạng, rơi vào trong địa ngục. Cho  nên, những hạng Ưu-bà-tắc có lòng tin nên khéo phân biệt, đừng thấy hình dạng áo  quần rồi liền làm quen và gần gũi nhau, phải nên hỏi để biết rõ người kia  được thành tựu tám thứ pháp hay không? Việc tự tứ và bố-tát được hòa hợp hay  không? Hoặc giả người kia đã xa lìa tám thứ pháp xấu ác, những hạng Tăng như thế,  Thế Tôn cũng thu nhận, vì xót thương chúng sinh. Ở rừng Kỳ-hoàn các vị ấy cùng  hòa hợp nhau như tích tụ vàng thật, nên biết hạng người ấy hãy nên cúng dường. Nếu  nói rằng không thu nhận, không cùng hòa hợp bố-tát, tự tứ, nên biết hạng người ấy  không phải là người đáng được hàng trời và người cúng dường, các Tỳ-kheo ấy không  nhận lời cùng bố-tát và tự tứ chung với họ, nếu họ hỏi thăm vẫn không thể biết,  hãy nên dựa vào khế kinh chân thật của Như Lai mà phân biệt. Nếu như người phàm phu  ngu si không khéo phân biệt mà bèn cung kính, cúng dường bố thí đồ cần dùng, cùng  với người kia gần gũi tập quen nhau, Ta nói hạng người ấy sẽ rơi vào con đường ác.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như núi Tuyết có cây thuốc tốt và ngọt, khi ấy các  người buôn bán cùng nhau lấy các cây thuốc rồi đi các nơi để bán. Bấy giờ, có một  người không nhận biết các cây thuốc, mới
hỏi những lái buôn kia: “Các ông có loại cỏ thuốc ngọt mọc ở núi Tuyết hay không?”.  Những người kia trả lời: “Chúng tôi có thứ thuốc ấy”. Người ấy liền nghe theo và đòi  mua thứ thuốc ấy, thế nhưng, người buôn kia lại giao cho người mua món thuốc đắng.  Người mua thuốc ấy mong cầu vị thuốc ngọt, trái lại mua nhằm vị thuốc đắng. Mọi người  thanh tịnh giống như thuốc ở núi Tuyết, cùng với hạng Tỳ-kheo phạm giới biếng nhác kia  mà hòa hợp chung, kẻ có lòng tin ấy cúng dường, lễ bái, phụng sự, nên biết đó là  hạng người phàm phu mắt thịt, giống như người kia không nhận biết vị thuốc ngọt, sự  thanh tịnh hay phạm giới, tướng của chúng khó thể biết được, mắt thịt của kẻ phàm phu  không thể nào phân biệt, chỉ có thiên nhãn mới có thể phân biệt mà biết. Cho nên  người có đủ tám thứ pháp ác, tuy rằng mặc pháp phục ca-sa, song không nên nhận sự  lễ lạy cúng dường của người khác. Nếu có năng lực sửa đổi ăn năn, trừ bỏ tám thứ  lỗi lầm, thì gọi là vị Tăng thanh tịnh.
Ca-diếp bạch Phật:
–Quý hóa thay! Quý hóa thay! Bạch Thế Tôn! Thế Tôn giảng nói pháp này một cách  chắc chắn, con sẽ đảnh lễ thọ trì món báu kim cương ấy.
Bấy giờ, Ca-diếp lại bạch Phật:
–Như lời Thế Tôn nói, Thế Tôn đã bảo cho các Tỳ-kheo biết có bốn pháp để dựa vào.  Những gì là bốn pháp nương tựa? Y theo pháp chẳng y theo người, y theo lời nói quyết  định chứ không y theo lời nói chưa quyết định, dựa theo trí tuệ chứ chẳng dựa  vào thức, dựa vào nghĩa chứ không nương theo văn tự. Chúng con tin tưởng đây là bốn  thứ để dựa vào, chứ không tin bốn hạng người là chỗ nương tựa chân thật. Phật bảo Ca-diếp:
–Những điều đó gọi là pháp, chính là sự Đại Bát-nê-hoàn của Như Lai, tất cả chư  Phật đều cùng pháp này. Chư Phật Như Lai đạt được pháp này rồi, đó là pháp thường  trú không thay đổi, không phải pháp phai mờ tiêu diệt. Nếu người nào dấy lên ý nghĩ  vô thường đối với Như Lai, thì Ta nói hạng người này không phải là người biết pháp,  là người không thể tin cậy. Như Ta đã nói bốn hạng người ấy khéo hiểu
rõ giáo pháp bí mật phương tiện của Như Lai. Họ biết các Đức Như Lai là pháp thường  trụ, không phải pháp biến đổi, không phải pháp phai mờ tiêu diệt. Chư Phật Như Lai  cũng lại ở tại những người kia, trong số bốn hạng người và các chúng sinh  khác. Đối với giáo pháp bí mật phương tiện của Như Lai thường trú, người nào  khéo hiểu rõ nghĩa ấy, Ta nói hạng người ấy là nơi nương dựa căn bản, nên biết có  thể tin tưởng, vì ý nghĩa ấy nên Ta nói bốn hạng người là chỗ nương dựa chân thật.
Nương dựa vào pháp, nghĩa là các hàng Thanh văn ấy có trí tuệ và đạo đức lớn, ở  trong chánh pháp tâm họ chẳng lầm lẫn sơ hở. Chánh pháp ấy là Như Lai thường trú,  đối với chánh pháp này là phương tiện siêng năng, gọi là nương theo pháp. Chẳng y  theo người là, nếu cho rằng người này phạm giới, tham lam vẩn đục, lại nói Như Lai là  pháp vô thường, người kia không phải là kẻ đáng tin, cho nên Ta nói không nương theo  người mà nương theo nghĩa quyết định. Nghĩa quyết định chính là Bồ-tát. Các hàng Thanh  văn đối với giáo pháp bí mật phương tiện của Như Lai này, họ nghi hoặc, không tin  tưởng. Biển trí Đại thừa khiến cho họ quyết định lìa khỏi các sự nghi hoặc. Lại nữa,  quyết định chính là trí Đại thừa, mãi mãi lìa khỏi các sự ngăn ngại. Ngăn ngại là  trí của hàng Thanh văn, các Bồ-tát ấy có thể lấy trí tuệ Đại thừa quyết định để  hiểu rõ các Đức Như Lai là pháp thường trụ. Do đó lời của Bồ- tát nói là đáng tin  cậy. Chưa quyết định chính là trí của hàng Thanh văn, họ nói rằng, thân uế thực của  các Như Lai khi vào Nê-hoàn thì diệt hết, ví như lửa tắt thì không thể tin. Sở dĩ Như  Lai nói những kinh này là vì phương tiện giáo hóa, như các hạng chúng sinh mê hoặc hai  đạo. Trí của hàng Thanh văn chính là hữu dư, là không quyết định, cho nên các Thanh văn  gọi là số không quyết định, vì trí tuệ kia không hiểu rõ lời nói của đấng tôn  quý Đại Thánh Như Lai, cho nên nói hạng người kia là người không thể tin.  Do đó, Phật nói nghĩa quyết định chính là bốn chỗ nương dựa thật sự, nương dựa  vào trí tuệ. Trí tuệ ấy tức là pháp thân Như Lai đáng tin, còn thân phương tiện là  chẳng đáng tin. Tại sao chỉ cần thấy thân phương tiện của Như Lai xong, rồi nói thật có  ấm, giới và các nhập, nếu thân ấy không có, thành ra thân ấy từ đâu đến, mà nay  hiện có xá-lợi tích tụ, vì có xá-lợi hiện ra ở đời  nên
gọi pháp thân ấy là thân uế thực, dấy lên sự suy nghĩ xằng bậy ấy, vì nguyên cớ  đó mà sự nhận biết không đáng tin, sự nhận thức không đáng tin nên dấy  lên thức tưởng, nên biết người ấy cũng là người không đáng tin.
Nương dựa vào nghĩa, nghĩa là chính nghĩa, chính là nghĩa đầy đủ, đầy đủ là nghĩa không  tiêu giảm, không tiêu giảm là nghĩa thường của Như Lai, thường của Như Lai là nghĩa  thường pháp, thường pháp ấy là nghĩa thường của chúng Tăng, đó chính là Đức Phật  nói, gọi là nghĩa nương dựa theo. Nếu có hạng phàm phu dua nịnh quanh co, được nhờ lòng  từ của Như Lai che chở, người ấy xuất gia học đạo rồi bèn biếng nhác, buông bỏ giới  cấm, người ấy nói rằng, Đức Phật cho phép ta thu nhận nuôi dưỡng đầy tớ và cất giữ  những của cải phi pháp. Hoặc lúc mất mùa đói kém, người ấy nói rằng, các đệ tử  của ta chớ tự chịu khốn khổ, ta để mặc cho họ thu nhận nuôi dưỡng đầy tớ, tiền tài,  vàng bạc, của báu, bò ngựa, gạo thóc, mua bán kiếm lời. Người kia nói ra đủ thứ văn  từ như thế, nếu nói kinh luật đều chẳng đáng tin, kẻ tin lời nói ấy, nên biết kẻ  đó cũng là người không đáng tin. Vì nghĩa ấy nên nói là y theo nghĩa. Phi nghĩa ấy là  nói rằng, ba pháp này đều là vô thường, biến đổi phai mờ tiêu diệt, đó gọi là phi  nghĩa, đó gọi là văn tự. Cho nên nói rằng, dựa theo nghĩa chứ không dựa theo văn tự.  Cho dù kinh nghĩa của ngoại đạo nói mà phù hợp với Ma-ha-diễn, thì đó đều là việc  có thể tin, không phải là văn tự. Cho nên bốn pháp để dựa vào, cho đến kể ra bốn  hạng người mắt thịt là chỗ nương tựa chân thật. Thiện nam! Đó là bốn thứ nương dựa  theo, ông phải nên học như thế.
??
 Phẩm 10: PHÂN BIỆT TÀ CHÁNH
 Phật bảo Ca-diếp:
–Có bốn pháp: Có ma nói kinh, có Phật nói kinh, có các chúng sinh theo lời dạy của  ma, có các chúng sinh theo lời dạy của Phật.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Con phải phân biệt thế nào mà biết được, con mong muốn được nghe điều  đó.
Phật bảo Ca-diếp:
–Thiện nam! Bảy trăm năm sau khi Ta nhập Nê-hoàn, giáo pháp của Như Lai từ đây sẽ  tiêu diệt dần dần, loài ma làm Tỳ-kheo để phá hoại và làm rối loạn chánh pháp,  làm tướng thợ săn mà tự mình che giấu, chúng làm ra dáng vẻ Tỳ-kheo, dáng vẻ  Tỳ-kheo-ni; làm ra dáng vẻ Ưu-bà-tắc, dáng vẻ Ưu-bà-di; làm ra dáng vẻ Tu-đà-hoàn,  dáng vẻ Tư-đà-hàm; làm ra dáng vẻ A-na-hàm, dáng vẻ A-la-hán, cho đến chúng  làm ra dáng vẻ Phật, loài ma Ba-tuần ấy làm ra dáng xa lìa tướng thế tục  nhưng thực hành pháp thế tục, chúng phá hoại và gây rối loạn giáo pháp của Ta. Ma  Ba-tuần nói: “Như Lai ẩn mất từ cõi trời Đâu-suất, giáng thần xuống nhà của vua Tịnh  Phạm, phu nhân Ma-da hòa hợp sự ái dục rồi từ đó Ngài mới được sinh ra. Nếu người  nào nói rằng, Như Lai không từ ái dục sinh ra, lẽ nào có lý đó. Cùng pháp nhân gian  như nhau, nhưng lại được chư Thiên, người đời và A-tu-la cung kính cúng dường. Vì sao? Vì  vị ấy gieo trồng mọi cội rễ đức hạnh từ nhiều kiếp trước, vợ con và các thứ thuộc  tự thân, vị ấy đều bố thí cho người, cho nên được làm Phật”. Với tướng mạo như thế,  ông nên biết rằng, đó là kinh luật của ma nói. Vì sao? Vì việc giáo hóa chúng sinh  nên Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác mới xuất hiện ở đời, không phải vì sự tích tập  ái dục của cha mẹ mình rồi từ đó Như Lai mới sinh ra. Ta thị hiện tướng hạnh này là  thuận theo thế gian. Với tướng mạo như thế, nên biết đó là kinh luật của Phật nói. Nếu có chúng sinh tin thọ kinh luật của ma, nên biết hạng người ấy là thuận theo lời  dạy của ma. Nếu chúng sinh ấy tin thọ kinh luật do Như Lai nói, nên biết người ấy là  Bồ-tát.
Ma lại còn nói, Như Lai sinh ra ở đời rồi hướng về khắp mười phương, mỗi phương đi bảy  bước. Không phải vì sự thị hiện mà người bảo rằng thị hiện, đó là điều không đáng  tin. Những kinh luật như thế, nên biết đó là ma nói. Nếu nói rằng, khi Như Lai mới ra  đời, hướng về khắp mời phương, mỗi phương đi bảy bước, đó là Như Lai phương tiện thị  hiện. Những kinh luật như thế, qua đó biết là do Phật nói. Tin theo kinh luật của ma  nói, nên biết hạng người ấy là thuận theo lời dạy của ma. Tin theo kinh luật do Phật  nói, nên biết người ấy là Bồ-tát.
Ma lại còn nói, Như Lai đi đến miếu thờ trời rồi cung kính lễ bái,
chứ không phải là thiên thần lễ bái Bồ-tát. Vì sao? Vì thiên thần ở  trước, Như Lai ở sau. Nên biết như thế là kinh luật của ma nói. Như Lai phương tiện thị  hiện đi vào miếu thờ trời, chư Thiên, Đế thích, Phạm vương thảy đều cung kính làm lễ  và hầu hạ Bồ-tát. Tướng mạo như thế là lời nói của Như Lai. Tin theo kinh luật do  ma nói, nên biết hạng người ấy là thuận theo lời dạy của ma. Tin theo kinh luật do  Phật nói, nên biết người ấy là Bồ-tát.
Ma lại còn nói, Như Lai làm Thái tử con vua, tự vui thú năm thứ dục với người trong  cung và gái đẹp hầu hạ, nên biết đó là kinh luậtdo ma nói. Có người nói rằng, Đức  Như Lai kia hiện giờ ở thâm cung, vui vẻ với gái đẹp hầu hạ trong cung, vị ấy bỏ nhà  để đi học đạo giống như nhổ bỏ nước bọt. Nói như thế, nên biết ấy là kinh luật của  Như Lai. Tin theo kinh luật do ma nói, nên biết hạng người ấy là thuận theo lời dạy của  ma. Tin theo kinh luật do Phật nói, nên biết người ấy là Bồ-tát.
Ma lại còn nói, Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác, ở tại rừng cây của thái tử Kỳ  Đà, vườn của ông Cấp Cô Độc, thu nhận và cất giữ tiền tài, vàng bạc, vật báu;  nuôi dưỡng nô tỳ, voi, ngựa, bò, dê, gà, chó, mèo, chồn, khỉ, chuột; cất chứa đồng,  sắt, lưu ly, chân châu, ngọc kha, vàng, bạc, ngọc báu, san hô, hổ phách; đủ mọi thứ  đồ vật tạp nhạp, đủ mọi thứ nhà ở đất ruộng, đủ các thứ buôn bán; nuôi dưỡng con  trai, con gái, gom góp cất giữ thóc gạo. Những việc làm như vậy là vì thương xót thế  gian, cho nên thảy đều thu nhận. Những việc đại loại giống như thế, nên biết đó là  lời nói của ma.
Như Lai Ứng Đẳng Chánh Giác xót thương hết thảy mọi loài chúng sinh, Ngài  trú ở rừng Na-la, rồi nói cho vị Bà-la-môn Di-la-kỳ-la và vua Ba-tư-nặc: Này đại vương!  Các đệ tử của ta thu nhận đồ vật phi pháp, đâu có lẽ đó. Nếu như họ cất chứa vàng  bạc, nuôi dưỡng nô tỳ, voi, ngựa, trâu, dê, gà, chó, mèo, chồn, sóc, chuột; cất  giữ đồng, sắt, lưu ly, vàng, bạc, chân châu, ngọc kha, đá ngọc, san hô, hổ phách,  các thứ đồ vật tạp nhạp, đủ thứ nhà ở ruộng đồng, đủ thứ buôn bán; nuôi dưỡng  con trai, con gái, gom chứa thóc gạo. Tự mình nấu chín, bảo người khác nấu  chín, học xem tướng, học chú, học tiếng hót của các loài chim, suy tính năm tháng  ngày giờ, khi thịnh khi suy, nhật thực nguyệt thực; ngẩng xem lịch số; học kết vòng hoa,  học nghề làm mộc
tinh xảo; học sách bói mộng, học sáu mươi tư nghề, uống các thuốc tiêu hóa thức ăn  và trị môi răng; đeo tràng hoa, xoa hương thơm vào mình; dua nịnh quanh co, đi bách bộ,  hiện ra tướng biết đủ nhưng thực sự cầu không biết chán; nói chuyện cười đùa, tham  mùi vị đồ ăn thức uống, món ăn ngon bằng thịt và cá; hòa hợp các loại thuốc độc,  hòa hợp các loại dầu thơm, làm các dụng cụ âm nhạc, giầy da, dù lọng; mở nhà làm  tre nứa, xưởng dệt, chạm trổ, vẽ tranh, thêu hoa văn, uống đủ thứ thuốc,  hòa hợp các mùi thơm; bắt chước điệu bộ nói năng chuyện trò, đứng dậy, ngồi xuống,  nói cười, vui vẻ, yên lặng của nhà vua; học theo kiểu cách trang điểm, làm đồ  trang sức, vòng hoa của nữ nhân; bắt chước nói năng trêu ghẹo, mặc áo quần có  nhiều màu lẫn lộn; tạo ra nhà cửa lầu gác, đi vào chỗ hội họp nơi quán rượu và  chốn lầu xanh, đủ mọi thứ tài vật phi pháp như thế, hoặc làm, hoặc nhận, hoặc nắm  giữ, hay đem cho người khác. Như thế, thưa đại vương! Các sự việc đạiloại ấy là điều  Như Lai không cho phép. Vì sao? Vì những việc phi pháp này giống như loài cỏ dại  làm hại mầm lúa tốt tươi, phải xử lý trừng phạt nghiêm khắc và đuổi họ ra  khỏi đạo.
Người nào nói như thế, nên biết đó là nói theo kinh luật của Như Lai. Tin theo kinh  luật do ma nói, nên biết hạng người này là thuận theo lời dạy của ma. Tin theo kinh  luật do Phật nói, nên biết đó là Bồ- tát.
Ma lại còn nói, Như Lai chẳng thể nào thị hiện vào nơi miếu trời, cũng lại không thể  hàng phục được các hàng trời người kia. Vị ấy cũng lại không thể nào xuất gia ở  trong chín mươi sáu thứ đạo giáo, không thể hiện kiếp thành bại, không học tất  cả các cách thức chữa bệnh, cũng không thể hiện ra thành người đầy tớ để sai  khiến, con trai, con gái, cây thuốc, hoặc là đại thần của nhà vua. Nếu như Đức Như Lai  làm những sự việc ấy thì chẳng phải là Như Lai, đó là hạng tà kiến. Như Lai bình  đẳng trong cách xử sự giữa người đến xoa hương và người chặt đứt tay mình,   không có sự oán giận, không có sự yêu thương, cũng không có sự việc này.  Với tướng mạo như thế, nên biết đó là kinh luật của ma nói.
Như Lai thị hiện đi vào tất cả các miếu thiên thần, ở chín mươi sáu thứ đạo mà thị  hiện xuất gia, hiện kiếp thành bại, đi vào các trường
 để học sách về chú thuật, thị hiện làm người đầy tớ bị sai khiến, làm con trai, làm   con gái, hoặc làm cỏ thuốc, quốc vương, quan lớn; thị hiện vào nhà thổ; hoặc  làm vị trưởng giả, cư sĩ, Phạm chí, con trai con gái nghèo túng cho đến các hạng người  chẳng thành nam tính. Thị hiện đủ mọi thứ để giáo hóa rộng khắp cả hai mươi lăm cõi,  mà không bị mê hoặc rối loạn bởi từng loại biến hiện kia, giống như hoa sen không  dính mắc nước đục, bụi bặm, nên biết Như Lai vì việc hóa độ các chúng  sinh, cho nên thuận theo thế gian. Với tướng mạo như thế, nên biết đó là kinh luật  của Như Lai nói ra. Theo kinh luật của ma nói rồi tin tưởng, nên biết hạng người ấy  là tùy thuận ma giáo. Theo kinh luật của Phật nói mà tin tưởng, nên biết đó là  Bồ-tát.
Nói rằng kinh luật của Ta, điều mà Thế Tôn nói ra là tội, là ác, là nhẹ, là nặng,  đó gọi là thô tội, đó gọi là tính tội, đó gọi là chế tội. Giới luật của Ta nói  là chân thật như thế ấy, ông nói là thật, chẳng lẽ bỏ lời nói của Ta mà chọn lấy  lời nói của ông chăng? Ông nói luật này là luận bàn thế tục chăng? Kinh luật này  của Ta là chín bộ khế kinh do Như Lai nói đã được niêm phong ấn chứng xong, trong chín  bộ kinh ấn chứng, Ta chưa từng nghe có âm thanh của một câu, một chữ, vài lời trong  kinh Phương Đẳng. Như Lai nói kinh có mười bộ chăng? Bộ của kinh Phương Đẳng ấy là vô  lượng, nên biết đều là do Điều-đạt làm ra, phá loại tất cả nghĩa mà nói ra lời hư  dối, nói rằng kinh Phương Đẳng vượt ra ý nghĩ mà tạo ra xằng bậy là điều ta không  tin.
Phật bảo Ca-diếp:
–Người nào nói như thế là làm rối loạn pháp giáo của Ta, phỉ báng khế kinh Phương  Đẳng của Như Lai. Người nào nói như thế, nên biết đó là kinh luật của ma nói. Về  đời sau này có hạng người như thế, ai nấy đều tự nói rằng, ta có kinh luật, rồi cùng  tranh luận chung với kinh luật tà thuyết. Đối với chín bộ kinh, có các Tỳ-kheo tỏ ra  biết Ta nói riêng kinh lớn Phương Đẳng Ma-ha-diễn này, họ có lòng tin và  hướng về. Đối với giới luật, các vị ấy không dính mắc vào tà kiến, thảy đều có  thể lìa bỏ uy nghi bất tịnh. Đối với pháp luật của Ta thì họ thanh tịnh đầy  đủ, dường như vầng trăng tròn, họ biết từng kinh điển một, từng pháp luật, từng  giới hạnh một, số ấy nhiều như cát sông Hằng, không thể nào nói và đếm xuể.  Nghĩa lý chân thật, nghĩa lý của
  mọi thứ đều là do Phật nói. Nếu ai nói rằng, kinh luật của Ta không có giới ấy, nên  biết đó là giới không phải do Phật nói. Người nào nói rằng, Ta hạn chế số người  giữ giới này, nên biết hạng người như thế chính là người phạm giới. Nếu có kinh nói  rằng, sự ít ham muốn và giữ trai giới thanh tịnh là phù hợp với lời Phật, nên biết  nghĩa này đều là những điều Ta nói rõ trong kinh Ma-ha-diễn.
Nếu nói rằng Như Lai yên ổn cứu giúp và độ thoát tất cả chúng sinh, cho nên nói như  thế này là kinh Phương Đẳng Đại Thừa Nê Hoàn, nên biết hạng người này quả là  đệ tử của Ta. Nếu có người nào nói khác điều đó, thì Ta không phải là thầy  của kẻ kia, kẻ kia không xuất gia học đạo ở chỗ của Ta, họ đều là đệ tử của kẻ  ngoại đạo tà kiến. Với tướng mạo như thế, nên biết đó là kinh luật của Phật nói.  Người nào tin theo kinh luật của ma nói, nên biết hạng người này là đi theo ma giáo.  Nếu người nào đối với kinh luật của Như Lai nói, thuận theo rồi có niềm tin, nên  biết đó là Bồ-tát.
Như Lai thành tựu vô lượng công đức, chứng đắc tuệ không, vô, Ngài nói khổ, không,  vô ngã cho chúng sinh. Nay vì sự vô thường nên đã vào Nê-hoàn, cũng chẳng thị hiện  tùy thuận thế gian. Người nào nói như thế, nên biết là ma giáo.
Nên biết Như Lai không thể nghĩ bàn, thành tựu vô lượng vô số công đức, là Phật Thế  Tôn, chính là pháp thường trụ, không phải pháp thay đổi. Tất cả không phải là giống  như chặt ngang cây Đa-la, thế mà Thế Tôn nói bốn pháp không thể độ thoát giống như  chặt ngang cây Đa-la. Thế Tôn lại nói từng pháp không thể độ thoát dường như chẻ đá,  nói pháp hơn người là về hạng vô gián, pháp hơn người ấy là người chưa chứng đắc  Thánh quả mà nói mình đã chứng đắc.
Có một Tỳ-kheo ít muốn biết đủ, lại còn hiểu biết rộng. Nếu nhà vua, quan lớn và  người đời trông thấy vị ấy, thì họ đều cung kính, rồi nói bài kệ khen ngợi Tỳ-kheo kia  đủ mọi thứ công đức. Mọi người nói Tôn giả đó bỏ thân này xong sẽ thành Phật đạo.  Tỳ-kheo nghe họ khen xong, bèn nói lời thế này: “Đối với người chưa đạt được quả vị,  các ông đừng đem đạo quả để khen ngợi. Hễ là danh tự thì có nhiều sự ham muốn, đó  là điều Phật không cho phép. Các ông hãy im lặng, đừng trọn đời làm người  ưa thích pháp của ta mà gây ra danh tự  nhiều
sự ham muốn, chưa đạt được đạo quả, ta tự biết việc đó”. Thế nhưng, vị quốc vương và  các đại thần kia nói với Tỳ-kheo: “Thưa Tôn giả! Nay cả thế giới đều nghe tin Tôn  giả chính là Phật, mọi người đều theo Tôn giả để học kinh luật và ký luận”. Nên  biết nhà vua và những ông quan lớn kia làm kệ tụng khen ngợi công đức vô lượng, nhưng  mà Tỳ- kheo kia vẫn tu trì phạm hạnh, không có điều gì vi phạm. Không phải vì việc  không giải thoát cũng chẳng phạm mà vị ấy tự xưng mình đạt được pháp hơn người.
Lại có Tỳ-kheo giảng nói kinh Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng: “Tất cả chúng sinh đều có  Phật tánh, là do ở trong thân, vô lượng phiền não đều trừ diệt xong, Phật liền hiện  ra rõ ràng, trừ hạng Nhất-xiển- đề”. Bấy giờ, có vị quốc vương và các đại thần hỏi  Tỳ-kheo: “Ông sẽ làm Phật hay không làm Phật? Trong thân các ông đều có Phật tánh?”.  Tỳ-kheo kia nói: “Chẳng biết tôi sẽ được làm Phật hay không, nhưng thật ra trong thân  tôi có Phật tánh”. Các người kia lại nói với Tỳ-kheo: “Nay ông đừng làm hạng  Nhất-xiển-đề, mà tự mình tính toán ta sẽ làm Phật”. Tỳ-kheo nói: “Vâng, chỉ cần trong  thân ta có Phật tánh thật sự”. Tỳ-kheo kia tuy nói lời này, nhưng không phải là người  tự xưng mình đạt được pháp hơn người, vì thật ra có Phật tánh, do bố thí, trì giới phát  sinh.
Lại có Tỳ-kheo dấy lên sự suy nghĩ thế này: “Ta sẽ thành Phật, quyết định không nghi  ngờ”. Suy nghĩ như thế tuy rằng chưa đạt được đạo quả, song phước của vị ấy vô lượng.  Do ý nghĩa ấy, tất cả hàng Tỳ- kheo đều cần phải tu hành pháp suy nghĩ như thế. Vì sao?  Vì tám mươi ức pháp chẳng thanh tịnh từ đây được lìa bỏ, sự thanh tịnh ít ham muốn đều  được thành tựu, chân tánh Như Lai do pháp này mà hiện ra rõ ràng. Đến khi  đạt được trăm ngàn các pháp chứa cất châu báu, Đức Thế Tôn vì lòng đại bi mà nói  thế này: “Tướng mạo như vậy, nên biết đó là kinh luật do Như Lai nói”. Người nào tin  theo kinh luật của ma nói, nên biết hạng người ấy là đi theo ma giáo. Người nào tin  theo kinh luật của Phật nói, nên biết đó là Bồ-tát.
Lại nữa, ma còn nói rằng, cũng không có bốn tội đọa, mười ba tăng tàn, ba mươi pháp  xả, chín mươi mốt pháp đọa, nhiều chúng học pháp, bốn pháp hối lỗi, hai pháp bất  định, bảy cách diệt bỏ sự tranh
cãi; không có tội sai trái vượt qua giới luật, cũng không có tội thô; cũng không  có năm tội nghịch, không có sự chê bai kinh pháp; không có hạng  Nhất-xiển-đề, cũng không có quả báo đọa vào trong địa ngục khi phạm các giới này;  các vị Tỳ-kheo và người ngoại đạo ấy đều sẽ sinh lên cõi trời, thế nhưng Phật Thế  Tôn vì sự khủng bố mọi người nên nói giới luật này. Nếu người nào muốn hưởng thú  vui tột bực trong đời một cách thỏa thích, thì hãy nên bỏ pháp phục mà trở lại hưởng  thụ năm dục, chán năm dục xong thì ăn năn hối lỗi rồi tu tập điều thiện. Như Lai còn  ở đời cũng có hạng Tỳ-kheo quen theo sự hưởng thụ năm dục được sinh lên cõi trời,  cũng được giải thoát. Xưa và nay có việc đó, không phải một mình ta bịa đặt, người  phạm bốn pháp đọa, cho đến năm giới cấm và tất cả các luật nghi bất tịnh, thu nhận  tài vật phi pháp đều được giải thoát. Nếu người nào nói lời như thế thì phạm tội sai  trái vượt qua Tỳ-ni, sẽ đọa trong địa ngục tám vạn bốn ngàn năm, theo đúng  cách tính ngày tháng năm ở cõi trời Đao-lợi, tội báo thuộc các thiên còn lại khác  nhau, giảm sụt, nhẹ nặng, đó là lời nói lừa bịp dối trá của các luật sư, giả xưng  lời Phật dạy là điều không đáng tin. Tướng mạo như thế, nên biết đó là kinh luật do  ma nói, tội vượt qua Tỳ-ni rất là vi tế. Nếu có Tỳ-kheo phạm từng mỗi luật nghi vi  tế này, biết mà che giấu giống như con rùa rụt cả sáu chi lại, nên biết đó là hạng  người không thể gần gũi thân quen, giống như bài kệ của ta nói:
Nếu phạm tội vi tế 
Người nói dối im lặng 
Không kể vào đời sau
Không ác nào chẳng làm,
Những việc ấy đều là lời nói quyết định răn dạy của Như Lai, huống chi là phạm tội  thô ác. Giới luật không có thô hay tế nên phải nắm giữ vững vàng. Vì Phật tánh,  nếu người nào nói rằng, chín bộ kinh không nói đến chúng sinh đều có Phật tánh, lại  nữa kinh Phương Đẳng cũng nói vô ngã, đó là kẻ phỉ báng chín bộ khế kinh, sao gọi là   không khởi lên vọng kiến cố chấp của chúng sinh chăng? Trong chín bộ kinh, tất cả  chúng sinh đều có Phật tánh, điều mà ta chưa từng nghe, ta nên chọn lấy điều nào?  Hoặc có thể tự xưng nói pháp hơn người, nên biết những điều đó giống như nói biển  cả không có các thứ vật quý báu.
Người kia tuy tiếp nhận sự học tập chín bộ khế kinh, nhưng các giáo pháp quý báu  Phương đẳng cốt yếu trong biển Ma-ha-diễn không phải là cảnh giới của người kia. Thế  nhưng, giáo pháp do Phật nói không phải cho hết thảy Thanh văn và Duyên giác, đều  không phải là cảnh giới của người ấy. Thấy được tướng mạo nhân duyên của  Phật nói, cũng lại có khả năng biết tất cả chúng sinh có Như Lai tánh, không hủy  hoại tướng ngã, nhân, thọ mạng. Tâm giữ trung đạo mà nói rằng, trong thân ta đều có  Phật tánh, ta sẽ được thành Phật, nay ta chỉ nên diệt hết các phiền não. Người nói  như vậy chính là hàng Thanh văn của ta, nếu người nào nói khác điều này gọi là tự  xưng mình có pháp hơn người.
Lại nữa, có người còn nói rằng, ta đã làm Phật, ta đã thấy pháp, trụ ở Phật địa,  đó là tự mình nói được pháp hơn người. Nếu người ấy không nói như thế, những hạng  người này chẳng bao lâu sẽ thành Phật đạo. Lời dạy bảo của Phật hết sức sâu xa  quyết định như thế, mà ở trong các hàng Tỳ-kheo tự nói mình được pháp hơn người. Cũng  vì lợi dưỡng cho nên họ dua nịnh quanh co, bước đi thong thả thị hiện thực hành việc xin  ăn. Người phạm giới ngu si chưa đạt được đạo quả, mà lại hướng về mọi người rồi  nói rằng mình đã đắc quả, khắp nơi nghe biết bèn cung kính phụng sự. Người ấy tăng  thêm lòng tham bám riết không rời, chầu chực trông mong người ta cúng dường. Họ chẳng  tu tập pháp niệm mà thị hiện uy nghi, cốt làm vui lòng người khác, ta nói hạng  người đó là kẻ tự xưng mình được pháp hơn người.
Lại có Tỳ-kheo vì sự hộ trì chánh pháp nên thị hiện sự mong cầu lợi dưỡng và tham  đắm tiếng tăm. Vị ấy suy nghĩ thế này, ta sẽ khiến cho tất cả mọi người nhận biết  và khen ngợi ta rằng, thật quý hóathay, rồi họ cung kính phụng sự, nhân đó, ta sẽ  hàng phục kẻ ngoại đạo và người phạm giới, để làm rạng rỡ và giương cao đức độ  của đấng Như Lai tôn quý nhất trong hàng chư Thiên, tuyên truyền rộng rãi  kinh Phương Đẳng Bát Nê Hoàn, dìu dắt dạy bảo chúng sinh khéo hiểu rõ kinh luật và  phần bù thêm vào chỗ thiếu sót của tạng luật do Như Lai nói, nuôi lớn hạt giống Như  Lai trong bản thân của chính mình, chóng làm cho Phật tánh khai phát và hiện ra rõ  ràng, vô lượng tai họa kết thắt bị trừ diệt cùng một lúc.
Tỳ-kheo ấy bảo cho các chúng sinh biết: Các ông đều thành  tựu
tính của Như Lai làm tiêu diệt các phiền não. Tâm vì sự hộ pháp mà vị ấy nói lời như  thế, ta nói hạng người này là Bồ-tát. Vì sự hộ pháp nên vị ấy không tự xưng mình  được pháp hơn người. Tội vượt Tỳ-ni phải ở trong địa ngục tám vạn bốn ngàn năm, tính  theo số năm ở cõi trời Đao- lợi, huống gì là thô tội. Người mắc thô tội đối với  Ma-ha-diễn ấy đều nên đuổi họ ra, người có giữ lấy cái gì thì ấy là thô tội, người  vốn nhận bảo vệ vật trong tháp mà lấy vật như hạt cải, cho đến người không hỏi chủ  mà lấy cuốn kinh đều là thô tội, người có lòng gian trá hủy hoại tháp cũng phạm  thô tội, đều phải đuổi họ ra khỏi. Nếu nhà vua và đại thần có chùa tháp cũ, muốn  làm nơi đặt xá-lợi để cúng dường, có lẽ vì sự cung kính nên vua lập một vị Tỳ-kheo,  giao phó tiền bạc của cải cho vị ấy để làm việc kinh doanh, thế mà Tỳ-kheo kia bèn  giữ lấy để sử dụng một mình, khiến cho người chủ quở mắng, hạng Tỳ-kheo ấy cũng cần  phải đuổi họ ra khỏi. Cho dù người không có nam căn và người có hai căn đều nên  đuổi họ ra. Vì sao? Vì vượt qua năm giới cấm. Thậm chí đối với con kiến, ta đều nên  có lòng từ và ban cho nó sự không sợ hãi, đó là pháp Sa-môn. Giả sử có mùi thơm  của rượu, cũng cần phải xa lìa, đó là pháp Sa-môn. Cho dù trong giấc mơ vẫn không nói  dối, đó là pháp Sa-môn. Mặc dù trong mộng cũng chẳng ở chung với người nữ, đó là  pháp Sa-môn. Nếu cùng ở chung với người nữ, tuy rằng không phạm giới, giống như hương  hoa các thứ, khiến cho con người phóng túng, tâm khởi lên sự buông thả, đều là do ban  ngày trông thấy, tâm theo đó mà nảy sinh, thì có mộng tưởng, tỉnh giấc mộng kia rồi  cũng tăng thêm tâm niệm tán loạn. Khởi ý tưởng ăn thịt con mình mà thực hành pháp  xin ăn, làm sao khiến cho tâm phóng túng nảy sinh được, tâm phát sinh trong mộng cần  phải mau chóng trừ diệt. Tướng mạonhư thế nên biết đó là kinh luật của Như Lai. Người  nào theo kinh luật của ma nói mà có lòng tin, nên biết hạng người ấy là tuân theo ma  giáo. Người nào theo kinh luật của Phật dạy mà có niềm tin, nên biết đó là Bồ-tát.
Người nào nói rằng, Như Lai cho phép vâng theo cách ngồi của bậc đại nhân, uy nghi đi  đứng vâng chịu phép không nói chuyện, lao xuống núi, uống chất độc hại, nhịn ăn, giết  hại mạng sống, trói buộc chúng sinh, tự trị thân thể, tạo tác nghiệp mậu-la, chú  thuật làm mê
hoặc. Hạng người Chiên-đà-la, người không đủ nam căn, người có hai căn nam và nữ,  tay chân không đủ, Như Lai đều bằng lòng cho họ xuất gia, vì thương xót chúng sinh. Sữa,  mật, lụa là, ngọc kha bối, thuộc da, các loại lúa gạo v.v... thảy đều không được ăn  uống, nhận lãnh, đối với những cây cỏ, thì dấy lên ý tưởng thọ mạng, do lòng từ bi  nên Như Lai vào Nê-hoàn diệt độ mãi. Tướng mạo như thế nên biết đó là kinh luật  của ma nói. Trừ phép ngồi của bậc đại nhân và bốn thứ uy nghi ra, nếu người nào nói  rằng Ta cho phép uống chất độc hại, nhảy vào lửa, nhịn ăn, lao đầu xuống vách núi,  tàn sát chúng sinh, tạo tác nghiệp mậu-la, chú thuật làm mê hoặc; dùng sữa, mật,  lụa là, ngọc kha bối, lúa gạo, thì dấy lên ý tưởng thịt chín, đối với tất cả cây  cỏ thì dấy lên ý tưởng thọ mạng, nói như thế là điều Ta không bằng lòng. Nếu người  nào nói lời này, nên biết hạng người này là đệ tử của ngoại đạo. Người  nào nghe theo điều Ta cho phép rồi có thể thực hành, đó là đệ tử của Ta. Không nói  bốn đại có ý tưởng thọ mạng, người nói như thế, nên biết đó là kinh luật của Phật  nói, nói tỉ dụ như thế số đông nhiều vô lượng. Tin theo kinh luật của ma nói, nên  biết hạng người này là tuân theo ma giáo. Người nào tin theo kinh luật của Phật nói  rồi tin tưởng, nên biết đó là Bồ-tát.
Này thiện nam! Những điều nói như thế là kinh của ma nói, kinh của Phật nói có tướng  khác biệt, phải nên phân biệt mới biết.
Ca-diếp bạch Phật:
–Hay thay! Bạch Thế Tôn! Hôm nay chúng con mới hiểu lời nói hết sức sâu xa của Như  Lai.
Phật bảo Ca-diếp:
–Quý hóa thay! Quý hóa thay! Này thiện nam! Ông hãy nên học tập như thế, đó là  người thông minh trí tuệ.
 
/53
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »