396 - Kinh Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội - Quyển Hạ (Trang 601 - 622)">
Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1139.

Chương 24: Kinh Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội - Quyển Hạ (Trang 601 - 622)

KINH  TẬP  NHẤT  THIẾT  PHƯỚC ĐỨC TAM MUỘI
QUYỂN HẠ
 
Khi ấy, Bồ-tát Na-la-diên bạch Phật:
–Thưa Thế Tôn, rất ít có! Thưa Thiện Thệ, rất ít có.
Như vậy, các pháp tánh thường vắng lặng. Đại Bồ-tát có thể nghe pháp  này,  có  thể  biết  pháp  này,  có  thể  tin  pháp  này,  không  ở  nửa đường mà vào Niết-bàn.
Phật bảo Bồ-tát Na-la-diên:
–Bồ-tát  nhờ  sức  phương  tiện  mới  có  thể  như  vậy.  Nếu  Bồ-tát thành tựu phương tiện khéo léo ở trong mỗi mỗi niệm có thể được bốn pháp. Những gì là bốn?
1. Pháp Đại thừa.
2. Pháp đại bi.
3.  Biết Nhất thiết trí.
4.  Khi Phật xuất hiện ở đời, không làm đoạn mất hạt giống  pháp Phật.
Nếu theo bốn pháp đó mà tu hành sẽ biết rõ cảnh giới của chúng sinh là hiện tướng sẽ được địa vị tướng chân chánh, cũng biết hết thảy pháp tánh thường vắng lặng, nên khi nghe có thể tin hiểu, không bỏ nửa chừng mà vào Niết-bàn. Như vậy gọi là pháp điều phục biết là lợi ích chúng sinh, biết rồi mà còn thấy họ, cho đến dù không thấy họ cũng làm lợi ích cho họ. Vì sao? Vì Bồ-tát không bỏ hết thảy chúng sinh.
Khi ấy Lực sĩ Tịnh Oai thưa:
–Bạch Thế Tôn! Đại Bồ-tát nào như lời Phật dạy không rơi  vào chánh vị?
Đức Phật dạy:
–Này thiện nam! Là Đại Bồ-tát không sinh khởi các kiến chấp,

nhưng Phật sự nào cũng hoàn thành. Hàng Thanh văn không có duyên với các chúng sinh, không có duyên với Phật chủng, không có  duyên với  pháp  chủng,  không  có  duyên  với  Đại  thừa,  xả  bỏ  Nhất  thiết  trí, không quán Nhất thiết trí, không nguyện được Nhất thiết trí, diệt pháp hữu vi vào địa vị Thanh văn.
Đại  Bồ-tát  có  duyên  với  hết  thảy  chúng  sinh,  có  duyên  không đoạn hạt giống Tam bảo, có nhân duyên với Đại thừa, hay quán sát Nhất thiết trí, không quán thân mạng, biết các pháp chỉ có một tướng nên không chấp vào chánh vị, có duyên với các chúng sinh, thường dạo chơi trong các cảnh thiền định, không rơi vào địa vị Thanh văn.
Này thiện nam! Vì vậy nên biết, Đại Bồ-tát thường quán vô  ngã không rơi vào chánh vị.
Khi ấy, Lực sĩ Tịnh Oai bạch Phật:
–Thưa Thế Tôn, rất là ít có! Thưa Thiện Thệ, rất là ít có.
Việc làm của Bồ-tát hết thảy hàng Thanh văn, Duyên giác  đều không theo kịp.
Lúc này, Pháp vương tử Văn-thù-sư-lợi ngồi trong đại hội.
Bồ-tát Na-la-diên bạch Phật:
–Thưa  Thế  Tôn!  Bồ-tát  Văn-thù-sư-lợi  là  con  của  đấng  
Pháp vương đang ngồi trong đại hội mà lại không có ý kiến gì khi nói về: Tam-muội Tập nhất thiết phước đức.
Lúc ấy, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói với Bồ-tát Na-la-diên:
–Này thiện nam! Vị Đại Bồ-tát không vì phước đức mà tu  hành đạo Bồ-đề. Bồ-tát cũng không vì lợi dưỡng, danh xưng, không vì  sinh lên cõi trời, không vì phong ấp, không vì quyến thuộc, không vì  khen ngợi, cũng không vì ham vui mà tu hành đạo Bồ-đề.
Na-la-diên hỏi:
–Văn-thù-sư-lợi! Bồ-tát vì việc gì mà tu hạnh đạo Bồ-đề?
Văn-thù-sư-lợi  đáp:
–Này  thiện  nam!  Bồ-tát  vì  lòng  thương  các  chúng  sinh  mà  tu hành đạo Bồ-đề. Vì pháp Phật, vì thoát khổ cho tất cả chúng sinh, vì đoạn trừ các phiền não không thật, vì nhẫn các khổ, vì không chấp việc làm mà tu hành đạo Bồ-đề, không tiếc thân mạng, quán biết tất cả đều không  chủ,  không  tể,  không  chỗ  ở,  không  tưởng,  không  tư,  không
chuyển, không hoại, không dời đổi lưu chuyển, không xâm phạm  hủy hoại, dũng mãnh, không hàng phục, không chỉ hiểu biết, không  biếng nhác, không lo, không sợ, không kinh, không khiếp, không cao không thấp, không cong queo, vững chãi an trú, không dao động, một mình ưa ở chỗ vắng lặng, ở nơi một đạo một lòng hướng tới, trú ở một đạo tu hành, vì độ  tất cả các  chúng sinh, vì lợi ích như vậy mà Đại Bồ-tát tu hành đạo Bồ-đề.
Lại hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Bồ-tát làm thế nào mà tu hành đạo Bồ-đề?
Văn-thù-sư-lợi  đáp:
–Này thiện nam! Đại Bồ-tát không có tâm sinh diệt, chẳng phải không sinh diệt mà tu hành hạnh rốt ráo tịch diệt, không có sinh, không có nói năng, Bồ-tát như vậy là tu hành đạo Bồ-đề.
Lại nữa, này Na-la-diên! Bồ-tát biết rằng tâm quá khứ đã  diệt, không  có  chỗ  có  thể  tu  hành,  tâm  vị  lai  chưa  sinh  không  có  chỗ  tu hành, tâm hiện tại cũng không dừng trú, nên không có chỗ tu hành, không có tâm chấp trước về khứ, lai, hiện tại. Đại Bồ-tát có thể như vây mà tu hành gọi là tu hành đạo  Bồ-đề.
Lại nữa, này Na-la-diên! Bồ-tát nếu biết dùng bố thí tu hành Bồ- đề thì chúng sinh và Như Lai bình đẳng không hai, biết dùng trì giới tu hành  Bồ-đề  thì  chúng  sinh  cùng  Như  Lai  bình  đẳng  không  hai,  biết dùng nhẫn nhục tu hành Bồ-đề thì chúng sinh cùng Như Lai bình  đẳng không hai, biết dùng tinh tấn tu hành Bồ-đề thì chúng sinh cùng Như Lai bình đẳng không hai, biết dùng thiền định tu hành Bồ-đề thì chúng sinh cùng Như Lai bình đẳng không hai, biết dùng trí tuệ tu hành  Bồ- đề thì chúng sinh cùng Như Lai bình đẳng không hai. Bồ-tát như vậy mà thực hành sáu Ba-la-mật, thì không làm bại hoại tánh tướng tu hành Bồ-tát, như vậy là tu hạnh đạo Bồ-đề.
Lại nữa, này Na-la-diên! Bồ-tát quán sắc là không, cũng  không có  hành.  Như  quán  sắc  là  không,  quán  thọ,  tưởng,  hành,  thức  cũng không có hành. Sắc không cũng không cùng tận, sắc rốt ráo cùng tận do nó là không, nên thọ, tưởng, hành, thức cũng thế. Như thức là không cũng  không  cùng  tận,  thức  rốt  ráo  cùng  tận,  do  kia  vốn  không.  Như vậy, tánh  cùng tận  thì hết thảy pháp cùng tận.  Sắc  vô tận  thì thọ,   tưởng,
hành, thức cũng vô tận. Nếu có Bồ-tát như vậy tu hành gọi là tu  hạnh Bồ-đề.
Lại nữa, này Na-la-diên! Bồ-tát siêng năng đoạn trừ việc làm của phàm phu, không sinh khởi việc tu hành trong Phật pháp, sẽ không  ra khỏi  việc  làm  sinh  tử,  không  thành  tựu  Niết-bàn,  không  thấy  tất  cả pháp bất thiện hình thành, không thực tập pháp lành, không quán pháp nào khác, rõ biết như vậy sẽ không làm tổn thương tánh chất tu  hành, là tu hạnh Bồ-đề.
Này Na-la-diên, Bồ-tát như vậy tu hành gọi là tu hạnh Bồ-đề.
Lại nữa, này Na-la-diên! Vị Đại Bồ-tát biết rõ chúng sinh giới, vô  lượng  pháp  giới  là  không  thể  lường;  chúng  sinh  giới,  pháp  giới không cùng tận diệt hành. Vì sao? Vì chúng sinh giới, pháp giới không còn có hai, không có làm hai, không có hai tướng, là pháp giới  không tăng không giảm, không tăng chúng sinh giới, không giảm chúng sinh giới. Tướng pháp giới, tướng chúng sinh giới cũng như vậy.
Lại nữa, Bồ-tát biết rõ các pháp vô tướng, không cùng tận pháp giới hành, không cùng tận chúng sinh giới hành, không cùng tận pháp giới hành, không tăng pháp giới hành, không cùng tận chúng sinh giới hành, không tăng chúng sinh giới hành, cũng không nương các vọng tưởng điên đảo khác để bị trói buộc, bị sai khiến. Như vậy gọi là chánh quán khéo biết các hành, không làm hư hoại các hành hữu, không  làm tổn hoại ngã, chúng sinh thọ mạng hành.
Này Na-la-diên! Bồ-tát như vậy mà tu hành, gọi là tu hành đạo Bồ-đề.
Pháp  vương  tử  Văn-thù-sư-lợi  khi  diễn  nói  các  pháp  hành  như vậy, mười sáu Thiên tử trước đây đã hướng về Đại thừa, nay họ sẽ mau đạt được pháp nhẫn Vô sinh.
Khi ấy, Lực sĩ Tịnh Oai muốn cúng dường và giữ gìn kinh này, liền thưa:
–Thưa Thế Tôn! Nếu có chúng sinh nào tin hiểu kinh này thì sẽ đạt được tất cả các điều thiện lợi tốt lành.
Bấy giờ, Bồ-tát Ly-ma nói với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Tôi cũng muốn nói việc làm của Bồ-tát. Văn-thù-sư-lợi  nói:
–Này thiện nam! Nay chính là lúc nhân giả có thể diễn nói. Bồ-tát Ly-ma nói:
–Thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Làm hết thảy các pháp hành,  đây là việc làm của Bồ-tát; làm tất cả việc của ma làm thì mới gọi là việc làm của Bồ-tát; làm tất cả việc mà chúng sinh làm thì mới gọi là việc làm của Bồ-tát. Nếu đã làm thì với kẻ hữu học hay việc làm của người vô  học  cũng  làm,  mới  là  việc  làm  của  Bồ-tát;  làm  theo  hạnh  của Duyên giác làm thì mới gọi là việc làm của Bồ-tát. Vì sao? Vì vị Đại Bồ-tát cần tùy theo mọi hoàn cảnh để học tập.
Khi ấy, Bồ-tát Na-la-diên hỏi Thiên tử Ly-ma:
–Vì sao Bồ-tát phải học làm tất cả việc làm của chúng sinh?
Thiên tử đáp:
–Này Na-la-diên! Bồ-tát cần học tám vạn bốn ngàn hạnh. Những gì là tám vạn bốn ngàn hạnh?
Hai vạn một ngàn hạnh tham dục. Hai vạn một ngàn hạnh sân hận. Hai vạn một ngàn hạnh ngu si.
Hai vạn một ngàn hạnh những phần còn lại.
Bồ-tát nên vào trong các hạnh đó mà làm các hành, như đến  với tham dục vì muốn dứt trừ việc tham dục, đến với sân giận để đoạn  trừ việc sân giận, đến với ngu si vì đoạn trừ việc ngu si, đến với những phần còn lại vì đoạn trừ những phần lỗi lầm còn lại. Bồ-tát làm tất cả việc làm của chúng sinh, mà không nhiễm việc làm của chúng sinh, thị hiện làm tất cả việc làm của chúng sinh. Vì muốn giáo hóa chúng sinh nên gọi là Bồ-tát thực hành hạnh Bồ-đề.
Na-la-diênnói:
–Này Thiên tử! Thế nào là làm tất cả việc làm của ma mà gọi là hạnh của Bồ-tát?
Thiên tử nói:
–Tất cả việc làm của ma vào tâm Bồ-tát, vị Bồ-tát nên tĩnh  giác tùy chỗ sinh khởi nghiệp của ma mà không tùy theo, không bị trói buộc bởi hành động của ma, vào trong tất cả mọi hoàn cảnh mà tu hành, cũng khiến cho thiên ma không tìm được chỗ tiện lợi, sẽ giáo hóa cho ma xa lìa nghiệp của ma.
Na-la-diênnói:
–Này Thiên tử! Thế nào là học hạnh Thanh văn, Duyên giác là tu hành Bồ-tát?
Thiên tử nói:
–Thiện nam! Tất cả hạnh ấy là hạnh thật tánh, là hạnh vô báo, là hạnh không trú trước, là hạnh không hướng tới, là hạnh vô sinh, là hạnh biết rõ về mình, Bồ-tát nên như vậy mà tu hành.
Thiên tử Ly-ma nói như vậy rồi, thưa với
Pháp vương tử Văn-thù- sư-lợi:
–Thiện nam! Bây giờ
Pháp vương tử nên nói thêm những  hạnh như vậy.
Văn-thù-sư-lợi  nói:
–Này Thiên tử! Việc làm của Bồ-tát là không trải qua các cảnh giới. Vì sao? Vì hạnh tu này không phải thuộc trong những cảnh giới thuộc về mắt, cũng không phải trong số những cảnh giới thuộc về sắc, thanh, hương, vị, xúc,pháp.
Này Thiên tử! Vì vậy nên biết, đây là hạnh tu của các vị thiện trượng phu nên làm, nó không qua các cảnh giới.
Lại nữa, này Thiên tử! Nếu Đại Bồ-tát như vậy mà tu hành,  các Đức  Phật cũng  sẽ hứa khả,  không có  các  lỗi lầm. Nếu như  vậy mà tu hành, đó gọi là Bồ-tát tu hành chánh hạnh.
Thiên tử nói:
–Thưa Văn-thù-sư-lợi! Bồ-tát tu hành thế nào để như Phật  chấp nhận là đúng?
Văn-thù-sư-lợi  nói:
–Này Thiên tử! Tất cả các pháp tự nó thực tế vốn không, Như Lai như vậy giác ngộ biết rõ, nếu Bồ-tát nương vào pháp như vậy mà tu hành, Phật sẽ hứa khả cho đến thành tựu Niết-bàn, nếu sinh tư tưởng chấp trước mà tu hành là lừa dối chư Phật.
Này Thiên tử! Tất cả các pháp sự thật là không có hình tướng, Như Lai Thế Tôn như sự giác ngộ mà biết rõ, nếu Bồ-tát thấy các pháp có tướng, trú trước vào hình tướng là lừa dối chư Phật.
Tất cả các pháp sự thật là không có nguyện, Như Lai Thế Tôn như sự giác ngộ mà biết rõ, lại còn không hành không thật, không sinh
không khởi, không có chỗ, không hình không tướng, cũng chẳng  phải không  tướng,  không  qua  không  lại,  cũng  không  trụ,  tánh  vốn  thanh tịnh, tánh vốn sáng rõ, tánh thường vắng lặng tất cả các pháp cũng như hư không. Như Lai Thế Tôn như sự giác ngộ mà rõ biết. Nếu Bồ-tát đối với pháp tánh còn có đôi chút sở đắc, là dối Như Lai Ứng Chánh Biến Giác.
Này Thiên tử! Nếu Bồ-tát cùng trú vào không, lại sinh chấp trước Bồ-tát  cùng  trú  vô  tướng,  lại  sinh  chấp  trước,  Bồ-tát  cũng  trú  vô nguyện,  lại  sinh  chấp  trước,  tức  là  lừa  dối  chư  Phật.  Nếu  Bồ-tát  ra ngoài ba cõi biết hết thảy pháp không thật, không sinh, không khởi, không có, không hình, không tướng, không lại, không qua, cũng không trú,  tánh  vốn  thanh  tịnh,  tánh  vốn  soi  sáng,  tánh  thường  vắng  lặng, giống như hư`không tánh vốn không cấu bẩn. Nếu biết được như  vậy, gọi là Bồ-tát không dối chư Phật.
Khi ấy, Đức Thế Tôn tán thán Văn-thù-sư-lợi:
–Hay  thay!  Hay  thay!  Này  Văn-thù-sư-lợi!  Ông  vui  thích  nói được những lời như vậy, nếu Bồ-tát như vậy mà tu hành, gọi là tu hành đạo Bồ-đề quyết chắc sẽ được thọ ký.
Này  Văn-thù-sư-lợi!  Ta  ngày  xưa  đối  trước  Đức  Phật   Nhiên Đăng, nếu chấp trước vào việc tu hành thì không được thọ ký. Vì  sao? Vì trước đó Ta cũng chấp có hình tướng, tu hành có chỗ nương mà tu hành, có chấp trước mà tu hành, Ta như vậy, nhưng sau do gặp Đức Phật Nhiên Đăng, nên vượt qua được các cách hành trì. Khi mới  thấy Phật, Ta lìa các kiến chấp về tu hành, mà biết rằng tất cả các pháp  tự tánh nó vốn không sinh.
Khi ấy, Đức Phật Nhiên Đăng thọ ký cho Ta: “Ông tu hành như vậy  sau  sẽ  được  thành  Phật  hiệu  Thích  Ca  Mâu  Ni,  Như  Lai,  Ứng Chánh Biến Giác”. Ta khi ấy đạt được pháp nhẫn Vô sinh. Vì vậy, này Văn-thù-sư-lợi! Nếu có Bồ-tát muốn đạt được pháp nhẫn Vô sinh, nên lấy ý nghĩa trong phẩm kinh này đúng như vậy mà tu hành, là không chấp trước các pháp.
Khi ấy, Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Thưa  Thế  Tôn!  Đại  Bồ-tát  vì  duyên  và  pháp  gì  mà  đạt  được pháp nhẫn Vô sinh?
Đức Phật dạy:
–Này  Văn-thù-sư-lợi!  Duyên  nơi  ấm,  giới,  nhập  mà  đạt  được nhẫn Vô sinh, người này nhẫn được tất cả các pháp, lại còn nương nơi thường, lạc, ngã, tịnh mà đạt được pháp nhẫn.
Này Văn-thù-sư-lợi! Nói là nhẫn, do duyên nơi các pháp không cùng tận, nói là nhẫn, cũng còn gọi là chánh.
Này Văn-thù-sư-lợi! Nhân duyên của nhẫn là chẳng cùng với thế pháp  mà  chung  tu  hành,  vì  chẳng  phải  pháp  phàm  phu,  chẳng  phải pháp học, chẳng phải pháp không học, chẳng phải pháp Duyên giác, chẳng phải pháp Bồ-tát, chẳng phải pháp Phật mà cùng chung tu hành. Không cùng tất cả các pháp chung tu hành, gọi là đạt được pháp nhẫn, là xả bỏ tất cả các pháp tướng chấp trước, đó gọi là nhẫn.
Pháp  nhẫn này cũng không ở trong mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý theo pháp, nói không cùng không tận gọi đó là nhẫn, nhưng nhẫn lại cũng không lìa những vấn đề nêu trên, như vậy gọi là nhẫn.
Khi nói về pháp nhẫn này có năm trăm vị Bồ-tát, vốn trước  đây đã gieo trồng thiện căn với Phật, nên được nhẫn Vô sinh.
Liền thưa:
–Kinh Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội này rất hay  khiến cho chúng con trú chỗ đáng trú, cũng khiến cho chúng con đầy đủ vô lượng pháp.
Thưa Thế Tôn! Đại Bồ-tát nên hết lòng lắng nghe các pháp  sâu xa này và chuyên cần tu tập.
Khi ấy, Bồ-tát Na-la-diên hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Thế nào là Bồ-tát với pháp sâu xa mầu nhiệm này tu hành để được gọi là việc làm đã xong?
Văn-thù-sư-lợi  nói:
–Nếu Bồ-tát biết hết thảy pháp là không làm mà không có gì  là không làm, như vậy gọi là Bồ-tát này việc làm đã xong.
Nếu biết hết thảy pháp là không làm, nếu làm rồi thì không chấp, không làm thì không quên, như vậy gọi là Bồ-tát việc làm đã xong.
Nếu Bồ-tát tùy việc đáng làm, là làm mà không mong đền ân, như vây gọi là tri ân. Với hữu vi hay vô vi đều không sinh tâm phân biệt chúng cao thấp, không làm mà cũng có chỗ để làm. Nghĩa là  làm
việc  bố  thí  mà  trú  trước  nơi  việc  hồi  hướng,  cũng  không  được  thí, không được  Bồ-đề,  không  vì  cho  mình  và  người,  ấy  gọi là  Bồ-tát  này việc làm đã xong.
Giữ gìn tịnh giới hồi hướng đến Bồ-đề cũng không được giới. Tu hạnh nhẫn, tấn, thiền định, trí tuệ cũng không được tuệ, nên biết Bồ-tát này việc làm đã xong.
Nếu không chấp được thân, miệng, ý, các nghiệp thiện, thì nên biết vị Bồ-tát này việc làm đã xong.
Nếu không vì được cho thân, không được cho miệng và ý về việc tu tập trang nghiêm, thì biết vị Bồ-tát này việc làm đã xong.
Khi ấy, Bồ-tát Thường Tinh Tấn nói với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Tôi cũng muốn nói các vị Bồ-tát này việc làm đã xong.
Văn-thù-sư-lợi  nói:
–Này thiện nam! Nay đã đúng lúc ông nên diễn nói.
Bồ-tát Thường Tinh Tấn nói với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Nếu Bồ-tát hay hướng dẫn cho một chúng sinh vào trong  pháp Phật, như vậy Bồ-tát này trong việc tu hành việc làm đã xong.
Nếu Bồ-tát thọ nhận đồ ăn của chúng sinh hoặc bố thí cho  người khác, không sợ hãi cho nên đều hướng về Bồ-đề vô thượng, như vậy gọi là Bồ-tát phước điền thanh tịnh. Nếu người bố thí kia và người  thọ đúng như pháp mà làm, như vậy gọi là Bồ-tát làm cho cả hai đều được thanh tịnh. Nếu Bồ-tát dùng tiếng của Đức Phật khiến cho người khác được nghe, tự mình an trú trong thí, giới, nhẫn, tấn, thiền, tuệ luôn nhớ nghĩ chân chánh, ở trong đại chúng nói sáu pháp Ba-la-mật, khiến  cho người khác được nghe, nhớ nghĩ thọ trì, người có thiện căn này, biết là Bồ-tát  tu  hành  việc làm đã xong,  có thể tiêu ích  được  của tín  thí   đã cúng dường.
Nếu Bồ-tát tu hành nhẫn nhục, nếu bị giặc oán hoặc Chiên-đà-la nhục mạ, không sân hận, không phiền não, vì chúng sinh này làm cho họ sinh niềm tin hoan hỷ, siêng tu tinh tấn, trú trong năng lực tinh tấn, nên biết Bồ-tát này tu hành việc làm đã xong.
Nếu  Bồ-tát  dùng  vàng  bạc  của  báu  chính  đáng  đầy  khắp  bốn thiên hạ, không tham của báu này mà nói lời hư dối, nếu có người khác hỏi pháp không cùng bạn đảng nói lời phi pháp, nên biết Bồ-tát này
việc làm đã xong.
Nếu  có  Bồ-tát  nhịn  ăn  bảy ngày,  có  người  đến  nói:  Nếu  ông  bỏ tâm Bồ-đề, giết các chúng sinh làm đồ ăn, ta sẽ cùng ăn với ông, Bồ- tát hoàn toàn không chịu làm theo, nên biết Bồ-tát này việc làm đã xong.
Lại nữa, này Văn-thù-sư-lợi! Nếu Bồ-tát thấy cả dao sắc và  lửa dữ đầy cả thế giới nên từ nơi nguy hiểm đó vượt qua, đến chỗ nghe pháp, không tiếc thân mạng vì việc tu học. Do nghĩ đến thân này từ ấm, nhập, giới cũng dễ được, còn Đức Phật rất khó gặp, giáo pháp của Ngài cũng khó được  nghe, chúng sinh cũng biết tôn kính pháp cũng khó có, do nghĩ như vậy nên mới quyết tâm nhập chúng để nghe pháp, nên biết Bồ-tát này việc làm đã xong.
Lại nữa, này Văn-thù-sư-lợi! Nếu Bồ-tát từ người khác được nghe một bài kệ bốn câu, nói đến hoặc trì giới hoặc bố thí tâm sinh hoan hỷ, còn thù thắng hơn được vua Chuyển luân lập lên làm vị đại vương, nếu đem bài kệ này nói cho một người nghe còn thù thắng hơn được làm Đế thích và ở cõi Phạm thiên, nên biết Bồ-tát này việc làm đã xong.
Lại nữa, này Văn-thù-sư-lợi! Nếu Bồ-tát này ở trong đại  chúng, học được đa văn, tâm rất mừng vui, dùng khả năng đa văn này  hướng về Nhất thiết trí, tuy không được ba ngàn đại thiên thế giới của báu, vẫn sinh tâm rất hoan hỷ, dùng thiện căn của mình vì một chúng  sinh, hồi hướng về Phật đạo, lấy làm hân hoan, nên biết Bồ-tát này việc làm đã xong.
Lại nữa, này Văn-thù-sư-lợi! Bồ-tát vì giáo hóa chúng sinh  nên tinh tấn, cố gắng tự trang nghiêm tu tập đa văn, dù phải xả bỏ chi tiết của tự thân, đối với tám pháp ở đời tâm không sai khác. Bồ-tát vì trí tuệ của Phật, thà bỏ thân mạng không bỏ trì giới. Bồ-tát cần nên tu hành nhẫn nhục, thường nhịn các điều ác, các âm thanh bất thiện.
Bồ-tát cần nên gia tâm tinh tấn để trang nghiêm cõi Phật. Bồ-tát cần một mình ở chỗ vắng lặng, vì không làm mất tâm đạo Bồ-đề.
Bồ-tát cần không mất chánh niệm, tu tập sáu Ba-la-mât.  Bồ-tát cần không có tâm chấp trước, ân cần siêng năng giữ giới, sau mới làm các nghiệp thiện, không xả bỏ tất cả các chúng sinh.
Bồ-tát cần nên thề nguyện vững tu tập trang nghiêm, vì tồn tại
hạt giống pháp Phật.
Bồ-tát cần nên xa lìa nịnh hót dối trá, để thân, miệng, ý ở  trong pháp lành ngay thẳng. Bồ-tát cần nên tự mình trong sạch ý chí và lòng ham muốn, vì cứu giúp và hướng về các chúng sinh. Bồ-tát cần nên không quá xét nét trong việc làm, vì không chấp trước thân mạng. Bồ- tát nên ngọt dịu và tốt đẹp trong lời nói, khéo đến thăm hỏi mọingười. Bồ-tát nên thường có ý thức thưa hỏi người khác, không sân giận trách móc, cũng không nói nhiều.
Bồ-tát  cần  giống  như  đất,  không có  thương  ghét.  Bồ-tát  cần  nhu hòa khéo uyển chuyển, tâm cùng vui vẻ. Bồ-tát nên khéo sửa trị dạy dỗ, mau tiếp nhận lời chỉ dạy. Bồ-tát cần nên trừ bỏ kiêu mạn, khiêm tốn với tất cả các chúng sinh. Bồ-tát nên giống như loài chó trung thành không lừa dối tất cả chúng sinh, không trái thề xưa.
Bồ-tát cần nên đối với các chúng sinh khởi tâm đại từ thấy tất cả đều không. Bồ-tát nên đối với các chúng sinh khởi tâm đại bi, vì các chúng sinh làm việc lợi ích lớn.  Bồ-tát nên sinh  tâm  đại hỷ, vui  vẻ  tu tập các căn lành. Bồ-tát cần nên tu hành đại xả, không để tâm vào năm thứ dục lạc. Bồ-tát không nên tham lam keo kiệt mà tự bỏ thân  mạng vì các chúng sinh. Bồ-tát không nên chấp trước sở hữu của bản ngã, không nên tham tất cả các tiền tài vật chất. Bồ-tát cần tu tâm đại  xả, xả bỏ tất cả vọng tưởng. Bồ-tát cần đầy đủ tài vật lớn, là bảy tài sản thánh. Bồ-tát cần có ý chí vững vàng củng cố tất cả căn lành. Bồ-tát không nên có tâm tự thỏa mãn, mà cần tu tập vô lượng công đức  của Phật. Bồ-tát cần có trí tuệ dũng mãnh, bẻ dẹp bốn thứ ma. Bồ-tát cần làm bâc đại y vương, khéo trị bệnh phiền não của tất cả chúng sinh. Bồ-tát cần làm bậc xứng đáng ứng cúng, không bỏ tâm Bồ-đề. Bồ-tát cần nên tạo ruộng phước, vì các chúng sinh làm ánh quang minh.  Bồ- tát nên như là hoa sen, không bị bùn nhơ ở đời làm ô nhiễm. Bồ-tát nên giống như thuyền bè, để chuyên chở các chúng sinh. Bồ-tát nên giống như chiếc cầu đối với tất cả chúng sinh, không có tư tưởng phân biệt là bậc thượng, trung, hạ. Bồ-tát cũng giống như ao lớn, chuyên tâm chú ý vào nước chánh pháp không cùng tận. Bồ-tát nên giống như biển  lớn, một mực hướng về đa văn không bao giờ biết đủ. Bồ-tát nên giống như núi lớn, không ai có thể làm lay động. Bồ-tát nên khéo an ổn dừng trú,
như cửa đã được cài then kỹ càng. Bồ-tát cần nên không bị nhiễm trước tất cả sở hữu tiền tài vật chất. Bồ-tát nên khiến tâm được tự tại, tu hành không được thoái chuyển. Bồ-tát cần nên như bậc đại vương, vì  đáng tôn  quý  và  thù  thắng.  Bồ-tát  cũng  giống  như  vua  trời  Đế  thích,  tất  cả chúng sinh thảy đều tôn quý. Bồ-tát cần giống như trời Phạm vương, vì là vua tự tại trong các pháp. Bồ-tát nên an lạc tất cả chúng sinh đạt đến an  lạc  rốt  ráo  Niết-bàn.  Bồ-tát  nên  làm  cha  mẹ  chúng  sinh,  cho  họ những thứ y phục và điều lợi ích. Bồ-tát cần nên không làm tổn thương tất cả pháp thiện và bất thiện. Bồ-tát cần nên không làm việc xâm hại, người thân hoặc không thân luôn ở trong tâm bình đẳng. Bồ-tát cần nên không thân không tín vì là chỗ sinh ra các nhập. Bồ-tát cần vì pháp  mà làm  thí  chủ,  vì  tất  cả  điều  xả  ly,  Bồ-tát  cần  xa  lìa  các  buông  lung, biếng nhác, tu tập đạo Bồ-đề.
Văn-thù-sư-lợi, Bồ-tát thường nên nỗ nực siêng năng tu tập tất cả các hạnh về giới đức, vì đạt được đạo Chánh chân vô thượng.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn tán thán Đại Bồ-tát Thường Tinh Tấn:
–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Ông khéo nói các hành, chúng là pháp cần an trú quán tưởng.
Này thiện nam! Nếu Đại Bồ-tát muốn mau đạt được Tam-muội Tập nhất thiết phước đức này, cần nên huân tu tất cả các phước đức, không nên xa lìa tất cả phước đức.
Khi ấy, Bồ-tát Na-la-diên thưa:
–Bạch  Thế  Tôn! Nếu  có  người  được  Tam-muội  Tập  nhất thiết phước đức, không bị đọa  vào đường ác, rơi vào tám nạn, không còn nghèo cùng, tâm thường tự tại, các căn đầy đu, dùng ba mươi hai tướng đại trượng phu khéo tự trang nghiêm, được đại biện tài và giáo pháp vô tận, được Đà-la-ni, được không quên chánh niệm, khởi sinh  tất  cảphước đức, chuyển bánh xe pháp, được vị quán đảnh. Thích, Phạm  hộ đời tất cả chúng sinh đều nên cúng dường. Được đầy đủ các thần thông  và thông đạt tất cả việc chết đây sinh kia, rất được tự tại, hoặc sinh  ra hoặc thị hiện ở đâu đều được sung túc, tăng trưởng các pháp lành, được trí tuệ sáng suốt, xa lìa ác tà kiến, rất được xưng tụng tán thán. Tất cả hàng Thanh văn, Duyên giác đã được đại điều phục, đều khéo phân biệt các căn để giáo hóa chúng sinh, được thần thông tự tại, các  cảnh
giới thiền và cửa giải thoát Tam-muội. Được bố thí vô tác, do hiểu biết về bố thí. Được giới mà không trú nơi giới, nên thành ba tụ tịnh giới. Có  nhẫn  vô  lượng  nên  tâm  từ  phổ  biến  khắp  các  chúng  sinh.  Do  tu hành tinh tấn nên tâm không mỏi mệt. Được thiền Ba-la-mật, nên rõ biết được cảnh giới tịch  tĩnh, vì hóa  độ chúng  sinh nên sinh vào cõi dục. Do thanh tịnh trí tuệ trang nghiêm nên khéo quán sát âm thanh. Như vậy gọi là có mắt thanh tịnh có thể thấy đạo, không lìa việc  thấy Phật và cùng với việc nghe pháp. Cũng không xa lìa với pháp không, vô tướng, vô tác. Hay thọ trì tất cả các pháp của Phật mà vẫn không lìa việc  quán  và  thấy  pháp.  Được  làm  vị  Tăng  Bồ-tát  không  còn  thoái chuyển, đi đến tất cả cõi Phật đầy đủ công đức, không có chướngngại. Hàng phục các ma, thắng bốn loại ma. Được pháp nhẫn sâu xa không thoái  chuyển  trong  pháp  Phật.  Nhanh  chóng  thông  đạt  đầy  đủ  pháp Phật, những pháp chưa nghe nay được nghe. Muốn nguyện đầy đủ thâu giữ tất cả công đức của các cõi Phật, họ được an ổn lìa các tập khí. Được  thân  tự  tại,  ở  cùng  khắp  ba  cõi  mà  không  thị hiện.  Với  tất  cả ngoại đạo không thể hàng phục được thì khéo giữ gìn giáo pháp của chư Phật đã dạy. Xả bỏ thân mạng vì thủ hộ chánh pháp, thấy cảnh giới của Phật mà không vào Niết-bàn rốt ráo. Được vô sở úy nên ở trong chúng không sợ hãi, ở đâu, khi làm việc gì cũng dùng trí lực làm  đầu, nhưng  tâm  không  mưu  làm  việc  gì.  Hiện  các  cảnh  giới  đại  trang nghiêm, do thần thông biến hóa vậy. Được thế lực lớn, vượt qua các nguy hại, âm thanh trong sáng vang xa, nghe khắp tất cả các thế giới. Tâm rất dũng mãnh hàng phục tất cả ma quân. Đạt bến bờ các thần thông,  làm  chấn  động  các  thế  giới  của  Phật.  Được  đại  biện  tài,  nói pháp không bị ngăn ngại bởi từ và nghĩa. Biết rõ không ngại và không buông lung. An trú làm Phật sự để chỉ bày cho chúng sinh thành tựu Nhất thiết trí.
Này Na-la-diên! Nếu Bồ-tát vào trong Tam-muội Tập nhất  thiết phước đức, có hiện tượng và những việc tương tự như vậy là được vô lượng công đức.
Khi ấy, Bồ-tát Na-la-diên bạch:
–Thưa  Thế  Tôn!  Nguyện  các  chúng  sinh  được  Tam-muội  Tập nhất  thiết  phước  đức  này.  Bồ-tát  được  Tam-muội  này  có  công  đức,
khiến cho các chúng sinh cũng được công đức như vậy,  mà  tất cả Thanh văn và tất cả Duyên giác đều không thể có.
–Thưa  Thế  Tôn!  Nếu  Bồ-tát  không  được  nghe  Tam-muội  quý báu này hoặc nghe mà không hiểu nên biết người này bị ma nắm giữ.
Đức Phật dạy:
–Này Na-la-diên! Đúng như vậy! Đúng nhưvậy!
Như ông đã nói, nếu Bồ-tát nghe pháp Tam-muội này được sinh công đức, hoặc đã sinh hoặc nay sinh hoặc sẽ sinh nhiều vô lượng vô biên.
Khi ấy, Bồ-tát Na-la-diên hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Nếu có Bồ-tát muốn tu tập thực hành pháp Tam-muội này, nên tu hành pháp gì?
Văn-thù-sư-lợi  nói:
–Nếu  Bồ-tát  muốn  được  Tam-muội  này,  không  bỏ  pháp  phàm phu vì thọ trì Phật pháp, như vậy mà tu hành không cùng pháp tương ưng, cũng không cùng với phi pháp tương ưng. Như vậy mà tu hành, tuy  lưu  chuyển  trong  sinh  tử  mà  không  học  pháp  sinh  tử,  không  bị nhiễm sinh tử, tuy học Niết-bàn mà không vào trong cảnh giới Niết- bàn của Thanh văn và Duyên giác.
Lại nữa, này Na-la-diên! Nếu Bồ-tát muốn học Tam-muội  này, nên tăng trưởng tu tập tất cả phước đức, không nên đối với các công đức hữu lậu vô lậu mà sinh khởi vọng tưởng hoặc thiện bất thiện,  hữu vi vô vi, thế gian xuất thế gian, hoặc tội hoặc phước mà sinh khởi  tâm phân biệt, hiểu rõ tất cả phước đức đều vào pháp tánh. Hoặc làm phước hoặc tạo tội, hoặc làm việc vô ký đều vào pháp tánh, nên như vậy mà thấy những thứ phước của chúng sinh đều từ nơi không thật mà sinh khởi.  Vì  vậy,  phước  của  chúng  sinh,  phước  của  Phật  thảy  đều  đồng đẳng không thấy sai khác.
Pháp giới cũng không khác nên không  thể khởi  tâm  sai  khác.  Hoặc  phước  của  phàm  phu,  phước  của  hữu  học, phước của vô học, phước của Duyên giác, phước của Bồ-tát, phước của đấng Chánh Giác thảy đều không thật, không có vật thể, không ở một chỗ nào nhưng không chỗ nào là không có. Nên biết tánh của phước chúng sinh đều đồng đẳng.
Này thiện nam! Tất cả hình sắc đều nương nơi bốn đại, phước
của Bồ-tát cũng như vậy, cùng khắp tất cả, không nên đối với phước đức mà sinh tâm cuồng loạn buông lung, nên biết nó thuộc pháp vô thường đoạn diệt.
Này Na-la-diên! Nếu Bồ-tát muốn thành tựu Tam-muội này, đối với bốn pháp không sinh tâm sợ hãi.
Những gì là bốn?
1.  Đối với các chúng sinh khởi tâm đại bi vô biên.
2.  Cõi Phật vôbiên.
3.  Trí Phật vô biên.
4.  Nhập vào tâm của tất cả chúng sinh mà hành vô biên.
Này Na-la-diên! Bồ-tát đối với bốn việc vô biên này không  sinh tâm sợ hãi.
Lại nữa, Bồ-tát thường nên nghĩ biết bốn điều không thể nghĩ bàn.
Những gì là bốn?
1.  Nghiệp và nghiệp báo không thể nghĩ bàn.
2.   Tất cả chúng sinh mỗi mỗi hành động bao nhiêu là sai biệt không thể nghĩ bàn.
3.  Hạnh của Phật Như Lai không thể nghĩ bàn.
4.  Bồ-tát hành trì các hạnh thanh tịnh không thể nghĩ bàn.
Này Na-la-diên! Đó gọi là bốn điều không thể nghĩ bàn, cần nên hiểu rõ.
Này thiện nam! Bồ-tát cần hiểu rõ được  bốn điều không cùng tận.
Những gì là bốn?
1.  Phước đức là không cùngtận.
2.  Mãn lời thề nguyền là không cùng tận.
3.  Vui nói pháp không cùng tận.
4.  Trí rốt ráo là không cùng tận.
Na-la-diên, như vậy gọi là Bồ-tát đạt được bốn điều không  cùng tận.
Này Na-la-diên! Bồ-tát nên tu hành bốn pháp. Những gì là bốn?
1.  Dùng thiện căn để trang nghiêm không thể đầy đủ.
2.   Phương tiện hồi hướng tất cả không cùng tận, không thể  đầy đủ.
3.   Các  việc  trang  nghiêm  nơi  tất  cả  cõi  Phật,  dùng  để  trang nghiêm cõi Phật của mình cũng không có thể đầy đủ (trong bản tiếng Phạm thiếu một pháp).
Na-la-diên, Bồ-tát nên như vậy tu tập thực hành bốn pháp này. Khi ấy, Bồ-tát Na-la-diên lại hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Kinh  Tam  Muội  Nhất  Thiết  Phước  Đức  này  nên  trao  đến  tay những Bồ-tát nào?
Nếu là kinh quyển hoặc đến tận nhà ở hoặc người tu thiền, hoặc người tu nhẫn hoặc tại gia hoặc xuất gia.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:
–Này  Na-la-diên!  Nếu  Đại  Bồ-tát  nghe  pháp  Tam-muội  này, hoặc  tai  được  nghe,  hoặc  đến  tận  tay,  hoặc  gặp  tại  nhà,  người  này không sinh tâm phỉ báng, nếu được như vậy, ta không gọi họ là  người tại gia mà gọi người này là người xuất gia. Vì sao? Vì nhân duyên  này mà Bồ-tát siêng tu phân biệt đúng Tam-muội. Cho nên người này sẽ diệt trừ tất cả vọng tưởng và ở đâu người này cũng có đủ tất cả phước đức và trí tuệ không cùng tận, không tiêu tán.
Này Na-la-diên! Bồ-tát vì giáo hóa các chúng sinh, nên thị hiện các hình sắc, tướng mạo.
Này Na-la-diên! Người này đi đến cùng khắp các nơi, cũng  như mặt trời, mặt trăng chiếu khắp, bốn phương thiên hạ đâu đâu cũng đều hiển hiện
Như vậy, này Na-la-diên! Bồ-tát cũng vậy, không nương nơi  các chướng nạn. Tuy ở tại gia mà không nương gá nơi nhà, cũng như  xuất gia mà không nương gá pháp Sa-môn, cả hai  đều không thể nói. Vì sao? Vì Bồ-tát không nương nơi tất cả pháp sở hữu và các nhập.
Này  Na-la-diên!  Như  đồ  dùng  bằng  lưu  ly,  tuy  để  ở  đâu  cũng không làm mất tính chất của nó.
Như  vậy,  này  Na-la-diên!  Nếu  có  Bồ-tát  trú  trong  pháp  Tam- muội này, tuy ở tại gia cũng như là người xuất gia, không bao giờ mất thể tánh của pháp giới.
Khi ấy, Bồ-tát Na-la-diên hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Vị Đại Bồ-tát an trú chỗ nào mà không để mất pháp Tam-muội Tập  nhất  thiết  phước  đức,  để  được  phước  đức,  trí  tuệ  trang  nghiêm không cùng tận.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:
–Vị Đại Bồ-tát có bốn chỗ an trú:
1.  Bồ-tát không trụ nơi thân mạng và các lợi dưỡng
2.  Luôn tôn trọng, tán thán pháp Tam-muội: Không, vô tướng, vô nguyện.
3.   Không trú vào địa vị Thanh văn, Duyên giác, hy vọng  thành tựu trí tuệ của Phật và biện tài vô ngại, mà không cao ngạo vọng tưởng phân biệt, cũng không chấp trước chỗ an trú như vậy.
4.   Chỗ Bồ-tát trú vì giải thoát tất cả chúng sinh, không trụ vào ngã, nhân, chúng sinh, thọ mạng và trượng phu.
Này Na-la-diên! Như vậy, đó là bốn chỗ trú của Bồ-tát, là chỗ trú tối thắng trang nghiêm không cùng tận, chỗ gồm thâu phước đức lớn trang nghiêm không cùng tận, chỗ gồm thâu trí tuệ lớn để đoạn trừ  tất cả kiến chấp, thành tựu đầy đủ, sinh khởi các pháp của Phật.
Bồ-tát Na-la-diên hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Bồ-tát trú xứ như thế nào mà được gọi là xuất gia? Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:
–Này Na-la-diên! Bồ-tát có bốn pháp làm chỗ an trú. Nghĩa là trú từ, bi, hỷ, xả.
Na-la-diên, đó gọi là trú vào bốn chỗ an trú của Bồ-tát.
Này Na-la-diên! Bồ-tát nếu trú nơi phong ấp, xóm làng, hoặc  ở chỗ trống, hoặc ở chỗ thực hành bốn phạm hạnh, gọi là những chỗ ở chân chánh. Nếu xa lìa chỗ ở, thực hành bốn phạm hạnh, tuy ở trong cung điện lầu gác, cũng không gọi là chỗ ở yên ổn.
Này Na-la-diên! Người này gọi là lừa dối tất cả hàng trời,  người, A-tu-la luống ăn đồ dùng cúng dường.
Này  Na-la-diên!  Bồ-tát  nếu  trú  vào  các  phạm  hạnh  khác,  đều nhiếp vào trong bốn phạm hạnh này. Vì sao? Này Na-la-diên! Chỗ trú của phạm hạnh này rất là khó được,  nếu người không thấy biết bốn phạm  hạnh  này  là  nhân  duyên  của  bậc  Thánh  tu  thiền,  đó  là  người vướng vào thân kiến không đoạn trừ được kiêu mạn.
Bồ-tát Na-la-diên hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Thế nào là Bồ-tát được gọi là trú trong bốn pháp từ, bi, hỷ, xả? Văn-thù-sư-lợi  đáp:
–Na-la-diên! Nếu có Bồ-tát nghĩ như thế này: Ta cần phải hóa độ tất cả chúng sinh, như vây gọi là trú pháp từ. Ta cần cứu thoát tất cả chúng sinh, như vậy gọi là trú pháp bi. Ta nên khiến cho tất cả chúng sinh được an trú trong giáo pháp của Đức Phật, như vậy gọi là trú pháp hỷ. Ta nên dùng pháp xuất thế gian để cho tất cả chúng sinh đều  được vắng lăng, gọi là trú pháp xả.
Lại nữa, này Na-la-diên! Bồ-tát nếu hiểu rõ tất cả pháp giới đều là không, như vây gọi là trú pháp từ. Nếu Bồ-tát hiểu rõ được các pháp giới vốn vắng lặng, như vây gọi là trú pháp bi. Nếu Bồ-tát hiểu rõ  tất cả pháp giới không trước, không buộc, không giải, như vậy gọi là  trú pháp hỷ. Nếu Bồ-tát hiểu rõ tất cả pháp giới vốn không qua không lại, như vậy gọi là trú pháp xả.
Na-la-diên, như vậy gọi là Bồ-tát an trú từ, bi, hỷ, xả.
Lại nữa, này Na-la-diên! Bồ-tát nếu thấy pháp vô ngã mà không sợ hãi gọi là trú pháp từ. Nếu thấy tất cả chúng sinh vốn vắng lặng mà không sợ hãi, như vậy gọi là trú pháp bi. Nếu nghe tất cả các pháp của chư Phật đồng đẳng như pháp của một Đức Phật mà không sợ hãi, như vậy gọi là trú pháp hỷ. Nếu nghe tất cả cõi nước không cùng tận mà không sợ hãi, như vậy gọi là trú pháp xả.
Lại nữa, này Na-la-diên! Không bị trệ ngại gọi là từ. Cứu khổ chúng sinh gọi là bi. Không bị khổ não gọi là hỷ. Không có tâm cao thấp gọi làxả.
Lại nữa, này Na-la-diên! Có từ bi chẳng phải đại từ, đại bi. Đại từ đại bi Thanh văn, Duyên giác đều không có, Thanh văn, Duyên giác chỉ có từ bi vì không thể làm cho tất cả chúng sinh an lạc nên gọi là từ bi mà chẳng phải là đại từ bi.
Thế nào gọi là đại từ đại bi?
Nếu đối với tất cả chúng sinh khởi tâm bình đẳng độ thoát khổ não cho họ, như vậy gọi là Bồ-tát có tâm đại từ đại bi. Nếu sinh trong năm đường, vì các chúng sinh từ bỏ niềm vui của mình mà nghĩ:  “Nếu các  chúng sinh  rơi  trong  tà  đạo,  ta  sẽ  dẫn dắt vào trong chánh đạo”,
như vậy gọi là Bồ-tát có tâm đại từ đại bi.
Này Na-la-diên! Vì vậy nên biết: Thanh văn, Duyên giác có từ có bi mà không có đại từ đại bi.
Này Na-la-diên! Vì vậy Bồ-tát cần nên tu hành đầy đủ tâm đại từ đại bi.
Khi nói pháp đại từ đại bi này, có tám ngàn chúng sinh phát  tâm Vô  thượng  Chánh  đẳng  Chánh  giác,  họ  đều  nói:  Chúng  tôi  sẽ  an  trú như Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi về tâm đại từ đại  bi.
Tám ngàn Bồ-tát đạt được Tam-muội Tập nhất thiết phước đức.
Tám ngàn chúng sinh xa lìa trần cấu đạt được pháp nhãn thanh tịnh.
Khi ấy, Bồ-tát Na-la-diên bạch:
–Thưa Thế Tôn! Như Lai Thế Tôn gọi là có trăm phước tướng trang nghiêm, do nhân duyên gì mà được những tướng như vậy?
Đức Phật bảo:
–Này Na-la-diên! Nếu đối với mười phương thế giới nhiều  như cát sông Hằng, có các chúng sinh đều thành Chuyển luân vương, họ có bao nhiêu công đức đều gom lại sẽ bằng phước đức của một Đế thích.
Mười  phương  thế  giới  như  cát  sông  Hằng,  có  các  chúng  sinh thành tựu phước gom lại đều như trời Đế thích. Phước gom lại của tất cả Đế thích bằng phước đức gom lại của một Phạm vương.
Này Na-la-diên! Nếu thế giới nhiều như cát sông Hằng, có tất cả chúng sinh thành tựu phước  gom lại đều như là Phạm vương, vì vậy nên phước gom lại của các Phạm vương bằng phước gom lại của một vị Thanh văn.
Này Na-la-diên! Nếu khắp thế giới nhiều như cát sông Hằng, có tất cả chúng sinh đều thành Thanh văn có những phước đức gom lại cũng chỉ bằng phước đức gom lại của một Duyên giác.
Này Na-la-diên! Trong thế giới nhiều như các sông Hằng, có  tất cả chúng sinh đều thành tựu Duyên giác có những phước đức gom  lại. Tất  cả  Thanh  văn,  Duyên  giác  có bao  nhiêu  phước  đức  gom  lại  làm một, Bồ-tát thành tựu Tam-muội Tập nhất thiết phước đức, có tất cả phước đức gom lại vượt hơn phước đức của Thanh văn, Duyên giác nói trên.
Này  Na-la-diên! Vì  vậy  Bồ-tát  thành  tựu thiện  căn  phước  đức
nhiều vô lượng vô biên.
Này Na-la-diên! Nếu khiến các thế giới khắp mười phương nhiều như cát sông Hằng, trong đó có tất cả chúng sinh thảy đều được  Tam- muội Tập Nhất Thiết Phước Đức ấy gom lại, những phước đức gom lại này lại nhân lên trăm ngàn lần, còn không so bằng phước của một đức tướng  của  Phật.  Vì  vậy  cho  nên  gọi  là  Như  Lai  có  trăm  phước  đức tướng trang nghiêm mà tất cả chúng sinh đều không thể so lường, cũng gọi Như Lai là đấng có trăm phước đức tướng trang nghiêm không thể nghĩ bàn.
Khi  Đức  Phật  giảng  nói  pháp  trăm  phước  đức  tướng   trang nghiêm, khắp ba ngàn đại thiên thế giới chấn động đủ sáu cách, ánh sáng lớn chiếu khắp trăm ngàn, nhạc cụ không khảy tự hòa âm vang động, trời mưa hoa tươi đẹp. Tất cả thế gian trời, người, A-tu-la  v.v... tán thán là việc chưa từng có, lớn tiếng xưng tụng điều lành, năm  vóc gieo xuống đất đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn, thưa:
–Nếu có chúng sinh phát tâm cầu đạo Chánh chân vô thượng  rất khoái thích vì được lợi lành, sẽ được trăm phước đức tướng để trang nghiêm  thân,  thù  thắng  hơn  tất  cả  phước  đức  gom  lại  của  Đế  thích, Phạm vương hộ đời và của hàng Thanh văn, Duyên giác. Nếu có chúng sinh nghe kinh quý báu Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội này  sẽ được lợi ích lớn, được nghe rồi nên như lời dạy trong kinh mà tu hành.
Thưa Thế Tôn! Trong nước chỗ nào có kinh này nên biết ở đó có các thiện nam, tín nữ nhờ Phật lực gia trì có thể phát hành lưu thông kinh ấy.
Thưa Thế Tôn! Giả sử khắp thế giới có lửa lớn, cũng nên từ trong đó vượt qua mà đến nghe cho được kinh này.
Đức Phật dạy:
–Đúng như vậy! Này thiện nam! Như ông đã nói, nếu có thiện nam, tín nữ không nghe được kinh này, nên biết người này đã bị ma nắm giữ.
Này thiện nam! Nếu Bồ-tát nghe kinh Tam-muội này mà không thể thọ trì, Ta không nói rằng người này đã được nghe. Nếu nghe  mà không trì, không đọc, không tụng, không truyền bá rộng ra, không ở giữa đại chúng rộng, phân biệt giảng nói thì không thể gọi là người  đa
văn.
Bấy giờ, đại chúng cùng nhau đồng thanh bạch Phật:
–Thưa Thế Tôn! Nguyện hộ trì kinh Tập Nhất Thiết Phước  Đức Tam Muội và làm cho lưu truyền rộng khắp.
Khi  ấy,  Đức  Thế  Tôn  phóng  ra ánh  sáng  rực rỡ  từ  tướng  bạch hào, chiếu khắp vô lượng vô biên thế giới, trong ánh sáng ấy phát  ra âm thanh: “Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Giác hộ trì kinh này”.
Bấy giờ, Đức Phật bảo Đại đức A-nan:
–Này A-nan! Như Lai không bao lâu nữa sẽ vào Niết-bàn, sau ba tháng sẽ vào Niết-bàn vô dư.
Này A-nan! Nay Ta đem kinh Tam-muội này giao phó cho  ông, ông nên thọ trì đọc tụng rộng phân biệt giảng nói.
Này A-nan! Nếu có chúng sinh nào thọ trì kinh này, thì đối với người này Đức Phật không vào Niết-bàn, pháp cũng không hề diệt.
Vì sao? Này A-nan! Nếu có người được khai mở chỉ bày về  kinh điển này, nên biết người này đã được thấy Phật. Nếu có người ở  trong đại  chúng  vì  họ  phân  biệt  diễn  nói  kinh,  chỉ  rõ  văn  nghĩa,  nên  biết người này giữ gìn chánh pháp.
Khi ấy, A-nan rơi lệ cảm động bạch:
–Thưa Thế Tôn! Xin Thế Tôn trụ lâu ở đời một kiếp, hoặc trụ trăm kiếp, hoặc trụ lâu ở đời ngàn kiếp để đem lại nhiều lợi ích an ổn, nhiều lợi ích an lạc cho cả hàng trời và người.
Đức Phật bảo A-nan:
–Ông chớ buồn khóc, nên giữ gìn kinh này để thường đọc  tụng, truyền bá rộng rãi, chớ để thất lạc, thì khi nào cũng thường được  thấy Phật. Vì sao? Vì Phật Như Lai đều không thể dùng sắc thân để thấy, không thể dùng ba mươi hai tướng để thấy, không thể dùng các  tướng hảo mà được diện kiến.
Này  A-nan!  Nếu  có  người  được  thấy  những  kinh  điển  như  thế này, thì chính là thấy Phật.
Khi Đức Phật giảng nói kinh này rồi,
Pháp vương tử Văn-thù-sư- lợi, Bồ-tát Na-la-diên, Lực sĩ Tịnh Oai và các Bồ-tát đại tăng, Đại đức A-nan v.v... đại chúng Thanh văn, tất cả hàng trời, người, loài rồng, Dạ-xoa,  Càn-thát-bà,  A-tu-la  trong  thế  gian,  tất  cả  chúng sinh nghe
Phật giảng nói đều rất hoan hỷ.
/53
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »