396 - Kinh Đại Bi - Quyển II - Phẩm 4: La Hầu La (Trang 419 - 439)">
Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1139.

Chương 15: Kinh Đại Bi - Quyển II - Phẩm 4: La Hầu La (Trang 419 - 439)

KINH  ĐẠI  BI
 
QUYỂN  II

 
Phẩm  4: LA  HẦU  LA
 
Bấy giờ, Đại đức La-hầu-la nghĩ như vầy: Nay ta có gì vui, có  gì thích ý, có gì phấn khởi, có gì hào hứng mà kham nhẫn diện kiến  Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn. Nghĩ như vậy rồi, La-hầu-la hướng về phương Đông bắc cách cõi Phật này mười quốc độ, có thế giới tên là Ma-ly-chi, Đức Phật của thế giới ấy hiệu là Nan Thắng Như Lai Ứng Chánh Biến Tri. Tuệ mạng La-hầu-la ở chỗ Lực sĩ, thành Câu-thi, biến mất, hướng về phương Đông bắc, chỗ Đức Nan Thắng Như Lai Ứng Chánh Biến Tri, đến nơi rồi cúi đầu đảnh lễ, lui đứng một bên ưu sầu không vui.
Khi đó, Đức Như Lai Nan Thắng bảo La-hầu-la:
–Này La-hầu-la!  Ông chớ có ưu sầu bi thảm. La-hầu-la, tất cả những điều yêu mến, các việc ưng ý, hữu vi hòa hợp ắt đều ly tán. La- hầu-la, chư Phật Thế Tôn làm Phật sự xong đều vào Niết-bàn, việc này phải vậy thôi. Này La-hầu-la! Nay ông nên trở về với Đức Thích Ca Mâu  Ni  Như  Lai  Ứng  Chánh  Biến  Tri  đang  nằm  nghiêng  hông  bên phải như sư tử vương, dưới hai cây Ta-la chỗ Lực sĩ sinh, sau đêm nay, Như Lai sẽ nhập vào Niết-bàn trong cảnh giới Niết-bàn vô dư. La-hầu- la, ông phải nên đến đó, nếu Phật Như Lai nhập Niết-bàn thì sau này chắc ông ưu buồn, hối tiếc.
Đức Nan Thắng vừa dứt lời, La-hầu-la bạch:
–Thưa Thế Tôn! Con không chịu đựng nổi khi nghe Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ưng Chánh Biến Tri nhập Niết-bàn, huống chi là nhẫn tâm thấy cảnh Phật Thế Tôn đó nhập Niết-bàn. Vì vậy con không kham nhẫn đến đó. Sau khi La-hầu-la thưa như vậy rồi, liền biến mất đi đến phương trên, vượt qua chín mươi chín thế giới, đến thế giới  thứ một trăm. Tại thế giới này, có Như Lai Ứng Chánh Biến Tri hiệu là

Thương Chủ. Sau khi đến đấy, La-hầu-la đảnh lễ rồi buồn khóc, ưu sầu lui đứng một bên.
Phật Thương Chủ bảo La-hầu-la:
–Thôi  La-hầu-la!  Ông  chớ  có  ưu  buồn.  Này  La-hầu-la!  Tất  cả các pháp sinh mà không sinh, già mà không già, bệnh mà không bệnh, chết mà không chết, tận mà không tận, thì điều này không có. Này La- hầu-la! Thời quá khứ, chư Phật, Thanh văn, Duyên giác lìa tịch diệt, nhập Niết-bàn. Thời vị lai, chư Phật, Thanh văn, Duyên giác lìa tịch diệt, nhập Niết-bàn. Thời hiện tại, chư Phật, Thanh văn, Duyên giác lìa tịch diệt, nhập Niết-bàn. Này La-hầu-la! Giả sử Như Lai trụ thế một kiếp hoặc trăm kiếp thì cũng phải nhập Niết-bàn như vậy. Này La-hầu- la! Chư Phật Thế Tôn không có pháp nào khác ngoài Niết-bàn tịch diệt rốt ráo. Này La-hầu-la! Cứu cánh tịch diệt là định rốt ráo, mát mẻ rốt ráo, diệt tận rốt ráo, an lạc rốt ráo, yên ổn rốt ráo. Điều đó có nghĩa: Không chỗ nào là không phải cảnh giới của Niết-bàn. Này  La-hầu-la! Sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, ân ái biệt ly, oán ghét gặp nhau, ước muốn không được, gánh nặng ngũ ấm, tất cả đều là khổ. Này  La- hầu-la! Chỉ có Niết-bàn là an vui. Này La-hầu-la! Ông cũng không lâu sẽ nhập Niết-bàn. Này La-hầu-la! Ông và Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết-bàn  một  chỗ,  không  sinh,  không  già,  không  bệnh,  không  chết, không ái biệt ly, không oán tắng hội, không điều gì là không thích. Này La-hầu-la! Ông chớ thương luyến, chớ có ưu buồn, chớ có sầu não. Này La-hầu-la! Ông nên tư duy: Ai sinh, ai già, ai chết, ai lưu chuyển, ai tái sinh.  Này  La-hầu-la!  Tất  cả  đều  là  chấp  giữ  điên  đảo  hư  vọng.  Vì những phàm phu chưa nghe Thánh pháp, chưa thấy các Thánh, chưatin Thánh pháp, chưa học Thánh pháp, chưa hiểu Thánh pháp, chưa biết Thánh pháp, chưa trụ Thánh pháp nên tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo. Do điên đảo nên dẫn đến sinh, sinh dẫn đến già, già dẫn đến chết, chết sinh trở lại, lưu chuyển mãi mãi, cháy khô hư hoại, ái luyến ưu sầu, gào khóc xé ruột. Này La-hầu-la! Tất cả Thánh nhân chỉ lấy pháp Tỳ-ni để dứt tất cả các hành ở trên, không còn tạo tác.  Này La-hầu-la! Việc làm của Đạo sư như vậy đã xong, đã độ xong các đệ tử Thanh văn, không còn gì để làm nữa. Này La-hầu-la! Ông chớ có bi luyến, chớ có ưu buồn, chớ có sầu não. Này La-hầu-la! Trong dòng họ
Thích, Phật Thích Ca Mâu Ni là đấng Pháp Vương vô thượng tôn  quý, ông nên nhanh chóng đến đó cung kính lễ bái cúng dường. Nếu Phật Niết-bàn thì sau này chắc ông ưu buồn hối tiếc. Này La-hầu-la! Nay tại chỗ đất Lực sĩ, giữa hai cây Ta-la, Phật Thích Ca Mâu Ni nằm nghiêng hông bên phải như sư tử vương, đang suy nghĩ muốn gặp ông. Này  La- hầu-la! Vậy ông nên đến đó nhanh.
Phật Thương Chủ nói như vậy rồi, Tuệ mạng La-hầu-la bạch:
–Thưa Thế Tôn! Con không chịu đựng nổi khi nghe Phật Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Chánh Biến Tri nhập Niết-bàn, huống chi là nhẫn  tâm  thấy  cảnh  Phật  Thế  Tôn  nhập  Niết-bàn.  Nói  như  vậy  rồi, thân tâm của La-hầu-la buồn bã tuyệt vọng, không còn tự chủ, lại  nói thế  này:  Đức  Thế  Tôn  Thích  Ca  Mâu  Ni  Pháp  Vương  vô  thượng  là đấng tôn quý trong dòng họ Thích, là đấng Pháp Vương vô thượng, là bảo báu của chúng sinh. Con nay sao có thể nhẫn tâm thấy cảnh Phật nhập Niết-bàn. Đức Thế Tôn từ bi thương yêu tất cả thế gian, là đấng mà tất cả hình tướng của thế gian không thể sánh được, là đấng làm đèn sáng cho tất cả thế gian, là đấng làm mắt sáng cho tất cả thế gian, là đấng làm ngọn đuốc tuệ cho tất cả thế gian, là đấng chiếu diệu tất cả thế gian, như mặt trời sáng bị tan mất thì sẽ không còn xuất hiện  nữa.
La-hầu-la vừa dứt lời, Thương Chủ Như Lai bảo:
–Thôi La-hầu-la! Ông đừng ưu sầu bi cảm nữa. Này  La-hầu-la! Ông không nghe Phật Thế Tôn đó nói pháp như vầy: Tất cả hành vô thường, tất cả hành là khổ, tất cả pháp vô ngã, Niết-bàn vắng lặng sao. Này La-hầu-la! Phật Thế Tôn đó nói kệ thế này:
Các hành vô thường
Là pháp sinh diệt
Sinh diệt, diệt rồi
Tịch diệt là vui.
La-hầu-la thưa:
–Đúng vậy, thưa Thế Tôn!
Đức Phật bảo La-hầu-la:
–Phật Thế Tôn đó, xưa kia không thể không nói thế này: “Hết thảy việc yêu mến, cho đến mọi điều ưng ý, chắc chắn sẽ bị tiêu diệt, ly tán trong thời gian không lâu. Giả sử, có tụ hội lâu thì cũng có ngày
ly tán”.
La-hầu-la thưa:
–Đúng vậy, Bà-già-bà! Đúng vậy, Tu-già-đà!
Đức Phật nói:
–Này  La-hầu-la!  Các  pháp  hữu  vi,  pháp  sinh,  pháp  hữu,  pháp giác tri, pháp khởi phân biệt, tất cả đều từ nhân duyên sinh, nếu không diệt thì điều này không có.
Lúc ấy, La-hầu-la nhớ Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Chánh Biến Tri, rồi rơi lệ thưa:
–Ngày mai đây, con không còn thấy Phật nói pháp cho các chúng Tỳ-kheo vây quanh. Như trong biển lớn núi Tu-di là chúa, các tướng trang nghiêm phát ánh sáng chiếu khắp. Như trăng tròn các sao vây quanh. Như biển sâu rộng là nơi tích tụ vô lượng các loại bảo báu. Như Chuyển  luân  vương  có  vô  lượng  quyến  thuộc  vây  quanh.  Như  núi Tuyết có nguồn sức cảm biết chỗ muôn hoa đua nở. Như núi  Thiết-vi tất cả gió dữ chẳng thể lay động. Thế Tôn cũng vậy, tất cả các ngọn gió nghị luận của ngoại đạo không thể làm khuynh động, như hoa sen ở trong bùn không bị pháp thế gian làm ô nhiễm, như Đại Phạm đầy đủ quyến  thuộc  Phạm,  như  Đế  thích  có ngàn  mắt,  như  chỗ  sư  tử  vương ngồi không có gì sợ sệt, thường xa lìa các sợ hãi hay gầm tiếng sư tử. Ngày  mai,  con  không  còn  được  gặp  Phật.  La-hầu-la nói  lời  này  rồi, đứng im lặng suy nghĩ, buồn khóc.
Khi đó, Thương Chủ Như Lai bảo La-hầu-la:
–Nay ông hãy nhanh chóng đến chỗ Phật đó, Phật Như Lai ấy đang suy nghĩ muốn gặp ông. La-hầu-la, ông nên đi nhanh chớ có hỏi nữa, ông lưu lại nơi đó thận trọng chớ làm phiền, quấy nhiễu Phật Thế Tôn. La-hầu-la, ông quyết phải về nhanh. Vì sao? La-hầu-la! Vì pháp thường của chư Phật là như vậy. Phật vì từ bi suy nghĩ muốn thấy  ông nên chưa nhập Niết-bàn.
Khi đó, La-hầu-la đầu mặt đảnh lễ Phật Thương Chủ và biến  mất khỏi nơi đó, đến thành Câu-thi nơi đất Lực sĩ sinh giữa hai cây  Ta-la. Chỉ trong nháy mắt La-hầu-la đến chỗ Như Lai cũng như vậy, đầu  mặt đảnh lễ Phật và đi nhiễu ba vòng, lui đứng một bên ưu sầu buồn khóc, chấp tay, rơi lệ. Lúc đó, Đức Thế Tôn bảo La-hầu-la:
–Thôi La-hầu-la! Ông chớ có bi luyến, ưu sầu, khóc lóc, tâm sinh phiền não bức rức. Này La-hầu-la! Ông đã hoàn tất việc hầu hạ Ta. Cũng vậy, Ta đã hoàn tất việc nuôi dạy ông. Này La-hầu-la! Ông chớ có sinh lòng luyến ái, sầu bi hối tiếc. La-hầu-la, Ta cùng các ông vì muốn làm cho tất cả chúng sinh không còn sợ hãi nên đã không gây oán thù, không làm não hại, chuyên cần tinh tấn, phát khởi tinh tấn dũng mãnh. La-hầu-la, nay Ta nhập Niết-bàn rồi, không còn làm  cha cho  kẻ  khác  nữa.  La-hầu-la,  ông  cũng  sẽ  nhập  Niết-bàn,  không  còn làm con cho người khác. La-hầu-la, Ta và ông, cả hai không làm  não loạn, không gây oán thù.
Khi đó, La-hầu-la bạch Phật:
–Thưa  Thế  Tôn!  Bà-già-bà  chớ  nhập  Niết-bàn,  Tu-già-đà  chớ nhập Niết-bàn! Cúi xin Thế Tôn trụ thêm ở đời một kiếp nữa để  làm cho các chúng sinh thêm nhiều lợi lạc và vì thương xót thế gian, vì tạo lợi ích an lạc cho hàng trời, người.
La-hầu-la thưa như vậy rồi, Phật bảo:
–Này La-hầu-la! Như Lai Ứng Chánh Biến Tri biết hết cácpháp, nên ở trong thế gian được gọi là Phật. La-hầu-la, nhưng pháp Phật đó không  tiêu  không  mất,  không  sinh  không  diệt,  không  đến  không  đi, không thành không hoại, không ngồi không nằm, không hợp không tan. Vì sao? La-hầu-la! Vì pháp trụ là như vậy, rốt ráo không sinh, rốt ráo không diệt, tự tánh không, tịch tĩnh Niết-bàn không thuộc vào chúng số, không nơi chốn, không thể nói, chẳng phải là đạo để nói. Còn  các pháp của Ta nói ở đây có nghĩa: Trụ rốt ráo, diệt rốt ráo, tịch diệt  rốt ráo, xa lìa rốt ráo, lìa dục rốt ráo, không hòa hợp rốt ráo, không làm rốt ráo, dứt tận rốt ráo. La-hầu-la, Ta tùy nghi nói pháp này, giả sử chư Phật nếu có xuất hiện ở đời, hoặc không xuất hiện ở đời thì các pháp vẫn trụ như vậy. Vì pháp thường của các pháp là như vậy, pháp  không biến dịch, pháp lìa dục, pháp tự tánh không. La-hầu-la, vì vậy Như Lai chẳng  mang  giới  tụ  nhập  Niết-bàn,  chẳng  mang  định  tụ,  tuệ  tụ,  giải thoát tụ, giải thoát tri kiến tụ nhập Niết-bàn. Này La-hầu-la! Ông chớ có  bi  luyến,  chớ  có  ưu  buồn,  chớ  có sầu  cảm.  La-hầu-la,  tất  cả  các hành  vô  thường  không  cố  định,  không  có  chỗ  hy  vọng,  là  pháp  vô thường biến đổi diệt tận. La-hầu-la, vì vậy phải chấm dứt, xả bỏ không
dính mắc các hành, chỉ cầu giải thoát. La-hầu-la, đây là giáo pháp của Ta.
Phật vì La-hầu-la giảng nói phẩm “Kiến thật đế” này thì có  sáu mươi Đại đức tâm đều dứt sạch các lậu và được giải thoát, hai mươi lăm Tỳ-kheo-ni tâm cũng dứt sạch các lậu và được giải thoát, vô lượng hàng trời, người xa lìa trần cấu, đắc được  pháp nhãn thanh tịnh, sáu vạn  tám  ngàn  các  vị  Bồ-tát  đắc  pháp  nhẫn  Vô  sinh.  Tất  cả  đều  vui mừng phấn khởi khen:
Pháp Phật thật không thể nghĩ bàn. Đại  chúng đều lấy hoa Ưu-ba-la, hoa Ba-đầu-ma, hoa Câu-mâu-đầu, hoa  Phân- đà-lợi tán rải trên Phật, mỗi người tự nói:
–Ở đời vị lai, con cũng sẽ làm thầy của hàng trời, người như vậy, xuất hiện ở thế gian nói:
Pháp thế gian vô thượng, Niết-bàn vô  tướng như vậy, dùng đại Niết-bàn như vậy mà nhập Niết-bàn.
Sau khi thưa nguyện, các Bồ-tát đó mặc nhiên an trụ.
Phẩm  5:  CA  DIẾP
 
Bấy giờ, bên chỗ Phật nằm, A-nan buồn rầu, rơi lệ, tuyệt vọng lăn lộn trên đất như cây đại thọ bị chặt ngã bên sườn núi, thưa Phật:
–Sao  Bà-già-bà  Niết-bàn  nhanh  quá  vậy!  Tu-già-đà  Niết-bàn nhanh quá vậy! Đấng đại từ bi, bảo báu của chúng sinh diệt độ nhanh quá, ngọn đèn lớn của thế gian, ngọn đuốc lớn của thế gian, bậc tối thượng  trong  hàng  trời,  người  diệt  độ  nhanh  quá.  Phân-đà-lợi  của chúng sinh ở trong thế gian rơi rụng nhanh quá. Bậc Long tượng của chúng sinh khéo tự điều phục, lại hay điều phục chúng sinh, người chưa điều phục khiến được điều phục, diệt độ nhanh quá. Đấng Đạo sư  vô thượng, thường hay chỉ bảo thế gian đạo an ổn, diệt độ nhanh quá. Tuệ nhãn cực sáng chiếu khắp thế gian, thường hay dạy bảo thế gian, diệt độ nhanh quá. Từ đây, thế gian mù tối không người dẫn đường. Bậc cha mẹ của chúng sinh ở trong thế gian lâm chung nhanh quá, thế gian cô độc không chỗ cậy nhờ. Tại sao, ngày mai tôi không còn thấy  bảo báu của chúng sinh nữa, mà chỉ còn nghe danh.
Lúc đó, Đức Thế Tôn bảoA-nan:
–Thôi A-nan! Ông chớ có ưu buồn bi não, Ta đã từng dạy ông: Tất cả những việc yêu thích, ưng ý, pháp hòa hợp ắt có ly tán. Này  A- nan! Các pháp hữu vi, pháp sinh, pháp hữu, pháp giác tri, pháp nhân duyên, pháp hoại diệt, nếu không tan hoại, thì điều này không có. Các pháp đó nếu trụ được thì điêu này cũng không thể có. A-nan, giả sử pháp có tồn tại lâu thì ắt cũng sẽ ly tán như vậy. Vì vậy ông chớ có  ưu buồn bi não.
Khi đó, A-nan nhìn chăm chăm, chiêm ngưỡng tôn nhan Như Lai, quán tưởng vậy rồi cũng lại ngã xuống, như cây đại thọ bị chặt ngã bên sườn núi. Phật lại bảo A-nan:
–Thôi! Ông chớ có ưu buồn, bi não, không vì ông ưu buồn mà làm cho Ta trụ thêm ở đời được. A-nan, Ta đã từng dạy ông: Tất cả các việc yêu thích, ưng ý, hữu vi hòa hợp chắc chắn sẽ ly biệt. Giả sử có tồn tại, tụ hội lâu đi nữa thì cũng sẽ hoại diệt. Các hành là như vậy. Này A-nan! Ông dùng thân, khẩu hiền hòa hiếu thuận Như Lai, tâm không có hai, vô lượng an lạc, không sân, không hận, không có oán thù.
Lúc đó, A-nan đứng dậy lau nước mắt, thưa:
–Bạch  Thế  Tôn!  Con  sao  không  sầu,  không  bi  não  được.  Con cùng với đấng đại từ bi, bậc ra khỏi tất cả thế gian, bậc thương xót tất cả thế gian, bậc được tất cả thế gian yêu mến, bậc được tất cả thế gian hướng về, bậc dẫn đường cho tất cả thế gian, bậc làm lợi ích cho tất cả thế gian, bậc làm an lạc cho tất cả thế gian, bậc đại bảo sáng suốt của chúng sinh như vậy đang ly biệt.
A-nan khóc lóc thảm thiết, lau nước mắt, thưa:
–Lạ thay! Lạ thay! Các hành là thây chết mà có thể chi phối,  có thể làm cho ngọn đèn lớn, ngọn đuốc lớn, mặt trời lớn chiếu vô  lượng ánh sáng rực rỡ, sức nóng lan rộng khắp trăm ngàn ức na-do-tha; đại bảo  của  chúng  sinh  hiện  khắp  làm  cho  thế  gian  thấy  biết  cảnh  giới niệm tuệ, diệt độ nhanh quá. Đấng đại trí tuệ, đấng đại quang minh, nay ở thế gian diệt độ nhanh quá. Đấng bảo hộ che chở những người cô độc ở thế gian, diệt độ nhanh quá. Như Lai đầy đủ thần thông biến hóa, nay ở thế gian diệt độ nhanh quá. Thưa Thế Tôn! Con làm sao không ưu sầu, không bi não được. Thưa Thế Tôn! Nay con lấy làm lạ, tâm con
sao  không  bị  phá  nứt  ra  làm  trăm  mảnh.  Con  cũng  lấy  làm  lạ,  sao không mạng chung ở trước Phật. Việc như vậy, chắc là do thần lực Thế Tôn gia hộ cho con, nhờ vậy nên con chưa mạng chung. Vì sao? Vì con gần gũi Phật nên được ghi nhận, thọ trì không quên tám vạn bốn  ngàn các pháp bảo tạng, nhưng chưa lưu hành rộng khắp cho các cõi trời, người trong mười phương. Thưa Thế Tôn! Nhờ thần lực Như Lai gia hộ nên con chưa mạng chung. Con làm sao không ưu sầu, làm sao  không bi não. Thưa Thế Tôn! Con đến thành Ca-tỳ-la nơi Thế Tôn sinh, khi dòng họ Thích tâp hợp,  con nên nói những gì?  Có thể con nói ngày Phật Thích Ca Mâu Ni
Pháp Vương vô thượng tôn quý trong dòng  họ Thích nhập Niết-bàn rồi chăng? Con đến thành Vương-xá chỗ vua  A- xà-thế con của Tỳ-đề-hy, nên nói những gì? Con có thể nói ngày  Phật Đại Sư Y Vương có khả năng nhổ mũi tên nghiệp vô gián cho thế  gian diệt  độ  rồi  chăng?  Con  đến rừng  Kỳ  Đà,  trưởng  giả  Cấp  Cô  Độc  hỏi: Khi nào Như Lai đến khu vườn rừng Kỳ Đà - Cấp Cô Độc? Con nên đáp thế nào? Con đến thành Tỳ-xá-ly, trước mặt các Ly-xa-tử, nên nói những gì? Con có thể nói Tôn sư hết lòng thương xót thế gian diệt  độ rồi chăng? Thiện nam, thiện nữ ở các phương cũng đến hỏi nghĩa này, con nên đáp làm sao? Con có thể nói đấng đại trí thế gian, bậc trí tuệ đoạn trừ tất cả nghi diệt độ rồi chăng? Các chúng Tỳ-kheo ở khắp mọi phương,  vì  muốn  thấy  Phật  để  cúng  dường,  lễ  bái,  vì  bố-tát  nên  có người đến hỏi thăm Thế Tôn, có người đến hỏi pháp, có người đến hỏi nghĩa,  nhưng  con  không  thấy,  không  nghe  họ  nói  đắc  pháp  thượng nhân. Sau khi Thế Tôn diệt độ, người tu phạm hạnh ở đời có các  thần thông biến hóa cũng diệt độ. Con làm sao không ưu sầu, làm sao không bi não!
A-nan thưa như vậy rồi, Phật lại bảo:
–Thôi A-nan! Ông đừng ưu sầu nữa, phạm hạnh của Ta sẽ lưu hành rộng khắp, trụ lâu dài ở thế gian, tạo lợi ích cho hàng trời người. A-nan, sau khi Ta diệt độ hơn bốn trăm năm, Ca-diếp cùng ông và  các đệ tử lần lượt thừa kế phát triển mở rộng thần thông biến hóa, tu hành phạm hạnh tạo lợi ích cho hàng trời, người. A-nan, ông chớ có ưu buồn, chánh pháp của Ta sẽ lưu hành rộng khắp, trường tồn ở thế gian làm lợi ích cho hàng trời, người. A-nan, sau khi Ta Niết-bàn, Tỳ-kheo   Ca-
diếp cùng ông phát tâm tập hợp pháp Bồ-đề vô thượng của Ta, trải qua a-tăng-kỳ ức na-do-tha kiếp làm tăng ích các pháp lành, khiến  không đoạn mất. Vì sao? A-nan, vì Tỳ-kheo Ca-diếp thiểu dục, tri túc, tinh tấn, viễn ly, không thích vọng niệm, không thích hý luận, định tuệ hiện tiền.  A-nan,  Tỳ-kheo  Ca-diếp  đối  với  đại  chúng  thường  hay  chỉ  bày giáo pháp tạo lợi ích an vui, đối với các bạn đồng tu thuyết pháp không mỏi mệt, giống như cha mẹ. Này A-nan! Sự hiểu biết của Tỳ-kheo Ca- diếp hơn hẳn bốn chúng, thương xót thế gian, vì muốn các hàng trời, người, chúng sinh được lợi ích an lạc nên phát tâm như vậy.
A-nan bạch Phật:
–Thưa  Thế  Tôn!  Tỳ-kheo  Ca-diếp  làm  lợi  ích  an  lạc  cho  bao nhiêu chúng trời, người?
Phật bảo A-nan:
–Tỳ-kheo Ca-diếp khi nhập Niết-bàn, thệ nguyện: Sau khi  diệt độ, con nguyện dùng thần lực gia trì làm cho thân thể, y áo, tóc  lông, màu da, các căn, chân tay v.v… không biến hoại. Đến khi Di-lặc Như Lai Ứng Chánh Biến Tri xuất hiện ở đời, thì thân ấy của con thấy  Đức Thế Tôn đó cùng chúng hội đầu tiên của Ngài. Cũng vậy, ở chúng  hội lớn thứ hai, thứ ba, vì nguyện lực gia trì nên con sẽ khiến cho hằng trăm  chúng  sinh,  hằng  ngàn  chúng  sinh,  hằng  ngàn  vạn  chúng  sinh, hằng  trăm  ngàn  ức  na-do-tha  chúng  sinh  đắc  quả  Thánh  đạo.  Hoặc Phật Di-lặc thấy thân thể, y áo của con không biến hoại và cả  Thanh văn ba hội cũng thấy thân con, các căn, chi tiết, ca-sa v.v… không  biến hoại. Sau đó, con ở giữa không trung tự hỏa táng thân mình, thân  hỏa táng rồi mà không có tro, than. A-nan, đó là Ca-diếp phát tâm làm  lợi ích an lạc cho chúng sinh. A-nan, Tỳ-kheo Ca-diếp vì nguyện lực gia trì như vậy, nên thành thục được các chúng sinh như vậy, rồi mới nhập Niết-bàn. A-nan, Tỳ-kheo Ca-diếp nhập Niết-bàn rồi, sẽ có bốn núi đá đến chỗ Ca-diếp, hợp lại thành một phủ che thân ấy. A-nan, chính thân Ca-diếp ở trong bốn núi đá đó không bị biến hoại cho đến lúc Phật Di- lặc xuất hiện ở đời, thân Tỳ-kheo Ca-diếp trụ không hoại và y ca-sa cũng trụ không hoại. Vì sao? A-nan, vì người trì giới thanh tịnh, người tu phạm hạnh, người có trí tuệ nên sở nguyện được thành tựu. Chẳng phải người không trì giới thanh tịnh, không tu phạm hạnh, không có  trí
tuệ mà có thể thành tựu được ước nguyện. A-nan, Tỳ-kheo Ca-diếp, trước vì nguyện lực gia trì nên nhập Niết-bàn, sau khi Niết-bàn, tóc, lông, máu, thịt, các căn, tay chân v.v… của thân Ca-diếp không bị biến hoại, cho đến y áo cũng không biến hoại, và thân ấy cũng không có mùi hôi thối, cho đến lúc Di-lặc xuất hiện ở đời. A-nan, khi Phật Di-lặc xuất hiện ở đời, cùng với chín mươi sáu ức Tỳ-kheo trong hội thứ  nhất đến chỗ Ca-diếp. A-nan, chính Phật Di-lặc chỉ thân Ca-diếp cho  chín mươi sáu ức Tỳ-kheo và nói như vầy: Này các Tỳ-kheo! Đây là Tỳ- kheo Ca-diếp ở trong pháp Thích Ca Mâu Ni Như Lai, làm đại Thanh văn  trụ  hạnh  Đầu-đà  tối  thắng,  thiểu  dục,  tri  túc,  tinh  tấn,  viễn  ly, không thích vọng niệm, không thích hý luận, định tuệ hiện tiền, đối với chúng sinh thường hay chỉ dạy giáo pháp tạo lợi ích an vui, đối với các bạn  đồng  tu  thuyết  pháp  không  mỏi  mệt  như  cha  mẹ.  Này  các  Tỳ- kheo! Sự hiểu biết của Tỳ-kheo Ca-diếp sâu xa hơn hẳn bốn chúng, tùy thuận các chúng sinh, dứt sạch các nghi. Này chư Tỳ-kheo! Các ông quán xem Ca-diếp, vì thương xót thế gian, vì muốn làm an lạc lợi  ích cho các chúng trời, người nên đã phát tâm như vậy. A-nan, Di-lặc Như Lai Ứng Chánh Biến Tri cùng hội thứ hai, chín mươi bốn ức  Tỳ-kheo đến chỗ Ca-diếp. Cho đến hội thứ ba, chín mươi hai ức Thanh văn cùng Di-lặc đến chỗ Ca-diếp. A-nan, khi đó Phật Di-lặc chỉ cho chúng  Tỳ- kheo  chín  mươi  hai  ức,  và  nói:  Tỳ-kheo  Ca-diếp  này,  ở  trong  pháp Thích Ca Mâu Ni Như Lai, là bậc Thanh văn tối đại, trụ hạnh Đầu-đà tối thắng, thiểu dục, tri túc cho đến phát tâm vì muốn làm lợi ích an lạc cho tất cả chúng trời, người. A-nan, lúc đó Di-lặc Như Lai ung dung thư thái dùng cánh tay phải sắc vàng rờ trên đảnh đầu Ca-diếp, quán sát các Tỳ-kheo và nói: Này các Tỳ-kheo, sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni diệt  độ,  Tỳ-kheo  Ca-diếp  này  đã  gìn  giữ  truyền  bá  rộng  rãi  chánh pháp. Còn sau khi Ta diệt độ, ở trong chúng đây không có một ai có thể gìn giữ và truyền bá rộng chánh pháp của Ta như Tỳ-kheo Ca-diếp. A-nan, chính Tỳ-kheo Ca-diếp đối với hội lớn thứ ba đó, vì nguyện gia trì xưa nên sẽ trụ giữa hư không hiện các loại thần thông, biến hóa vô số, rồi tự  hỏa táng thân mình, hỏa táng  thân  xong mà không có tro, than. Lúc Phật Di-lặc còn đang ở đó, Ca-diếp phát khởi vậy rồi, vì các chúng  Tỳ-kheo  chín  mươi  hai  ức  nên  nói  vô  số  pháp  làm  cho  hằng
trăm,  hằng  ngàn,  hằng  ức  na-do-tha  trăm  ngàn  trời,  người  đắc  quả thánh  đạo.  A-nan,  Tỳ-kheo  Ca-diếp  phát  tâm  làm  lợi  ích  cho  nhiều chúng sinh như vậy, ông cũng phát tâm làm lợi ích, an lạc nhiều cho chúng sinh như vậy. Tỳ-kheo Ca-diếp cùng ông phát tâm gìn giữ chánh pháp của Ta, dùng thần thông biến hóa đủ loại, tu hành phạm hạnh, thường hay làm lợi ích các chúng trời, người, trải qua bốn trăm năm.
 
Phẩm  6: GIỮ  GÌN CHÁNH  PHÁP
 
Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại bảo A-nan:
–Ông  chớ  có  ưu  buồn, bi  não!  Phạm  hạnh  của Ta  sẽ  lưu  hành cùng khắp, đều có thể làm tăng thêm lợi ích cho các chúng trời, người. Này  A-nan!  Sau  khi  Ta  diệt  độ,  tại  núi  Ưu-lâu-mạn-trà,  thành  Ma- thâu-la, có Tăng-già-lam tên là Na-trì-ca. Tại đó, sẽ có Tỳ-kheo tên là Tỳ-đề-xa, thần thông quảng đại, đủ đại oai lực, đắc đạo chánh trí, đa văn vô úy, trì kinh, trì luật, trì luận, khai thị, diễn nói giáo pháp cho các bạn đồng tu không mỏi mệt. Tỳ-kheo ấy, cũng sẽ phát khởi thần thông biến hóa, tu hành phạm hạnh, truyền bá chánh pháp của Ta rộng khắp, làm tăng thêm lợi ích cho hàng trời người. A-nan, ông chớ có ưu buồn bi não! Sau khi ta diệt  độ, cũng tại núi Ưu-lâu-mạn-trà, trong Tăng- già-lam Na-trì-ca có Tỳ-kheo tên Đề-trì-ca, thần thông quảng đại, đầy đủ oai lực, thuyết pháp cho các bạn đồng tu không mỏi mệt và  thường làm cho pháp của Ta lưu hành rộng khắp, làm tăng thêm lợi ích cho hàng trời, người. A-nan, ông chớ có ưu buồn, bi não! Sau khi ta diệt  độ, ở bên cạnh núi Ưu-lâu-mạn-trà có núi tên là Ưu-thi-la. Tại đó, có  bốn vạn Tỳ-kheo hội hợp, thần thông quảng đại, đầy đủ oai lực, tất cả  đều có khả năng đắc đạo chánh trí, đa văn vô úy, trì kinh, trì luật, trì  luận. Họ đều có khả năng chỉ dạy lợi ích, an vui, thuyết pháp cho các bạn đồng tu không mỏi mệt. Các Tỳ-kheo tại đó, có thần thông biến hóa, tu hành  phạm  hạnh khiến cho  chánh pháp của  Ta  lưu  hành  rộng  khắp, đều có thể làm tăng thêm lợi ích cho các chúng trời, người. A-nan, ông chớ có ưu buồn, bi não! Sau khi Ta diệt độ, lại ở bên cạnh núi Ưu-lâu- mạn-trà sẽ có Tỳ-kheo tên là Ưu-ba-cúc-đa, thần thông quảng đại, đầy
đủ oai lực, cho đến cũng hay phát khởi thần thông biến hóa, tu hành phạm hạnh làm cho chánh pháp của Ta lưu hành rộng khắp, làm  tăng thêm lợi ích cho các chúng trời, người. Ở đó, sẽ có ngàn vị A-la-hán tập hợp, các chúng Tỳ-kheo tám vạn tám ngàn người cùng nhau bố-tát yết-ma một hội, tâm không khi dối, thọ ký cho nhau. Các Tỳ-kheo  đó đều hay phát khởi thần thong biến hóa, tu hành phạm hạnh làm cho chánh pháp của Ta lưu hành rộng khắp, có khả năng làm tăng thêm lợi ích  cho  các  chúng  trời,  người.  A-nan,  ông  chớ  có  ưu  buồn,  bi  não! Chính  Ưu-ba-cúc-đa  và  các  đệ  tử,  mỗi  mỗi  đều  hay  làm  cho  chánh pháp của Ta lưu hành rộng khắp, thường hay hiển bày chánh pháp cho các hàng trời, người. A-nan, ông chớ ưu buồn bi nào! Sau khi Ta  diệt độ, tại thành Ba-ly-phất có Tăng-già-lam tên là Bạt-đa-ni. Nơi đó,  có Tỳ-kheo tên là A-thâu-bà-cúc-đa đầy đủ ba minh, sáu thông và  tám giải thoát, có hai phần thiền, trí giải thoát tự tại, thần thông quảng đại, đầy đủ oai lực. Tỳ-kheo đó cũng hay phát khởi thần thông biến hóa, tu hành phạm hạnh làm cho chánh pháp của Ta lưu hành rộng khắp, đem lại lợi ích cho hàng trời, người. A-nan, ông chớ có ưu buồn bi não! Sau khi Ta diệt độ, lại ở thành Ba-ly có Tăng-già-lam tên là  Cưu-cưu-tra. Nơi đó, có Tỳ-kheo tên là Uất-đa-la, thần thông quảng đại, đầy đủ oai lực, cho đến cũng có khả năng phát khởi thần thông biến hóa, tu hành phạm hạnh làm cho chánh pháp của Ta lưu hành rộng khắp, đem lại lợi ích cho hàng trời người. A-nan, ông chớ có ưu buồn, bi não! Phạm hạnh của Ta sẽ lưu hành rộng khắp, thường hay làm tăng thêm lợi ích cho các chúng trời người. A-nan, sau khi Ta diệt độ, tại nước Ương-già sẽ có các Thanh văn đệ tử của Ta mở hội Bát-già-bạt-sắc-già. Ở đó, sẽ có hơn một vạn ba ngàn A-la-hán hội hợp. Tất cả những vị này đều có thần thông quảng đại, đầy đủ oai lực, có khả năng thuyết pháp chocác bạn đồng tu không mỏi mệt. Trong hội đó, có Thượng tọa tên là Thiết- đà-sa-trà  thần  thông  quảng  đại,  đầy  đủ  oai  lực,  có  khả  năng  thuyết pháp cho các bạn đồng tu không mỏi mệt. Những người đó cũng có khả năng  phát  khởi  thần  thông  biến  hóa,  tu  hành  phạm  hạnh,  làm  cho chánh  pháp  của  Ta  lưu  hành  rộng  khắp  và  làm  tăng  thêm  lợi  ích  cho các chúng trời, người. A-nan, ông chớ có ưu phiền, bi não! Sau khi Ta diệt độ, tại thành Kim-bát-tất-đà sẽ có hai Tỳ-kheo trong dòng Bà-la-
môn đi xuất gia. Một vị tên là Tỳ-đầu-la, vị kia tên là San-xà-gia.  Hai vị đó đều có thần thông quảng đại, đầy đủ oai lực, có nhiều năng  lực, thường hay phát khởi thần thông biến hóa, tu hành phạm hạnh, làm cho chánh pháp của Ta lưu hành rộng khắp, làm tăng thêm lợi ích cho hàng trời, người. Này A-nan, sau khi Ta diệt độ, tại thành Bà-kê-đa có Tỳ- kheo tên Đại Tinh Tấn, thần thông quảng đại, đầy đủ oai lực, cũng hay phát  khởi  thần  thông  biến  hóa,  tu  hành  phạm  hạnh,  làm  cho  chánh pháp của Ta lưu hành rộng khắp trong các cõi trời, người. A-nan, ông chớ cơ ưu buồn, bi não! Sau khi Ta diệt độ, sẽ có Tỳ-kheo  Mạc-điền- đề đầy đủ ba minh, sáu thông, tám giải thoát, hai phần thiền, trí giải thoát, tự tại, thần thông quảng đại, đầy đủ oai lực, cho đến thường  hay nói pháp cho các bạn đồng tu không mỏi mệt. Trong sông Kế Tân, phía Bắc nước Thiên Trúc có vô lượng các rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà v.v... thân to khỏe mạnh, sống tại sông đó. Chính Tỳ-kheo Mạc-điền-đề đến con sông đó, chiến đấu với bọn rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà v.v... Mạc- điền-đề dùng thần thông biến hóa, đem pháp hàng phục các rồng,  Dạ- xoa, Càn-thát-bà v.v... khiến cho chúng kính tín. Sau khi chúng đã kính tín, Mạc-điền-đề cho dân chúng đến ở sông Kế Tân đó và dựng lập các Tăng-già-lam có nhiều Thanh văn, hàng trăm, hàng ngàn chúng Thanh văn tụ hội. Chính Tỳ-kheo Mạc-điền-đề làm cho trú xứ đó được đầy đủ các việc lành trong tất cả thời. A-nan, nếu Ta tán dương, rộng nói đầy đủ công đức của Mạc-điền-đề thì không thể cùng tận. A-nan, chính Tỳ- kheo  Mạc-điền-đề  được  đầy  đủ  các công  đức, có  khả  năng làm  cho pháp Tỳ-ni, thần thông, phạm hạnh của Ta lưu hành rộng khắp trong các cõi trời, người. A-nan, ông chớ có ưu buồn, bi não! Sau khi Ta  diệt độ, tại nước Càn-đà-la phía Bắc nước Thiên Trúc sẽ có Tỳ-kheo tên là Ca-diếp thần thông quảng đại, đầy đủ oai lực, có nhiều khả năng,  đắc đạo chánh trí, đa văn vô úy, trì kinh, trì luật, trì luận, cho đến cũng hay làm cho chánh pháp của Ta lưu hành rộng khắp. A-nan, ông chớ có  ưu buồn,  bi  não!  Sau  khi  Ta  diệt  độ,  tại  thành  Đắc-xoa-thi-la  phía  Bắc nước Thiên Trúc, có trưởng giả tên là Xà-tri-ca giàu sang, quyền  thế, uy danh chấn động khắp nơi, tiền của bảo báu rất nhiều, tương xứng với công đức, trí tuệ đầy đủ, tướng hảo đoan nghiêm bậc nhất.  Trưởng giả Xà-tri-ca đó có lòng tin thâm sâu, cung kính, tôn trọng, tán thán,
cúng dường Ta và các Thanh văn, tích tụ căn lành Bồ đề theo thứ  lớp. Ở đời vị lại mãn ngàn kiếp rồi, trưởng giả đó sẽ đắc Bồ-đề vô thượng, thành Phật hiệu là Phổ Quang, kiếp tên là Tạo Hiền, thế giới tên là Cụ Đai Trang Nghiêm. A-nan, trưởng giả Xà-tri-ca đó sẽ lưu hành chánh pháp của Ta trong các cõi trời, người. A-nan, ông chớ có ưu buồn, bi não! Sau khi Ta diệt độ, ở phía Bắc nước Thiên Trúc có vương đô  tên là Phú-ca-la-bạt-đế, đời sống muôn dân phong phú hưng thịnh, an vui yên ổn. Nơi đó, có rất nhiều Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ hành trì thuận theo  kinh  điển,  có  lòng  tin  sâu  sắc,  cung  kính,  tôn  trọng  ngợi  khen, cúng dường Ta và các Thanh văn. Ở đó, có vô lượng đệ tử Thanh  văn, thần thông quảng đại, đầy đủ oai lực, có nhiều khả năng. A-nan, ở  đó có nhiều trưởng giả, cư sĩ đắc đạo chánh trí, đa văn vô úy, đủ đại trí tuệ. A-nan, vương đô Phú-ca-la-bạt-đế đó có các bạch y tại gia sau khi mạng chung liền sinh lên cõi trời Đâu-suất, còn những người xuất  gia đều  đọa  vào  địa  ngục.  Vì  sao?  Vì  họ  không  trụ  giới,  không  trụ  luật nghi. Này A-nan! Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ v.v… ở vương đô Phú-ca- la-bạt-đế sẽ nghĩ thế này: Chánh pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni chắc sẽ diệt mất. Vì sao? Vì các Tỳ-kheo tham cầu mọi thứ lợi dưỡng  lòng không biết chán, hủy phạm nhiều giới cấm, tâm tán loạn, không  thích chốn  núi  rừng  thanh  vắng,  bỏ  mất  niềm  vui  thiền  định.  Trong  bốn chúng, có một số người thường cùng phá giới trái đạo. Họ cùng với các Bà-la-môn,  trưởng  giả,  cư  sĩ  v.v…  kết  thân,  gần  gũi,  không  còn  kính trọng, qua lại biếu tặng đồ quý, bày tiệc ăn uống, chẳng sống theoluật nghi, không có hổ thẹn, hành dâm với vợ, con của những người đó. Các bà  là  môn,  trưởng  giả, cư  sĩ v.v…  thấy,  nghe  những  Tỳ-kheo  đó  làm việc phi pháp thì hết lòng sợ sệt, buồn rầu ưu não, nói thế này: Chánh pháp Phật có thể chìm mất chăng! Cũng tại vương đô Phú-ca-la-bạt-đế đó, có một Ưu-bà-tắc tên là
Pháp Tăng, thần thông quảng đại, đầy đủ oai lực, có phước đức lớn, đắc đạo chánh trí, đa văn vô úy, trì kinh,  trì luận, dùng phương tiện khéo léo. Chính Ưu-bà-tắc đó, vì muốn làm cho Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ v.v… sinh lòng kính tín, nên bay lên không trung chỉ dạy giáo pháp lợi ích an vui thế này: Tất cả mọi người hãy bình tĩnh, chớ có sợ hãi, chớ có nghi ngờ, chớ có lo buồn. Chánh  pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni vẫn còn tồn tại ở đời, các ngươi hãy phát
khởi tinh tấn, chuyên cần tạo các nghiệp lành. Ai chưa đắc thì sẽ được đắc,  ai  chưa  chứng  thì  sẽ  được  chứng,  ai  chưa  đạt  thì  sẽ  được  đạt. Thánh pháp nay ở đây, các ngươi hãy nên nhanh chóng tìm cầu. Tức thời Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ v.v… tâm đều vui mừng hành bố thí, tạo các công đức. Đối với xá-lợi của Ta họ trang sức, cung kính, gìn giữ. Đối với các Thanh văn, họ chuyên cần cúng dường, lắng nghe, ghi nhận, đọc tụng và truyền đạt giáo pháp lại cho kẻ khác, thọ trì giới cấm, siêng tu thiền định. Các Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ v.v… được pháp Tăng đó chỉ dạy giáo pháp lợi ích, an vui nên tất cả đều hướng về đường lành và đường Niết-bàn. A-nan, Ưu-bà-tắc đó cũng hay làm cho chánh pháp của Ta lưu hành rộng khắp, làm tăng thêm lợi ích cho hàng trời người. Này A-nan! Sau khi Ta diệt độ, cũng có nhiều người thế tục ở trong pháp của Ta được lòng kính tín sâu sắc. Trong đời quá khứ, họ đã từng trồng nhiều căn lành, cúng dường hằng trăm, hằng ngàn, vô lượng chư Phật. Đối với xá-lợi của Ta, họ chuyên cần bảo dưỡng  trang nghiêm, đối với các Thanh văn, họ cúng dường, cung kính, tôn trọng ngợi khen. A-nan, những người đó cũng làm cho chánh pháp của Ta lưu hành rộng khắp, làm tăng thêm lợi ích cho hàng trời, người. A-nan, sau khi Ta diệt độ, trong đời vị lai, phía Bắc nước Thiên Trúc sẽ có Tỳ- kheo tên là Kỳ-bà-ca xuất hiện ở đời. Tỳ-kheo này trong đời quá  khứ đã từng trồng nhiều căn lành, cung kính cúng dường, tín tâm sâu  sắc, an trụ Đại thừa đầy đủ, ở chỗ vô lượng trăm Đức Phật. Vì thương xót, muốn tạo lợi ích an lạc cho các chúng sinh, nên vị đó đã phát tâm  như vậy, đa văn trì Bồ-tát tạng, tán dương Đại thừa, phát khởi Đại thừa. Tỳ- kheo đó thấy xá-lợi và hình tượng của Ta bị người phá hoại, liền dùng vàng tu sửa, phục sức trang nghiêm, dựng lập cờ phướn, lọng báu, treo phong linh bao quanh phát ra âm thanh vi diệu, tạo ra vô lượng hình tượng Như Lai và các tháp miếu. Các tháp miếu đó được trang  hoàng bằng bán nguyệt sư tử, nên khiến cho các chúng trời, người sinh tâm tin vui.  Tỳ-kheo  đó,  vì  muốn  viên  mãn  căn  lành  Bồ-đề,  vì  thương  xót chúng sinh, vì hộ trì dưỡng dục, vì hấp thụ giáo pháp của Ta, vì  muốn làm cho người chưa có lòng kính tín được tăng lòng kính tín, tu hành. Vì muốn làm cho nhiều người gieo trồng căn lành, nên sẽ mở hội  Bát- già-bạt-sắc-ca. A-nan, bấy giờ, sẽ có nhiều Tỳ-kheo không giữ giới,
hình tướng tợ như Sa-môn, làm nhiều chuyện phi pháp, không vui thích chốn rừng núi thanh vắng, xả bỏ niềm vui thiền định, phá giới trái đạo, kiện tụng qua lại, tham tiếc cất chứa, chiếm riêng một phòng cùng các người thế tục qua lại với nhau, xả bỏ pháp Phật, chẳng kính trọng các bậc phạm hạnh. Cũng tại thời bấy giờ, ít có Tỳ-kheo chuyên  cần tinh tấn, xa lìa ồn ào mê loạn, nhất tâm buộc niệm, định tuệ hiện tiền, an trú pháp lành, thiểu dục tri túc, thích hạnh khất thực, an trụ dòng thánh, đa  văn  vô  úy,  trì  kinh,  trì  luật,  trì  luận.  Bấy  giờ,  Tỳ-kheo  Kỳ-bà-ca khiến  các  Tỳ-kheo  mặc  ca-sa  có  tâm  mềm  mỏng,  các  căn     không khuyết, đầy đủ lòng tin sâu sắc, kính trọng bậc nhất. Tại đó, có vị  đắp ca-sa khởi tưởng trì giới, khởi tưởng tạo phước điền, hành bố thí, tu các căn lành. Sau khi Tỳ-kheo Kỳ-bà-ca đó tu tập vô lượng các loại căn lành Bồ-đề tối thắng rồi, liền thủ mạng chúng sinh về nước Vô Lượng Thọ ở thế giới Tây phương, có hơn ức trăm ngàn chư Phật. Tại thế giới này, Tỳ-kheo đó trồng các căn lành ở chỗ Phật và tu phạm hạnh trải qua  tám  mươi  ức  các  Đức  Như  Lai.  Nhờ  căn  lành  này  nên  sau  chín mươi chín ức kiếp trong đời vị lai, Tỳ-kheo đó thành Chánh giác, Phật hiệu là Vô Cấu Quang, thế giới đó tên là Nhất Thiết Công Đức Trang Nghiêm. A-nan, chính Tỳ-kheo Kỳ-bà-ca làm cho chánh pháp của Ta lưu  hành  rộng  khắp  trong  các  cõi  trời,  người.  A-nan,  ông  chớ  có  ưu buồn, bi não, phạm hạnh của Ta sẽ lưu hành rộng khắp làm cho  hàng trời, người tin vui. A-nan, sau khi Ta diệt độ, trong đời vị lai sẽ có  cõi nước tên là Xá-ma, nơi đó có quốc vương tên là Đại Thí, đối với pháp của Ta sinh lòng tin trong sạch, đối với xá-lợi của  Ta và các Thanh văn, vua chuyên cần tu tập, cúng dường, tán dương khen ngợi.  A-nan, tại nước Xá-ma, vua Đại Thí tập hợp các chúng Tỳ-kheo Thanh văn của Ta, rồi tôn trọng cúng dường. Trong chúng đó, có hơn ba ngàn  A- la-hán đều có oai lực, thần thông, công đức, thuyết pháp cho các  bạn đồng tu không mỏi mệt. A-nan, những vị đó cũng hay làm cho chánh pháp của Ta lưu hành rộng khắp trong các cõi trời, người. A-nan, ông chớ có ưu buồn bi não! Sau khi Ta diệt độ, ở phía Bắc nước Thiên Trúc có thành tên là Hưng-cừ-mạc-đản-na, tại đó có tinh xá được xá-lợi của Ta, họ đem vòng hoa,  hương xoa, hương bột, âm thanh, kỹ nhạc,  cờ phướn, lọng báu, y phục, ngọa cụ, vàng bạc, bảo báu, cúng dường cung
kính nghiêm trang. A-nan, tại tinh xá đó có nhiều người đem lòng  tin xuất gia, thọ trì giới cấm, tu hành pháp lành. Những người thế tục tu hành pháp lành cũng lại vô lượng. A-nan, họ có trì giới, trí tuệ, đa văn, có lòng tin trong sạch sâu sắc đối với pháp của Ta, đối với Thanh  văn và xá-lợi của Ta, họ chuyên cần tu tập, cung kính cúng dường, trang sức bảo dưỡng. Đối với Phật, Pháp, Tăng, họ cúng dường, gìn giữ bảo hộ. Nhờ căn lành này, nên sau khi họ thọ hưởng phước báo ở cõi  trời, người,  thì  có  người  đắc  Bồ-đề  vô  thượng,  có  người  đắc  Duyên  giác thừa,  có  người  đắc  Thanh  văn  thừa  rồi  nhập  Niết-bàn.  A-nan,  vì  họ cúng dường vô lượng các loại như vậy, nên đạt được thần thông oai lực như vậy. A-nan, chính những người đó chỉ bày, diễn nói chánh pháp của Ta-làm cho được lưu hành rộng khắp trong các cõi trời, người.  A- nan, ông chớ có ưu buồn bi não! Chánh pháp của Ta sẽ lưu hành rộng khắp làm tăng thêm lợi ích cho hàng trời, người. A-nan, xá-lợi và  hình tượng của Ta biến khắp cõi Diêm-phù-đề, cớ chi ngươi lại không thấy. Nghĩa là hình tượng của Ta được tạo ra trong các cung điện trời,  rồng, Dạ-xoa, La-sát, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu- la-già, Cưu-bàn-trà v.v… A-nan, ông chớ có ưu buồn bi não!
Pháp Tỳ-ni của Ta sẽ lưu hành rộng khắp trong các cõi trời, người.

 
Phẩm  7:  XÁ  LỢI
 
Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại bảo A-nan:
–Sau khi Ta diệt độ, nếu có người nam, người nữ, hoặc tại gia, hoặc xuất gia khiêm tốn hạ mình, cung kính, tôn trọng cúng dường xá- lợi của Ta, cho đến chỉ cúng dường một vật nhỏ như hạt cải, thì Ta nói những người đó nhờ căn lành này, hết thảy đều đắc quả Niết-bàn, hoàn toàn an trụ cõi Niết-bàn. A-nan, sau khi Ta diệt độ, nếu có thiện  nam thiện nữ nào sinh lòng kính tín, vì Ta mà tạo lập hình tượng chùa tháp thì phải có lòng tin sâu sắc, thận trọng chớ nghi hoặc. Ta nói những người đó, nhờ căn lành này, tất cả đều sẽ đắc quả Niết-bàn, hoàn toàn an trú cõi Niết-bàn. A-nan, giả sử hiện tại có người cúng dường Ta, giả sử sau khi Ta diệt độ có người cúng dường xá-lợi của Ta một vật   nhỏ
như hạt cải, giả sử có người vì Ta mà tạo lập hình tượng và chùa tháp, hoặc có người có tín tâm niệm công đức của Phật, cho đến có người chỉ dùng một bông hoa rải cúng trong không trung, Ta nói những người đó nhờ  căn  lành  này,  tất  cả  đều  sẽ  đắc  Niết-bàn,  hoàn  toàn  an  trú  cõi Niết-bàn. A-nan, nếu lại có người thấy thần thông oai lực của Phật Thế Tôn, rồi cúng dường, cho đến chỉ dùng một bông hoa rải cúng trong không trung, còn có thể đắc quả Niết-bàn, huống nữa là người thân cận phụng sự cúng dường Như Lai và sau khi Ta diệt độ lại cúng dường xá- lợi. A-nan, cảnh giới chư Phật không thể nghĩ bàn, nếu lại có người hay cúng dường thì phước đức hưởng được cũng không thể nghĩ bàn. A-nan, hoặc có người niệm Phật, hoặc cho đến có người chỉ đem một bông hoa rải trong không trung để cúng dường, Ta dùng trí Phật thấy biết người đó sẽ hưởng quả báo không thể nghĩ bàn, huống nữa là trong đời vị lai có Phật tử sinh tâm kính tín sâu sắc, tư duy công đức của Phật, tìm  cầu trí Phật. A-nan, ông phải nên tin như vậy.
Lúc đó, A-nan nghe Phật nói rồi, sinh lòng phấn khởi, hết sức vui mừng, bạch Phật:
–Thật hiếm có thay, thưa Bà-già-bà! Thật hiếm có thay, thưa Tu- già-đà! Nay chính là lúc, cúi xin Thế Tôn nói về quả báo thu được của người  niệm  Phật, cho  đến  có  người  chỉ  đem  một bông  hoa  rải  trong không trung để cúng dường. Nhờ đó mà các Tỳ-kheo từ chỗ Phật nghe được pháp này, rồi đọc tụng thọ trì, thương xót thế gian, làm lợi ích  an lạc cho các hàng trời, người. Ở đời hiện tại và đời vị lai, có chúng sinh nghe  được  pháp  này  từ  các  Tỳ-kheo,  sẽ đắc  được  vô  số  các  loại  căn lành, sinh lòng kính tín, vui mừng ưng ý. Ho nghĩ thế này: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở trong dòng họ Thích, là đấng đại từ bi vô thượng pháp vương, là người thương xót thế gian, là người khuyên bảo làm cho chúng ta nhớ nghĩ, phát sinh tinh tấn dũng mãnh.
A-nan vừa dứt lời, Phật lại bảo:
–Ông hãy lắng nghe, khéo léo suy nghĩ, Ta sẽ vì ông phân biệt, giảng nói quả báo thu được của những người đó.
A-nan thưa:
–Đúng vậy, thưa Thế Tôn! Con rất thích nghe.
Phật bảo A-nan:
 
–Nếu có chúng sinh vì niệm Phật, cho đến chỉ đem một bông hoa rải  cúng  trong  không  trung,  thì  quả  báo  thu  được  nhờ  phước  đức  đó không  thể  cùng  tận.  A-nan,  chúng  sinh  từ  xưa  đến  nay,  sinh  tử  lưu chuyển số kiếp lâu dài không thể biết được. Ở cuối đời vị lai cũng như vậy, nếu có chúng sinh thành tâm niệm công đức của Phật, cho đến cúng một bông hoa rải trong không trung thì trong đời vị lai sẽ được làm  Thích  Thiên  vương,  Phạm  Thiên  vương,  Chuyển  luân  Thánh vương, phước báo đó cũng không cùng tận. Nhờ căn lành từ phước báo đó nên chắc chắn được nhập Niết-bàn. Vì sao? A-nan, vì phước điền cúng Phật chẳng phải là quả báo hữu vi, nơi chốn có thể cùng tận. Do đó, Ta nói người này chắc chắn sẽ được quả Niết-bàn, hoàn toàn an trú cõi Niết-bàn. A-nan, giả sử có người thân cận phụng sự, cúng dường Như Lai, giả sử có người cúng dường xá-lợi của Như Lai nhỏ như  hạt cải, giả sử có người vì Như Lai mà tạo lập hình tượng và các chùa, tháp để cúng dường, giả sử có người niệm Phật, cho đến cúng dường một bông hoa rải trong không trung; nếu lại có người ở tại trong nhà mà niệm Phật, cho đến cúng dường một bông hoa rải trong không trung, Ta nói những người này sẽ được quả Niết-bàn, được Niết-bàn đệ nhất, hoàn  toàn  an trụ  cõi  Niết-bàn,  Niết-bàn  tối  thắng,  Niết-bàn  vi  diệu, Niết-bàn thanh tịnh, Niết-bàn an trụ. A-nan, do nhân duyên này nên trong các phước điền, Phật là tối thắng, Phật là vua. Vì sao? Vì  người cúng  dường  vào  ruộng phước  của  Phật thì  chẳng  gọi  là  quả  báo  thế gian, quả báo có cùng tận. Vì nhân duyên này nên nói phước điền của Phật là tối thắng đệ nhất. A-nan, chư Phật Như Lai luôn thuận  chánh đạo,  thường  hay  tạo  phước  điền  rốt  ráo  vô  thượng.  Người  nào  cúng dường vào ruộng phước của Phật thì chắc chắn được Niết-bàn cùng tận, Niết-bàn bậc nhất. A-nan, không những chỉ có đem hoa tán Phật thu được công đức như vậy, mà còn có người nếu chỉ một đời sinh tâm kính tín  niệm  Phật  thì  Ta  nói  người  này  cũng  sẽ  được  quả  Niết-bàn,  tận Niết-bàn tế. A-nan, không những chỉ có loài người niệm công đức của Phật,  nếu  lại  có  loài  súc  sinh  đối  với  Phật  Thế  Tôn  có  thể  sinh  niệm như vậy thì ta cũng nói nhờ căn lành phước báo ấy mà chúng sẽ được quả  Niết-bàn,  hoàn  toàn  an  trú  cõi  Niết-bàn.  A-nan,  nay  ông  đang quán chư Phật Thế Tôn làm cho các chúng sinh tạo được phước điền,
hay khiến cho chúng sinh sẽ được thần thông oai lực như vậy, vì thế ông chớ có ưu buồn bi não. A-nan, nếu có người nam, người nữ cho đến loài súc sinh, các chúng sinh sinh lòng tin đối với Phật thì sẽ được quả báo thần thông công đức quảng đại như vậy, giống như cam lồ, cam  lồ đệ  nhất,  tận  cùng  cam  lồ.  A-nan,  ông  dùng  thân,  khẩu  hiền  từ  hiếu thảo, phụng sự Như Lai, vô lượng an lạc tâm không có hai, không sân, không hận, không có oán thù. A-nan, giả sử trong ba ngàn đại thiên thế giới  có  đầy  ắp  Tu-đà-hoàn,  Tư-đà-hàm,  A-na-hàm,  A-la-hán,  nhiều như mía, như măng tre, như gai, như cỏ, nếu có người nam, người  nữ, hoặc một kiếp, hoặc giảm một kiếp đem đủ tất cả các thứ ưng ý ưa thích mà hạ mình cung kính, tôn trọng cúng dường. A-nan, ý ông nghĩ sao?  Người  nam,  người  nữ  này  phước  đức  thu  được  nhiều  lắm  phải không?
A-nan bạch:
–Rất nhiều, thưa Bà-già-ba! Rất nhiều, thưa Tu-già-đà!
Phật nói:
–A-nan, nếu lại có người ở chỗ chư Phật chỉ một lần chấp tay, một lần xưng danh hiệu Phật. Đem phước đức trước so với phước  đức này thì trăm phần chẳng bằng một, ngàn phần chẳng bằng một, trăm ngàn ức phần chẳng bằng một, vô số phần chẳng bằng một, ca la  phần chẳng bằng một. Vì sao? Vì trong các phước điền, Phật Như Lai là  tối thắng  vô  thượng.  Do  vậy,  cúng  dường  Phật  thì  được  công  đức  thần thông  oai  lực  lớn.  A-nan,  không  những  chỉ  có  Thanh  văn,  A-la-hán trong ba ngàn đại thiên thế giới, mà còn có Phật-bích-chi nhiều như mía, như măng tre, như gai, như cỏ, đầy ắp trong ba ngàn đại thiên  thế giới. Nếu có thiện nam, thiện nữ hoặc một kiếp, hoặc giảm một  kiếp đem đủ tất cả các loại ưng ý, ưa thích mà  khiêm tốn hạ mình, cung kính cúng dường Phật-bích-chi đó; hoặc sau khi Phật-bích-chi diệt  độ thì người này xây tháp bảy báu; hoặc lại có thiện nam, thiện nữ trọn đời  luôn  dùng  các  thứ hương  hoa,  hương bột, hương  xoa,  y phục,  đồ nằm, cờ phướn, lọng báu, cung kính tôn trọng khiêm tốn cúng dường Phật-bích-chi  đó,  A-nan,  ý  ông  nghĩ  sao?  Phước  đức  mà  người  này hưởng được ở nơi đó, chắc là nhiều lắm phải không?
A-nan bạch:
–Rất nhiều, thưa Bà-già-bà! Rất nhiều, thưa Tu-già-đà!
Phật nói:
–A-nan, nếu lại có người đối với Như Lai, khởi một lòng tin trong sạch, suy nghĩ tin hiểu, nói như thế này: Trí tuệ của chư Phật không thể nghĩ bàn. Đem công đức của thiện căn tin hiểu đây so với công đức thu được do cúng dường Phật-bích-chi thì ca-la phần chẳng bằng một, cho đến ưu-bà-ni-diệu-đà phần chẳng bằng một. Vì sao? Vì chư Phật  Thế Tôn vô lượng đại từ, vô lượng đại bi, vô lượng giới, vô lượng định, vô lượng tuệ, vô lượng giải thoát, vô lượng giải thoát tri kiến, vô lượng tu tập, vô lượng chứng đạt. A-nan, trí tuệ của chư Phật không thể nghĩ bàn, cảnh giới chư Phật cũng không thể nghĩ bàn. Nếu có người  cúng dường không thể nghĩ bàn thì sẽ được phước đức không thể nghĩ  bàn. A-nan, ông chớ có ưu buồn bi não, ông sẽ được thần thông công đức lợi ích lớn. Vì sao? A-nan, vì ông đem thân, khẩu, ý hiền từ cúng dường Như Lai đã hơn hai mươi năm, và thọ trì đủ tám vạn bốn ngàn các pháp bảo của Như Lai. Trong các bậc đa văn, ông là người đứng đầu,  thông minh hơn hết trong vấn đề vấn đáp, biện luận đắc đạo chánh trí đa văn vô úy, trì kinh, trì luật, trì luận, thuyết pháp cho bốn chúng không mỏi mệt. A-nan, sau khi Ta diệt độ, ông cùng Đại đức Ma-ha Ca-diếp sẽ là vị thầy dẫn đường tối thắng đệ nhất, làm các Phật sự trọng đại. A-nan, ông chớ có ưu buồn bi não, ông sẽ đắc được thần thông công đức lợi ích lớn.
/53
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »