396 - Kinh Đại Bát Nê Hoàn - Quyển VI - Phẩm 17: Hỏi Về Bồ Tát (Trang 171 - 206)">
Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1139.

Chương 6: Kinh Đại Bát Nê Hoàn - Quyển VI - Phẩm 17: Hỏi Về Bồ Tát (Trang 171 - 206)

KINH ĐẠI BÁT NÊ HOÀN
 
 QUYỂN VI
 
 Phẩm 17: HỎI VỀ BỒ TÁT
 
 Ca-diếp bạch Phật:
–Hạng người nào là Đại Bồ-tát? Phật bảo Ca-diếp:
–Người đã phát ý và chưa phát ý, hết thảy đều gọi là Bồ-tát. Này thiện nam! Ví  như ngày mùa đông, dầu bơ đông đặc không có trơn nhuần, như thế người tu tập  khế kinh và các Tam-muội khác, phát tâm mong cầu quả vị Bồ-đề, hạng người ấy gọi là  chưa phát ý đạo, không thể chóng thành đạo quả của Bồ-tát. Vì sao? Vì không có phương  tiện siêng năng thì giống như ngày mùa đông. Thiện nam! Lại còn như ngày  mùa xuân, trời nóng gắt gao, tất cả thứ dầu bơ thảy đều trơn nhuần, còn  lại những thứ bị đóng băng, hết thảy đều tan chảy, nước trong những ao hồ cũng lại  khô cạn hết. Như thế, Ca-diếp! Nếu thiện nam và thiện nữ, người trong đạo hay kẻ  ngoại đạo, hoặc giả có tâm rất mực chân thành, cho đến kẻ ưa thích tiếng tăm và lợi  dưỡng, nghe qua tai hoặc cất giấu trong lòng kinh Phương Đẳng Đại Bát-nê-hoàn này, có  người phát tâm Bồ-đề hoặc là người chưa phát tâm, như những hạng người này, hết  thảy trong thân họ đều trơn nhuận làm nhân Bồ-đề, cho nên Ta nói rằng, thiện nam và  thiện nữ đó đều trở thành Bồ-tát. Công đức tích tụ và giác tuệ vô tận của kinh  Phương Đẳng Đại Bát-nê-hoàn như thế, cho nên Ta nói tên gọi là sự thấm nhuần của  mùa xuân. Vì sao? Vì kinh này mở mang phát huy pháp thường trụ của Như Lai.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như ánh sáng mặt trời và mặt trăng soi chiếu, các ánh  sáng khác đều không hiện ra nữa. Như thế, ánh sáng kinh Đại thừa Bát-nê-hoàn soi  chiếu, thì ánh sáng công đức của các khế kinh khác cho đến các Tam-muội đều không  hiện ra nữa. Cho nên,
thiện nam và thiện nữ nào nghe Phương Đẳng Đại Bát-nê-hoàn này, tuy rằng họ chưa thể  phát tâm đạo vô thượng, song ánh sáng mặt trời Nê-hoàn đã vào trong thân làm nhân  Bồ-đề, do đó gọi là Đại Bát-nê- hoàn.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Tất cả chúng sinh ắt hẳn có nhân duyên Bồ-đề nhập vào trong thân   là do nguyên cớ gì? Bạch Thế Tôn! Nói rằng người phạm bốn pháp đọa, gây ra  tội vô gián, phỉ báng kinh pháp, cho đến hạng Nhất-xiển-đề đều làm gai độc ở trong  chánh pháp chăng? Như điều Phật nói, nếu người chưa phát ý và người có nhân Bồ-đề,  có sự khác biệt gì? Bốn hạng người kia phải là người không có tội lỗi hung ác  chăng?
Phật bảo Ca-diếp:
–Trừ hạng Nhất-xiển-đề ra, các chúng sinh còn lại, trong số đó có người nào nghe khế  kinh Phương Đẳng Đại Bát-nê-hoàn này, làm nhân Bồ-đề, nên biết hạng người ấy đã  từng cúng dường vô lượng chư Phật, cho nên được nghe kinh này, còn các tội khác  không có năng lực để làm vậy. Vì sao? Vì sức phương tiện lớn lao Ma-ha-diễn này mở  mang phát huy tất cả Như Lai tánh.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Người chưa phát tâm không có sự ưa thích hướng về, nghe thì  quay lưng vứt bỏ, làm sao có thể làm nhân Bồ-đề được?
Phật bảo Ca-diếp:
–Người chưa phát ý tuy không ưa thích hướng về mà quay lưng bỏ đi, song vẫn còn nhớ lại  kinh này, lòng chẳng quên mất, thì trong giấc mơ khi nằm ngủ, người ấy thấy đại quỷ  thần hiện ra tướng khủng bố rồi bảo: “Ô hay, Thiện nam! Ông nên nhớ nghĩ Bồ-đề, nếu   không ưa thích hướng về ta, thì ta sẽ giết nhà ngươi”. Lập tức người kia liền sợ hãi  bèn nhớ nghĩ Bồ-đề, cho đến khi thức rồi, tâm vẫn còn nhớ nghĩ liên tục. Lại nữa,  sau khi mạng sống chấm dứt, người kia đọa vào trong địa ngục, thấy tội báo của mình  cũng lại nhớ nghĩ, đọa vào trong ngạ quỷ cho đến sinh lên cõi trời cũng đều nhớ  nghĩ: Đối với tâm Bồ-đề mà người kia có thể phát, đối với kinh Đại thừa  Bát-nê-hoàn này, tâm
  không ưa thích từ đây mãi mãi tiêu diệt, như thế chính là nhân của Bồ- đề. Làm nhân  như thế, làm duyên như thế, tức là dựng lập Bồ-đề.
Lại nữa, này thiện nam! Giống như trong hư không nổi lên đám mây lớn và mưa xối xả,  trời mưa xuống khắp cả quả đất, nước mưa ấy không trụ lại ở chỗ cây khô, đá núi  và các vùng cao nguyên mà chảy xuống tưới mát đồng ruộng, ao hồ đều tràn ngập.  Chúng sinh thọ dụng trận mưa pháp Ma-ha-diễn Đại thừa này, mưa xuống hạng Nhất-xiển-  đề giống như mưa xuống vùng đất cao nguyên, cây khô, đá núi; không thọ nhận sự thấm  ướt của nhân duyên Bồ-đề.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như rang hạt giống làm cho nó cháy khô, tuy trời mưa hợp  thời trở đi trở lại trăm ngàn muôn kiếp đi nữa, hạt giống cũng không thể mọc mầm.  Hạng Nhất-xiển-đề cũng như thế, đối với kinh Phương Đẳng Bát-nê-hoàn này, dù cho họ  có nghe kinh trải qua trăm ngàn kiếp đi nữa, cuối cùng cũng không thể phát mộng đâm  chồi Bồ-đề. Vì sao? Vì giống như hạt giống lúa cháy, căn lành bị diệt mất. Lại nữa, này thiện nam! Ví như viên ngọc sáng cho vào trong nước vẩn đục,  tức thì nước lắng trong; ném nó vào bùn, không thể khiến cho bùn trong. Kinh  Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn này cũng như thế, đặt vào trong nước đục các chúng sinh  gây ra năm tội vô gián hay phạm bốn pháp đọa, vẫn còn có khả năng lắng trong  mà phát tâm Bồ- đề; nếu ném vào trong bùn Nhất-xiển-đề, dù qua trăm ngàn muôn năm  đi nữa, cũng không thể khiến cho nó trong, khởi lên nhân Bồ-đề. Vì sao? Vì hạng đó  không có cội rễ tốt lành vậy.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như cây thuốc tên là Dược vương, không có bệnh  gì mà không trị được, nước là hương của thân rễ hoa lá của thuốc, hoặc có người  uống, hoặc lại xoa vào mình mẩy, hoặc chỉ cần ngửi mùi thơm, ý ưa thích hay chẳng ưa  thích, bệnh của người ấy đều trừ diệt. Chỉ trừ bệnh ắt phải chết, thì không   thể làm cho khỏi bệnh. Như thế, này thiện nam! Kinh Ma-Ha-diễn Bát-nê-hoàn này,  đối với bệnh nặng nghiệp ác của hết thảy chúng sinh, đều có thể điều trị. Nếu  người phạm bốn pháp đọa, tội nghiệp vô gián, cho đến các người ngoại đạo không ưa  thích Bồ-đề, một khi nghe kinh Phương đẳng này qua tai, thì đó gọi là nhân Bồ-đề. Vì  sao? Vì kinh Ma-ha-diễn Bát-nê-
hoàn này đối với tất cả các điều ác, không gì mà kinh này chẳng trị  được, chỉ trừ hạng Nhất-xiển-đề. Vì sao? Vì hạng ấy không có nhân Bồ-đề. Giống như  thân người có chỗ thương tổn, thuốc cỏ bính được ngấm vào thì trừ được mọi tật bệnh,  nếu không bị thương tổn hư hoại thì thuốc trở thành vô dụng. Hạng Nhất-xiển-đề cũng  như thế, không thể thương tổn hư hoại để thọ nhận nhân Bồ-đề.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như kim cương có năng lực phá hoại mọi thứ báu, nhưng sức  không thể phá hoại sừng linh dương màutrắng. Kinh Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn đều có thể  phá hoại pháp thành tựu tất cả các điều ác, dựng lập nhân Bồ-đề, chỉ không thể  phá hoại việc ác của hạng Nhất-xiển-đề để khởi lên nhân Bồ-đề.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như các cây cối, nếu chặt đứt thân cây và cành của nó,  thì chúng lại mọc ra như cũ. Như thế, chúng sinh gây ra các tội nghiệp, nghe kinh  Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn thì sinh ra nhân Bồ-đề, nhưng chặt đứt cây Đa-la thì thân và  cành chẳng mọc ra lại, hạng Nhất-xiển-đề cũng như thế, cuối cùng không thể  nảy sinh cành lá Bồ-đề.  Lại nữa, này thiện nam! Ví như giữa hư không nổi lên đám mây và mưa lớn, thế nhưng  giọt mưa kia chẳng trụ giữa không trung. Kinh Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn này mưa xuống  trận mưa pháp khắp nơi, đối với hạng Nhất-xiển-đề thì mưa không trụ lại. Không tu chân thật cũng không đến Chỗ rốt ráo kia không thể thấy Gọi nghiệp chẳng tốt các ác kia Là rất quê kệch của thế gian.
Người tu điều thiện ấy gọi là tu Bồ-đề. Không đến là nếu tự mình không tu, thì cuối  cùng không thể tự mình chứng đắc. Chân thật là hành nghiệp thù thắng vi diệu bí mật,  hành nghiệp thù thắng như thế, đối với người nào không đến gọi là hạng  Nhất-xiển-đề, mãi mãi xa lìa tâm thiện gọi là Nhất-xiển-đề, các hạng  Nhất-xiển-đề, tăng thượng mạn lấy gì làm gốc? Nghiệp bất thiện phỉ báng kinh pháp,  lấy đó làm gốc. Phỉ báng kinh pháp, hung nghịch, tàn hại bạo ngược, nên biết hạng  người như thế làm cho kẻ trí sợ hãi. Ví như con đường nguy hiểm có nhiều giặc cướp, kẻ  phàm phu ngu si kiêu mạn bạo ngược chẳng biết sợ  hãi,
cố tình đi thẳng đến đó thì bị giặc làm hại. Đấng
Pháp vương có sức mạnh lớn lao đi   dạo chơi ở con đường này thì không có nỗi sợ hãi. Không thấy chỗ rốt ráo  là mãi mãi không thấy nghiệp ác rốt ráo của hạng Nhất-xiển-đề kia, cũng chẳng thấy  chỗ rốt ráo vô lượng sinh tử của họ. Ta nói rút gọn việc tích tụ các điều ác kia,  nếu nghe đầy đủ thì rất đáng sợ hãi. Cho dù khiến tất cả chúng sinh phát tâm một  lúc thành đạo vô thượng, các bậc Chánh giác này vẫn còn không thấy các việc ác  rốt ráo của hạng Nhất-xiển-đề kia. Lúc thành chánh giác, các vị ấy lại không thấy  sự rốt ráo đối với những điều gì? Hết thảy chúng sinh phá hoại sự sống chết đều  thành Phật đạo, chẳng thấy Vô dư Nê-hoàn của chư Phật, vô thường diệt tận như ánh  đèn tắt. Gọi các nghiệp ác kia là việc rất hèn kém của thế gian, nghĩa là hạng  Nhất-xiển-đề vĩnh viễn xa lìa công đức nhân duyên Bồ-đề, những kẻ này gọi là hạng  bỉ lậu trong thế gian. Đối với Đại thừa sau cùng này mà giác ngộ được làm Phật, đó  cũng gọi là bỉ lậu, pháp tự nhiên của chư Phật là như vậy.
Kẻ đã gây nghiệp ác Như tát xà bơ sữa Người ngu khinh bị đốt Như tro phủ trênlửa. Có hạng Nhất-xiển-đề tựa như bậc A-la-hán mà có hành vi trái với đạo lý, có bậc  A-la-hán tựa như hạng Nhất-xiển-đề mà thực hành lòng từ. Có hạng Nhất-xiển-đề  tựa như bậc A-la-hán, ấy là những chúng sinh phỉ báng Phương đẳng; có bậc  A-la-hán tựa như hạng Nhất- xiển-đề là hạng chê bai Thanh văn, nói Phương đẳng một  cách rộng rãi, vị ấy nói với chúng sinh: “Ta và các ông đều là Bồ-tát. Vì sao? Vì  tất cả chúng ta đều có Như Lai tánh”. Thế nhưng chúng sinh kia cho họ là hạng  Nhất-xiển-đề mà nói rằng, Như Lai trao cho chúng ta lời quyết đoán, ông cũng như thế,  tôi và các ông đều sẽ lìa khỏi vô lượng phiền não và nghiệp ác của chúng ma như  đập vỡ bình nước. Đối với khế kinh này ắt hẳn thành Bồ-đề, chớ phát sinh lòng nghi  ngờ nữa. Ví như bậc liệt sĩ vâng theo mệnh lệnh của nhà vua sai đi sứ, người ấy đến  bên trong nước khác để khen ngợi đạo đức của nhà vua, thà chịu mất thân mạng chứ  chẳng thay đổi. Hôm nay chúng ta cũng như thế, Như Lai nói lời ghi nhận tất cả chúng  sinh đều có Phật tánh, chúng ta  phải
không tiếc thân mạng, ở trong người phàm phu ngu si mà giảng nói kinh này một cách  rộng rãi, đó gọi là hạng chúng sinh có tấm lòng lớn tựa hồ Nhất-xiển-đề.
Nếu kẻ ngu si không có trí ở chốn tịch mịch vắng vẻ, dáng hình giống như bậc A-la-hán  mà chê bai Phương đẳng, hạng phàm phu ngu đần cho kẻ ấy là bậc A-la-hán chân thật mà  gọi đó là bậc Đại sĩ. Hạng Tỳ-kheo xấu ác ấy thị hiện ở nơi yên ắng A-luyện-nhã mà  tự xử trí tựa hồ bậc A-la-hán chân thật, đối với hạnh A-luyện-nhã mãi mãi người  ấy không thuận theo, rồi tạo ra lý thuyết quái lạ, khởi lên bốn nhân duyên. Họ nói  rằng kinh Phương đẳng đều là do ma nói, nói rằng Ma-ha-diễn chính là lưỡi kiếm đâm  vào chánh pháp của những người thông minh trí tuệ, chư Phật Thế Tôn đều sẽ vô thường  mà nói là thường trụ. Nên biết đó là tướng hủy diệt chánh pháp và phá Tăng, người  nói lời như thế gọi là hạng Nhất-xiển-đề, cho nên nói:
Kẻ đã gây nghiệp ác Như tát xà bơ sữa Người ngu khinh bị đốt Như tro phủ trênlửa. Như thế, này thiện nam! Nên biết kinh Phương Đẳng Bát-nê- hoàn là lời nói  quyết định của chư Phật Như Lai. Ma-ha-diễn là vô thượng tối cao giống như viên  ngọc ma-ni sáng chói sạch trong lìa mọi dơ bẩn.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như hoa sen, ánh sáng mặt trời chiếu rọi rồi, không có hoa  nào là không nở rộ, tất cả chúng sinh cũng như thế, kinh Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn này,  một khi đã nghe qua tai, nếu người chưa phát ý, chẳng ưa thích Bồ-đề, thì những điều  đó nhất định là nhân của Bồ-đề. Hạng Nhất-xiển-đề kia sở dĩ đoạn tuyệt mãi mãi  đối với Như Lai tánh, đây là do sự phỉ báng và gây ra nghiệp ác lớn lao, giống như  loài tằm kia dệt tơ tự ràng buộc mình mà không có chỗ thoát ra. Hạng Nhất-xiển-đề  cũng như thế, đối với Như Lai tánh, họ không thể khai phát làm khởi dậy nhân Bồ-đề,  cho đến tất cả cõi sinh tử cùng tột.
Lại nữa, này thiện nam! Giống như hoa Ưu-bát-la, Bát-đàm-ma, Câu-mâu-đầu,  Phân-đà-lợi mọc lên ở trong bùn lắng mà không bị bùn
  lắng kia làm vấy bẩn. Nếu có chúng sinh tu tập kinh Ma-ha-diễn Bát- nê-hoàn cũng như  thế, họ không bị phiền não làm ô nhiễm. Vì sao? Vì tính của Như Lai không chịu sự lây  nhiễm.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như ở đất nước nọ, ngọn gió mát mẻ nổi lên, những lỗ  chân lông trong thân thể của hết thảy chúng sinhgặp được ngọn gió này đều trừ diệt  hết sự nóng bức. Như thế, này thiện nam!
Pháp vị cam lộ của kinh Ma-ha-diễn  Bát-nê-hoàn này, tất cả chúng sinh không ai là không được thấm nhuần phát khởi  nhân Bồ-đề, trừ hạng Nhất-xiển-đề.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như vị lương y hiểu rõ tám thứ phương thuật thì  tất cả các bệnh thảy đều có thể điều trị, chỉ trừ bệnh a-tát-xà. Như thế này,  Thiện nam! Tất cả khế kinh và các Tam-muội có năng lực trị hết thảy các bệnh phiền  não dâm dục, tức giận, ngu si v.v..., nhưng không thể nào trị được kẻ phạm vào bốn  giới cấm nặng và tội nghiệp vô gián.
Này thiện nam! Lại có vị lương y hiểu hơn tám thứ phương thuật, các tật bệnh của chúng  sinh mắc phải mà số mạng và tuổi thọ chưa hết đều có khả năng trị liệu, chỉ có số  mạng và tuổi thọ hết thì không thể khiến cho người ấy khỏi bệnh. Kinh Ma-ha-diễn  Bát-nê-hoàn này cũng như thế, những bệnh hoạn phiền não của tất cả chúng sinh, cho  đến người không ưa thích Bồ-đề mà chưa phát tâm, thảy đều có thể điều trị khiến cho  họ phát Bồ-đề, chỉ trừ hạng Nhất-xiển-đề.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như người mù chẳng thấy năm màu sắc, vị thầy thuốc tài  giỏi có khả năng điều trị khiến cho mắt mở sáng, chỉ có điều là không thể nào chữa  cho người mù bẩm sinh kia. Kinh Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn này cũng như thế, hết thảy  chúng sinh, Thanh văn, Duyên giác không ưa thích Bồ-đề mà chưa phát tâm, thảy đều trị  liệu làm cho họ mở con mắt tuệ và phát tâm Bồ-đề, chỉ trừ hạng Nhất- xiển-đề bị mù  bẩm sinh.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như vị lương y giỏi hơn tám thứ phương thuật, tất  cả chúng sinh mắc tật bệnh, thầy thuốc viết chú thuật ấy dán vào trên thân thể, có  thể khiến cho các bệnh tật đều được trừ khỏi. Kinh Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn này cũng  như thế, các phiền não họa hoạn của tất cả chúng sinh, người không ưa thích Bồ-đề mà chưa
phát ý, cho đến phạm bốn giới cấm nặng và tội nghiệp vô gián, đều có thể trừ diệt  và an lập Bồ-đề.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Người phạm vào bốn giới cấm nặng và tội vô gián giống như chặt đứt  cây Đa-la, cho đến người không ưa thích Bồ-đề mà chưa phát tâm, làm thế nào có thể  khiến cho họ phát khởi nhân Bồ- đề?
Phật bảo Ca-diếp:
–Các chúng sinh đó hoặc ở trong giấc mơ, hoặc khi mạng sống chấm dứt, đọa vào  trong địa ngục mà sinh lòng hối hận, rằng xót thương thay, chúng ta hủy phạm  chánh pháp, tự mình chuốc lấy tội này, mà phát sinh tâm thề nguyện, ở đây được khỏi  phải sinh về nơi khác, ở bất cứ nơi đâu đều cần phải phát tâm làm đạo Bồ-tát, vì  đó là sức uy thần của kinh Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn. Những hạng chúng sinh ấy  sinh vào trong cõi trời hay loài người, ắt hẳn được phát tâm làm nhân Bồ-đề, cho  nên Ta nói người phạm bốn điều cấm nặng cho đến nghiệp vô gián đều được phát tâm  làm nhân Bồ-đề.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như người thầy thuốc giỏi hòa hợp các phương thuốc tên là  A-già-đà, vị thuốc hay như thế tích chứa ở chỗ nào, thì tất cả các thứ độc hại thảy  đều tiêu tán, chỉ trừ một loại rắn độc tăng thượng, không thể nào tiêu phục. Kinh  Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn này cũng như thế, tất cả bốn rắn độc kiêu mạn, người phạm  bốn điều cấm nặng cho đến nghiệp vô gián, người không ưa thích Bồ-đề và chưa phát ý,  kinh này đều an lập họ ở đạo Bồ-đề. Vì sao? Vì kinh Ma-ha- diễn Bát-nê-hoàn này là   phương thuốc hay bậc nhất không gì hơn được, chỉ trừ hạng Nhất-xiển-đề rắn độc  tăng thượng.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như người thầy thuốc giỏi hợp các vị thuốc để bôi lên  chiếc trống của mình, nếu có chúng sinh đánh nhau bị thương, họ nghe tiếng trống kia,  tất cả vết thương đều lành lại, chỉ trừ người hết số mạng thì ắt phải chết. Âm  thanh trống pháp của kinh Ma- ha-diễn Bát-nê-hoàn này cũng như thế, tất cả  chúng sinh nghe âm thanh ấy, thì mũi tên dâm dục, tức giận, ngu si; người không ưa  thích Bồ-đề và chưa phát ý, kẻ phạm bốn pháp đọa cho đến tội vô gián, tất cả đều  trừ khỏi bệnh, chỉ trừ hạng Nhất-xiển-đề ra.
  Lại nữa, này thiện nam! Ví như đêm tối, tất cả công việc nhà của người ở cõi  Diêm-phù-đề thảy đều bỏ dở để nghỉ ngơi, khi ánh mặt trời ló dạng rồi, các dân  chúng ấy mới có thể sửa sang công việc gia đình. Như vậy, chúng sinh nghe các khế kinh  và các Tam-muội giống như đêm tối, họ nghe giáo pháp bí mật vi diệu của kinh Đại thừa  Bát-nê- hoàn này giống như mặt trời mọc thấy các chánh pháp, như người làm ruộng kia  gặp trời tuôn mưa vào mùa hạ. Trong kinh Ma-ha-diễn, vô lượng chúng sinh thảy đều được  ghi nhận sự quyết định hiện bày Như Lai tánh; ở kinh
Pháp Hoa, tám ngàn vị Thanh văn  được Phật ghi nhận các việc ở đời vị lai, chỉ trừ hạng Nhất-xiển-đề băng giá mùa  đông.
Lại nữa, này thiện nam! Giống như có người bị loài phi nhân nắm giữ, nếu bị độc ác  mà được người thầy thuốc tài giỏi, hoặc sai khiến chú thuật, hoặc sai khiến chú  dược, thì tai họa kia liền tiêu trừ. Như thế, này thiện nam! Kinh Ma-ha-diễn  Bát-nê-hoàn này, nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cho đến kẻ ngoại đạo ở khắp mọi nơi, nếu  họ viết chép và diễn nói cho mọi người, trong số đó có chúng sinh hoặc đọc hoặc  nghe, những việc này đều là nhân của Bồ-đề. Những sự độc ác tà vạy, việc chẳng  ưa thích Bồ-đề, chưa phát sinh ý đạo, cho đến bốn điều cấm nặng, năm tội  nghịch đọa vào ngục vô gián thảy đều tiêu diệt, chỉ trừ hạng Nhất-xiển-đề.
Lại nữa, này thiện nam! Giống như trong thân thể của vị đại vương có loài  trùng bí mật ăn thịt của mình mà vị vua ấy chưa hay biết, bấy giờ có vị lương y biết  tướng bệnh của vị vua ấy, bèn nói với nhà vua kia: “Trong thân thể của ông có bệnh,  hãy nên mau chóng chữatrị bệnh ấy”. Khi ấy nhà vua chẳng tin, không muốn ra  lệnh chữa trị. Người thầy thuốc ấy sợ hãi không dám cho vua dùng thuốc, bèn bí mật  gia trì chú thuật khiến cho loài trùng tự nhiên lọt ra. Nhà vua thấy bệnh rồi mới tin  lời nói của thầy thuốc và đãi ngộ trọng hậu. Các hàng chúng sinh cũng như thế, họ  nghe kinh Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn song không ưa thích Bồ-đề và chưa phát ý, chư Phật  Bồ-tát phương tiện nói cho họ, tuy rằng họ không lĩnh thọ ngay lập tức, nhưng ở trong  giấc mơ hoặc khi kết thúc mạng sống, họ liền tự giác ngộ và phát ra nhân Bồ-đề,  trừ hạng Nhất-xiển-đề.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như người thầy thuốc giỏi khéo chỉ
dạy cho đứa con của mình học tám thứ phương thuật, phương thuật bí mật cốt yếu hàng  đầu thì ông giấu kín mà chưa truyền thụ, người con biết tám thứ phương thuật và khéo  thông đạt rồi, sau đó ông mới chỉ dạy toàn bộ phương thuật bí mật cốt yếu hàng đầu.  Cũng như thế, Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác dạy bảo cho
Pháp vương tử, Tỳ-kheo,  Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, trước tiên học tập cách diệt trừ vô lượng phiền  não, tu tập quán tưởng không bền chắc đối với thân, mọi khổ não tích tụ, vô thường  biến hoại, trống rỗng và không có ngã sở. Như Lai lại còn dạy bảo học chín  bộ khế kinh, khiến cho họ khéo thông hiểu một cách sắc bén, rồi sau mới dạy  bảo học tập kinh Ma-ha- diễn Bát-nê-hoàn này, khiến cho biết chúng sinh có Như   Lai tánh chính là pháp thường trụ, đều phát khởi cái nhân Bồ-đề vô thượng, trừ  hạng Nhất-xiển-đề ra. Như thế, này thiện nam! Kinh Ma-ha-diễn Bát- nê-hoàn này vô  lượng vô số không thể nghĩ bàn, nên biết kinh này là phương thuật vô thượng, là bí  mật cốt yếu của vị lượng y.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như người làm nghề lái đò đáp thuyền đưa người qua sông,   đến bờ bên kia rồi, người ấy trở lại đưa người khác. Cũng như thế, chư Phật  Như Lai đáp thuyền Ma-ha-diễn Bát-nê- hoàn, tùy theo chúng sinh kia cần phải nhận lĩnh  sự giáo hóa mà tế độ họ. Bát-nê-hoàn xong, chư Phật lại đến nơi khác để độ các  chúng sinh, cho nên Như Lai tên là Đại Thuyền Sư, cho nên Như Lai là pháp  thường trụ, vì cứu độ mọi người cho nên thị hiện có sự xuất hiện và tàng ẩn.
Lại nữa, này thiện nam! Giống như người đáp thuyền muốn vượt qua biển cả, nếu được  gió thuận lợi thì người ấy đến bờ bên kia nhanh chóng; nếu không được thuận gió,  hoặc trải qua bao năm, hoặc có thể bị chết đuối. Như vậy, chúng sinh được gió  Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn, mau chóng vượt qua sinh tử, đến bờ Bồ-đề. Nếu như không được  thuận gió, thì mãi mãi chìm đắm trong biển khổ sống chết luân hồi. Lại nữa, này thiện nam! Giống như người vào biển gặp phải làn sóng cả, toan tính  không có cách nào cứu giúp, bèn ngồi ngay ngắn chờ cái chết. Bỗng dưng, người ấy  gặp ngọn gió lớn thổi đến một nước, không ngờ mình đến đây một cách âm thầm,  người ấy vui mừng khôn xiết, nảy sinh ý tưởng lạ lùng. Như thế, kinh Ma-ha-diễn   Bát-nê-hoàn
ngọn gió lớn lao, chúng sinh không biết mà chẳng ưa thích hướng về  để phát tâm Bồ-đề. Ngọn gió Bát-nê-hoàn kín đáo thổi khiến cho họ đến cảnh giới  Bồ-đề, mới biết sự chân thật và sinh ra ý tưởng lạ lùng.
Lại nữa, này thiện nam! Giống như con rắn lột da, lại đi sang nơi khác song thật ra nó  không chết. Như thế, Thiện nam! Như Lai Nê- hoàn bỏ thân cũ kia như lột bỏ da, cho nên  Như Lai tên là Thiện Thệ, bỏ thân phương tiện cây thuốc độc, hoặc lại phương tiện thị  hiện sự giáo hóa ở cõi Diêm-phù-đề khác, cho nên này thiện nam, nên biết Như Lai là  pháp thường trụ.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như người thợ vàng được loại vàng thật và tốt, tùy ý  người ấy có thể tạo ra những đồ trang nghiêm, đủ mọi thứ đồ phục sức. Cũng như thế,  chư Phật Như Lai tùy theo sự thâu giữ giáo hóa kia ở hai mươi lăm cõi, các Ngài đều  có thể hiện thân mà độ thoát họ, cho nên Như Lai gọi là Vô lượng thân, cũng gọi là  thường trụ.
Lại nữa, này thiện nam! Giống như cây am-la và cây diêm-phù thay đổi ở ba mùa, có  mùa lá cây tốt tươi, có mùa đơm hoa kết trái, có mùa úa rụng, không phải là cây  kia khô rồi mọc lại. Như thế, Thiện nam! Thân phương tiện của Như Lai Ứng Cúng Đẳng  Chánh Giác, vì sự giáo hóa cho nên cũng hiện ra ba thời kỳ. Như Lai thị hiện có sự  sinh ra, thành Phật, thị hiện Bát-nê-hoàn, kỳ thật Như Lai thường còn mà chẳng diệt  tận.
Lại nữa, này thiện nam! Thân bí mật của Như Lai là như thế, mật khẩu của Như Lai  và mật giáo phương tiện cũng lại khó biết. Thiện nam tử! Mật giáo phương tiện  là ví như vị đại vương mệnh lệnh cho các quần thần cũng có lời dạy bảo giấu kín như  thế. Như có lúc vua nói: “Hãy cầm tiên-đà-bà đến”. Thế nhưng, tiên-đà-bà là một  tên gọi mà có bốn nghĩa thực: một là muối, hai là chậu tắm, ba là ngựa, bốn là  kiếm. Đó là bốn thứ vật đều gọi là tiên-đà-bà. Nếu khi vua dùng bữa, ông ra lệnh  cho người hầu hạ hai bên của mình để đòi tiên-đà-bà, các bầy tôi của vua nên biết  rằng, nhà vua ắt hẳn đòi muối. Nếu nhà vua ăn xong rồi mà đòi tiên-đà-bà, các bầy  tôi cần phải biết rằng, nhà vua nhất định đòi chậu tắm. Vua muốn đi đến khu cây cảnh  mà đòi tiên-đà- bà, những bầy tôi phải nên biết rằng, chắc chắn nhà vua đòi ngựa.  Khi
lâm trận đánh nhau mà vua đòi tiên-đà-bà, các bầy tôi phải nên biết rằng, ắt hẳn  nhà vua đòi gươm bén. Vua có lời nói bóng khó hiểu như thế, các bầy tôi của vua  cũng cần phải biết ý nghĩa ấy.
Như thế, này thiện nam! Giáo pháp bí ẩn Ma-ha-diễn này cũng có bốn thứ. Như nói sự  vô thường, điều đó các thiện nam nên biết, Như Lai sinh ra ở cõi Diêm-phù-đề, nên sẽ  phải thị hiện Nê-hoàn, ấy là tu tập quán tưởng vô thường của Ma-ha-diễn. Nếu Như Lai  nói chánh pháp sẽ diệt, thì điều ấy các đệ tử cần phải biết thế này, Như Lai nói  sự khổ để tu hành quán tưởng sự khổ của Ma-ha-diễn này. Như Lai nói thân là đồ chứa  đựng mọi họa hoạn, lại nói ngôi báu Tăng cũng sẽ trở về sự diệt tận, những điều  đó các đệ tử hãy nên biết thế này, Phật nói không có cái ta, thì tu quán tưởng vô  ngã của Ma-ha-diễn này. Nếu nói vô tưởng, không, vô sở hữu và giải thoát, những  điều đó các đệ tử hãy nên biết thế này, Ma-ha-diễn này nói hai mươi lăm cõi mà  được giải thoát, cho nên nói không. Mọi nỗi khổ đều diệt nên nói không có sở hữu.  Cõi Vô tưởng hết sức vui sướng, sự vô thường biến đổi vốn không thể nào hủy hoại,  cho nên gọi là thường trụ, không phải pháp biến đổi, nên biết sự giải thoát tức là  Như Lai, Như Lai ấy chính là Như Lai tánh, trong thân của tất cả chúng sinh đều có,  người nào biết như thế chính là đệ tử của Ta, khéo hiểu rõ giáo pháp bí mật vi diệu  của Như Lai.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như trời hạn hán, cỏ thuốc, hoa thơm, quả ngọt, cây cối  thảy đều héo tàn, không kết thành quả trái. Tất cả các cây cỏ mọc ở trên cạn  dưới nước khác cũng đều bị khô cạn mà không tươi tốt, lại thêm vào sang năm, cây  khó sinh trưởng được nữa. Như thế, này thiện nam! Kinh Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn này, sau  khi Ta diệt độ, các người đệ tử ấy giống như trời hạn hán, hoa quả không thể nào  kết thành trái, như tòa thành bị giặc cướp mất của báu chân thực, chỉ gom giữ trấu  cám. Chúng Tỳ-kheo xấu ác đã mất của báu rồi, họ sao chép qua loa, gom góp biên  soạn, mà không khéo giải thích ý nghĩa buông thả, kiêu mạn, thoái chuyển. Xót thương  thay! Mối hiểm nguy lớn! Trong đời sau này rất đáng sợ hãi. Vui sướng thay! Sự lợi ích  lớn! Chúng sinh ở đời sau được nghe qua kinh Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn này, tùy theo điều  được nghe trong kinh mà thọ trì, phúng tụng, hiểu rõ
  ý nghĩa và mục đích của kinh ấy rồi giảng nói rộng rãi cho mọi người, nhờ những  việc này vị ấy sẽ được Bồ-đề chân thật.
Lại nữa, này thiện nam! Như có đất nước, thành ấp, thôn xóm, ở đó có người bán  sữa. Có người đem thứ nước táp-nham để lừa dối người khác mà cầu tiền của,  người bán sữa ấy cũng như thế, lấy nước táp-nham bán hết người này qua người khác  mà lừa bịp nhau, người mua ăn uống thứ đó song không có mùi vị sữa. Như  thế, này thiện nam! Sau khi Ta Nê-hoàn, chánh pháp chưa diệt còn hơn tám  mươi năm, ở cõi Diêm-phù-đề kinh Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn này lưu hành ở đời. Những vị  Tỳ-kheo xấu ác buông thả biếng nhác, gây bè kết đảng với chúng ma, phá hoại và làm  rối loạn chánh pháp. Họ tự tạo ra kinh luận, làm bài kệ tụng khen ngợi, lấy trái cho  là phải, lấy phải cho là trái, sao chép lược bỏ, thêm bớt. Vì sự lợi dưỡng nên họ  muốn tích chứa nhiều của cải phi pháp, phá hoại và làm rối loạn mùi vị chính khiến  cho pháp nhạt nhẽo, lại còn thêm văn tự không chính đáng của học thuyết xằng bậy  nữa. Người nhận sự học tập lầm lẫn cũng chẳng tôn trọng và cung kính cúng dường,  bên trong ôm lòng nịnh nọt gian tà, vì sự lợi dưỡng nên họ thị hiện tướng ưa thích  pháp. Vào lúc đó, kinh Ma- ha-diễn Bát-nê-hoàn này sẽ bị những hạng người này làm  hủy nhục.
Lại nữa, này thiện nam! Do ý nghĩa này, cho nên thiện nam hay thiện nữ đối với  kinh Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn hãy nên siêng năng phương tiện lập chí trượng phu. Vì  sao? Vì Như Lai tánh là pháptrượng phu. Ý chí của người nữ là đối với tất cả pháp  phần nhiều sinh ra sự bám víu, sức không gánh vác nổi để phát khởi ý vị vi diệu của  kinh Ma-ha-diễn sâu sắc.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như thân thể con muỗi và con ve tiết ra nước dãi thấm ướt,  song không thể nào khiến cho quả đất này thấm ướt.
Pháp nữ nhân ấy dường như quả  đất nhiều những sự khao khát ái dục. Ví như biển cả, trời đổ mưa xuống và mọi dòng  nước chảy của trăm con sông, tất cả đều trở về với biển, thế nhưng biển lớn kia chưa  hề tràn đầy.
Pháp của nữ nhân cũng như thế, tham lam thụ hưởng năm thứ dục mà  không có sự chán đủ. Cho nên, này Ca-diếp! Nếu thiện nam hay thiện nữ muốn được  phương tiện lìa khỏi pháp nữ nhân, thì hãy nên chăm chỉ tu tập kinh Ma-ha-diễn  Bát-nê-hoàn này. Vì sao? Vì
kinh Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn này nói về pháp trượng phu của Như Lai tánh. Nếu có chúng  sinh không biết tự thân có Như Lai tánh, thì thế gian gọi họ là người nữ. Nếu người  nữ có thể biết tự thân có Như Lai tánh, thì tuy thế gian gọi họ là người nữ, song Ta  nói hạng người này là người nam vậy.
Như thế, này thiện nam! Kinh Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn tích tụ vô lượng vô biên công  đức, nói rõ chúng sinh có Như Lai tánh. Nếu thiện nam hay thiện nữ muốn được mau  chóng thành tựu Như Lai tánh, thì hãy nên chuyên cần phương tiện tu tập kinh này.
Ca-diếp bạch Phật:
–Quý hóa thay! Bạch Thế Tôn! Nay con tu tập kinh Bát-nê-hoàn, ban đầu con biết tự thân  có Như Lai tánh, nay mới quyết định chính là nam tử vậy.
Phật bảo Ca-diếp:
–Quý hóa thay! Quý hóa thay! Này thiện nam! Hãy nên chăm chỉ phương tiện học pháp sâu  xa này, giống như con ong chọn lấy hoa, hãy lấy hết vị ngon của diệu pháp sâu xa. Này  Ca-diếp! Ví như nước bọt của loài muỗi không thể nào khiến cho quả đất lớn này thấm  ướt. Như thế, này thiện nam! Trong đời sau này, chúng Tỳ-kheo xấu ác phá hoại và  gây rối loạn kinh pháp, vô số vô lượng như ruộng cạn trên cao, không phải  kinh Đại Thừa Bát-nê-hoàn này vốn có thể thấm ướt. Vì sao? Vì nên biết rằng, khi  chánh pháp diệt tận thì tướng suy hiện ra.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như cuối mùa hạ đầu mùa đông, mưa thu đổ liên miên không  ngớt, nước ngập che khuất ao đầm. Như thế, này thiện nam! Kinh Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn  này, sau khi Ta vào Nê- hoàn, chánh pháp suy diệt. Vào lúc đó, kinh này lưu truyền  khắp cả phương Nam, bị mây mưa phi pháp của những học thuyết quái lạ không  chính đáng làm chìm đắm trôi giạt. Bấy giờ, vị Bồ-tát hộ pháp ở phương Nam kia sẽ nắm  giữ khế kinh này đi đến nước Kế-tân để cất giấu trong lòng đất, cho đến hết  thảy những khế kinh Ma-ha-diễn Phương đẳng ở đây rồi biến mất. Thương thay, lúc ấy  tướng pháp diệt tận, mây mưa phi pháp tràn đầy thế gian, người tu tập được thấm  nhuần ân đức mưa pháp của Như Lai, Bồ-tát hộ pháp và kẻ hùng mạnh trong loài người  thảy đều ẩn náu.
  Bấy giờ, Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Tánh của chư Phật Như Lai, Thanh văn, Duyên giác không có sự sai biệt,  xin mong Như Lai giảng nói rộng rãi, khiến cho tất cả chúng sinh đều được mở rộng sự  hiểu biết.
Phật bảo Ca-diếp:
–Ví như có người nuôi nhiều bò sữa, làm thành đàn bò với đủ màu sắc xanh, vàng,  đỏ, trắng khác nhau. Khi sắp làm lễ tế trời, người ấy tập trung tất cả con bò lại  rồi vắt hết sữa của chúng, tích chứa trong một đồ đựng cùng một màu ngọc kha  như nhau. Như thế, này thiện nam! Chư Phật Như Lai, Thanh văn, Duyên giác, tính của  các vị ấy thanh tịnh đều cùng một màu. Vì sao? Vì các vị ấy cùng dứt bỏ hết mọi phiền  não giống nhau.
Ví như người thợ vàng chọn lấy quặng kim loại đủ các thứ màu sắc khác nhau, rồi đem  quặng ấy nung chảy và tinh luyện thành một thứ vàng óng không pha tạp. Vì sao?  Vì vô lượng vô số quặng thô phiền não đều tiêu diệt, do đó phải nên tin tưởng  kinh Ma-ha-diễn Bát- nê-hoàn này, tất cả chúng sinh đều có tính chân thật của Như Lai,  thảy đều cùng một sắc như nhau.
Ca-diếp bạch Phật:
–Như lời Thế Tôn nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh mà không có sự sai  biệt. Đối với điều này con chưa được rõ, tạm thời để yên ổn chúng sinh, như Thế Tôn  nói, Thanh văn, Duyên giác và các Bồ-tát không được Đại Bát-nê-hoàn, chỉ có Như Lai  mới được Đại Bát- nê-hoàn này. Vì thế, phải biết rằng, không phải Thanh  văn, Duyên giác và các Bồ-tát giống như Như Lai. Nếu không có sự sai biệt, thì tại  sao chỉ có một mình Thế Tôn tu hành phương tiện và tích lũy công đức ở vô lượng  a-tăng-kỳ kiếp?
Phật bảo Ca-diếp:
–Điều Ta nói trước đây, đó chính là giáo pháp bí mật phương tiện của Như Lai, nói rằng  các Thanh văn chẳng được Nê-hoàn, do đó nên biết rằng, tất cả đều nhờ kinh Đại Bát  Nê Hoàn này mà vào Nê-hoàn, chỉ có cảnh giới của Phật, vì thế kinh này tên gọi là  Đại Bát-nê-hoàn.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Đó chính là sự khác lạ. Như điều Phật nói,
Thanh văn, Duyên giác và các Bồ-tát đều sẽ trở về sự Nê-hoàn của Như Lai, giống như  trăm con sông đổ dồn về biển cả là pháp thường trụ.
Phật bảo Ca-diếp:
–Ta là tối thường trụ vậy. 
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Sao gọi là tính của Như Lai không khác mà khác chăng?
Phật dạy:
–Có sự khác nhau. 
Ca-diếp bạch Phật:
–Sao gọi là khác? 
Phật bảo Ca-diếp:
–Ví như sữa bò, tánh Như Lai của tất cả Thanh văn cũng như thế; giống như sữa tươi trở  thành sữa cô đặc chế, tánh Như Lai của tất cả Duyên giác cũng như thế; giống như sữa  cô chế thành bơ, tánh Như Lai của Đại Bồ-tát cũng như thế; giống như đề hồ, tính ấy  của chư Phật Như Lai cũng vậy. Như thế, này thiện nam! Đó là bốn thứ sai biệt của  kinh Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn này.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Tánh ấy của tất cả chúng sinh là thế nào? Phật bảo Ca-diếp: –Như sữa chưa thành mà hòa hợp cùng với nước và máu, vô lượng phiền não  che lấp tính chân thực của Như Lai.
Ca-diếp bạch Phật:
–Như lời Thế Tôn nói, thành Câu-di có người thuộc hạng Chiên- đà-la tên là Hoan  Hỷ, người ấy sẽ thành Phật đạo trong số một ngàn Đức Phật ở thế giới này. Thế  Tôn ghi nhận, một khi phát khởi ý niệm trong chốc lát thì người ấy liền thành Phật  đạo. Vì những cớ gì mà Thế Tôn không ghi nhận Tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên  v.v... chóng thành Phậtđạo?
Phật bảo Ca-diếp:
–Hoặc giả có Thanh văn, cho đến Phật-bích-chi, các Bồ-tát không phát nguyện  mau chóng; có người phát nguyện mau chóng để
hộ trì chánh pháp, vì hạng người này phát nguyện có sự chênh lệch, nên nhờ sức  Bồ-đề, Thế Tôn thụ ký cho người ấy chóng thành Phật đạo.
Lại nữa, này thiện nam! Ví như người buôn bán chở ngọc báu ma-ni, đi qua đường  sá xóm làng của người quê mùa để rao bán đồ quý báu. Những hạng người quê mùa nghe  tiếng rao bèn đến nhìn xem của báu song chẳng nhận biết, họ liền cười khanh khách cho  đó là gạch đá. Như thế, này thiện nam! Như Lai ghi nhận cho các hàng Thanh văn sẽ  thành Phật đạo, được chỗ tốt đẹp hơn hẳn. Vào đời sau này có các Tỳ- kheo phóng  túng biếng nhác, không nhận biết của báu chân thật giống như người quê mùa, họ  xuất gia với sự nghèo nàn, khốn khổ và tật bệnh, lòng tin nông cạn, làm  những việc bị giới luật cấm để mà sinh sống, dua nịnh quanh co. Nếu họ nghe Như Lai trao  lời ghi nhận cho hàng Thanh văn nhất định sẽ thành Phật, tức thời họ cười lớn, nên  biết hạng đó là người có hình dáng Sa-môn song không phải là Sa-môn chân  thật. Cho nên, này thiện nam! Hoặc có người phát nguyện chóng nắm giữ chánh pháp,  lại còn có người chẳng phát nguyện chóng nắm giữ nữa, cho nên Như Lai tùy theo  sự nhanh hay chậm ấy mà trao lời ghi nhận cho người kia.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Đại Bồ-tát sẽ được quyến thuộc  bất hoại?
Phật bảo Ca-diếp:
–Chăm chỉ tu tập phương tiện hộ trì chánh pháp, ấy là Đại Bồ-tát hùng mạnh trong loài người, là quyến thuộc bất hoại.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Những hạng chúng sinh nào không biết sáu mùi vị?
Phật bảo Ca-diếp:
–Không biết Ba ngôi báu tồn tại lâu bền từ đầu đến cuối, đó là những hạng chúng sinh không biết sáu mùi vị. Như người bị đớ miệng nên không biết sự  sai khác của sáu mùi vị là ngọt, đắng, cay, chua, mặn, nhạt, hết thảy chúng sinh cũng  như thế, họ ngu si không có trí, chẳng biết Ba ngôi báu là pháp trường tồn, cho nên  gọi là người không
biết mùi vị.
Lại nữa, này thiện nam! Những chúng sinh ấy chẳng biết Như Lai là pháp thường trụ, Ta  nói hạng người này là mù bẩm sinh. Chúng sinh mắt thịt biết tính của Như Lai chính là  thường trụ, Ta nói hạng người ấy tên là Thiên nhãn. Nếu có chúng sinh nghe Ma-ha-diễn  mà có thể tin tưởng và ưa thích, Ta nói hạng người ấy cũng gọi là Thiên nhãn. Cho dù  chúng sinh có thiên nhãn đi nữa, nhưng không biết Như Lai là pháp thường trụ, Ta nói  hạng người này là nhục nhãn. Vì sao? Vì tính của Như Lai thường trụ chân thật, mà  người kia không thể chăm chỉ tu tập.
Lại nữa, này thiện nam! Nên biết Như Lai vì tất cả chúng sinh mà làm cha mẹ. Vì sao? Vì  Như Lai đều có thể hóa hiện đủ mọi thứ hình loại của tất cả chúng sinh, cùng chung  cảnh giới với chúng sinh mà nói pháp cho họ. Như Lai dùng một âm thanh mà thuyết  pháp, mọi loài khác nhau kia, mỗi loài đều tự hiểu được. Chúng khen ngợi: Quý hóa  thay! Đức Như Lai dùng âm thanh của ta mà nói pháp.
Lại nữa, này thiện nam! Giống như người sinh ra đứa con mới mười sáu tháng, lời  nói không đúng. Thế nhưng cha mẹ kia muốn dạy cho con tiếng nói của mình, thì trước  tiên họ phải nói giống như âm thanh của con, rồi dần dần chỉ dạy cho con học.   Nên biết, cha mẹ không phải thật sự không đúng. Chư Phật Như Lai cũng như thế, vì  sự giáo hóa nên chư Phật cùng một hình loại, âm thanh và ngôn ngữ như họ, thế nhưng  thực ra Như Lai ấy không giống với họ, mà là phương tiện thị hiện thuận theo thế gian.
 ??
 Phẩm 18: VUI THEO
 Bấy giờ, Đức Thế Tôn từ gương mặt của mình phóng ra ánh sáng đủ màu sắc chiếu khắp  bốn chúng. Ánh sáng chiếu xong, trưởng giả Thuần-đà liền mau chóng kính dâng lễ vật  cúng dường Như Lai và đại chúng lần sau cùng.
Lúc này, Thuần-đà cùng với những người quyến thuộc được niềm vui sướng lớn lao, bèn  than:
    –Thương thay! Thật là hiếm có! Ta cúng dường Như Lai và khó gặp lại lầnnữa. Ông liền lấy cái bát làm bằng đủ các thứ quý báu dựng đầy cơm có mùi vị thượng  hạng, rồi cầm bát hướng đến Đức Phật. Đúng vàolúc ấy, có vị trời Đại uy thần như  ngăn che trước mặt và bảo với Thuần-đà:
–Ông chớ tùy tiện cúng dường, nguyện xin để cho chúng tôi lại được trông nhìn Đức  Như Lai trong giây lát nữa.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại phóng ra ánh sáng chiếu rọi vị Thiên tử kia. Khi ấy, vị  thiên thần kia vâng theo thánh chỉ của Đức Phật để cho Thuần-đà tiến lên phía trước.  Bấy giờ, hàng trời, người và các chúng sinh lẫn lộn đủ mọi loài, ai nấy đều dùng  âm thanh khác nhau, ấp ủ mối bi cảm trong lòng, than khóc xót thương làm chuyển động  mặt đất. Họ cùng với Thuần-đà đều dâng cúng Phật và Tăng, cúng dường Đàn  Ba-la-mật sau cùng.
Lúc ấy, vì muốn khiến cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni và các chúng đến hội họp biết  thời giờ đã đến, Đức Thế Tôn lại phóng ra ánh sáng soi chiếu toàn bộ các chúng  trong hội. Khi ấy, các Tỳ-kheo biết thời giờ đã đến, ai nấy đều chỉnh đốn uy nghi, nắm  giữ đồ ứng khí, giống như phép nhận sự bố thí. Trưởng giả Thuần-đà bày biện đủ mọi  thứ giường nằm và ghế ngồi làm bằng các thứ quý báu dâng lên Đức Phật và Tăng,  treo thắt phướn lọng, hương hoa, chuỗi ngọc.
Bấy giờ, ba ngàn đại thiên thế giới cực kỳ trang nghiêm tốt đẹp, giống như đất nước  Cực lạc ở phương Tây. Trưởng giả Thuần-đà đứng ở trước Đức Phật, lòng lo buồn tấm  tức, bạch Phật một lần nữa:
–Xin nguyện Thế Tôn hãy vì những kẻ đáng xót thương mà sống lâu một kiếp hoặc hơn  một kiếp.
Phật bảo Thuần-đà:
–Ông muốn khiến Ta ở lâu trong đời, thì chắc có lẽ ông biết, lúc này hãy nên mau  chóng bày biện đồ cúng dường Đàn Ba-la-mật sau cùng.
Thuần-đà bạch Phật:
–Thưa vâng! Bạch Thế Tôn!
Lúc ấy, hết thảy các loài chúng sinh khác nhau, trời, người, Bồ- tát đồng thanh  xướng lên:
–Kỳ lạ thay! Thuần-đà làm việc bố thí sau chót. Kỳ lạ thay! Thuần-đà làm  việc bố thí hết sức lớn lao, nhưng hiện nay vật dụng cúng dường của chúng ta  bày ra ở đây bèn trở thành vật vô dụng.
Ai nấy đều than thở, ân hận, lo buồn, khổ não.
Bấy giờ, tự thân Đức Thế Tôn, mỗi một lỗ chân lông đều hiện ra vô lượng hóa Phật,  mỗi một vị hóa Phật đều có quyến thuộc Tỳ-kheo, đáp ứng cho tất cả những vị kia  khiến họ được cúng dường. Khi ấy, hết thảy chúng sinh đều rất vui mừng. Lúc  ấy, các thức cúng dường do Thuần-đà bày biện được nhờ uy thần của Phật, những  vị đến hội họp đều được đầy đủ. Thuần-đà vui mừng rồi suy nghĩ: “Hôm nay,  Đức Như Lai và tất cả đại chúng thảy đều nhận sự cúng dường sau chót của ta, rồi sau  đó Như Lai sẽ nhập Nê-hoàn”. Những chúng sinh khác cũng suy nghĩ: “Hôm nay, Đức Như Lai  cùng với các đại chúng thọ nhận bữa cơm cúng dường sau cùng của ta, rồi sau mới  nhập Nê-hoàn, không nhận sự thỉnh cầu nào khác”. Lúc ấy, cạnh khu rừng Kiên-cố,  vùng đất ấy nhỏ hẹp, do nhờ thần lực của Phật, nên chỗ như mũi kim đều có vô  lượng chư Phật và quyến thuộc ngồi dùng bữa ở trong đó. Bấy giờ, chúng  trời người và A-tu-la đều rất vui mừng, nói: “Hôm nay, Đức Như Lai thọ nhận bữa cơm  cúng dường sau cùng của ta, rồi sẽ vào Nê-hoàn. Chúng ta sẽ phụng sự chỗ nào nữa  đây? Xót thương thay! Chúng ta côi cút không có sự trông nom che chở. Bấy giờ, Đức Thế Tôn liền vì tất cả mọi người mà nói bài kệ:
Các ông chớ buồn than 
Phép chư Phật phải thế 
Tuy nói là Nê-hoàn 
Cũng chưa tận tột  cùng. 
Pháp thường trụ Như Lai 
Ở mãi an ổn nhất
Những kẻ có hồ nghi 
Lắng nghe nay Ta nói. 
Ta đã lìa tưởng ăn
Thân không hoạn đói khát 
Nay Ta sẽ vì ông
Nói pháp vui theo ấy.
  Khiến tất cả chúng sinh 
Được yên ổn an lạc 
Tính chư Phật Như Lai
Pháp thường trụ chân thật. 
Nay các ông nghe xong 
Nên chăm tu phương tiện 
Như quạ và diều hâu
Tính chúng rất trái nhau. 
Có thể đi cùng đàn
Đêm dừng vui lẫn nhau 
Như Lai coi tất cả 
Giống như La-hầu-la. 
Cần phải bỏ từ bi
Vào mãi ở Nê-hoàn 
Hay khiến đầy rắn độc 
Lưới thỏ cùng huyệt ấy. 
Như Lai bỏ từ bi
Vào mãi ở Nê-hoàn 
Hay khiến cây y lan
Đồng hoa hương trăm lá. 
Như Lai bỏ từ bi
Vào mãi ở Nê-hoàn 
Hay khiến quả ca-lưu 
Vị giống đam-ma-la. 
Như Lai bỏ từ bi
Vào mãi ở Nê-hoàn 
Hay khiến Nhất-xiển-đề
Đều thành Bình đẳng giác. 
Như Lai bỏ từ bi  
Vào mãi ở Nê-hoàn 
Nếu tất cả chúng sinh
Thành Phật đạo một lúc. 
Như Lai bỏ từ bi
Vào mãi ở Nê-hoàn 
Giả sử nước muỗi mòng
Thấm hoại đất đai này. 
Trăm sông đều chảy tràn 
Biển cả đều đầy ắp
Như Lai bỏ từ bi 
Vào mãi ở Nê-hoàn.
Các ông những chúng sinh 
Vì rất ưa chánh pháp
Bảo Như Lai diệt mãi 
Lo buồn rồi than thở. 
Từ nay với Như Lai
Đừng niệm tưởng phi thường 
Nên biết Như Lai tánh 
Trường tồn chẳng biến đổi. 
Pháp Tăng cũng thế thôi 
Đều không phải pháp diệt.
Như thế, này thiện nam! Ba pháp này là lời nói chân thật, chắc chắn, thường trụ  không thay đổi.
Tất cả chúng sinh gặp phải các sự sợ hãi, thuyết chân đế này có năng lực khiến họ  yên ổn. Muốn độ tất cả sự hiểm nạn ở đồng trống, thuyết chân đế này có thể  khiến cho được độ, thuyết chân đế này có thể làm cho cây khô mọc hoa lá lại. Nếu  bốn chúng này nghe ba pháp thường trụ ấy rồi vui theo người nói, giả dụ họ chưa phát  ý và không ưa thích hướng về, thì những việc ấy đều là nhân của Bồ-đề. Ba   pháp thường trụ, đó gọi là thuyết vui theo một cách chân thành vi diệu nhất của Như  Lai. Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni có khả năng hiểu rõ và giảng giải ba pháp thường trụ  cho tất cả chúng sinh, nên biết những người ấy có thể thọ lãnh sự cúng dường của  tất cả La-hán, nếu khác điều này thì không thể thọ nhận được. Cho đến hết thảy hạng  Chiên-đà-la ưa thích nghe thuyết Như Lai tùy hỷ, cũng lại được lìa khỏi các sự lo lắng  sợ hãi.
Bấy giờ, hàng trời, người, A-tu-la v.v... nghe nói Như Lai là pháp thường trụ, tâm được  vui vẻ, dịu dàng, chân thật, lìa khỏi sự tích tụ và che lấp, tâm được thanh tịnh, vẻ  mặt dáng dấp vui vẻ hớn hở như hoa sen nở xòe ra. Họ rải các hoa trời, đốt mọi thứ  hương nổi tiếng,  đánh
    trống trời và tấu kỹ nhạc cúng dường Như Lai và Tỳ-kheo Tăng.
Lúc ấy, Đức Thế Tôn bảo Ca-diếp:
–Này thiện nam! Ông thấy những việc hiếm có gì? 
Ca-diếp bạch Phật:
–Thưa vâng! Bạch Thế Tôn! Con thấy việc lạ lùng chưa từng có. Con thấy tất cả chư  Thiên, dân chúng, A-tu-la bày biện các thức cúng dường, ai nấy đều được Như Lai và  các đại chúng thọ nhận thức ăn thức uống của mình. Con lại thấy trong ấy, vùng đất  nhỏ hẹp của họ chứa đựng giường nằm và ghế ngồi của các Đức Như Lai và đại chúng.  Chỗ một mũi kim nhọn mà lại có vô lượng quyến thuộc chư Phật, rồi các vị thọ  nhận sự cúng dường và nói bài kệ vui theo. Những chúng sinh kia, mỗi người  chẳng biết nhau, rồi họ cho là Như Lai nhận lời mời của một mình ta. Thế nhưng,  nay Thế Tôn và các đại chúng thương xót Thuần-đà mà thọ nhận Đàn Ba-la-mật sau  cùng, nhờ thần lực của Phật nên khiến cho đại chúng ở đây đều được đầy đủ, nhưng  thực ra Thế Tôn chẳng dùng tay nắm cơm thành nắm để ăn. Chỉ có các vị Đại Bồ-tát, 
Pháp vương tử Văn-thù-sư-lợi là những bậc hùng mạnh trong loài người mới có thể  biết sự phương tiện hiện hóa của Như Lai, vì sự việc lạ lùng chưa từng có này vốn là  điều mà hàng Thanh văn và Duyên giác không thể biết. Kỳ lạ quá! Bạch Thế Tôn! Vô  số vô lượng Như Lai là pháp thường trụ.
Lúc ấy, Đức Thế Tôn bảo Thuần-đà:
–Ông có thấy sự việc kỳ lạ chưa từng có hay không? Thuần-đà bạch Phật: –Thưa vâng, con đã thấy. Xưa nay con thấy ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của  Như Lai trang nghiêm sắc thân, vô lượng vô số Như Lai như thế, cùng với các quyến  thuộc Bồ-tát vây quanh. Nay con thấy thân chân thật của Thế Tôn một mình ở giữa đại  chúng giống như cây thuốc, cùng với các vị Bồ-tát người trước kẻ sau đi vòng quanh.
Phật bảoThuần-đà:
–Trước đây chư Phật đều là biến hóa thị hiện, vì sự thương xót và làm an vui cho tất  cả chúng sinh mà các Ngài tỏ ra ý ấy, nên khiến cho công đức kia không thể hết  được, bèn làm ra sự biến hóa thị hiện này.
Thế nhưng các chúng sinh đều không thể biết, chỉ có các vị Bồ-tát thành tựu vô lượng  công đức của Bồ-tát, bậc hùng mạnh trong loài người mới có thể biết Như Lai phương  tiện biến hóa thị hiện. Thuần- đà, nay ông cũng lại thành tựu công đức của Bồ-tát,  thực hành mười địa.
Thuần-đà bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Như thế chúng con đều phải nên tu tập tất cả sự vui theo của Bồ-tát.
Phật bảo Thuần-đà:
–Đừng tùy theo quả tham như khế kinh khác. 
Thuần-đà bạch Phật:
–Các khế kinh khác là không phải kinh chăng? 
Phật bảoThuần-đà:
–Những kinh kia nói về Hữu dư. 
Thuần-đà bạch Phật:
–Nghĩa ấy thế nào? 
Phật bảoThuần-đà:
–Giống như điều Ta nói:
Tất cả khen bố thí
Không quở trách người thí 
Thí phạm giới phước ít 
Thí giữ giới phước tăng.
Ta nói đó là Khế kinh, tuy khen ngợi tất cả sự bố thí, song sự bố thí có chỗ thua kém  chênh lệch. Bố thí cho người phạm giới thì không có một tí phước, bố thí cho người giữ  giới thì được quả lớn ấy, không phải giống nhau hết thảy.
Thuần-đà bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Tại sao Thế Tôn lại nói bài kệ này, tất cả khen ngợi công đức bố  thí?
Phật bảoThuần-đà:
–Trừ một hạng người khen ngợi tất cả sự bố thí. 
Thuần-đà bạch Phật:
–Trừ hạng người nào khen ngợi tất cả sự bố thí? 
Phật bảoThuần-đà:
    –Trừ hạng Nhất-xiển-đề, người phạm giới và phỉ báng giáo pháp, còn lại đều khen  ngợi tất cả sự bố thí.
Thuần-đà bạch Phật:
–Hạng người nào gọi là Nhất-xiển-đề? 
Phật bảo Thuần-đà:
–Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di phỉ báng kinh pháp, miệng nói lời ác,  mãi mãi chẳng ăn năn và sửa lỗi, đối với các kinh pháp thì tâm họ không có sự quay  về và nương tựa, những hạng người như thế là hướng về con đường Nhất-xiển-đề. Nếu  lại có chúng sinh phạm bốn tội nặng và gây ra tội vô gián, tự mình chẳng ăn năn  hối lỗi mà không có sự hổ thẹn; đối với chánh pháp, người kia mãi mãi không có sự  hộ trì quý trọng, không cùng với người hộ pháp để làm bậc hiểu biết; đối với các  việc thiện, họ chưa hề ca ngợi. Nếu lại tà kiến, cho là không có Phật,
Pháp, Tăng,  Ta nói hạng người này hướng về con đường Nhất-xiển-đề, trừ những loại người này khen  ngợi tất cả sự bố thí.
Thuần-đà bạch Phật:
–Sao gọi là phạmgiới? 
Phật bảo Thuần-đà:
–Phạm bốn giới cấm nặng, năm nghiệp vô gián và phỉ báng chánh pháp.
Thuần-đà bạch Phật:
–Như tội nặng này có sự chênh lệch chăng? 
Phật dạy:
–Có sự chênh lệch. Người kia tuy phạm giới, vẫn còn mặc pháp y mà sinh lòng hổ thẹn:  “Ôi chao! Nay ta phạm tội nặng này, kỳ lạ biết bao, sao ta gây ra sự khổ sở to lớn  này?”. Thế rồi người ấy ôm nỗi sợ hãi, phát sinh tâm hộ pháp. Ta nên khen ngợi  những người hộ pháp. Lại nữa, Ta phải hàng phục những điều phi pháp, đối với kinh  Phương đẳng và các thiền Tam-muội, phương tiện, họ chăm chỉ tu tập, nếu như thế thì Ta  nói hạng người này là người không phạm giới. Vì sao? Vì giống như ánh sáng mặt trời  xuất hiện, thì bụi bặm ngăn che thảy đều chẳng hiện. Như thế, tu tập khế kinh  Ma-ha-diễn này như ánh sáng mặt trời, vô số vô lượng những tội tích tụ thảy đều  tiêu diệt. Cho nên
kinh này nói, người hộ pháp được quả báo lớn, nếu không như vậy thì gọi là phạm  giới lớn nhất. Nếu bố thí cho hạng người này thì không có một chútphước. Lại nữa, này thiện nam! Người phạm bốn điều giới cấm nặng nhưng có thể  biết tính của Như Lai chân thật, khởi tâm hộ pháp. Nếu bố thí cho hạng người này, sở  dĩ được quả báo lớn lao là thế nào? Ví như có người mẹ, do đất nước rối ren, nên đem  một đứa trẻ sơ sinh muốn đi đến nước khác, giữa đường gặp phải trận ngập lụt lớn,  nước lũ dâng lên chảy lan tràn, người ấy ôm đứa con mà lội qua, dập dềnh trôi nổi  giữa dòng nước chảy xiết, không rời bỏ đứa con mình, cả mẹ và con đều chết đuối.  Thế nhưng, người mẹ kia đã từng gây ra việc ác lớn, nhờ công đức bảo vệ đứa con mà  được sinh lên cõi trời sau khi thân mạng kết thúc. Như thế, này thiện nam!  Người phạm bốn giới cấm nặng và tạo năm nghiệp vô gián, tự hối hận và   trách mình một cách sâu xa, khởi tâm hộ pháp. Người ấy vốn gây ra nghiệp không  tốt lành, tạo các việc ác, vì sự hộ pháp nên được làm ruộng phước, có thể nhận  lãnh đồ vật bố thí của người thiện tín, công đức ủng hộ chánh pháp cũng được quả  báo lớn lao.
Thuần-đà bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Nếu hạng Nhất-xiển-đề phát sinh lòng tin trở lại và sám hối tội lỗi  với ba bậc tôn quý, nếu người ta bố thí cho người ấy thì được quả lớn hay không?
Phật bảo Thuần-đà:
–Ông chớ nói năng như thế, ví như có người ăn quả am-la, đồng thời lấy hạt của quả  ấy chẻ ra rồi mới ăn. Người ấy đem hạt trống rỗng kia gieo vào trong đất, tuy lại  tưới tắm, song rốt cuộc cây chẳng mọc được. Cũng như thế, hạng Nhất-xiển-đề kia   phá hoại hạt giống tốt lành, muốn khiến cho họ ăn năn hối lỗi để phát sinh  lòng tốt của mình, lẽ nào có cái lý đó? Cho nên gọi là hạng  Nhất-xiển-đề. Bố thí cho người giữ giới được quả lớn là kết quả cũng không giống  nhau. Vì sao? Bố thí cho hàng Thanh văn và Phật-bích-chi, vốn được quả báo đều có sự  sai khác nhau. Chỉ có điều là bố thí cho Như Lai thì thu được quả cao nhất, cho nên nói  rằng, không phải tất cả sự bố thí đều được quả báo lớn lao.
  Thuần-đà bạch Phật:
–Cớ sao Thế Tôn lại nói bài kệ này? 
Phật bảo Thuần-đà:
–Có nhân, có duyên. Bấy giờ, ở thành Vương-xá có người Ưu-bà- tắc không có niềm  tin, ông ta phụng sự phái Ni-kiền mà lại đến hỏi Ta về ý nghĩa của việc bố thí, Ta  thu nhận người kia nên nói bài kệ này cho ông ta. Nên biết rằng, Như Lai phương tiện  nói bí mật là vì Bồ-tát, không phải là tất cả đều có thể biết rõ. Cho nên Bồ-tát  là bậc hùng mạnh trong loài người, sẽ đối với lời nói hữu dư của Như Lai mà phân  biệt nghĩa ấy, hàng phục tất cả những người phạm giới, giống như trừ bỏ cỏ đề và  cỏ kê làm hại lúa non tốt tươi.
Lại nữa, này thiện nam! Như bài kệ Ta nói: 
Tất cả sông ngòi ắt ngoằn ngoèo 
Hết thảy rừng rậm hẳn trồng cây 
Tất cả nữ nhân ắt dối nịnh
Hết thảy Đại lực hẳn an vui.
Bấy giờ, Văn-thù-sư-lợi liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chỉnh đốn y phục để làm lễ Đức  Phật, rồi nói bài kệ:
Không phải mọi sông ắt ngoằn ngoèo 
Chẳng phải mọi rừng hẳn trồng cây 
Không phải người nữ đều dối nịnh 
Chẳng phải Đại lực đều an vui.
Như thế, Đức Thế Tôn nói sơ lược pháp môn không phải là lời nói quyết định. Vì sao?  Vì cõi Diêm-phù-đề khác ở ngoài cõi Diêm- phù-đề trong ba ngàn thế giới này có  dòng sông ngay thẳng, sự ngay thẳng ấy như sợi dây, từ biển phía Tây ấy thẳng đến  biển Đông, như trong Phương Đẳng và A-hàm nói, đó là thuyết hữu dư của Như Lai. Tất cả  rừng rậm ắt hẳn trồng cây cối cũng là nói hữu dư. Vì sao? Rừng có hai thứ, cũng có  rừng cây báu, vàng, bạc, lưu ly. Tất cả người nữ ắt hẳn nịnh bợ và giả dối cũng là  thuyết hữu dư, có các người nữ giữ giới thanh tịnh, tâm của họ chất phác ngay thẳng.  Tất cả vị Đại lực ắt hẳn an vui cũng là thuyết hữu dư,
Pháp vương Như Lai là vị Đại  lực cao nhất, tên gọi là An Lạc, Chuyển luân Thánh vương và các thiên thần
cũng gọi là Đại lực, song họ chẳng an lạc. Do đó nên biết rằng, không phải hết thảy  những vị Đại lực đều là an lạc. Chỉ có thường trụ, không phải pháp biến đổi, Đại  lực Nê-hoàn an ổn diệu lạc. Ví như vị lương y cho người bệnh kia uống vị đề hồ, khi  ấy người bệnh kia xin với vị lương y: “Xin ông lại cho tôi thêm thuốc, tôi có thể ăn  được”. Người thầy thuốc trả lời: “Chỉ ăn độ chừng như thế, tiêu hóa xong lại ăn nữa.  Nếu ăn ngay lập tức mà không tiêu, thì có lẽ có khả năng giết chết người”. Bấy  giờ, vị thầy thuốc giỏi kia vì thực sự thương xót người bệnh, sợ người ấy  chết, Như Lai cũng vậy, do từ bi thương xót, muốn trừ diệt tâm cao ngạo kiêu mạn  của vua Ba-tư-nặc, đại thần và phu nhân, nên nói bài kệ:
Tất cả sông ngòi ắt ngoằn ngoèo 
Hết thảy rừng rậm hẳn trồng cây 
Tất cả nữ nhân ắt dối nịnh
Hết thảy Đại lực hẳn an lạc.
Nên biết, lời nói của Thế Tôn không có sót quên, như quả đất lớn này có thể làm  cho lật ngược, lời nói của Như Lai rốt cuộc không có sự lầm lẫn. Cho nên tất cả hữu  dư và vô dư đều là nguyên cớ thâu giữ chúng sinh của Như Lai.
Phật dạy:
–Quý hóa thay! Vì Văn-thù-sư-lợi thương xót tất cả các chúng sinh, cho nên  giảng nói rộng rãi về hữu dư và vô dư của Như Lai.
Bấy giờ, Văn-thù-sư-lợi lại ở trước Đức Phật mà nói bài kệ:
Khéo thuận theo người khác 
Không quán làm chẳng làm 
Chỉ tự quán thân hành
Nhìn kỹ thiện, bất thiện.
Như thế, bạch Thế Tôn! Con nói chánh pháp này cũng lại không phải là lời nói rốt  ráo. Vì sao? Chúng ngoại đạo tà kiến đều hướng về địa ngục, thế nhưng Đức Phật Thế  Tôn dạy các đệ tử đều hướng về Nê- hoàn. Nếu sinh lên cõi trời thì đây gọi là nói  lời chê bai và khen ngợi. Đủ các thứ như thế, Thế Tôn nói chẳng thuận theo. Bạch Thế  Tôn! Tại sao trong bài kệ nói: “Đối với người khác, hãy khéo thuận theo”.
 
Lúc ấy, Phật bảo Văn-thù-sư-lợi: –Sở dĩ Ta nói khéo thuận theo là có nhân và có duyên. Khi ấy, vua A-xà-thế làm hại  vua cha rồi, bèn đi đến chỗ Ta rồi hỏi: “Bạch Thế Tôn! Tại sao gọi là Nhất thiết trí  song không phải Nhất thiết trí? Nếu Nhất thiết trí, thì ở trong trăm ngàn đời,  Đề-bà-đạt-đa thường ôm lòng ác độc đối với Như Lai, tại sao Như Lai lại cho phép ông  ấy được xuất gia?”. Ta liền nói bài kệ này cho vua: “Đối với người khác hãy khéo  thuận theo”. Vua A-xà-thế có tội làm hại cha mà chẳng tự mình thức tỉnh. Như Lai  muốn khiến cho vua tự tỉnh ngộ lỗi lầm của mình nên làm cho tội ấy nhẹ, nên  nói: “Chỉ tự xem xét hành động của bản thân, nhìn kỹ càng là thiện hay không thiện”.  Hôm nay, tại sao ông thấy mà không thuận theo? Nếu có người tu hành giữ giới đem lòng  từ bi mà quán xét lỗi lầm kia, thì đó chính là pháp của chư Phật Như Lai, muốn làm  cho bản thân mình và các chúng sinh thảy đều an lạc, vì thế cần phải quán xét người  khác làm hay không làm, bản thân mình cũng vậy, người nào thường quán xét như thế,  chính là đệ tử của Ta.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại nói với Văn-thù-sư-lợi:
–Như bài kệ của Ta nói:
Tất cả đều sợ chết 
Ai cũng sợ đớn đau 
Ví như tha thứ mình
Đừng giết đừng đánh gậy.
Lúc ấy, Văn-thù-sư-lợi lại ở trước Đức Phật mà nói bài kệ:
Không phải đều sợ chết 
Tất cả sợ đớn đau 
Không ví dụ cho mình 
Tha thứ chúng sinh kia.
Như thế, bạch Thế Tôn! Thế Tôn nói lược pháp môn cũng không phải rốt ráo. Vì sao?  Như vật quý báu của A-la-hán và Chuyển luân Thánh vương là đại thần, voi ngựa, ngọc  nữ; nếu các hàng trời, người và chúng sinh khác có năng lực làm hại thì thật là  vô lý. Dũng sĩ, liệt nữ, ngựa đồng hoang, vua trong loài thú, Tỳ-kheo giữ giới, tuy có  đối phó hết sức nhưng không sợ hãi. Tất cả đều sợ chết, không ai là không
sợ đau đớn do gậy gộc đánh, đó chính là thuyết hữu dư.
Lại nữa, không thể đem mình để ví dụ người kia. Vì sao? Nếu bậc A-la-hán lấy mình để ví  dụ người kia thì gọi là mạng tưởng. Nếu mạng tưởng thì đây không phải bậc thượng sĩ.  So đo suy tính về mạng tưởng là kẻ phàm phu ngu si và tà kiến hướng về cửa nơi cõi  ác.
Lại nữa, bậc La-hán, ta và chúng sinh rỗng lặng không có sở hữu, thì ai chết, ai  giết, người nào khởi ý tưởng làm hại, lẽ nào có cái lý đó? Thế những điều người  kia nói mà ta làm ví dụ, là dụ có ngã, hay là dụ không có ngã? Nếu đó là dụ ngã  thì gọi là thấp kém. Nếu dụ không có ngã thì đó là bậc A-la-hán, không có thí dụ.  Nhưng Đức Phật Thế Tôn không căn cứ vào sự việc không có nguyên nhân mà thuyết  pháp xằng bậy. Tại thành Vương-xá có người thợ săn hành nghề giết sinh vật, ông ta  cúng thí mời Phật và chư Tăng, chỉ có niềm ước mong chư vị thương xót thọ nhận. Thế  nhưng, Đức Phật Thế Tôn chưa hề ăn thịt, xem hết thảy là bình đẳng như La-hầu-la, lập  tức Phật nói bài kệ này cho người thợ săn:
Nên xem người sống lâu 
Vì không hại chúng sinh 
Tất cả đều sợ chết
Ai cũng sợ đánh đau 
Ví như tha thứ mình
Đừng giết, đừng đánh gậy.
Phật dạy:
–Này Văn-thù-sư-lợi! Ông là tiên trong loài người, làm an ổn cho chúng sinh, khéo nói  giáo pháp bí mật phương tiện của Như Lai.
Bấy giờ, Văn-thù-sư-lợi lại nói kệ:
Cung kính với cha mẹ
Tăng thêm sự cúng dường
Vì duyên đạo hiếu này
Chết đọa ngục Vô  trạch.
Bạch Thế Tôn! Bài kệ này nói lấy sự vô minh ân ái làm cha mẹ, chúng sinh thuận theo  khiến cho nó tăng trưởng rồi gây tạo các nghiệp xấu ác. Khi chết lập tức sẽ đọa  vào địa ngục Vô trạch.
 
Lúc ấy, Đức Thế Tôn lại nói với Văn-thù-sư-lợi:
–Như bài kệ Ta nói:
Tất cả khổ do thế lực khác 
Hết thảy sức mình vui tự tại 
Tất cả thế kiêu mạn làm hại
Hết thảy hiền thiện được người thương.
Văn-thù-sư-lợi lại nói bài kệ:
Không phải mọi khổ do tha lực 
Chẳng phải sức mình vui tự tại 
Không phải kiêu mạn là hung bạo
Chẳng phải hiền thiện được người thương.
Đây quả là Thế Tôn nói sơ lược pháp môn hiện thời, chứ không phải rốt ráo. Vì sao?  Giống như con cái hạng thường dân theo thầy học, việc cúi ngửa hay tiến lên, dừng  lại đều do ở nơi thầy. Đạo đức và nghệ thuật đã hoàn thành thì mãi mãi được  an lạc, như con cái hạng vương giả, sức lực của mình tự tại, không theo sự dạy bảo  của người khác, ngu tối thường khổ. Sở dĩ Như Lai nói bài kệ này là vì những chúng  sinh ấy bị ma nắm giữ, chẳng được tự tại. Như Lai vì những người kia mà nói  bài kệ này, do đó nên biết rằng, không phải vì tất cả tha lực cho nên khổ, cũng  chẳng phải vì tất cả sức lực của mình cho nên vui. Tất cả thế lực kiêu mạn làm hại,  đây cũng là thuyết hữu dư, không phải hết thảy sự kiêu mạn là làm hại hoàn toàn.  Giống như có người kiêu mạn, phách lối tục tằn, người ấy xuất gia học đạo, hoặcsuy  tính phước đức giữ giới thanh tịnh, nên biết rằng, hạng người này tuy là kiêu căng  ngạo mạn, song không phải là bạo hại. Tất cả sư hiền thiện là điều mọi người yêu  mến cũng là thuyết hữu dư, như người phạm bốn điều cấm nặng trong giáo pháp của mình,  song có thể tự cố gắng nắm giữ uy nghi, tuy tu hạnh nghiệp của bậc Hiền thánh, nhưng  do phá hoại chánh nghiệp nên mọi người chẳng yêu thương. Nguyên nhân nào mà Đức Thế  Tôn nói bài kệ này?
Bấy giờ, Phật bảo Văn-thù-sư-lợi:
–Chư Phật Như Lai không căn cứ theo sự việc không có nguyên nhân mà thuyết pháp xằng  bậy. Khi ấy, tại thành Vương-xá có  người
con gái của Câu-lân (biệt danh của A-nhã Kiều-trần-như) tên là Tu- bạt-đà-la chán  ghét thế tục, bèn đi đến chỗ Phật muốn cầu xin xuất gia. Phép tắc của người con gái  không được tự tại, hạn chế bởi người con trai, nên người con gái ấy tự quay về với  Ba ngôi báu. Phật biết ý của người ấy, cũng biết chính lúc ấy mà nói bài kệ này,  tất cả nỗi khổ là do thế lực của người khác. Hay thay! Hay thay! Văn-thù-sư-lợi là  tiên ở trong loài người, có thể hỏi về giáo pháp bí mật phương tiện của Như Lai.
Văn-thù-sư-lợi lại nói kệ:
Tất cả loài chúng sinh 
Đều sống nhờ ăn uống 
Hết thảy những trẻ thơ 
Không có tâm bủn xỉn. 
Tất cả các thế gian
Ăn cơm nắm thêm bệnh 
Hết thảy người hành pháp 
Cùng dừng, được an lạc.
Như thế, bạch Thế Tôn! 
Nay Thế Tôn thọ nhận bữa cơm cúng dường của ông Thuần-đà, sẽ  không tăng thêm bệnh hoạn.
Lúc ấy, Đức Thế Tôn lại vì Văn-thù-sư-lợi mà nói kệ:
Không phải mọi chúng sinh 
Đều sống nhờ ăn uống 
Không phải mọi trẻ thơ 
Không có tâm bủn xỉn.
Chẳng phải mọi thế gian 
Ăn cơm nắm thêm bệnh 
Không phải mọi hành pháp 
Cùng dừng được an lạc
Này Văn-thù-sư-lợi! Ông mắc bệnh như Ta mắc bệnh. Các A-la- hán, cho đến  Phật-bích-chi, Bồ-tát, Như Lai thảy đều không dùng tay nắm cơm thành nắm để ăn, đây  chính là phép tắc nhất định của chư Phật Như Lai. Nếu nói rằng, La-hán và  Phật-bích-chi, Bồ-tát, Như Lai đã từng dùng tay nắm cơm thành nắm để ăn là phá hoại  ý nghĩa Đại sĩ
  mà thọ nhận trăm ngàn sự bố thí của chúng sinh, Ta khen ngợi tất cả công đức bố  thí, vì muốn cứu giúp chúng sinh, đưa họ qua biển khổ không bờ của ba con đường ác.  Mặc dù không ăn bằng cách vo thành nắm, nhưng Ta thường ca ngợi sự bố thí, muốn  khiến cho chúng sinh thành tựu Đàn Ba-la-mật. Ta ngồi trang nghiêm dưới gốc cây, sáu  năm tu khổ hạnh, lẽ nào nói rằng không ăn mà hình dáng gầy còm chăng? Đừng cho rằng  Như Lai và chúng sinh cùng số mạng. Như Lai đã vượt qua các dòng ái dục, không giống  như cảnh giới hành xử của người đời. Cảnh giới của Như Lai không thể nghĩ bàn, hàng  đệ tử Thanh văn cũng như thế, nói rằng ăn bằng cách vo thành nắm ấy là thuyết hữu  dư. Tất cả trẻ sơ sinh xa lìa sự keo kiệt, cũng là thuyết hữu dư, bởi vậy mới có vô  lượng kẻ mãi mãi lìa khỏi tâm bủn xỉn, không có sự tán động trong tâm và được  khoái lạc. Tất cả những ai ăn bằng cách vo thành nắm tăng thêm bệnh cũng là thuyết  hữu dư, bệnh tật từ bên ngoài đưa vào như vết thương do kiếm đâm, số ấy vô lượng.  Hết thảy pháp tu hành cùng dừng lại chỗ an vui cũng là thuyết hữu dư của Như Lai. 
Pháp ấy có nhiều loại, cũng có việc tu tập pháp thiện của thế tục. Nghiệp thân,  miệng, ý đủ các thứ pháp thanh tịnh, đủ mọi lòng tin, thế nhưng cùng dừng lại giống  nhau và chẳng thuận theo với nhau. Bởi thế hãy nên biết rằng, chư Phật Như Lai không  căn cứ vào sự việc không có nhân duyên cho nên nói trái với ý nghĩa, vì sự  giáo hóa nên phương tiện thuyết pháp.
Khi ấy, có vị Phạm chí Bán-đầu và những người bạn cùng nhau chấm dứt việc tu tập  phép chay ở đền thờ các vị thần thuộc cõi trời Đại tự tại, họ đi đến chỗ Phật. Để  hàng phục những người kia, khiến cho họ buông bỏ kiến giải khác lạ, Ta nói bài kệ  này.
Bấy giờ, Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Thế Tôn dạy thế nào, các khế kinh khác đều là thuyết hữu dư của Như  Lai chăng?
Phật dạy:
–Không phải vậy. Này thiện nam! Nếu chúng sinh có công đức thành tựu và khéo hiểu  rõ giáo pháp sâu xa, Như Lai sẽ vì người đó mà nói pháp thường trụ an lạc vô dư. Các  chúng sinh khác ưa thích nghe pháp, Như Lai sẽ vì những người kia mà giảng, hoặc là  thuyết hữu  dư,
 hoặc là thuyết vô dư.
Ca-diếp rất vui mừng bạch Phật:
–Kỳ diệu thay! Bạch Thế Tôn! Thế Tôn xem chúng sinh đều bình đẳng dường như  đứa con một.
Phật bảo Ca-diếp:
–Quý hóa thay! Này thiện nam! Cần phải hiểu kỹ pháp cực kỳ huyền diệu như thế.
Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Xin ước mong Như Lai hãy nói về công đức sở đắc của kinh Phương Đẳng  Bát-nê-hoàn này.
Phật bảo Ca-diếp:
–Kinh Ma-ha-diễn Bát-nê-hoàn này, người nghe tên kinh ấy là đã có được công đức,  không phải là hàng Thanh văn và Phật-bích-chi mới có thể nói một cách rốt ráo.  Công đức của kinh Ma-ha-diễn Bát- nê-hoàn này phát sinh không thể nghĩ bàn, chỉ là  cảnh giới của chư Phật Như Lai.
Bấy giờ, chư Thiên, người đời và A-tu-la liền ở trước Đức Phật, một lòng đồng thanh  ca tụng bằng kệ:
Như Lai Thiên Trung Thiên 
Sâu xa khó nghĩ bàn
Điều Như Lai giảng nói 
Kinh Phương Đẳng Nê-hoàn. 
Sinh ra các công đức
Cũng chẳng thể nghĩ bàn 
Chánh pháp khó nghĩ bàn 
Ngôi báu Tăng cũng thế.
Xin mong Thiên Trung Thiên 
Thương xót ở ít lâu
Vị Thượng tọa Ca-diếp 
Quyến thuộc đến chốc lát. 
Tôn giả A-nan-đà
Đại tiên sĩ nghe nhiều 
Và Ma-kiệt-đề vương 
Quốc vương A-xà-thế.
 
Họ đối với Như Lai 
Đệ tử thân mật nhất
Các hạng Chánh sĩ kia 
Ắt hoài nghi tưởng lầm. 
Vì Như Lai Nê-hoàn 
Gánh vác đời lâu bền 
Tâm hạng này hoài nghi 
Do đâu mà quyết định.
Nguyện thường trụ chốc lát 
Đợi họ đến quyết nghi.
Lúc này, Đức Thế Tôn vì các đại chúng mà nói kệ:
Những người ôm nghi hoặc 
Các ông chớ âu lo
Pháp Ta sinh con trưởng 
Thượng tọa ĐạiCa-diếp. 
Bậc nghe nhiều A-nan 
Chốc lát nữa họ đến
Cần cho họ gặp Ta 
Ta sẽ vào Nê-hoàn. 
Như bậc trí tuệ này 
Xem đôi chân Như Lai 
Họ tự biết thân Ta 
Thường, vô thường chân thật
Bấy giờ, hết thảy đại chúng và quyến thuộc cúng dường hàng tơ lụa cõi trời và  chiếc lọng trang sức bằng hoa cho Đức Như Lai, đốt các loại hương thơm nổi tiếng, tấu  kỹ nhạc cõi trời, số ấy vô lượng không thể lấy gì làm ví dụ được. Cúng dường Đức  Phật xong, các hàng chúng sinh đông bằng muôn lần số cát sông Hằng phát tâm  A-nậu-đa-la-tam- miệu-tam-bồ-đề, trụ ở trụ địa đầu tiên của hàng Bồ-tát.  Trưởng giả Thuần-đà vui mừng hớn hở, như lấy cam lộ Bồ-đề để rót lên đỉnh đầu của  mình.
Lúc ấy, Đức Thế Tôn bảo
Pháp vương tử Văn-thù-sư-lợi, Bồ-tát Ca-diếp và Bồ-tát  Thuần-đà:
–Này thiện nam! Các ông hãy tự tu tâm mình, cẩn thận chớ
buông lung. Nay Ta đau lưng, cả mình mẩy đều nhức nhối, Ta cần muốn nằmyên. Này Văn-thù-sư-lợi! Ông nên thuyết pháp cho tất cả bốn chúng, chánh pháp của Như  Lai nay Ta giao phó cho ông, ngay cả Thượngtọa Ma-ha Ca-diếp và A-nan-đà, ông nên giảng  thuyết rộng rãi. Ngay sau đó, vì sự giáo hóa chúng sinh, Đức Thế Tôn thị  hiện thân thể mắc bệnh, hông bên phải chạm đất, thu thúc ý niệm theo tư tưởng  sáng suốt
*
**
/53
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »