396 - Kinh Ma Ha Ma Da - Quyển Hạ (Trang 643 - 661)">
Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Đại Tập 49 - Bộ Niết Bàn III - Số 376 ->396

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1139.

Chương 26: Kinh Ma Ha Ma Da - Quyển Hạ (Trang 643 - 661)

KINH MA HA MA  DA
 
QUYỂN HẠ
 
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói pháp nhiệm mầu cho vua Ba-tư-nặc và đại chúng xong, cùng với chúng Tỳ-kheo vây quanh trước sau lần  lượt từ nước Xá-vệ đi đến các làng xóm, thôn ấp, tùy theo người đáng độ đều độ khắp, rồi đi đến sông Ni-liên-thiền.
Đức Thế Tôn đến sông rồi cởi áo xuống tắm gội. Khi ấy có vô lượng trăm ngàn Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la,  Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, người và phi nhân v.v... thấy Như Lai  tắm trong sông, mỗi vị đều đem các loại hương xoa, hương bột đến cúng dường. Lúc ấy, tất cả chúng sinh ở hư không, trên đất, dưới nước  bên sông Ni-liên-thiền, thấy thân Như Lai giống như gương sáng, hình dáng diệu kỳ, thảy đều hoan hỷ phát sinh tâm từ, tiêu trừ ba độc, không  ăn nuốt lẫn nhau, đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng  giác.
Bấy giờ, A-nan bạch Phật:
–Nay  các  chúng  sinh  trong  nước,  đất  liền  hư  không,  thấy  thân Phật còn sinh hoan hỷ phát tâm Bồ-đề. Đề-bà-đạt-đa sinh trong  cung họ Thích, là bà con của Phật, lại làm Sa-môn, miệng thường đọc  tụng kinh điển vi diệu, nhưng đối với Như Lai thường làm việc nghịch  tội, phá hòa hợp Tăng, làm thân Phật chảy máu, dạy vua A-xà-thế giết hại vua  cha.  Ngày  ngày  tập  hợp  những  thức  ăn  ngon  lạ,  kiêu  mạn,  cho mình bằng Phật,  vì lợi  dưỡng nhỏ nên bị lửa  thiêu đốt. Giả như  chư Phật muốn cứu độ cũng không lợi ích. Giống như con la có thai thì chắc chắn bị chết.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo A-nan:
–Như lời ông nói, Đề-bà-đạt-đa thường có tâm oán hại Ta, tự tạo ra nhân đọa vào địa ngục A-tỳ, tất cả chư Phật không thể cứu thoát. Đối với Đề-bà-đạt-đa Ta rất thương xót, nhưng không lâu nữa ông ta bị nghiệp khổ làm hại. Lúc Đề-bà-đạt-đa ở bên cạnh Phật nghe nói vậy
rồi, lòng rất giận dữ liền từ bỏ Phật, cùng với số đệ tử khác đi đến nước Ma-kiệt-đà kết thân với vua A-xà-thế. Trên đường đi có các bầy  quạ kêu tiếng khó chịu quần vũ quấy loạn, lại gặp trâu ác muốn báng  tung họ. Các đệ tử kia thấy vậy rồi nói: “Nay chúng ta thấy các điều này không phải là an lành. Hoặc là chỗ sắp đến không lợi ích”.
Đề-bà-đạt-đa  nói: “Các ông ngu si làm sao biết được! Nên theo ta gấp không cần nói nhiều”.
Đến nước Ma-kiệt-đà  rồi, Đề-bà bảo người giữ cửa: “Ông vào tâu vua có ta đến đây”.
Người giữ cửa liền vào tâu vua. Vua A-xà-thế nghe Đề-bà-đạt-đa đã đến bên ngoài, lòng rất giận dữ nói: “Ta không muốn nghe tên ông ấy, huống là mắt thấy sao? Giống như mưa đá phá gãy cây cỏ trên đất, chính  nó  không  lâu  sẽ  tự  tiêu  tan.  Người  ác  này  cũng  như  vậy,  dạy người làm ác, phá hoại hạt giống lành của người, rồi trở lại tự hại  hạt giống thiện căn của mình”.
Vua bảo người giữ cửa: “Chớ nghe lời ông ta nói”.
Thấy  vua  A-xà-thế  không  cho  gặp  mặt,  Đề-bà-đạt-đa  rất  tức giận, đập đầu nghiến răng mắng chửi.
Lúc đó, có Tỳ-kheo-ni Ưu-ba-la từ cung vua đi ra, thấy Đề-bà- đạt-đa ở ngoài cửa liền mắng: “Ngươi làm cho dòng họ Thích không được hưng thịnh, để lại chướng ngại lớn cho pháp Phật”.
Đề-bà-đạt-đa nghe nói  rồi rất giận dữ, liền dùng tay đánh vào đầu  làm  cho  Tỳ-kheo-ni  kia  chết.  Đề-bà-đạt-đa  làm  hại  Tỳ-kheo-ni La-hán, nên bị đất nứt ra có nhiều lửa vây bọc nuốt chửng ông ta  kéo vào địa ngục.
Lúc ấy, Đức Thế Tôn tắm xong, hướng về các Tỳ-kheo nói kệ:
Ví như qua đường xấu
Thời gian dài lo sợ
Nếu đến nơi bằng phẳng
An ổn không nạn buồn
Đường sinh tử hiểm trở
Chúng sinh thường kinh sợ
Chỉ có đường Niết-bàn
Hành giả được an ổn
Nay Ta muốn đến đó
Công đức thường nơi lạc.
Đức Thế Tôn nói kệ này xong cùng A-nan đi đến thành Vương- xá, giảng thuyết các pháp cho các Tỳ-kheo. Lần lượt đi đến thôn  Ba- liên-phất nói pháp cho dân chúng, trưởng giả, cư sĩ, Phạm chí v.v... Kế đi đến thành Tỳ-da-ly mà giảng nói pháp cho dân chúng Ly-sa và cô gái vườnxoài.
Bấy  giờ,  Đức  Thế  Tôn  toàn  thân  sinh  bệnh  khắp  nơi  đều  đau nhức, bèn quay lại bảo Tôn giả A-nan:
–Nay thân thể Ta đau nhức, chỉ muốn xả bỏ thân hư mục này. A- nan nên biết, nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nào chứng đắc bốn thần túc thì có thể sống được một kiếp, hoặc ít hơn một kiếp, huống gì Như Lai  đã tự tại trong ýmuốn.
Lúc ấy, A-nan bị ma che khuất nên im lặng không đáp. Đức  Thế Tôn hỏi đến ba lần cũng đều im lặng. Thế Tôn bèn bảo A-nan:
–Ông nên đến một gốc cây khác chuyên cần tư duy và quán  sát các pháp.
Lúc đó, ma Ba-tuần liền đến chỗ Phật, cúi đầu lễ nơi chân   Phật
bạch:
–Trước đây tôi đã cầu thỉnh Thế Tôn vào Niết-bàn. Khi ấy   Thế
Tôn trả  lời tôi: Các đệ tử Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di của ta chưa đầy đủ, nên chưa thể vào Niết-bàn. Nay bốn bộ chúng  của Thế Tôn đã đầy đủ, cúi xin bậc Thiện Thệ mau vào Niết-bàn.
Thế Tôn đáp lời cho ma:
–Hay thay Ba-tuần! Nên biết sau ba tháng nữa Như Lai sẽ vào Niết-bàn.
Ma  Ba-tuần  nghe  Phật  hứa  rồi,  hân  hoan  vui  mừng  không  thể kiềm chế, đảnh lễ nơi chân Phật trở về cõi trời.
Như Lai đã hứa với Thiên ma sau ba tháng sẽ vào Niết-bàn,  liền xả bỏ tuổi thọ vô lượng, dùng sức thần thông trụ trong ba tháng. Khi ấy, trong đại địa chấn động đủ sáu cách, mặt trời không có ánh sáng rực rỡ,  mưa  gió  thất thường, tám bộ chúng  trời  rồng  ai  cũng  run  sợ, đứng bên Phật đầy kín cả hư không.
Tôn giả A-nan thấy tướng này rồi lòng kinh hãi, lông tóc dựng
đứng, vội đến bên Phật,bạch:
–Vì nguyên nhân gì bỗng nhiên hôm nay có tướng này? Phật bảo A-nan:
–Ma Ba-tuần ác đến cầu thỉnh muốn Ta vào Niết-bàn. Ta đã hứa với họ và đã xả bỏ tuổi thọ. Do dùng thần lực nên còn trụ trong ba tháng.
A-nan bạch Phật:
–Đức Thế Tôn thường nói: Người chứng đắc bốn thần túc thì  có thể sống được một kiếp, hoặc ít hơn một kiếp, hoàn toàn theo ý muốn. Tại sao Như Lai không trụ trong thế gian mà bị thay đổi như các hành?
Như Lai bảo A-nan:
–Vừa rồi Ta đã nói với ông điều này vì ông bị ma che khuất trí nên  không  biết  thưa  hỏi.  Nay  Ta  hứa  với  ma  rồi,  làm  sao  sống  lâu được!
A-nan phải biết, tất cả các pháp hành đều không thường còn được như vậy. A-nan nghe Phật nói lời này, trong lòng phiền muộn áo  não, không thể kềm chế, kêu khóc tự hối trách.
Lúc đó, Đức Thế Tôn cùng A-nan dần dần đi đến khắp các nước, thôn ấp, làng xóm rộng giảng nói các pháp, người được hóa độ không thể  tính  kể.  Dần  dần  đến  nơi  các  Lực  sĩ  nước  Câu-thi-na-kiệt,  giữa rừng Ta-la bên sông Ni-liên, bảoA-nan:
–Ông nên cột võng đầu quay về hướng Bắc, hôm nay thân thể Ta rất đau, vào giữa đêm này sẽ vào Niết-bàn.
A-nan vâng lời bố trí giường dây xong, Đức Phật nằm nghiêng hông về phía bên phải.
Bấy giờ, A-nan thấy Phật nằm rồi, núp ở sau Phật, rơi lệ buồn khóc rất khổnão.
Đức Thế Tôn bèn hỏi các Tỳ-kheo:
–A-nan đang ở chỗ nào? Các Tỳ-kheođáp:
–A-nan đang ở gần sau Phật rơi lệ buồn khổ. Như Lai bằng Phạm âm đại bi bảo A-nan:
–Ông không nên khóc lóc giống như trẻ nít mới sinh. Vì sao?  Ở trong sinh tử thảy đều như vậy chỉ nên siêng suy nghĩ các pháp.  Trước
đây ông từng theo bên Ta, nghiệp thân, khẩu, ý rất là thuần thiện, chưa từng thấy ông có chút lỗi nào, nay phải nên siêng cầu giải thoát, chớ ôm buồn bực, hãy kềm chế lòng đau thương chớ nên sầu não.
Lúc ấy, A-nan bạch Phật:
–Sau khi Như Lai nhập Niết-bàn, nên hỏa táng bằng cách nào? Phật bảo A-nan:
–Cách hỏa táng nên làm như của Chuyển luân Thánh vương. Lấy ngàn  tấm  lụa  sạch  mới  dài  quấn  thân  Phật.  Đem  dầu  thơm  đặt  vào trong hòm bằng vàng,  đem hòm bằng vàng đặt vào trong hòm bằng bạc, đem hòm bằng bạc đặt trong hòm bằng đồng, đem hòm bằng đồng đặt  trong  hòm  bằng  thiếc.  Tập  trung  các  loại củi  thơm  để  hỏa  táng, gom lấy xá-lợi lập tháp miếu thờ, bày các thứ lọng lụa, cờ phướn cúng dường.
Khi ấy, Đức Thế Tôn bảo A-nan:
–Ông nên vào thành bảo các Lực sĩ, đêm nay Ta sẽ vào Niết- bàn, nếu họ muốn đến nên tự biết lúc.
A-nan  vâng  lời  liền  đi  vào  thành,  đến  ngã  tư đường,  lớn  tiếng xướng:
–Như Lai Ứng Cúng Đại Sư của ba cõi đang ở giữa cây Song thọ gần nơi đây, sẽ vào Niết-bàn vào lúc nửa đêm. Nếu các người muốnlễ bái cúng dường, đồng thời muốn thưa hỏi chắc chắn phải biết đến đúng lúc.
Các Lực sĩ nghe nói vậy rồi, đều rất buồn khổ hỏi A-nan:
–Đức Thế Tôn sao diệt độ nhanh quá! Từ nay chúng ta không biết nương tựa vào đâu! Rồi họ khóc lóc trên đường đi đến chỗ Đức Phật.
Lúc đó, nơi rừng Ta-la Song thọ bên sông Ni-liên, chu vi rộng đến  bốn  trăm  năm  mươi  dặm,  trời  rồng  bát  bộ  đầy  kín  cả hư  không, không hở chỗ nào, thảy đều mến mộ, buồn khóc khổ não. Tất cả  đều nói:
–Thế gian đã mất đi đấng chalành.
Mỗi người đều tự nói: Từ nay chúng ta sẽ chìm đắm trong sinh tử, ai là người cứu giúp?
Khi ấy, trong thành có một Phạm chí một trăm hai mươi tuổi  tên
Tu-bạt-đà-la, nghe Phật nửa đêm sẽ vào Niết-bàn giữa rừng Ta-la, ông liền đến chỗ Phật thưa A-nan:
–Con nghe Như Lai Nhất Thiết Trí sẽ vào Niết-bàn lúc nửa đêm, nên muốn giải quyết chút nghi, cúi xin cho phép con được gặp.
A-nan trong lòng nghĩ: Ông Phạm chí này chất chứa dị kiến đã lâu, nay ắt muốn cùng Phật bàn luận, Đức Thế Tôn đang bệnh  không nên quấy rối, bèn lặng im không cho phép. Xin đến ba lần cũng không cho.
Bấy giờ, bằng thiên nhĩ nghe từ xa Đức Thế Tôn bảo A-nan:
–Ông  nên  cho  ông  Phạm  chí  già  vào,  đây  chính  là  đệ  tử  cuối cùng của Ta.
Tu-bạt-đà-la thấy Phật rồi hân hoan vui mừng, đầu mặt làm lễ.
Khi ấy, Đức Thế Tôn tùy căn cơ mà nói pháp Bát chánh đạo, ông ấy liền ngay chỗ ngồi chứng được quả A-la-hán. Ông bạch Phật:
–Con đã qua khỏi được biển khổ sinh tử, không thể chịu được khi thấy Đại sư Niết-bàn. Nay con xin diệt độ trước, liền ở trước Phật vào Niết-bàn.
Lúc đó, Đức Thế Tôn vì tất cả tám bộ chúng nói pháp nhiệm mầu tới nửa đêm. Giờ Niết-bàn đã đến, Đức Thế Tôn nói bài kệ:
Ta với các chúng sinh
Nay hết duyên hóa độ
Đêm lặng khí hòa hoạt
Giờ Niết-bàn đã đến.
Đức Thế Tôn nói kệ xong liền vào sơ thiền, sơ thiền xong lại vào nhị thiền, nhị thiền xong lại vào tam thiền, tam thiền xong lại vào tứ thiền, tứ thiền xong lại vào không xứ, vào không xứ rồi đến vào  thức xứ, vào thức xứ rồi đến vào vô sở hữu xứ, vào vô sở hữu xứ rồi vào phi tưởng phi phi tưởng xứ, vào phi tưởng phi phi tưởng xứ rồi vào diệt tận định.
Khi  ấy,  trong  hội  đại  chúng  thấy  các  căn  của  Như  Lai  không động, bèn hỏi Tôn giả A-na-luật:
–Đức Thế Tôn nay đã vào Niết-bàn chưa?
A-na-luật bảo mọi người :
–Thế Tôn đang vào định diệt tận.
Bấy  giờ,  Như  Lai  ra  khỏi  diệt  tận  định  vào  phi  tưởng  phi  phi tưởng xứ. Ra khỏi phi tưởng phi phi tưởng xứ vào lại vô sở hữu xứ.  Ra khỏi vô sở hữu xứ vào lại thức xứ. Ra khỏi thức xứ vào lại không xứ. Ra khỏi không xứ vào lại tứ thiền. Ra khỏi tứ thiền vào lại tam  thiền. Ra khỏi tam thiền vào lại nhị thiền. Ra khỏi nhị thiền vào lại sơ  thiền. Ở sơ thiền vào nhị thiền, ra nhị thiền vào tam thiền, ra tam thiền vào tứ thiền, ra tứ thiền vào không xứ, ra không xứ vào thức xứ, ra thức xứ vào vô sở hữu xứ, ra vô sở hữu xứ vào phi tưởng phi phi tưởng xứ, ra phi tưởng phi phi tưởng xứ vào diệt tận định. Chính ở nơi ấy Ngài vào Niết-bàn. Đúng lúc này đại địa chấn động, trời rồng bát bộ buồn  khóc rối loạn. Khi ấy, trời Đế thích và Phạm thiên nói kệ:
Sống chết không chân thật
Lừa gạt các chúng sinh
Mâu Ni Tôn ngày nay
Bỏ nó như đờm dãi.
Lúc đó, các chúng sinh cùng nói:
–Như  Lai  diệt  độ  sao  nhanh  quá!  Trong  lao  ngục  ba  cõi  ai  sẽ được giảithoát.
Hoặc có người lăn lóc trên đất, hoặc có người bứt đứt chuỗi anh lạc, quần áo, hoặc đấm ngực, bứt tóc, kêu lớn. A-nan vội vào thành bảo các Lực sĩ:
–Tối qua Như Lai đã vào Niết-bàn, các ông phải nên hỏa táng cúng dường.
Các Lực sĩ nghe nói rồi rất đau khổ, đều cùng đến rừng Ta-la, thấy Đức Thế Tôn đã vào Niết-bàn họ rất đau xót không vui, không thể kềm chế. Liền hỏi A-nan:
–Chúng tôi không biết cách hỏa táng thân Như Lai thế nào? A-nan đáp:
–Đêm qua tôi đã thưa hỏi Phật. Đức Thế Tôn dạy cách hỏa  táng như Chuyển luân Thánh vương. A-nan đều lần lượt nói lại đầy đủ. Các Lực sĩ nghe xong liền làm đầy đủ trang nghiêm cúng dường, mọi  việc đều theo như A-nan đã nói, cách làm quan tài như của Chuyển luân Thánh vương.
Bấy giờ, Ma-da ở cõi trời thấy năm tướng suy:
Một là hoa trên đầu tự nhiên héo.
Hai là dưới nách ra mồ hôi.
Ba là ánh sáng trên đỉnh đầu mất.
Bốn là hai mắt nháy liên tục.
Năm là không thích chỗ ngồi.
Trong đêm ấy lại thấy năm mộng ác lớn:
Mộng thứ nhất: Núi Tu-di sụp lở, nước trong bốn biển khô cạn.
Mộng thứ hai: Thấy các La-sát tay cầm dao bén móc mắt tất  cả chúng sinh. Lúc ấy, có gió bão nổi lên, các La-sát đều chạy trở về núi Tuyết.
Mộng thứ ba: Các trời nơi cõi Dục, cõi Sắc bỗng nhiên mất  mũ báu. Chuỗi anh lạc tự đứt, ngồi trên tòa không yên. Thân không có ánh sáng giống như đốmđen.
Mộng thứ tư: Thấy ngọc châu Như ý treo trên ngọn cờ cao thường mưa châu báu chu cấp cho tất cả. Có bốn rồng độc trong miệng phun ra lửa thổi đến chỗ ngọn cờ và định ngậm lấy ngọc châu Như ý, bị gió dữ thổi xuống vựcsâu.
Mộng thứ năm: Có năm con sư tử từ trên không xuống ngậm  vú của Ma-ha Ma-da rồi chui vào trong nách trái, thân tâm đau đớn như bị dao cắt.
Khi Ma-ha Ma-da thấy mộng này rồi rất kinh sợ thức giấc nói:
–Vừa rồi ta nằm mộng bỗng nhiên thấy việc không an lành, làm cho thân tâm ta rất buồn khổ. Xưa ở trong cung vua Bạch Tịnh, nhân trong giấc ngủ ban ngày thấy được mộng hiếm có, thấy một Thiên tử thân  màu  hoàng  kim  cỡi  voi  chúa  màu  trắng,  có  các  Thiên  tử  vây quanh trỗi các âm nhạc vi diệu sáng rỡ như mặt trời đi vào bên hông phải của ta, thân tâm được an vui không chút buồn khổ, liền mang thai Thái tử Tất-đạt, rạng rỡ tổ tiên, soi sáng cho đời. Nay năm điềm mộng này rất là kinh sợ, ắt là tướng ác. Thích Ca Như Lai con ta vào Niết- bàn. Bèn hướng về các Thiên tử nói rõ các việc đã thấy trong mộng.
Bấy giờ, Tôn giả A-na-luật sau khi thấy thân Như Lai đã đặt vào trong quan tài, liền bay lên cõi trời Đao-lợi đến chỗ Ma-ha Ma-da  mà nói:
Đại sư cao tột Thiên Trung Thiên
Người dẫn đường tất cả thế gian
Trong biển vô thường ngài đã bị
Cá lớn Ma kiệt nuốt hẳn rồi.
Ở tại nước Câu-thi-na-kiệt
Trong rừng Ta-la giữa Songthọ
Không lâu sẽ ra cửa thành Đông
Cúng dường các thứ để hỏa táng.
Tám chúng trời người đều đầy chật
Khóc kêu chấn động suốt tam thiên.
A-na-luật nói kệ xong, liền trở về bên quan tài của Như Lai. Ma- ha Ma-da nghe A-na-luật nói kệ này rồi phiền muộn ngã xuống đất. Các thiên nữ dùng nước vẩy vào mặt, hồi lâu bà mới tỉnh lại, bứt đầu tóc, các thứ trang sức, rơi lệ buồn khóc nói:
–Đêm qua ta thấy năm điềm ác mộng, biết chắc chắn Như Lai sẽ nhập Niết-bàn. Nay quả nhiên A-na-luật đến bảo: Phật đã diệt độ giữa rừng Song thọ, không lâu sẽ hỏa táng. Sao mà khổ vậy! Con mắt  của thế gian đã mất sao nhanh quá! Trời người đã hết phước. Khi xưa trong cung vua Bạch Tịnh, mới sinh Ngài bảy ngày thì ta chết. Tình mẹ con chưa được ẵm bồng nuôi dưỡng, giao phó lại cho dì là Ma-ha Ba-xa- ba-đề nuôi dưỡng cho bú mớm đến trưởng thành. Đến năm mười chín tuổi, nửa đêm vượt thành xuất gia, cả cung điện trong ngoài đều  buồn thảm. Đã thành đạo rồi mở mắt trí tuệ cho thế gian, che chở ủng hộ cho tất cả giống như cha lành. Vì sao trong một sớm sẽ nhập Niết-bàn. Quỷ ác độc vô thường rất hung bạo, có thể hại người con chánh giác của ta, liền ở trong chúng nói kệ:
Ở vô lượng kiếp qua
Thường cùng là mẹ con
Ngài đã thành Chánh giác
Duyên này mới dứt lìa.
Nhưng lại trong ngày nay
Đã vào trong Niết-bàn
Giống như cây cao lớn
Các chim cùng nương đậu.
Sáng sớm mỗi phân tán
Đến chiều tụ họp về
Làm mẹ con cùng
Ngài Chung nơi cây sinh tử.
Đã thành được quả Phật
Nguồn gốc lớn tuyệt này
Rồi lại vào diệt độ
Không thể còn gặp nữa.
Khi Ma-ha Ma-da nói kệ rồi, khóc lóc ảo não không tự kềm  chế, cùng vô lượng các thiên nữ quyến thuộc vây quanh, trỗi các âm nhạc vi diệu, rải hoa đốt hương ca tụng khen ngợi, từ trên không xuống đến rừng Song thọ, đến rừng Ta-la rồi, trông thấy kim quan của Phật  lòng rất phiền muộn không tự kềm chế nên ngất xỉu. Các Thiên nữ dùng nước rảy vào mặt sau  đó bà mới tỉnh lại, đến trước kim quan cúi đầu làm lễ, buồn não rơi lệ nói:
–Ở vô lượng kiếp qua, cùng làm mẹ con lâu dài chưa từng lìa bỏ, nay không hẹn ngày gặp lại. Than ôi, khổ quá! Chúng sinh hết  phước sẽ bị mê mờ, ai là người dẫn đường.
Liền dùng hoa trời Mạn-đà-la, Ma-ha Mạn-đà-la, hoa  Mạn-thù- sa, hoa Ma-ha Mạn-thù-sa rải trên kim quan và nói bài kệ:
Nay đây giữa Song thọ
Trời rồng tám bộ chúng
Nghe tiếng ai kêu khóc
Không biết nói thế nào.
Như anh vũ kêu loạn
Không hiểu được tiếng gì
Đầy chật ở nơi đây
Giống như chim gẫy cánh.
Không thể bay lên được
Rừng Như Lai Niết-bàn
Kiếp rộng nhiều ân ái
Như chim Giá-ca-la.
Hôm nay gió vô thường
Thổi tan các nơi khác
Các khổ của chúng sinh
Hy  vọng  pháp  cam lồ. Giống  chim Ca-lan-đề Mong mỏi đợi trờimưa Cớ sao hôm naybèn
Mau chóng vào Niết-bàn. Thân trong nhiều kim quan Biết tôi đến đây chăng?
Ma-ha Ma-da nói kệ này xong, ngoái nhìn y Tăng-già-lê, Bát-đa- la và tích trượng của Như Lai. Tay phải cầm các vật, tay trái vỗ vào đầu,  gieo  mình  xuống  đất  như  núi  Thái  Sơn  đổ,  thương  khóc  phiền muộn nói:
–Trước đây con ta cầm, mặc các vật này, ban phước đức rộng cho thế gian, lợi ích cho hàng trời, người. Nay các vật này không còn  chủ. Than ôi! Đau khổ không thể nóiđược.
Khi ấy, tám bộ bốn chúng thấy Ma-ha Ma-da buồn khổ như  vậy lại  càng  thương  cảm  lệ  tuôn  như  mưa.  Đế  thích  dùng  năng  lực  biến nước ấy thành dòngsông.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn dùng đại thần lực, làm cho các kim  quan mở ra, từ trong kim quan đứng dậy chắp tay như sư tử chúa mới rakhỏi hang,  hình  dáng  rung  động  rất  nhanh.  Các  lỗ  chân  lông  trong  thân phóng ra ngàn ánh sáng, mỗi mỗi ánh sáng có ngàn hóa Phật, đều chắp tay hướng về Ma-ha  Ma-da,  dùng tiếng Phạm âm nhu hòa thăm hỏi mẹ:
–Mẹ từ nơi xa xuống cõi Diêm-phù-đề này, các hành là pháp như vậy chớ có khóc lóc, rồi vì mẹ nói kệ:
Trong tất cả phước điền
Phước điền Phật là  cao
Trong tất cả người nữ
Ngọc nữ báu là cao.
Nay mẹ đã sinh Ta
Vượt hơn không chỗ  bì
Ba đời có thể sinh
Phật, Pháp, Tăng là báu.
Ta từ kim quan ra
Chắp tay hoan hỷ khen
Để báo ơn đã  sinh
Ta tỏ tình hiếu mến.
Chư Phật tuy diệt độ
 
Pháp, Tăng bảo thường còn Xin mẹ chớ ưusầu
Xét rõ hành vô thường.
Đức  Thế  Tôn  nói  kệ  xong,  Ma-ha  Ma-da  an  ủi  được  đôi  chút, dung mạo dần như hoa sen nở. Lúc A-nan thấy Phật đứng dậy, lại nghe nói kệ liền tuôn lệ nhưng tự đè nén, nấc trong cổ họng, chắp tay  bạch Phật:
–Chúng sinh đời sau ắt sẽ hỏi con, lúc Đức Thế Tôn sắp nhập Niết-bàn đã nói gì và trả lời thế nào?
Phật bảo A-nan:
–Ông nên đáp rằng, sau khi Đức Thế Tôn vào Niết-bàn,  Ma-ha Ma-da từ cõi trời xuống đến nơi kim quan. Khi ấy, Đức Thế Tôn vì các chúng sinh bất hiếu đời sau nên từ kim quan đứng dậy, dung mạo như sư  tử  chúa chắp tay  thăm  hỏi  mẹ.  Trong  mỗi  lỗ  chân  lông  phóng ra ngàn  ánh  sáng,  mỗi  mỗi  ánh  sáng  có  ngàn  hóa  Phật  đều  chắp  tay hướng về Ma-ha Ma-da và nói lại bài kệ như trên.
A-nan lại thưa:
–Kinh này tên gọi là gì? Nên phụng trì thế nào? Phật bảo A-nan:
–Trước đây Ta ở cõi trời Đao-lợi thuyết pháp cho mẹ và tự  Ma- ha Ma-da cũng có nói. Nay ở tại đây mẹ con gặp nhau, ông có thể vì các chúng sinh đời sau giảng nói kinh này. Gọi tên kinh là “Ma Ha Ma Da”, hay là “Kinh Phật lên cõi trời Đao-lợi thuyết pháp cho mẹ”.  Lại gọi tên là “Kinh mẹ con gặp nhau khi Phật sắp Niết-bàn”, và phụng trì như vậy.
Thế Tôn nói xong từ biệt mẹ và nói kệ:
Đời sống Ta đã hết
Phạm hạnh đã lập hẳn
Việc làm đều đã  làm
Không thọ ở đời  sau.
Xin mẹ tự an ủi
Không nên buồn khổ  não
Tất cả hành vô thường
Tin là pháp sinh diệt.
Sinh diệt đã diệt rồi
Tịch diệt vui tối thượng.
Đức Thế Tôn nói kệ rồi kim quan tự đóng lại, ba ngàn đại  thiên thế  giới  đều  chấn  động  đủ  sáu  cách.  Ma-ha  Ma-da  và tám  bộ  chúng khóc thương áo não không thể kềm chế. Ma-ha Ma-da hỏi A-nan:
–Tất-đạt con tôi lúc sắp diệt độ có dạy bảo gì không? A-nan đáp:
–Lúc nửa đêm Đức Thế Tôn lược nói giáo giới cho các Tỳ-kheo, và mười hai bộ kinh. Dặn dò Tôn giả Ca-diếp giúp đỡ rộng giảng lời dạy của Phật cho đời sau.
Ma-ha Ma-da nghe rồi càng thêm cảm động, liền hỏi A-nan:
–Ông hầu Phật từ trước đến nay, có nghe Đức Thế Tôn giảng nói chánh pháp Như Lai lúc nào sẽdiệt?
A-nan tuôn lệ đáp:
–Trước kia tôi từng nghe Đức Thế Tôn nói việc chánh pháp  đời sau:  Sau  khi  Ta  Niết-bàn,  Ma-ha  Ca-diếp  cùng  A-nan  kết  tập  Tạng pháp, hết thảy việc đều xong Ma-ha Ca-diếp sẽ vào diệt tận định trong núi  Lang  Tích.  Tôi  cũng  sẽ  được  chứng  quả  sau  vào  Niết-bàn,  đem chánh pháp giao phó cho Ưu-ba-cúc-đa. Khéo nói pháp yếu như  Phú- lâu-na rộng nói pháp độ người, trở lại khuyến hóa vua A-thâu-ca,  làm cho pháp Phật có được lòng tin vững chắc. Đem xá-lợi Phật thờ  khắp tám vạn bốn ngàn tháp. Sau hai trăm năm  Tỳ-kheo  Thi-la-nan-đàgiảng nói pháp yếu ở Diêm-phù-đề độ mười hai ức người. Sau ba trăm năm Tỳ-kheo  Thanh-liên-hoa-nhãn  giảng  nói  pháp  độ  nửa  ức  người. Sau bốn trăm năm Tỳ-kheo Ngưu Khẩu giảng nói pháp yếu độ chúng vạn người. Sau năm trăm năm Tỳ-kheo Bảo Thiên giảng nói pháp  độ hai vạn người. Tám vạn chúng sinh phát tâm Vô thượng Chánh Đẳng Giác ngang  đây  chánh  pháp  sẽ  diệt  tận.  Sau  sáu  trăm  năm  có  chín mươi sáu hàng ngoại đạo tà kiến phát triển, phá diệt pháp Phật. Có Tỳ- kheo tên Mã Minh giảng nói pháp điều phục tất cả các hàng ngoại đạo.
Sau bảy trăm năm có một Tỳ-kheo tên Long Thọ đốt đuốc chánh pháp giảng nói pháp diệt tà kiến. Sau tám trăm năm các Tỳ-kheo ưa thích y phục, vui đùa buông lung. Trong trăm ngàn người mới có được một, hai người đắc đạo quả. Sau chín trăm năm đứa tớ trai làm Tỳ-kheo, tớ  gái làm Tỳ-kheo-ni. Sau một ngàn năm các Tỳ-kheo sân giận, không muốn nghe pháp quán bất tịnh A-na-ba-na. Trong vô lượng Tỳ-kheo có  một hoặc hai người tư duy chánh thọ. Sau một ngàn một trăm năm các  Tỳ- kheo như người thế tục làm việc mai mối, ở trong đại chúng phỉ  báng Tỳ-ni, làm việc không phải phạm hạnh. Nếu có con nam là  Tỳ-kheo, nữ là Tỳ-kheo-ni. Sau một ngàn ba trăm năm y ca-sa biến trắng không chịu nhuộm màu. Sau một ngàn bốn trăm năm bốn chúng giống như hầu  sư  ưa  thích  sát sinh,  bán  vật  Tam  bảo.  Sau  một  ngàn  năm  trăm năm  có  Tỳ-kheo  Tam  Tạng  nước  Câu-diệm-di  giảng  nói  pháp,  đồ chúng có năm trăm người. Lại có một Tỳ-kheo La-hán khéo giữ giới pháp đồ chúng năm trăm người.
Ngày mười lăm lúc bố-tát có Tỳ-kheo La-hán bay lên trên tòa cao giảng pháp thanh tịnh: Chỗ này nên làm, chỗ kia không nên làm.
Đệ tử của Tỳ-kheo Tam Tạng trả lời La-hán:
–Nay thân miệng ông tự không thanh tịnh, làm sao trở lại nói lời thô?
 La-hán đáp:
–Nghiệp thân miệng ý của tôi từ lâu đã thanh tịnh, không có các lỗi lầm.
Đệ tử của Tam Tạng nghe lời này rồi càng giận dữ liền giết vị La-hán ấy trên tòa.
Khi ấy đệ tử của La-hán nói:
–Thầy ta nói hợp với lý pháp, sao các ông giết Hòa thượng  trên tòa? Họ liền dùng dao bén giết Tam Tạng ấy.  Tám bộ trời rồng rất buồn  não.  Ma  Ba-tuần  ác  và  chúng  ngoại  đạo  hân  hoan  vui  mừng, tranh giành phá chùa tháp, giết hại Tỳ-kheo. Tất cả kinh tạng đều  lưu truyền  đến  nước  Câu-thi-na-kiệt.  Vua  rồng  A-nậu-đạt  đều  đưa  vào trong biển. Khi ấy pháp Phật diệt tận vậy.
Ma-ha Ma-da nghe xong kêu khóc áo não, hướng về A-nan nói
kệ:
Tất cả đều về diệt
Không có gì thường yên
Tu-di và nước biển
Hết kiếp cũng tiêu khô.
Các cường hào thế  gian
Chắc chắn về hư mục
Con ta ở lúc trước
Chu yên tu các hạnh khổ.
Nên thành được Chánh giác
Vì chúng nói Kinh Tạng
Bây giờ như thế nào
Hết thảy đều chìm mất.
Than ôi pháp sinh tử
Đáng sợ, đáng chán lìa.
Ma-ha Ma-da nói kệ rồi, bảo A-nan:
–Như Lai đã đem chánh pháp dạy bảo phó chúc cho Tôn giả  và Ma-ha Ca-diếp phải nên chuyên cần giữ gìn giảng nói. Nay tôi  không thể chịu nổi lúc hỏa táng Như Lai. Bà liền đi nhiễu bảy vòng quanh kim quan Phật, tuôn lệ kêu than rồi trở về cõi trời.
Lúc đó, giữa rừng cây Ta-la, tám bộ chúng trời người, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di đã thấy mẹ con Như Lai gặp nhau và được nghe nói, có người phát đạo tâm vô thượng, có người được quả Tu-đà-hoàn,  có  người  được  quả  A-na-hàm,  có  người  phát  tâm  Phật- bích-chi. Tất cả đại chúng vâng giữ lời Phật dạy, đảnh lễ phụng hành.
**
Phẩm  2: TÁM  NƯỚC  PHÂN  CHIA  XÁ   LỢI
 
Bấy giờ, người dân Mạt-na nước Ba-bà nghe Phật diệt độ đều  tự nghĩ: Nay ta nên đến xin phân chia xá-lợi xây tháp cúng dường. Liền sắp đặt bốn loại binh hùng mạnh trong nước: binh voi, binh ngựa,  binh xe và binh bộ, đến thành Câu-thi bảo sứ giả:
–Nghe nói Phật dừng ở đây diệt độ, Phật cũng là thầy tôi.  Lòng rất kính mộ đến xin phần cốt về bản quốc xây tháp cúng dường.
Vua Câu-thiđáp:
–Đúng như vậy. Nhưng hiện nay Phật diệt độ ở đây, dân  chúng trong nước sẽ tự cúng dường. Thật phiền các ông từ xa đến, nhưng  xá- lợi để lại này không thể đưa các vị được.
Lúc đó, các người dân Bạt-ly nước Giá-la-pha, người dân Câu-lợi nước  La-ma-già,  chúng  Bà-la-môn  nước  Tỳ-lưu-đề,  dân  chúng   họ Thích nước Ca-tỳ-la-vệ, dân chúng Ly-sa nước Tỳ-đề-la và vua  A-xà- thế nước Ma-kiệt, nghe Như Lai đã diệt độ giữa rừng Ta-la thành Câu- thi, đều tự nghĩ: Ta nên đến xin một phần xá-lợi.
Khi ấy, vua A-xà-thế và các nước chư hầu đều sắp đặt bốn  loại binh  hùng  mạnh  vượt  qua  sông  Hằng,  liền  ra  lệnh  cho  Bà-la-môn Hương Tánh:
–Ông nhân danh ta vào thành Câu-thi thăm hỏi vua nước ấy và những người Mạt-la sinh hoạt có thoải mái, đi lại có được mạnh khỏe không? Tôi đối với các Hiền giả mỗi mỗi đều tôn kính, đối với nước lân cận hòa hợp không tranh cãi. Tôi nghe Phật Như Lai diệt độ  trong nước các ông, chỉ có bậc vô thượng tôn thật là trời của tôi, nên từ xa tôi đến cầu xin một phần xá-lợi, đem về nước xây tháp cúng dường. Nếu đem cho tôi thì vật báu của cả nước sẽ được an ổn.
Bà-la-môn Hương Tánh vâng lời vua, liền đi đến thành ấy nói với dân Mạt-la. Mạt-la nghe xong bảo với Hương Tánh:
–Đúng như lời ông nói. Nhưng vì Đức Thế Tôn diệt độ ở nơinày, dân chúng trong nước sẽ tự cúng dường, phiền các ông rất cực nhọc nhưng vẫn không được xá-lợi trở về.
Bấy giờ, vua các nước tập họp các quần thần lại cùng bàn luận việc này, nói kệ:
Bậc Pháp vương vô thượng
Niết-bàn tại nước ta
Nay tôi trang nghiêm tháp
Nơi tốt để cúng dường.
Cho xá-lợi nhiệm mầu
Sáng chói khắp mười phương
Có thể hóa chúng sinh
Làm sao được phân chia.
Các vua nói kệ rồi, mỗi người tự nghĩ: Ta tiếp tục thờ xá-lợi Như
Lai để lại, đời sau hàng trời, người làm theo sẽ được quả báo nhiều phước đức.
Lại nói:
–Chúng tôi từ xa đến cúi đầu nhường kính nghị hòa xin được chia xá-lợi, nếu không được như vậy bốn binh tại đây không tiếc thân mạng, nghị hòa mà không được sẽ dùng quân binh chống cự.
Khi đó, nước Câu-thi cùng tập họp quần thần luận bàn, rồi đáp kệ:
 
Đạo sư Như Lai tại nước ta
Không hẹn vui đến vào Niết-bàn
Để lại xá-lợi như còn Phật
Ngày đêm chuyên tâm thường  ngưỡng  mộ.
Còn tình biển pháp độ chúng sinh.
Chúng tôi nay xin cúng dường lớn
Các vua rất cực đến lễ bái
Tìm cầu được xá-lợi trở về.
Bấy giờ, Bà-la-môn Hương Tánh đứng trước mặt vua, quỳ xuống chắp tay nóikệ:
 
Như Lai trí tuệ đại từ bi
Thương xót ba ngàn đại thiên giới
Nói pháp khắp trong mười phương cõi
Cho đến vô số không thể nói.
Thương xót chúng sinh như con đỏ
Hằng hà sa số lòng không nghĩ
Bồ-tát quyến thuộc thường qua lại
Đệ tử Thanh văn thường đến tôi.
Cùng nhau nghe giảng nói pháp âm
Bao quanh phân vân cùng lời nói
Trời người tám bộ chúng đều tìm
Nay tôi ở trong biển thanh tịnh.
Như Lai Niết-bàn có xá-lợi
Phân làm tám phần không được tiếc.
Khi các vua nghe kệ rồi, lòng sinh buồn bã, im lặng không ưng thuận.
Lúc ấy, Bà-la-môn Hương Tánh giải thích cho mọi người hiểu:
–Chư hiền trưởng giả! Miệng tụng lời pháp, thọ giới Phật dạy. Tất cả chúng sinh thường muốn được an vui, sao lại vì tranh xá-lợi Phật mà giết hại nhau? Xá-lợi của Như Lai để làm lợi ích khắp vô lượng chúng sinh, không chỉ cho các vua. Nay xá-lợi này sẽ phân chia đúng như vậy.
Mọi người nghe vậy đều cho là ý hay, lại đề nghị:
–Ai là người có thể kham nhận phân chia xá-lợi? Mọi người đều bảo Bà-la-môn Hương Tánh:
–Ông có thể phân chia làm cho đều. Lúc ấy, các vua liền bảo Hương Tánh:
–Ông vì chúng tôi phân chia đều xá-lợi Phật làm tám phần.
Hương Tánh đến chỗ để xá-lợi, làm lễ xong, ông cầm hàm  răng của Phật để riêng một bên, tìm sứ giả mang răng đến chỗ vua A-xà- thế. Nói với sứ giả:
–Nhờ đem lời thăm hỏi của tôi tâu lên đại vương: Sinh hoạt có thuận lợi và đi lại có được mạnh khỏe không? Xá-lợi các nước cứ như vậy đều lấy chung, nay giao sứ giả hàm răng của Như Lai để đem  về nước cúng dường đồng thời an ủi. Khi mặt trời mọc tập họp mọi người lại để phân chia xá-lợi đem về phụng thờ.
Khi ấy, Hương Tánh dùng một cái bình bằng đá với dung lượng vừa phải chia đều xá-lợi làm tám phần. Các nước đã nhận phần rồi, Hương Tánh nói:
–Tôi  xin  đem  cái  bình  này  về  nhà  để  chiêm  ngưỡng  xây  tháp cúng dường.
Lúc  ấy,  có  người  ở  thôn  Tất-bát  đến  thưa  mọi  người:  Xin  cho chúng tôi đất hỏa thiêu này để xây tháp cúng dường, cũng đều được cho.
Bấy giờ, nước Câu-thi, nước Ba-bà, nước Giá-pha, nước  La-ma- già, nước Ca-tỳ-la-vệ, nước Tỳ-xá-ly, vua A-xà-thế nước  Ma-kiệt-đà được phân chiaxá-lợi.
Bà-la-môn Hương Tánh giữ chiếc bình dùng phân chia xá-lợi xây tháp cúngdường.
Người thôn Tất-bát được đất hỏa thiêu xây tháp cúng dường.
Sau đó đạo sĩ khác đạo ở nước Hàm xin được đất tro, cũng trở về bổn quốc xây tháp cúng dường.
**
/53
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »