Phẩm 10: PHÁ KHÔNG
Ngoại viết: Phải có các pháp, vì phá cái có, hoặc không phá các pháp có khác. Ông phá tất cả pháp tướng là cái dường như có, không nên nói tất cả pháp không do phá cái có, vì sự phá nầy có nên không gọi là phá tất cả pháp, hoặc không phá tất cả pháp có.
Nội viết: Phá như có thể phá, vì ông vướng mắc vào sự phá, vì muốn phá các pháp có, không, phá nầy ông không biết chăng? Vì sự phá thành nên tất cả pháp không, vô sở hữu. Sự phá nầy nếu có thì đã rơi vào trong sự có thể phá không, vô sở hữu. Sự phá nầy nếu không thì ông phá chỗ nào? Như nói không có đầu thứ hai, vì không dùng sự phá nên liền có. Như có người nói không, không vì nói không nên có. Sự phá và có thể phá cũng như vậy.
Ngoại viết: Phải có các pháp, vì chấp vào đây, kia. Vì ông chấp nơi sự khác nhau của pháp nên nói lỗi của một pháp, vì chấp nơi một pháp nên nói lỗi của pháp khác nhau, vì hai sự chấp nầy thành nên có tất cả pháp.
Nội viết: Một chẳng phải là chỗ chấp, khác cũng vậy. Một và khác đều không thể có đạt được, trước đã phá bỏ, vì trước đã phá nên không chỗ chấp. Lại nữa, nếu có người nói: Ông không có chỗ chấp, tôi thì chấp pháp một và khác, nếu có người nầy hỏi thì phải phá trừ như vậy.
Ngoại viết: Vì phá pháp người khác nên ông là người phá pháp. Ông thích phá pháp người khác, vì quá mức nên sinh lỗi. Tự mình không có chỗ chấp nên ông là người phá.
Nội viết: Ông là người phá, nói người rỗng không, không có chổ chấp vì người không có chỗ chấp nên chẳng phải người phá. Vì ông chấp pháp mình phá pháp người nên ông là người phá.
Ngoại viết: Vì phá pháp người khác nên pháp mình thành. Lúc ông phá pháp người khác thì pháp mình liền thành. Vì sao? Vì pháp người khác nếu thua, pháp mình thắng, do đó tôi chẳng phải là người phá.
Nội viết: Không đúng, vì sự thành và phá chẳng phải một. Thành gọi là xưng tán công đức, phá là ra khỏi lỗi lầm. Sự tán dương công đức và ra khỏi lỗi lầm không gọi là một. Lại nữa, thành là có sự lo sợ, sợ là không lực. Nếu người tự ở nơi pháp sợ thì không thể thành pháp người, vì không sợ nên thích phá chấp, cho nên sự phá thành chẳng phải là một. Nếu phá pháp người tức là pháp tự thành. Vì sao trước ông nói, nói về không và nhân, nhưng chỉ phá pháp người, còn tự mình thì không
chỗ chấp.
Ngoại viết: Nói lỗi chấp của người khác là tự pháp mình chấp. Vì sao pháp ông không tự thành? Vì chỉ phá pháp người, vì phá pháp người nên tức pháp tự thành.
Nội viết: Phá pháp người vì pháp mình thành nên tất cả không thành. Vì phá pháp người nên pháp mình thành, vì pháp mình thành nên tất cả không thành, vì tất cả không thành nên tôi không có chỗ chấp.
Ngoại viết: Không đúng, vì thế gian trái ngược nhau. Nếu các pháp không, vô tướng thì người thế gian không tín thọ.
Nội viết: Thế gian tin pháp nầy, pháp nhân duyên ấy thế gian tín thọ. Vì sao? Vì nhân duyên sinh pháp, tức là vô tướng. Ông cho trong sữa có lạc, tô v.v… đồng nữ có mang các con trong thức ăn đã có phân. Lại nói ngoài cột lại có nhà khác, ngoài tơ lại có vải khác, hoặc nói trong nhân có quả, hoặc nói trong nhân không quả, hoặc nói lìa nhân duyên, các pháp sinh. Thật và không ấy không phải là ngôn thuyết của thế sự, ai sẽ tín thọ chỗ chấp của người nầy? Pháp tôi không vậy, vì ngang bằng với nhân thế nên tin nhận tất cả.
Ngoại viết: Ông không có chỗ chấp là pháp thành. Ông nói không chỗ chấp tức là chấp. Lại nói pháp tôi ngang bằng với người đời, đó là tự chấp. Nội viết: Không chấp, không gọi là chấp cũng như không có. Trước tôi nói nhân duyên sinh các pháp tức là vô tướng, cho nên tôi không có chỗ chấp, không có chỗ chấp không gọi là chấp. Ví như nói không là thật không, không do nói không nên lại có không, không chấp cũng như vậy.
Ngoại viết: Vì ông nói pháp vô tướng nên người, pháp diệt. Nếu các pháp không, vô tướng thì chấp nầy cũng không, đó là không có tất cả pháp, vì không có tất cả pháp nên gọi là diệt pháp, người.
Nội viết: Phá diệt pháp, người đó gọi là diệt pháp, người. Chính tôi không có pháp nên không chỗ phá. Ông cho là tôi diệt pháp mà người muốn phá, đó là người diệt pháp.
Ngoại viết: Phải có pháp, vì có đối đãi nhau. Nếu có dài ắt có ngắn, nếu có cao ắt có thấp, có “Không” ắt có Thật.
Nội viết: Vì sao có đối đãi nhau? Vì phá cái một. Nếu không có một thì không đối đãi nhau, nếu ít có “chẳng không”, thì phải có đối đãi nhau, nếu không có “chẳng không” thì không có “không”, tại sao đối đãi nhau?
Ngoại viết: Ông không thành là thành. Như nói: Nhà rỗng không,
không có ngựa tức có sự không ngựa, ông tuy nói các pháp không, vô tướng như vậy, mà vì có thể sinh nhiều loại tâm nên phải có “không”, thì “không” thành là thành.
Nội viết: Không đúng. Vì có, không, tất cả đều không. Trong thật tướng tôi nói nhiều loại pháp môn có, không, đều không. Vì sao? Vì nếu không cái có cũng là không cái không, cho nên có, không, tất cả đều không.
Ngoại viết: Phá không đúng, vì tự “không”. Tự tánh của các pháp là “không”, không có tác giả, vì không có tạo tác nên không cần có phá, như người ngu si muốn phá hư không thì chỉ tự chuốc lấy lao nhọc mà thôi.
Nội viết: Tuy tự tánh là “không” nhưng vì nắm giữ tướng nên bị ràng buộc. Tất cả pháp tuy tự tánh là “không”, nhưng vì tưởng tà phân biệt nên bị ràng buộc, vì phá điên đảo nầy nên nói là phá, kỳ thật không chỗ phá. Như người ngu, lúc thấy lửa nóng, sinh vọng tưởng nước chạy đến thì chỉ lao nhọc. Người trí bảo: đây chẳng phải nước. Vì muốn đoạn trừ tưởng nầy không phải phá bỏ nước. Như vậy, tánh của các pháp là “không”, nhưng vì chúng sinh nắm giữ tướng nên vướng mắc. Vì phá điên đảo nầy nên nói là phá, kỳ thật không chỗ phá.
Ngoại viết: Vì không nói pháp, Đại kinh không có. Ông phá có phá “không”, phá “có không”, nay rơi vào chẳng có chẳng không, sự chẳng có chẳng không nầy là chẳng thể thuyết. Vì sao? Vì tướng có, “không” không thể đạt được, đó gọi là không thuyết pháp. Sự không thuyết pháp nầy, trong Đại kinh như kinh Vệ Thế Sư, kinh Tăng Khư, Ni Càn Pháp… vì đều là “không” nên không thể tin.
Nội viết: Có phần thứ tư. Trong Đại kinh của ông cũng có pháp thể không thuyết, như âm thanh trong kinh Vệ Thế Sư không gọi là đại, không gọi là tiểu. Kinh Tăng Khư cho đất trong khuôn chẳng phải bình, chẳng phải không phải bình. Ni Càn Pháp cho là ánh sáng chẳng phải sáng, chẳng phải tối. Các kinh như vậy có không thuyết pháp thứ tư. Vì sao ông nói không?
Ngoại viết: Nếu không thì chẳng phải có nói. Nếu đều không vì không thuyết pháp thì vì sao nói giáo hóa pháp thiện, ác?
Nội viết: Vì tùy theo lời nói của thế tục nên không có lỗi. Chư Phật nói pháp thường nương vào Thế tục đế và Đệ nhất nghĩa đế. Hai đế nầy đều là thật, chẳng phải vọng ngữ. Như Phật tuy biết các pháp vô tướng nhưng vẫn bảo A-nan vào thành Xá-vệ khất thực. Nếu trừ bỏ đi đất, cây… thì thành ấy không thể đạt được, nhưng phải tùy theo lời thế
tục nên không rơi vào vọng ngữ. Vì tôi cũng họa theo Phật nên không lỗi.
Ngoại viết: Vì tục đế không phải không thật. Tục đế nếu thật thì nhập Đệ nhất nghĩa đế, nếu không thật thì vì sao nói đế (chắc thật)?
Nội viết: Không đúng. Vì đối đãi nhau, như lớn với nhỏ. Tục đế đối với người đời là thật, đối với Thánh nhân là không thật. Ví như trái táo ở nơi cây táo là to, ở nơi cây dưa là nhỏ, hai việc nầy đều thật. Nếu nói ở nơi cây táo là nhỏ, ở nơi cây dưa là to thì là vọng ngữ. Vì tùy theo lời của thế tục nên không lỗi. Ngoại viết: Biết được lỗi nầy thì có lỗi gì? Như đầu là xả tội phước cho đến phá “không”. Các pháp như vậy đều thấy có lỗi thì được những lợi gì?
Nội viết: Xả ngã như vậy gọi là được giải thoát. Ba loại phá các pháp như vậy, ban đầu xả tội phước, ở giữa là phá thần, sau cùng là phá tất cả pháp, đó gọi là không ngã và ngã sở. Lại, đối với các pháp, không thọ nhận, không vướng mắc, nghe “có” không vui, nghe “không” không buồn, đó gọi là giải thoát.
Ngoại viết: Vì sao nói là được giải thoát mà không nói thật được giải thoát?
Nội viết: Vì rốt ráo thanh tịnh, vì phá thần, không người phá Niết- bàn nên không giải thoát. Vì sao nói người được giải thoát? Vì đối với tục đế nên gọi là giải thoát.
LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 103
QUÃNG BÁCH LUẬN BỔN
SỐ 1570
HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN