Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 103- Bộ Trung Quán- Số 1564- 1578

Đại Tập 103- Bộ Trung Quán- Số 1564- 1578

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1045.

Chương 131: Luận Đại Trượng Phu, Quyển Thượng, Phẩm 9: Tài Vật Thí (Trang 964 - 965)

                                      Phẩm 9: TÀI VẬT THÍ

Như có hai người, một thì rất giàu có, một thì thật nghèo khổ. Có người xin ăn đến, hai người như vậy đều ôm lòng khổ não, người có của cải sợ sự cầu xin, người không có tài sản thì nghĩ mình phải làm sao có được chút ít của cải để ban bố. Như thế sầu khổ của hai người tuy giống nhau, nhưng quả báo lại khác biệt. Người suy nghĩ xót thương sầu não, sinh trong cõi trời người, thọ nhận vô lượng niềm vui sướng. Người tham lam bủn xỉn sinh trong ngạ quỷ, nhận chịu vô lượng khổ đau. Nếu Bồ-tát có tâm thương xót, ở trước chúng sinh đã là đầy đủ, huống hồ lại ban cho đôi chút tài sản. Như người giàu có đủ mọi thứ của cải châu báu, tùy ý sử dụng, tâm sinh vui sướng. Tâm bi của Bồ-tát nghĩ đến bố thí mà xót thương sầu não, vượt quá người nầy trăm ngàn vạn lần. Người có tâm bi không có tài sản, lúc gặp người xin ăn trong lòng không nỡ nói không thương xót, rơi lệ. Người thấy khổ não không thể rơi lệ, sao có thể gọi là người tu hạnh bi? Người chiến thắng giả như nghe người khác khổ đau hãy còn không thể nào chịu đựng nổi, huống hồ mắt nhìn thấy người khác khổ não mà lại không cứu giúp? Không thể có điều ấy. Người có tâm bi thấy chúng sinh bần cùng khổ sở, không có tài sản có thể chu cấp, xót thương than thở không thể nào ví dụ. Người cứu chúng sinh, thấy chúng sinh nhận chịu khổ đau, thương xót rơi lệ, vì rơi lệ nên biết tâm của người đó mềm mỏng, thể thanh tịnh của Bồ-tát thảy đều hiển hiện. Vì sao? Vì biết sự hiển hiện đó, nơi mắt rơi lệ khi nhìn thấy nỗi đau khổ của chúng sinh, do đấy nên biết được thể thanh tịnh mềm mỏng của Bồ-tát. Tâm bi của Bồ-tát giống như tuyết tụ, tuyết tụ gặp mặt trời thì đều tan ra. Tâm bi của Bồ-tát có ba lúc: Một là thấy người tu tập công đức, vì ái kính nên vì thế mà lệ trào. Hai là thấy chúng sinh khổ não, không có công đức, vì thương xót nên lệ trào. Ba là lúc tu tập đại thí, vui buồn phấn khích lại cũng rơi lệ. Nghĩ là lệ của Bồ-tát tuôn rơi từ xưa đến nay nhiều hơn nước nơi bốn biển lớn. Chúng sinh ở thế gian xa lìa quyến thuộc buồn đau than khóc lệ rơi, không sánh bằng lệ buồn xót thương của Bồ-tát khi nhìn thấy chúng sinh nghèo khốn khổ sở mà không có của cải để bố thí. Bồ-tát nhập thiền định cứu chúng sinh, tâm hết sức vui thích tương ưng với kho báu vô tận tự nhiên hiển xuất, tất cả người cầu xin tự nhiên tìm đến. Bậc trượng phu thiện có thể đem tài sản bố thí rộng lớn cho người cầu xin, người cầu xin có được tài sản rồi cũng thực hành bố thí rộng rãi. Bồ-tát có thể đem của cải bố thí cho chúng sinh, khiến tất cả được đầy đủ sung túc, đem những tâm bi, nghe
âm thanh của người cầu xin mà rơi nước mắt. Người cầu xin nhìn thấy Bồ-tát rơi nước mắt, dù không nói ban cho, nhưng nên biết là chắc chắn được, Bồ-tát không thấy người cầu xin đến, sinh lòng bi khổ vô cùng, lúc người cầu xin có được của cải sinh tâm vui mừng nên bi khổ được trừ diệt. Lúc Bồ-tát nghe người cầu xin nói, nên thương xót rơi lệ, không thể nào tự ngăn lại được, người cầu xin nói đã xong, bấy giờ mới nén lại. Bồ-tát tu hành các hạnh bố thí đầy đủ cho chúng sinh rồi, liền đi vào rừng núi tu hành thiền định. Làm thế nào để diệt trừ các tai họa khổ đau của ba độc cho chúng sinh. Tài vật của Bồ-tát nhiều vô cùng mà không có người cầu xin để bố thí, ta nay vì sao giữ lấy điều đó được, nay nên xả bỏ mà xuất gia.
/154
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »