Phẩm 18: TẠO LỢI ÍCH CHO NGƯỜI KHÁC
Chúng sinh nơi thế gian vì sự an lạc của chính mình nên ở trong sinh tử thân tâm mỏi mệt. Tâm Bồ-tát được nghỉ ngơi nên tâm bi luôn tạo nhiều lợi ích. Người khác ở trong sinh tử, ngoại trừ pháp đối trị ra, càng không có gì an lạc. Bồ-tát ngoài đem lại lợi ích cho người khác ra, càng không có gì an lạc hơn. Bồ-tát được hoan hỷ an lạc khi thực hành lợi tha. Người biết lợi tha tức là tự lợi, xả bỏ lợi ích của chính mình, quý trọng sự lợi ích an lạc của người khác, biết lợi ích an lạc của người khác tức là sự lợi ích an lạc của mình. Lúc biết lợi ích an lạc của người khác tức là vì sự an lạc của chính bản thân mình. Người có thượng, trung, hạ. Kẻ ngu thấy người khác có được an lạc thì sinh tâm khổ não. Hạng người trung bình, khi mình đau khổ thì biết được đau khổ của người khác. Hạng người trên hết lúc thấy người khác an lạc thì tâm sinh hoan hỷ, thấy người khác đau khổ thì như đau khổ của bản thân mình. Trong bốn nhiếp pháp, Bồ-tát cùng người khác tạo lợi ích cho nhau. Thế nào là cùng tạo lợi ích như nhau? Nghĩa là người khác đau khổ thì mình đau khổ, người khác an lạc thì mình an lạc. Đó gọi là cùng lợi ích như nhau (đồng lợi). Tâm bi bình đẳng không có ý tưởng về cái khác. Bồ-tát và chúng sinh cùng chung đau khổ, cùng chung an lạc. Tự bản thân mình, Bồ-tát đặc biệt sinh lòng khổ não. Vì sao? Vì không thể cứu giúp khổ đau cho chúng sinh, không quán sát quá khứ, không quán xét vị lai, tùy ý của chúng sinh, thực hiện pháp đối trị diệt khổ, tự ý của Bồ-tát cũng như ý của người khác. Chúng sinh ở thế gian ban cho người khác sự lợi lạc còn hy vọng đền đáp, Bồ-tát ban cho người khác sự lợi lạc không cầu được đền đáp. Tuy Bồ-tát với tâm bi bình đẳng yêu thương tất cả chúng sinh, nhưng đối với chúng sinh trong chỗ bị oán ghét lại ban cho sự lợi lạc gấp bội. Lúc ở bên cạnh chúng sinh bị oán ghét ban cho sự lợi lạc, trong tâm Bồ-tát vô cùng hoan hỷ, như lúc xả bỏ thân mạng có được sự hoan hỷ, gọi là bình đẳng, nếu không như thế gọi là bất bình đẳng. Ở trong oán ghét ban cho sự lợi lạc gấp bội thì gọi là thực hiện xứng hợp với tâm bi. Nhưng đối với chúng sinh hành ác sinh lòng xót thương gấp bội, giống như trưởng giả giàu lớn chỉ có một người con, nên tâm thương nhớ tận cùng trong xương tủy. Bồ-tát thương nhớ tất cả chúng sinh cũng lại như vậy. Như có người con xấu ác không muốn cha mình có được sự nghiệp hơn mình, đó gọi là bội ơn. Tất cả chúng sinh bị oán ghét, đối với Bồ-tát đồng một vị xấu ác. Bồ-tát đối với chúng sinh bị oán ghét đồng một vị tâm bi. Chúng sinh ở thế gian được báo ân thì sinh tâm vui
mừng. Nếu Bồ-tát ban cho những người bị oán ghét sự lợi lạc, thì trong tâm sinh ra hoan hỷ bội phần, vượt quá các chúng sinh kia. Chúng sinh ở thế gian nếu lúc mắng chửi người khác mà họ không trở lại báo thù thì vui mừng vô cùng. Lúc Bồ-tát bị người khác mắng nhiếc thì tâm vô cùng hoan hỷ. Người có tâm ái ở trong ba cõi thảy đều hiện bày khắp. Tâm bi của Bồ-tát cũng hiện hữu khắp trong ba cõi. Bồ-tát thương xót chúng sinh trong địa ngục không như xót thương chúng sinh ngu si tham đắm nơi ba cõi. Chúng sinh ưa thích nơi sự dục lạc của chính mình, bị sự trói buộc của vô lượng khổ đau, Bồ-tát vì an lạc nơi lợi tha nên bị vô lượng khổ đau trói buộc. Tất cả chúng sinh đầu đồng một sự, đều muốn xa lìa đau khổ đạt được an vui. Ban cho người khác lợi lạc là pháp hữu vi thù thắng. Tạo lợi lạc hướng về bản thân, cũng là nhân của bi và hỷ. Tạo lợi lạc hướng về người khác là hiện bày chỗ sinh khởi bi, hỷ. Tự làm cho bản thân lợi lạc nên sinh khởi tâm bi. Thấy đạt được lợi lạc đó cho nên hoan hỷ. Bốn tâm vô lượng là duyên muốn tu tập của nội tâm. Bốn nhiếp pháp là làm lợi lạc cho chúng sinh, gọi là tối thắng. Người tu bốn tâm vô lượng luôn kết hợp với pháp thế gian và pháp xuất thế gian, vì pháp thế gian, pháp xuất thế gian và bốn tâm vô lượng chính là đồng một cảnh giới. Vì sao? Vì đồng một việc tạo lợi ích cho chúng sinh, đạt được đồng một quả Bồ-đề vô thượng. Người có tâm bi luôn luôn lợi tha, người trí luôn luôn xả bỏ, không sinh tâm cho là hiếm có, không sinh tâm cao thấp.