VĂN KHUYẾN TU TỊNH ĐỘ
CỦA THỪA TƯỚNG TRỊNH THANH
Mọi người đều cho rằng tu Tịnh độ không bằng Thiền, Giáo và Luật. Riêng tôi, tôi cho rằng pháp môn của Thiền và Giáo không bằng Tịnh độ.
Tánh chân tịnh minh diệu, hư triệt linh thông này đều có đủ nơi người ngu và kẻ trí. Vì huyễn cảnh căn trần cùng nhau chìm đắm, vì sinh tử luân hồi không bao giờ dứt, nên Đức Phật Thích-ca đem Thiền, Giáo, Luật mà giả thi thiết phương tiện, khiến chúng sinh từ cửa mà vào và đều được giải thoát.
Chỉ riêng Đức Phật Vô Lượng Thọ đưa ra một cửa gọi là tu hành Tịnh độ. Pháp môn này có tính chất giản yếu và cắt thẳng như một phương thuốc mà trị được trăm bệnh. Nếu hành giả chuyên tâm, nhất niệm thì liền được vãng sinh. Pháp môn này ai cũng tu tập được không luận là tăng hay tục. Mọi người chỉ biết rằng giáo lý này để giáo hóa hạng ngu phu thiển cận, nhưng thật ra đây là con đường tắt và nhanh để thành Phật.
Những người tu học ngày nay không ngoài Thiền, Giáo và Lu- ật. Xét ở sự rốt ráo và viên đốn thì không pháp nào được như Thiền. Nhưng nếu không phải là bậc lợi căn thượng khí, Thần lãnh ý giải thì chưa thoát khỏi lỗi rơi vao ngoan không! Xét ở sự nghiên cứu về Tâm thừa thì không pháp nào như Giáo. Nhưng nếu không phải là bậc đạt đến trình độ “Được cá quên nơm; nhân ngón tay để thấy mặt trăng” thì chưa thoát khỏi bệnh “Cạo giấy cũ”! Xét ở việc bảo vệ điều thiện, ngăn ngừa điều ác, thì không pháp nào bằng Luật. Nhưng nếu không phải là bậc thân tâm thanh tịnh, trong ngoai như một thì chưa thoát được nỗi khổ do mình tư troi buộc mình!
Nhìn chung, luận vào chỗ của người tu thì là Thiền, Giáo và Luật; tìm nơi quay về của hành giả thì là Giới, Định và Tuệ. Nếu hành giả muốn có Giới, Định và Tuệ nhưng không do Thiền, Giáo và Luật thì chỉ một ngưỡng cửa là Tịnh độ mà thôi!
Nghĩa là, lúc hành giả vừa niệm Phật; miệng niệm tụng, tâm suy tư và không làm những điều ác, đó chính là Giới. Lúc hành giả buộc niệm vào tịnh cảnh thì huyễn trần bị diệt; đó là Định. Bản chất của niệm là vô niệm, tâm hoa trong suốt; đó là Tuệ. Nếu hành giả có thể trừ bỏ cả vạn mối nghĩ suy để chuyên tâm vào Tây phương thì chẳng cần bày trò múa gậy, la hét mà vẫn ngộ được viên đốn cơ; không đọc Đại
tạng kinh mà vẫn có được con mắt chánh pháp; Không giữ mình trong bốn oai nghi mà vẫn được tự tại, được vẫn không bẩn dơ và không vẫn trong sạch, không bị trói buộc cũng như không có sự giải thoát... Chính lúc đó cái gì là Giới, Định và Tuệ; cái gì là Thiền, Giáo và Luật; tâm ta và tâm Phật là một không có sự sai khác. Đây là điểm tột cùng của pháp tu Tịnh độ. Đã vậy, tại sao hành giả lại hoài nghi chuyện “Nước có tám công đức và đài sen bằng vàng?”
- Ghi lại giấc mộng của người họ Lý quận Lô lăng.
Năm Quý Tỵ, niên hiệu Càn Đạo, toàn gia đình Ngạn Bật tôi bị nhiễm bệnh. Ngày mồng năm tháng tư bản thân tôi cũng bị bệnh đến nỗi không uống thuốc hay ăn cháo gì được. Sáng ngày mười chín, tôi mộng thấy một người mặc áo đỏ, Thần sắc rạng rỡ, ông ta lấy tay vỗ và xoa thân thể tôi rồi gọi: “Ngạn Bật! Mau ngồi dậy!” Tôi sợ hãi hỏi: “Ông là ai?” Ông ta đáp: “Tôi là Long Thư.” Nhân đó, tôi nói với ông về tình trạng bệnh tật của mình, dẫu muốn vịn vào ông nhưng không được. Phải làm thế nào để lành bệnh. Ông hỏi: “Ngươi có nhớ con đường tắt và nhanh mà Tĩnh Khuyết Trọng đã dạy cho không?” Tôi đáp: “Thưa có! Vì ngày nào tôi cũng tụng niệm danh hiệu A-di-đà Phật.” Ông nói: “Người ngồi dạy rồi dùng cháo trắng thì bệnh sẽ lành ngay!” Lúc tỉnh giấc tôi bảo người nhà mang cháo để ăn và quả thật bệnh được lành. Sau này, tôi được thấy tranh vẽ về Cư sĩ Long Thư mà Thần thái hoàn toàn giống người tôi đã thấy trong giấc mộng!
Ngạn Bật tôi nghe nói, Cư sĩ tinh thông lục nghệ từ lâu, rất giỏi về kinh Dịch và dạy người không biết mệt mỏi. Chủ nhân của nơi mọi người đến học đem Tĩnh Dật Đường để tạ công cho ông. Ngoài cửa Tĩnh Dật Đường luôn đầy ắp giày dép. Ngày mười một tháng giêng, tôi sai đứa cháu đến thọ giáo với ông. Không bao lâu nó quay về nói rằng: “Lúc đêm xuống, sau khi Cư sĩ giảng bài xong, Ngài trì tụng và lạy Phật như thường lệ. Vào canh ba, bỗng nhiên Ngài niệm rất lớn mấy tiếng A-di-đà Phật và nói: “Đức Phật đã đến đón ta!” Dứt lời Ngài đứng mà đi”.
Ngay đêm đó, có người trong nước nằm mộng thấy hai người mặc áo xanh dẫn Cư sĩ đi về phía Tây. Câu chuyện này thành sự kiện kỳ diệu nhất nên dẫu người biết hay không biết đến ông đều chiêm bái. Tôi hận là mình không được thờ ông làm Thầy nên càng nói lòng càng thêm đau xót.
Trước lúc thị tịch ba ngày, Cư sĩ đi viếng thăm và chúc mọi người cố gắng tu tập rồi nói “Từ đây về sau, chúng ta không còn gặp nhau
nữa!”
Ngày mồng mười, Cư sĩ đến thăm Triệu Công Tĩnh Hàn, mượn tịnh thất của Triệu và nói: “Đạo nghiệp đã xong, giờ đi lại rất tốt.” Cư sĩ lại viết số thời khóa tích lũy trong hàng ngày hơn chín trăm hai mươi lăm ngàn năm trăm biến và dán ở bức tường. Ôi! Nếu là người không có căn tánh thông minh, đạt đến chân lý của tử sinh thì chưa dễ gì thấu đến trình độ đó!
Ngạn Bật tôi đau một trận đến nỗi sắp bỏ mạng. Quan quách, áo vải liệm đã bày biện trước mắt. May nhờ cư sĩ từ bi tiếp vớt mới được lành lặn. Quả thật ông là bậc sinh tử cốt nhục .
Có kẻ nói: “Mộng do tưởng tượng mà có!” Nhưng hiệu của việc ăn cháo trắng lẽ nào lại là chuyện hoang đường? Do đó ta biết rằng do bi nguyện của Cư sĩ quá thẳm sâu nên công đức tế độ thấu đến con người. Tuy ở Thường tịch quang nhưng Cư sĩ không quên nguyện lực của mình. Lẽ nào chúng ta không cố gắng tinh tiến đối với sự khuyến tu Tịnh độ để thành Phật của Cư sĩ hay sao?
Tôi kính cẩn tạc tượng của ông, đồng thời viết sự tích cảm ứng để truyền bá được rộng rãi chứ không dám thêu vẽ chữ lời làm tai mắt mê hoặc. Vì vậy, lời bạt này trực tiếp tường thuật và nói đủ những sự việc ấy để hỗ trợ cho lòng kính tín của người thấy và người nghe. Mong sao mọi người đều được thắm nhuần lợi ích.
Ngưỡng nguyện Thần thức của Vương cư sĩ chiếu soi để chứng thực cho những lời ở trên của tôi.
Ông người họ Vương. Tên Nhật Hưu. Tự là Hư Trung. Hiệu là Cư sĩ Long Thư.
Vào cuối năm này, Lô Lăng Lý Ngạn Bật kính cẩn ghi lại.