bạn. Xa lìa hết các bọn hý luận bên ngoài. Như người vào trong vườn tuy không có hoa quế, không gặp cỏ xú, không lấy gì để thưởng thức thì cũng không có gì nhàm chán.
10.Bất định tịnh: Tất cả căn khí của chúng sinh đều có lợi độn không đồng, như các pháp đã nói ở trên, đều thuộc hàng thượng căn lợi khí mới có được đầy đủ. Vì thế Đức Như Lai mới thiết lập ra nhiều phương tiện, khai chín phẩm pháp môn, phân có thượng trung hạ cho ba hạng căn cơ tu tập.
Hoặc giải rõ nghĩa đế, nhưng chưa hoàn toàn hàng phục hoặc ng- hiệp. Hoặc không thể giải nghĩa sâu xa, chỉ có thể tụng đọc kinh luận.
Chỉ y vào lời nói mà sinh lòng tin hoặc nhân người khác mà sinh lòng tin. Hoặc gặp kẻ bần cùng hủy nhục mà sinh tin.
Hoặc quán kim tượng, hoặc tùy ý mà quán một tướng.
Hoặc sớm tối trì mười niệm, trăm niệm, cho đến ngàn niệm. Hoặc chỉ sám những tập khí thô trọng và mười pháp bất thiện. Hoặc vì sợ sinh tử, phát nguyện vãng sinh. Hoặc gặp khổ nạn,
phát nguyện vãng sinh. Nhưng không nguyện làm nhân thiên và các phước đức.
Hoặc chỉ trì tám giới năm giới, cho đến các giới sát đạo dâm vọng.
Những nơi ồn náo không thể xa lìa hết, nhưng luôn luôn sinh tâm nhàm chán.
Đối với các việc thế pháp trong cõi người, ta chưa thể đoạn hết, nhưng không tùy thuận theo.
Như trong phẩm hạ của Quán kinh nói: Hoặc chỉ niệm mười tiếng trong lúc lâm chung, như các pháp ở trên, chỉ trí tâm thọ trì vào một pháp thì đều được vãng sinh, duy không được nghi ngờ và tin tưởng lẫn lộn. Nếu nghi ngờ, thì tất cả các hạnh đều không thành tựu. Như người trong đêm, riêng mình đi trên con đường xa, không được nghi ngờ. Cho nên chúng sinh nghe pháp, nghi thì chẳng bằng như không nghe. Vì sao? Người kia không nghe là không nghe pháp, chỉ không nghe pháp thì không có chướng nạn, còn nghi sẽ có chướng nạn.
THỨ 10: THÍCH DỊ MÔN
Đại chỉ của Tây phương, trong kinh có nói rõ. Yếu môn Tịnh độ, các luận có giải thích đủ. Như Thiên Thân, Trí Giả, Hải Đông, Việt Khê… đều mở mang nghĩa sâu, nêu bày tông thú. Gần đây thì “tiểu bổn sớ sao” của Hòa thượng Vân Thê nói rất rõ về việc vãng sinh. Nhưng
trong các kinh tùy thời lập giáo, tùy căn cơ mà nói nghĩa, thường có sự khác nhau. Vì vậy sinh ra sự nghi ngờ lo sợ của người học, nay chọn trích ra từ các luận để nói rõ hơn, hội quy về một nơi, cho tiện tham khảo.
1. Sát độ viễn cận thích. 2.Thân thành đại tiểu thích.
2.Thọ lượng đa thiểu thích.
3.Hoa luân đại tiểu thích.
4.Nhật nguyệt hữu vô thích.
5.Nhị thừa hữu vô thích.
6.Phụ nữ hữu vô thích.
7.Phát tâm đại tiểu thích.
8.Nghi thành thai sinh thích.
9.Ngũ nghịch vãng sinh thích.
1.Sát độ viễn cận.
Hỏi: Các kinh Đại Tiểu thừa đều nói rằng Tây phương cách đây mười muôn ức cõi. Chỉ có “Quán kinh” nói rằng Phật Di-đà cách đây không xa. Vậy kinh nào đúng?
Giải thích: Vì xa gần không nhất định, nên nói rằng vừa xa lại vừa gần. Vì khi nói đến một nơi, từ nơi này đến nơi khác phải qua bao nhiêu thành ấp đều là từ sắc thân mà nên, vì thân tướng là luống dối, cho nên về đạo lý phương hướng cũng đều không thật. Không thể nói rằng ai xa ai gần, như người Trung Quốc nói nước, Mỹ xa là do tính từ Trung Quốc, thực ra nước Mỹ ở không xa nếu so với các nước khác, như người Úc, Canada. Lại như khoảng cách mười bước, đối với con kiến thì rất xa, con voi thì rất gần. Không nên nói rằng xa thực vì khoảng cách ấy không phải tính từ con kiến. Cũng không nên nói gần vì không tính từ con voi, cũng không tính từ con người. Vì vậy luận Trí độ nói: “Tùy theo thế tục lưu truyền, nên nói có phương hướng, thực ra cũng không thật có.
Hỏi: Tại sao nói không có phương? Phương này cũng có cũng thường. Như trong kinh nói rằng: Nơi mặt trời mọc là phương Đông, lặn là phương Tây, nơi mặt trời đi (hành) là phương Nam, không đi là phương Bắc. Mặt trời có ba phần hợp, gồm: Tiền hợp, kim hợp và hậu hợp. Tùy phương mặt trời phân, sơ hợp là phương Đông, phương Nam, Tây cũng như vậy. Nơi mặt trời không hành thì không phân.
Đáp: Không phải vậy, núi Tu-di ở giữa bốn khu vực, mặt trời xoay quanh Tu-di chiếu khắp bốn thiên hạ, ở Uất-đán-la-việt mặt trời
giữa trưa, ở Phất-bà-đề là mặt trời mọc. Người ở Phất-bà-đề là phương Đông, ở Phất-bà-đề mặt trời giữa trưa, ở Diêm-phù-đề này là mặt trời mọc, người ở Diêm-phù-đề là phương Đông. Ở đây thật không có chỗ bắt đầu, vì sao? Vì mọi phương đều là phương Đông, phương Nam, phương Tây, phương Bắc. Ngươi nói chỗ mặt trời mọc là phương Đông, nơi mặt trời đi là phương Nam, nơi mặt trời lặn là phương Tây, nơi mặt trời không đi là phương Bắc, việc ấy không đúng như thế.
Hỏi: Tôi nói phương hướng trong một nước, ông lại dùng bốn nước gây khó dễ, vì thế cho nên phương Đông là chỗ bắt đầu?
Đáp: Nếu trong một nước, mặt trời và phương Đông hợp nhau là hữu biên. Vì biên nên vô thường, vì vô thường nên không trùm khắp, cho nên chỉ có danh mà không có thực. Như vậy phương hướng còn không thật có huống chi đường đi, nhưng vẫn không bỏ phương hướng và đường đi vì không nên tính từ Diêm-phù-đề, mà cũng có thể ngay Diêm-phù-đề mà tính, như mặt trời chẳng mọc ở phương Đông, lặn ở Tây nhưng cũng có thể nói mọc và lặn ở hai hướng đó.
2.Thân thành đại tiểu.
Hỏi: Kinh Thánh Vương chép: Phật A-di-đà ở chung với Thánh văn, nước hiệu là Thánh Thái. Nơi Thánh vương ở, thành ấy rộng mỗi bề mười ngàn do-tuần. Quán kinh: Thân Phật cao sáu mươi muôn ức na-do-tha Hằng hà sa do-tuần, giữa hai đầu chân mày có sợi lông trắng xoay về bên phải, uyển chuyển như năm núi Tu-di, mắt Phật lớn như nước bốn biển, nay tính một biển là tám mươi bốn ngàn do-tuần, bốn bể là ba mươi ba muôn sáu ngàn do-tuần, thân lớn hơn mắt năm trăm sáu mươi muôn do-tuần. Tính về nơi ở, thì tòa thành ấy còn nhỏ hơn đến ba mươi hai vạn sáu ngàn do-tuần so với mắt Phật, huống chi là thân? Không lẽ thân và thành cách nhau một trời một vực như thế?
Giải thích: Hải Đông Sớ cũng có câu hỏi như thế. Sớ trả chép: Đức Phật ấy có rất nhiều thành, tùy Phật lớn nhỏ mà thành cũng lớn hay nhỏ. Thành lớn thì thân Phật lớn, thành nhỏ thì thân Phật nhỏ. Kinh Thánh Vương chép: mười ngàn do-tuần, đó là tòa thành mà các vị Thánh văn ở chung. Nên biết thân Phật cũng tương đương mà trụ. Quán kinh thì nói thân Phật cao lớn như thế, phải hiểu rằng tòa thành cũng lớn theo, vì các đại chúng đều trú ở đấy. Người xưa nói: Trong Pháp Hoa, cõi Tịnh quang trang nghiêm chỉ giảng nói pháp viên đốn. Trong kinh Tịnh Danh, cõi Phật Chúng Hương thuần là Bồ-tát, cho nên Phật ấy hiện thân cao lớn. Nếu ở cõi An dưỡng giảng nói cả đốn và tiệm, Thánh văn, Bồ- tát đều là chúng tăng do đó Phật thị hiện hai thân là sinh thân và pháp
thân. Ba mươi hai tướng là thông cả sinh pháp, đại tiểu thừa đều nhìn thấy. Tám muôn tướng là dành riêng cho pháp thân, chỉ Bậc hiền Thánh Đại thừa mới nhìn thấy. Do đó phải lấy tướng tàng trần tôn đặc để được bốn lợi ích. Phật vì xứng cơ đã hiện thân này. Phải lấy tướng tám muôn tôn đặc để được bốn lợi ích, Phật vì xứng cơ đã hiện thân này. Phải lấy ba mươi hai tướng tôn đặc để được bổn lợi ích, Phật vì xứng cơ đã hiện thân này. Như Phật Tỳ-lô-xá-na, Thánh văn thấy nghe không được trực diện còn Bồ-tát thì thấy rõ đại thân Ngài. Vì sao? Thân Phật tùy căn cơ mà hiện lớn nhỏ, như ánh sáng mặt trời qua khe hở mà phân thành lớn nhỏ chứ ánh sáng mặt trời không có lớn nhỏ.
3.Thọ Lượng Đa Thiểu.
Kinh chép: Phật ấy thọ mạng vô lượng vô biên A-tăng-kỳ kiếp. Lại nói: Khi Đức Phật ấy nhập Nê-hoàn thì, Bồ-tát Quán Thế Âm sẽ tiến lên thành Phật, đã và sẽ nhập diệt, tức là hữu lượng (nếu nhập diệt tức là có hạn).
Giải thích: Bậc tiên đức nói rằng: “Tạng thông bổ xứ, nói lên Phật có hạn lượng, biệt viên bổ xứ, nói lên Phật vô lượng.” Vì các Đức Như Lai ba đời ở khắp mười phương không còn kia đây, cùng thấy lẫn nhau nên cùng một pháp thân, cùng một trí tuệ. Bồ-tát cơ mất, Như Lai ứng dứt, gọi là Bổ Phật xứ thật khác với tạng không. Phật trước nhập diệt thì Phật sau sẽ sinh, vì vậy kinh Kim Quang Minh nói bốn Phật giáng thất, sớ giải thích rằng: Nếu thấy bốn Phật đồng là thân tôn đặc, một thân một trí tuệ, đó là “Thường thân”, bởi vì chúng đệ tử là một. Nếu thấy bốn Phật, thân Phật bất đồng, tức là ứng hóa, bởi vì chúng đệ tử đông. Cho nên biết rằng toàn thân là pháp giới, chẳng sinh phi diệt lại còn phân đương hiện với luận bàn kia đây sao? Đã không phải là sinh diệt thì có nghĩa là vô lượng. Vả lại trong cõi Phật thanh tịnh thì bụi, cõi, nước, cây đều là thân Phật, cho nên trong kinh nói: Các loài chim này đều do Đức Phật A-di-đà biến hóa ra.
Luận Trí Độ chép: Chúng sinh rất nhiều, nếu chỗ nào Phật cũng hiện thân, thì chúng sinh không tin, cho là huyễn hóa, tâm không kính trọng. Có chúng sinh theo người nghe pháp, tâm không khai ngộ, nếu nghe súc vật nói pháp thì lại tin theo. Như kinh Bổn Sinh chép: Bồ-tát làm thân súc sinh, nói pháp cho người nghe, người cho là việc nói pháp ít có nên đều tin theo. Có người cho rằng súc sinh là loài có tình cảm, cây cối không có tâm hồn nhưng có âm thánh, nên đều tin theo. Vì thế cây cối cầm thú đều là do thân Phật biến hiện ra, nếu tuổi thọ của Phật có chừng thì đạo tràng, cõi nước và âm thánh, chim nước cũng phải có
chừng. Nếu có chừng thì không cần bổ thuyết. Nếu là vô tận thì không nên nói diệt. Như bờ mé chẳng phải có, chẳng hư không phải không có bờ mé, dùng trí bất tư nghì soi chiếu thì có thể được.
4.Hoa Luân Đại Tiểu.
Tiểu Bổn nói: Hoa sen trong hồ to lớn như bánh xe.
Quán kinh chép: Trong mỗi hồ có sáu mươi ức đóa hoa sen bảy báu, đường kính vừa đúng mười hai do-tuần.
Đại Bổn chép: Hoa sen trong ao, hoặc một do-tuần cho đến một trăm do-tuần, một ngàn do-tuần. Bánh xe ở nhân gian chỉ lớn chưa quá một trượng, cho dù là Luân vương bánh xe vàng ngàn cân, cũng chưa quá một do-tuần, làm sao có hoa sen to lớn như thế được?
Giải thích: Đường kính hoa lớn hay nhỏ cũng như chuyện thân Phật và tòa thành, vì chúng sinh căn cơ có lớn nhỏ, thân, thành, cây cối, nước sông cũng hiện có lớn nhỏ, hoa sen cũng như vậy. Như Sơ địa hóa trăm cõi Phật, hiện hoa trăm cánh. Nhị địa hóa nghìn cõi Phật, hiện hoa nghìn cánh, Tam địa muôn cánh, Tứ địa ức cánh, ngũ địa ngàn ức cánh, Lục địa trăm ngàn ức cánh, Thất địa trăm ngàn ức na-do-tha cánh, Bát địa trăm ngàn muôn tam thiên đại thiên thế giới vi trần số cánh, Cửu địa trăm ngàn muôn ức A-tăng-kỳ cõi nước bụi nhỏ số cánh, Thập địa có mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na-do-tha cõi Phật bụi nhỏ số cánh. Vì thân tự thọ dụng có lớn nhỏ nên hiện hoa sen cũng như vậy, không phải hoa có lớn nhỏ. Có lần nghe vị Tăng nói: Bên bờ biển có tháp xá- lợi do vua A-dục xây, chúng sinh nhìn thấy ánh sáng đều khác nhau. Có người không thấy ánh sáng, có người nhìn thấy ánh sáng như hạt đậu li ti, có người thấy ánh sáng to như quả táo, có người thấy to như đầu ngón tay, có người thấy lớn như cái đấu, chỉ có một phần ngàn người nhìn thấy ánh sáng to như cái đấu. Chúng sinh đều là người trần mắt thịt như nhau, mà còn nhìn thấy khác nhau như thế, huống gì Bồ-tát, Thánh văn cho đến trời, người,… công dụng cách xa nhau, nên hoa luân chiêu cảm tức nhiên phải khác nhau. Như trong cõi này, sát-lợi là dòng họ cao quý lầu cao gác đẹp đầy khắp thành ấp, còn kẻ nghèo hèn mái tranh vách đất hoặc thậm chí không được như vậy. Không nên hỏi vặn rằng sao có lớn nhỏ khác nhau, vì đó là do tự phúc đức mà có. Tướng hoa trong ao báu cũng giống như thế.
5.Nhật Nguyệt Hữu Vô.
Các (bổn) hoặc nói là nhật nguyệt của hư không, hoặc nói ở nơi hư không mà không vận chuyển, hoặc không nói có vô, hoặc nói thẳng là vô hữu. Lại kinh chép: Ánh sáng của Đức Phật ấy chiếu khắp vô lượng
vô số bất khả tư nghì, cõi Phật, che lấp mặt trời mặt trăng, các chúng Thánh văn đều có ánh sáng quanh thân có thể chiếu xa một tầm. Ánh sáng của Bồ-tát chiếu đến trăm ngàn tầm. Ánh sáng của hai Bồ-tát, thường chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới, như vậy tuy có mặt trời, mặt trăng nhưng giống như ánh thái dương đối với ngọn đuốc. Nếu mặt trăng mặt trời không chiếu sáng thì sẽ không có đêm và ngày, vì sao? Vì kinh nói rằng: Đêm ngày sáu thời và những việc như giờ ăn buổi sáng… rõ ràng biết rằng cũng là Quyền thuyết, mượn ngày đêm này để dụ cho thời phần ở cõi ấy, chứ không phải sự thật. Hơn nữa, ngày đêm, đến đi, là do tâm chúng sinh sáng tối khuynh đoạt mà cảm ra tướng ấy. Vì thế cõi Phật thanh tịnh không nên có việc như vậy. Như tầng trời Đao lợi mà còn không nhờ mặt trời, mặt trăng chiếu sáng. Huống gì Cực lạc, cho dù là có, cũng là do chúng sinh ở nước ấy kiến chấp về sắc không chưa hết, nên hiện có tướng mặt trời mặt trăng như thế, chứ thật sự ở cõi Phật không có mặt trời, mặt trăng. Như Đại luận chép: Phật Thích-ca lại có cõi thanh tịnh giống như Phật A-di-đà, Phật A-di-đà cũng có cõi nước không trang nghiêm thanh tịnh như Đức Phật Thích-ca. Đây tùy cơ cảm mà nói, nên cũng không ngại nói có.
6.Nhị thừa hữu vô.
Hỏi: Bài kệ Vô Lượng Thọ của Bồ-tát Thiên Thân nói: Cõi thiện căn Đại thừa, bình đẳng không cơ hiềm, cho đến không nghe danh từ Nhị thừa, huống hồ có thực, trong các kinh này đều nói cõi nước Thánh văn không thể xứng lượng, vì sao?
Giải thích: Bậc tiên đức nói: Hàng Nhị thừa sinh về Cực lạc, đều là những vị khi sắp qua đời hồi tiểu hướng đại. Vì công phu tu tập Tiểu thừa sâu dầy nên nghe lời Phật nói và tiếng gió, tiếng nước đều giảng nói pháp Tiểu thừa nên tạm chứng tiểu quả. Dần dần tăng tiến đến địa vị Bồ-tát, không phải trú tiểu. Vì thế nói rằng không có Nhị thừa, có hai nghĩa: Một là, quyết định Nhị thừa bất sinh, là thực sự không có; hai là, bất trú nhị thừa, là rốt ráo không có. Ví như hai người cùng là quan lang, một người thì chức quan dừng ở đây, người kia sẽ thay đổi. Người chỉ ở mức lang thì gọi là “lang”, vì không còn chức quan nào nữa. Còn người sắp đổi chức quan thì không nhất định sẽ là lang, vì cuối cùng cũng đổi chức khác. Vì thế Tịnh độ không được nói là có nhị thừa, vì rốt cuộc đến địa vị Bồ-tát.
7.Phụ nữ hữu vô.
Trong kinh Thánh Vương, nói Phật A-di-đà cũng có cha mẹ, vậy sao lại nói là không có phụ nữ.
Giải thích: Đây cũng là hóa ra, như hóa chim anh vũ. Hải Đông Sớ nói: kinh Thánh Vương nói rằng Đức Phật A-di-đà ở thế giới An lạc có cha mẹ, là biến hóa nữ, chẳng phải nữ Thật báo. Lại, tuy nói có cha mẹ, nhưng chẳng phải thai sinh mà do hóa sinh, như trong kinh ấy nói nếu bốn chúng chánh thọ danh hiệu Phật, với công đức ấy khi sắp qua đời, Phật A-di-đà sẽ cùng với đại chúng sẽ ở chỗ người ấy, để người ấy được thấy, thấy rồi vui mừng tăng thêm phần công đức, do nhân duyên ấy, nơi sinh về lìa hẳn thân bào thai uế dục, thuần ở trong hoa sen báu, tự nhiên hóa sinh, có thần thông lớn, ánh sáng rực rỡ. Nên biết nương gá làm cha mẹ, hoặc nói trong kinh Thánh vương nói có cha mẹ, cho nên nói lên cõi uế mà Phật ấy an trụ là không đúng. Kinh ấy đã nói hoa sen báu hóa sinh, lại nói hai Bồ-tát đứng hầu hai bên. Đấy đều là tướng Tịnh độ, không khác gì trong Quán kinh nói. Nên biết Đề-bà-đạt-đa và Ma vương kinh ấy nói đều từ trong Tịnh độ biến hóa mà ra, không do như thế mà chẳng phải Tịnh độ, như hóa súc sinh, chẳng phải là cõi uế.
8.Phát tâm Đại Tiểu.
Trong ba bậc của bản dịch đời Ngụy đều có phát tâm Bồ-đề. Quán kinh hạ phẩm nói thẳng về mười niệm, các kinh đều khác nhau. Nay muốn nhóm họp lại, các kinh đều là phát tâm Bồ-đề, rộng lớn vì sao?
Nếu là kẻ lúc đầu không có nhân lành lớn thì người ấy tuy lại trải qua, nhưng vẫn sẽ sinh nghi ngờ. Đâu được đốn nghe đốn tin. Vì thế nên biết hạ phẩm mười niệm cũng là nhân lớn đã gieo trồng đời trước, nhưng vì đời sau lui sụt nên khi sắp qua đời được gặp Thiện tri thức, như cây khô nắng hạn gặp mưa mà đâm chồi nẩy lộc. Nếu là kẻ không có nhân lành thì tri thức còn không được gặp, huống gì là tin nhận? Như người thông minh phần nhiều càng nghe càng không tin, liền biết rằng vừa nghe liền niệm thì chẳng phải là tiểu duyên, không nên đối với người một đời tạo ác mà cho rằng người ấy không có nhân lành lớn. Kinh nói rằng: Con người trên thế gian được nghe danh hiệu Phật A-di- đà, nếu từ tâm vui mừng, khắp mình nổi ốc nước mắt tuôn trào thì đều là nhiều đời đã từng tu hành Phật đạo, hoặc từng làm Bồ-tát ở chỗ Phật phương khác. Vì thế bất luận là ngu dốt, thông minh, miễn là người có lòng niệm Phật thì đều là nhiều kiếp đã trồng sâu thiện căn, phát tâm Bồ-đề rộng lớn. “Thiện căn” không phải chỉ nói đến trí tuệ, nếu như không có gốc thì cũng như trồng cái vỏ khô, làm sao đâm chồi nẩy lộc được? Giống như người ta đánh cờ, có những người không biết gì cả, nhưng khi học thì càng học càng tinh thông (vừa học biết ngay), còn
những kẻ trí tuệ thường xuyên luyện tập thì suốt đời vẫn ở mạt phẩm. Cho nên biết người có nhân lành nhỏ, không có tài năng còn không được nhập, huống gì là đại pháp, vì thế nếu có kẻ tin vào pháp ít có khó tin này, thì đó là Bồ-tát đại tâm.
9.Nghi thành thai sinh.
Dịch bản đầu đời Ngụy chép: Nếu có chúng sinh rơi vào nghi ngờ hối hận, chứa nhóm thiện căn, mong cầu trí Phật, trí phổ biến, trí bất tư nghì, trí vô đẳng, trí uy đức, trí quảng đại. Đối với thiện căn của mình không thể sinh niềm tin. Do nghe danh hiệu Phật mà phát khởi lòng tin, nhờ nhân duyên này, trong năm trăm năm ở trong thai hoa, vẫn tưởng như là vườn tược cung điện. Không thấy Phật, không nghe pháp, gọi là thai sinh.
Bản dịch đời Ngụy nói: Không hiểu trí Phật, nhưng vẫn tin tội phúc, tu tập thiện căn, nguyện sinh cõi Phật, cho nên thuộc về thai sinh. Bản dịch đời Tống chép: Thiện căn mà chúng sinh trồng không thể lìa tướng, không cầu Phật tuệ, vọng sinh phân biệt, đắm sâu cái vui và phúc báo nhân gian, nên gọi là thai sinh.
Bản họ Vương chép: Nếu có chúng sinh tu các công đức, nguyện sinh về cõi kia, sau lại nghi ngờ và không tin rằng có cõi Phật ấy, không tin rằng làm điều lành được phúc đức thì người ấy tuy có niệm tâm nhưng lúc tin lúc không. Khi sắp qua đời, Phật hóa hiện thân khiến người đó được thấy, để tâm sửa đổi, tội lỗi ít đi, cũng được sinh về cõi ấy, gọi là thai sinh.
Ở đây xét theo hai bản dịch trên, hễ không tin tự tánh, không rõ trí Phật thì gọi là thai sinh.
Bản dịch đời Tống thì nói thẳng rằng người tu điều lành cầu sinh cõi trời, cõi người là thai sinh, vì ở cõi Cực lạc thì không có thai sinh. Còn trong bản họ Vương, thì lại cho kẻ không tin cõi Phật, không tin tội phúc, lúc tin lúc không tin là thai sinh, khác với hai thứ vãng sinh là nghe danh liền khởi tín và tu tập thiện căn trong bản dịch trước.
Đại khái trong Tịnh độ nói lược về chín phẩm, cho dù nói rộng đến ngàn muôn phẩm cũng không thể hết. Nhưng trong loài người hiện nay có nhiều thứ phúc báo, có nhiều thứ tội nghiệp, đều không ai giống ai. Vì thế tuy các bản dịch khác nhau nhưng đều là lời thực. Y cứ vào bản đời trung Đường, chỉ thú trong ấy rất sâu kín. Vì không tin thiện căn của mình, nên dựa vào tha lực mà khởi tín, tức là “Nghi thành”. Người tin quả lành của mình tức là hiểu được tự tâm, không do người mà được, vì ngộ nhập mới có thể thoát nghi. Cho nên chưa ngộ mà tu, rốt cuộc
cách được nghi thai, thai lấy sự che đậy làm nghĩa. Người chưa ngộ thì các chướng chưa diệt hết. Các vị này chỉ ở phẩm trung hạ, hạ thượng. Vì sao? Vì hai thứ hạ phẩm trải qua sáu kiếp mười hai kiếp, mới được hoa nở. Nếu theo bản dịch của họ Vương thì tin Phật mạnh mẽ không bằng hai thứ sau cùng, lại sinh tại biên địa của Cực lạc, sau năm trăm năm mới được gặp Phật.
10.Ngũ nghịch vãng sinh.
Đại kinh chép: Chỉ trừ tạo năm ác nghiệp Vô gián, phỉ báng chánh pháp và các bậc Thánh.
Quán kinh thì tội ngũ nghịch, mười điều ác, lúc sắp qua đời mười niệm đều được vãng sinh. Nên biết đại kinh trừ bỏ tội ngũ nghịch vì là phỉ báng. Vì sao? Vì nhập Tịnh độ thì phải lấy tín làm người dẫn đường, “Phỉ báng” là tên trộm của tín, như nước có thể hợp với mọi thứ nhưng không hợp với lửa, vì chính lửa không thể tự chịu được nước. Như gió có thể thổi vào bất kỳ đâu, nhưng không thể thổi vào đá, vì tự đá không có khe để thổi vào. Kẻ phỉ báng đốt cháy chánh pháp giống như ngọn lửa đỏ, gây chướng ngại trí Phật như bức tường thép. Vì vậy biển pháp gió tuệ, không nhân được thọ nhận.
Quán kinh nói trừ bỏ kẻ phỉ báng, mà không bỏ kẻ phạm tội ngũ nghịch, nghĩa giống mà văn khác. Vì tội ngũ nghịch tuy rất xấu ác, nhưng không hẳn là không tin, nên không nói. Nhưng người có đại tâm, lúc đầu có thể không tin, sau được phát khởi sẽ sửa sai lầm trước. Như Hàn Xương Lê ban đầu bác bỏ Phật cốt, sau quy y Ngài Đại Điên. Trương Vô Tận lúc đầu xem thường sách Phật, định soạn “Vô Phật Luận”, sau xem kinh Tịnh Danh, đã có tỉnh ngộ nhiều, thành bậc long tượng trong tông môn. Đó là những việc ít có trong Phật pháp. Cho nên những bậc tài giỏi trong rừng Nho, có người nghe theo một cách mù quáng luận điệu sai lệch, phỉ báng Phật pháp, nhưng đã nhanh chóng sửa đổi, không còn phỉ báng Phật pháp nữa.