hoặc có thần thông mà đi. Người đi xe do dê kéo thì lâu lắm mới đến được, đi xe ngựa thì mau hơn, còn có phép thần thông thì trong khoảnh khắc đã đến. Như thế không thể nói là phát ý nghe vì sao được tường thần thông. Ông không nên sinh nghi vì Bồ-tát cũng như thế, khi phát Chánh đẳng giác tức đã vào địa vị Bồ-tát, có Bồ-tát sơ phát tâm, tâm ban đầu tuy tốt nhưng sau lẫn loan các điều ác, thường xuyên sinh niệm rằng ta cầu Phật đạo dùng các công đức hồi hướng Chánh đẳng giác. Kẻ đó trải qua vô lượng kiếp A-tăng-kỳ dài lâu hoặc đến được hoặc chẳng đến. Nhân duyên phước đức đời trước mỏng lại thêm căn độn, tâm không vững chắc như cưỡi xe dê. Có người đời trước kém phước đức lợi căn, phát tâm dần dần hành Lục Ba-la-mật, hoặc ba, hoặc mười hoặc trăm kiếp A-tăng-kỳ mới được Chánh đẳng giác như cưỡi xe ngựa tất có ngày đến. Thứ ba là nương thần thông, như trên nói thì biết là chậm tu mà mau chứng, mỗi thứ này đều khác nhau, Bồ-tát muốn đựoc địa vị Phật, nếu không mau đến thì như các tiên đức nói: Tuy trí giác bằng Phật mà chưa đạt cực quả thì chưa phải rốt ráo. Do vậy bậc ngộ đạt quyết phải cầu sinh về Tịnh độ, tu hành như pháp để không rơi vào lui sụt, đợi nhẫn lực vững mạnh mới nhập thế lợi sinh thì thành tựu quả Phật rốt ráo.
THỨ 8: KIẾN VÕNG MÔN
Tất cả mê tình do nương vào kiến chấp mà sinh khởi. Như con thiêu thân lao vào lửa, theo ánh sáng mà tìm đến cái chết. Vì vậy các bậc tiên đạt nói: Hành khởi thì dứt hiểu, cho nên sẽ có xu hướng về cõi Thánh, trước tiên vào cửa Phổ Hiền. Muốn tu chính nhân, thì trước phải xé bỏ lưới tà kiến, nay y cứ vào sự giải thích của các nhà mà chia làm mười loại, không có pháp để bỏ, có kiến chấp ấy thì bị quở trách. Mong thuận Phật ngôn, chớ theo ma giáo.
-Đoạn diệt đọa.
-Khiếp liệt đọa.
-Tùy ngữ đọa.
-Cuồng si địa.
-Chi ly đọa.
-Si không đọa.
-Tùy duyên đọa.
-Duy tâm đọa.
-Đốn ngộ đọa.
-Viên thật đọa.
1.Đoạn diệt đọa: Gồm có hai thứ:
a.Các Nho sinh dính mắc thân hiện tại, nghi ngờ vị lai đoạn diệt.
b.Người mới phát ý học đạo chấp tướng không, nghi ngờ tất cả đoạn diệt, họ còn không tin có sinh, làm sao tin được chuyện vãng sinh và Tịnh độ là có thât... Nay giải thích sơ lược cho họ nghe. Trước hết là giải thích cho Nho sinh (người học Nho): Trong kinh Lăng-nghiêm, Phật bảo vua Ba-tư-nặc rằng: Nay Đại vương tự thấy tóc bạc mặt nhăn, da mặt chắc chắn là bị nhăn nheo sơ với khi còn nhỏ, nay Đại vương quán sát sông Hằng so với cái thấy sông Hằng ngày xưa có khác nhau không? Vua trả lời: Không! Phật nói: Đại vương! mặt Đại vương tuy nhăn, nhưng cái kiến tinh này, tánh nó không hề nhăn, nhăn là biến đổi, không nhăn thì không biến đổi, cái gì biến đổi thì sẽ bị tiêu diệt. Cái không biến đổi kia vốn không sinh diệt. Vì sao nói rằng ở trong đó chịu sự sinh tử của Đại vương, mà nói thân này chết rồi thì hoàn toàn bị diệt? Luận Trí Độ hỏi rằng: Người chết quy diệt, diệt có ba thứ, một là, lửa đốt thành tro; hai là; giòi ăn thành phân; ba là; cuối cùng trở về đất. Nay chỉ thấy sự diệt đi của thân, mà không thấy có người ra khỏi và thọ thân sau. Vì không thấy nên cho là không có. Đáp rằng: Nếu cho rằng thân diệt là không, thì làm sao có những thứ như hỷ nộ ái ố mà kiếp trước chúng sinh đã có… Như khi đứa bé chào đời thì hoặc khóc hoặc cười, đây là những vui buồn của thói quen ở kiếp trước, vì nay không có người dạy nên vui buồn tiếp tục sinh. Lại như khi trâu con sinh ra, đã biết bú mẹ. Loài heo, dê sinh ra chưa bao lâu đã biết bầy đàn. Con và cha mẹ đều khác nhau về sự nghèo giàu đẹp xấu, thông minh ngu ngốc… Nếu không có nhân duyên đời trước, thì sẽ không có sự khác nhau này. Những nhân duyên như thế rất nhiều đủ để chứng minh là có kiếp sau. Lại nữa, ông trước nói rằng không thấy có người đó, trong thân người không chỉ mắt mới có thể nhìn thấy được, mà cả sáu giác quan đều có sự cảm nhận. Giống như thấy có người từ căn phòng này đi ra, rồi đi vào phòng khác, bỏ thân này đến thân sau cũng giống như vậy, nếu như mắt thường thấy thì cầu thiên nhãn làm gì nữa. Nếu chỉ như thế thì thiên nhãn và mắt thường, ngu Thánh cũng không khác gì. Người và súc sinh đều thấy, thì làm sao thấy được đời sau. Như việc sinh tử của con người, tuy không có đến đi nhưng do vì phiền não chưa dứt hết nên thân tình ý vẫn nối nhau, càng thêm thân tình ý, thân tình ý tạo nghiệp cũng không đến đời sau, mà từ duyên này lại sinh, chịu quả báo đời sau, giống như trong sữa có độc, sữa biến thành chất khác, tuy biến nhưng đều có độc tố, thân này cũng giống như vậy. Nhân duyên năm chúng đời này, lại
sinh năm chúng đời sau, hành nghiệp nối sau không khác, mà phải chịu quả báo. Lại như cây vào mùa đông không có hoa quả lá, đến thời tiết xuân sẽ nối tiếp nhau mà ra hoa kết quả. Cho nên biết rằng có sinh tử. Lại nữa, hiện đời có người biết được túc mệnh, như có người mộng thấy đi đường mệt mỏi, khi thức dậy nhớ lại những điều đã trải qua. Tất cả kinh sách trong ngoài của bậc Thánh đều nói về kiếp sau. Lại nữa, hiện đời không có thiện pháp, động phát quá nặng, sinh sân nhuế, đố kỵ nghi ngờ hối hận, vì phiền não bên trong nên thân sẽ hóc hác, sắc mặt không tươi tắn. Ác pháp bất thiện còn bị hại như vậy huống gì khởi thân nghiệp, khẩu nghiệp. Nếu sinh pháp, lành, tin nghiệp nhân duyên, tâm thanh tịnh, được trí tuệ như thật, tâm sẽ vui mừng, thân được nhẹ nhàng, mầu sắc hài hòa, vì có nhân duyên khổ vui, có thiện bất thiện. Vì nay quyết định có thiện, bất thiện, nên biết chắc chắn có kiếp sau, nhưng mắt trần của chúng sinh không nhìn thấy được, vì trí tuệ quá yếu kém, nên sinh tà nghi, tuy tu việc phúc, nhưng xen những việc làm thấp hèn. Giống như thầy thuốc chữa bệnh cho vua, vua bí mật xây nhà tặng cho người thầy thuốc, khi về nhìn thấy nhà cửa, người thầy thuốc này mới hối hận rằng mình đã không hết lòng trị bệnh cho vua. Cũng giống như vậy, bậc Thánh nói những việc hiện tại đáng tin cậy, thì việc nói về kiếp sau cũng đều đáng tin cậy. Ông là người trần mắt thịt, so về trí đã kém, lại không có thiên nhãn, đã tự không có trí lại không tin lời Thánh hiền, làm sao biết được thân sau. Nếu lời Thánh bị phế ẩn thì nói quỷ thần đức thịnh. Minh minh nói đạo, Vũ châu đạt hiếu, chỉ do biết tình trạng quỷ thần, việc chết như việc sống, vậy mà Khảo Đình tiên sinh giải thích bóp méo, quy về nhị khí, đâu dám vu báng tiên Thánh, nghi ngờ đời sau. Vả lại những chuyện đặt ra và giả sử chẳng cần bàn đến; như họ Bành sinh làm heo… lại là chính sử; Huyền Điểu sinh ra nước thương… là chánh kính; chim sẻ hóa thành bồ câu… là chánh lệnh. Số hiểu biết nhiều như bụi nhỏ, ta biết được bao nhiêu. Nếu muốn như ếch ngồi đáy giếng chê lượng biển thì sẽ trở thành kẻ hủy nhục Thánh, thần, phải chịu tội gì? Lại có kẻ thường nói rằng: Những sự việc con người chưa trải qua, những lý lẽ không thể tin thì không nên dựa theo. Vậy như số lần mặt trời, mặt trăng và các vì sao đến đi, chưa một ai từng trải. Trời chẳng xuống đây, người cũng chẳng lên đó vậy vì sao dùng cách gì để suy đoán cũng đều đúng? Hơn nữa trời vì sao cao, đất vì sao thấp, gió vì sao nổi lên, mây vì sao bay, mùa xuân vì sao sinh trưởng cây cối, mùa thu vì sao giết vạn vật, những sự vật này có lý lẽ nào để dựa theo? Các căn trong thai không biết chi (vô tri) mà chuyển vần, sữa mẹ chẳng do
đâu mà chảy ra, những điều này có lý lẽ gì để dựa theo? Nhỏ nhặt cho đến một sợi lông một hạt bụi, ngọn cỏ, gốc cây, nếu có chút lý lẽ nào có thể dựa theo thì cứ chỉ ra. Chẳng qua vì chấp thường nên cho chúng là thường. Chấp thường này cũng chẳng có lý lẽ gì, do đó chẳng nên vì không thấy mà nghi ngờ việc vãng sinh.
Luận rằng: Người học nghe nói Không, đối với nhân duyên sinh tử nghiệp bèn sinh nghi. Nếu tất cả pháp môn rốt cuộc là không, không đến không đi, vô xuất vô nhập thì nói gì đến chết mà có sinh. Hiện tại mắt còn không nhìn thấy bởi vì không có, thì huống gì sau khi chết lại sinh nơi khác, không biết trong Phật pháp các pháp đều là không, mà cũng không đoạn diệt. Sinh tử tuy nối nhau nhưng cũng không phải là thường. Nghiệp nhân duyên Vô lượng A-tăng-kỳ kiếp tuy qua đi, nhưng cũng có thể sinh quả báo mà không diệt. Điều này nhiệm mầu khó biết, nếu các pháp đều không, thì Phật không nên nói Vãng sinh. Tại sao người có trí thức mà trước sau mâu thuẫn trái nhau, nếu tướng sinh tử là thật có, thì tại sao nói rằng các pháp đều rốt ráo không? Chỉ vì trừ bỏ sự ưa thích đắm trước, tà kiến đảo điên đối với các pháp nên nói các việc vãng sinh. Pháp Phật không chấp chặt hữu, vô, chẳng phải có, vô cũng không chấp chặt, không chấp chặt cả sự không chấp chặt này, người như vậy chẳng bị khó khăn gì, như dùng dao chém hư không chẳng có vết thương nào, đó là vì rốt ráo tướng không. Rốt ráo không thì không che nay nhân duyên nghiệp sinh tử do đó nói việc vãng sinh. Nghi ngờ này vô cùng cạn cợt, kẻ biết ít đều có thể chặt đứt no. Vì người thế gian đa phần có kiến chấp này nên trước tiên phải phá bỏ đi vì nó là chướng nạn đầu tiên của người cầu vãng sinh.
2.Khiếp liệt đọa, gồm ba phần:
-Nghi kết tập nồng hậu.
-Nghi niệm lực là nhẹ.
-Nghi muôn ức là xa.
Nói về “Nghi kết tập nồng hậu”: Phẩm phu chỉ biết nghiệp lực, không biết nghiệp tính không, cho nên nếu chúng sinh nghiệp tánh là thật thì khắp thế giới hư không cũng không có chốn dung thọ. Như mây đen che phủ bầu trời, gió đến sẽ thổi tan, nếu mây là thật thì thổi sẽ không đi. Hư không dụ cho tánh, mây đen dụ cho nghiệp, niệm Phật dụ cho gió. Lại do nghiệp tính tức là pháp tính, lực dụng chí đại. Vì kết sử nên thần lực không hiện. Như Ô-sô-sắt-ma nghe Phật Không Vương dạy rằng người nặng về dâm sẽ thành đống lửa lớn. Lại quán tứ chi bách hài, các hơi ấm lạnh thần quang nội ngưng, hóa tâm nặng về
dâm thành lửa trí tuệ, cùng một sự nóng bức, do tâm dâm, nên thành đống lửa lớn và do lìa nên thành đống báu lớn. Nếu tánh dâm là thật, thì làm sao trong ấy mà được Tam-muội, cho nên mê thành thì ở trong thai ngục, niệm thành thì nhập thai sen, vì thai tính là hóa tính, không phải từ bên ngoài. Đến như nước trong ở trong nước đục, không phải từ bên ngoài.
Nói về “Nghi niệm lực là nhẹ”: Chúng sinh ngu muội, tin hành nghiệp của hữu hình là lớn, không tin niệm lực vô hình càng lớn hơn, niệm lực là hành nghiệp căn, tất cả sự nghiệp, chẳng có niệm thì bất thành, như người gây tội, nếu không cố ý thì bị quả báo nhẹ hơn là cố ý gây tội ác, thì niệm lực nặng hơn. Như khi người vô ký, những chuyện nhỏ nhặt kề tai đối mặt mà nói vẫn không nhớ. Nếu là kẻ có tâm thì bao nhiêu chuyện khó nhớ, khi đã vào ngũ Căn thì suốt đời nhớ mãi không quên, do niệm lực vững chắc. Tô Tử Chiêm nói “Phật do Đại viên giác, sung mãn mười phương cõi. Ta do tưởng điên đảo, ra vào trong sinh tử. Vì sao do một niệm, được vãng sinh Tịnh độ. Ta tạo nghiệp vô thỉ, không từ một niệm sinh. Đã từ một niệm sinh, lại từ một niệm diệt, chỗ sinh diệt diệt hết thì ta và Phật đồng, như nhảy xuống sông biển, như trong gió đánh trống, tuy có trí đại Thánh, cũng không thể phân biệt. Tịnh độ quyết chép: Niệm của con người ràng buộc gấp rút nhất, như sông thì chảy ra biển, như lửa thì bốc lên, như dao bén thì gây thương tổn, như thuốc độc ắt chết người, niệm của niệm Phật cũng giống như thế. Như dâm niệm người nan bền chắc hóa thành lửa mạnh, thiêu cháy miếu thần. Lại như đồng tử Nguyệt Quang quán tưởng nước, qua khe cửa chỉ thấy nước trong. Lại như Ngài Thánh Biện bàn luận với ngoại đạo, kẻ ấy luôn cố chấp ý kiến của mình, bất ngờ hóa thành đá, Thánh Biện vẫn ghi chú trên đá, hôm sau đến xem, cũng có đáp từ. Lâu ngày đá bỗng vỡ vụn, tiếng vang giữa bầu trời. Đó đều là do niệm lực vững mạnh, chứ không phải do biến hóa. Sao nói là niệm Phật mà Phật không hiện? Nên biết rằng niệm lực là vua tất cả các pháp, như khi Ma-ha-na- già đại lực dũng sĩ tức giận thì trên trán sẽ nổi nhọt, nếu nhọt chưa lành thì người ở cõi Diêm-phù-đề không ai có thể địch lại nổi.
Nói về “Nghi ức muôn cõi là xa”: Phẩm phu chấp nhất định là mười muôn ức cõi, nghĩa là ngựa nhanh buồm chóng, ngày đi không đến ngàn dặm, sao nói rằng sát-na được sinh về nước kia, không nghĩ nước kia xa gần, từ chấp thân phần đoạn mà sinh, từ mắt thịt sinh sự vãng sinh này, gọi là thân phần đoạn chăng? Gọi là tâm chứa đựng trùm khắp chăng? Nếu là thân phần đoạn, thân là chất cứng làm sao mà sinh
được? Nếu tâm sinh, thì tâm trùm khắp các cõi nhiều như cát, Tịnh độ vốn ở trong tâm, đâu có qua lại. Như người ở Trường An nhớ về quê hoặc Mân, hoặc Quảng tùy niệm liền đến chứ không cần lộ trình. Lại như khi người ta nằm mộng, thân tuy nằm trên giường, mà tâm ý thức đã nơi khác.
Cư sĩ Vô Công nói: Cực lạc cách đây mười muôn ức cõi, phẩm phu qua đời trong khoảnh khắc đã đến nơi, vì tự tâm diệu. Nên kinh Lăng- nghiêm chép: Ông vẫn chưa rõ tất cả các tướng huyễn hóa phù trần, sinh ra ở chỗ nào thì diệt tận ở chỗ đó. Nhân duyên hòa hợp luống dối có sinh. Nhân duyên chia lìa, luống dối gọi là diệt. Từ đó mà suy ra, khi qua đời thì duyên nhiễm trược lìa, cho nên Ta-bà đương xứ huyễn diệt, duyên thanh tịnh hợp, nên Cực lạc đương xứ huyễn sinh. Cái này diệt thì cái kia sinh, không hề ngừng nghỉ.
Trước đây quê tôi có một người có thể gửi lời đến vị tiên biết chiêm bốc. Vị tiên ấy là anh ruột của anh ta. Về sau anh ta đi lên kinh sư, anh tôi và vài người xem bói, anh ta sợ đường xa không thể đến nên đành phải làm thư phù tuyên gọi, chỉ chốc lát sau người anh anh ta liền đến. Những việc này là do nghiệp ràng buộc còn mau đến như vậy, huống gì niệm lực không thể nghĩ bàn dựa vào công đức bổn nguyện của Phật A-di-đà, như thuận nước trương buồm thì nào có chướng ngại gì.
Vì vậy người niệm Phật phải dứt bỏ ba điều nghi ngại trên, nếu không dứt bỏ thì thực sự là kết tập quá nhiều, niệm lực quá yếu và sẽ thật sự phải đi quãng đường mười muôn dặm mới được. Giống như người muốn đi ra ngoài nhưng lại không có chìa khóa, đó là tự mình không muốn ra chứ không phải không có cửa ra.
3.Tùy ngữ đọa.
Lục tổ nói: Người phương Đông tạo tội, niệm Phật cầu sinh phương Tây, người phương Tây gây tội thì niệm Phật cầu sinh cõi nào?
Bàng cư sĩ nói: “Về sự nói cõi Phật cách đây mười muôn dặm, biển lớn rộng vô biên, động thì gió nổi day.” Do đó cả một bọn vô tri, rồi lại truyền sai nhận lầm, cho rằng Tịnh độ không đáng tu, vì tự chướng mình và làm chướng ngại người khác, thật đáng thương xót. Luận tông môn đề xướng còn không nói có Phật, huống gì cõi Phật vì muốn phá tướng rõ tâm, đúng sai đều dẹp bỏ, như việc thổi một sợi lông trên lưỡi dao sắc, nếu cầm vào sẽ đứt tay. Kim cương gai nhọn, chẳng phải là cơm nước bình thường trong nhà. Hơn nữa trong tông môn, những lời nói như thế rất nhiều, nếu mỗi câu đều tin như thế, thì Phật Thích-ca ra đời e
rằng phải cho con chó của Ngài Vân Môn ăn?
Di-đà Sớ Sao chép: Tây phương cách đây mười muôn ức cõi. Đàn kinh nói mười muôn tám ngàn là lầm vì cho năm xứ Thiên trúc là Cực lạc. Lời ấy gần như đúng, vì Lục tổ chưa đọc Đại tạng, nghe người ta nói phương Tây, liền cho rằng ở năm xứ Thiên trúc có. Trong giáo rõ ràng nói rằng cõi Cực lạc ba độc bất sinh, được không lui sụt, ở đây nói rằng “phương Tây tạo tội, vậy cầu sinh cõi nào?” Đó cũng là một minh chứng. Nhưng trong tông môn những lời sàm bậy như thế rất nhiều, nếu người học có thể đốn ngộ đốn tu, giải hành tương ứng như Lục tổ nhảy xuống sông Kim Hán, dạo chơi trong biển sinh tử, như Bàng lão tuy không cầu sinh, nhưng cũng đâu có hại gì đối với sinh.
4.Cuồng tứ đọa.
Có bọn ma dân, chuyên bày cuồng tuệ, không chịu giữ giới tu hành, dẫn bậy bạ những điều tương tự trong kinh, như phiền não tức Bồ-đề, dâm nộ si tức phạm hành. Theo lời nói mà hiểu, theo sự hiểu mà phát độc, quả như kia nói Đức Thích-ca ngộ đạo, ứng thân bảo nữ; A-nan nhà dâm đâu cần nêu khen. Lục tổ ban đầu theo đám thợ săn vẫn chưa thụ giới, đâu ngại gì ăn rau bên thịt. Kinh chép: Còn không bất sát, bất đạo, bất dâm, huống gì lại có việc sát, đạo, dâm? Xưa, ở tầng trời thứ năm có vị Tăng Đạt-ma-đạt có biện tuệ, sư thờ Tôn giả Sư Tử, Tôn giả biết sự ngộ giải của Ngài nên đối trước chúng khen ngợi, đến khi truyền pháp nối địa vị Tổ thì trao cho Bà-xá-tư-đa. Ma-đạt sinh tâm oán hận nói rằng: Tôn giả biết chỗ sâu xa của tôi, vì sao không trao cho tôi nối địa vị Tổ? Một hôm, một mình đi lấy nước sông, có cô gái giặt đồ, để lộ ống chân, Ma-đạt nghĩ rằng: Chân ấy trắng thật. Thì Tôn giả bất ngờ xuất hiện bên cạnh nói: Cái tâm như thế, liệu có thể trao Tổ vị được ư? Thế là Ma-Đạt nhiếp niệm, lễ dưới chân ai cầu. Ngay một giới dâm, các giới khác có thể lệ theo. kinh Bát-nhã chép: Tội, không tội đều không thật có, nên đầy đủ Thi-la Ba-la-mật. Giải thích rằng: Tội, bất tội đều không thật có, chẳng phải là tà kiến thô tâm. Nói không thật có, Bồ-tát thâm nhập tướng các pháp, thực hành Tam-muội Không, dùng mắt tuệ quán sát nên nói tội không có thật. Vì không có tội, nên cũng không bị tội. Nếu người tham đắm vô tội, khi thấy người tội phá giới thì sẽ khinh mạn, còn khi gặp người thiện nhân giữ giới sẽ kính mến. Giữ giới như thế gọi là nhân duyên khởi tội, không gọi là cụ túc. Vì vậy biết rằng trú giới tức phá, huống gì là hủy bỏ, giới chấp cũng là giới, mới gọi là giữ giới. Các bộ kinh lớn nói rằng phạm hạnh không thật có... đều là nghĩa này.
Ngài Vĩnh Minh nói: Mang thói quen còn bị cảnh lôi kéo, hiện hành há thoát được duyên buộc, như voi say không móc xích, vượn điên gặp cây, như chim bị nhốt trong lồng, Bồ-tát lấy giới làm thầy, thường có tâm sợ hãi.
Lại nói: Trong tông môn đời Mạt pháp, người học theo Đại thừa thường xem thường giới luật, cho nên kinh Niết-bàn nên cao giới luật, nói rộng về thường, vì vậy thừa và giới đều gấp, cho nên gọi kinh này là vật báu quý trọng của việc nối tiếp mạng sống thường trụ. Vì sao? Vì nếu không có giáo pháp này, chỉ nói giải thoát trên đầu môi, hoàn toàn không tu hành thì thừa và giới đều mất. Cho nên thừa là ngộ nghĩa bậc nhất, giới là dứt tất cả hắc nghiệp. Tổ sư chia việc này thành bốn liệu giản:
-Giới gấp thừa chậm: Vì giới gấp cho nên sinh lên cõi trời, cõi người. Như mũi tên bắn lên hư không, sức đẩy hết thì rơi xuống. Vì thừa chậm, cho nên tuy nghe Đại pháp mà như câm như điếc.
-Thừa gấp giới chậm: Vì giới chậm cho nên đọa vào đường ác. Vì thừa gấp cho nên thường nghe Đại pháp, như tám bộ quỷ thần trong hội Hoa Nghiêm.
-Thừa giới đều gấp: Thì sinh lên cõi người cõi trời, thường nghe Đại pháp.
-Thừa giới đều chậm: Thì đọa vào ba đường ác, không bao giờ được nghe pháp, cho nên hai pháp thừa và giới như hai bánh của chiếc xe, bỏ bất cứ bánh nào đều không thể được. Cho nên Ngài Long Thọ nói: Người phá giới như dưới ao mát mẻ có con rắn độc, không ai dám xuống tắm, nhà ấy như gò mả, không người nào dám đến, mất các công đức. Thí như cây khô, như ruộng bị mưa đá, không thể nương tựa, sống nhờ được. Như người bị bệnh nặng, mọi người không muốn gần, thí như ói ra rồi thì không thể ăn lại. Bồ-tát thiết tha quở trách như thế, đâu cho phép người phá giới. Cho nên ngàn ngày học hiểu không bằng một ngày giữ giới, đâu được tham cái tên giả là ngộ đạo mà chịu cái họa thật là đọa địa ngục, khinh mình gạt người, bị nạn vu oan. Người này giống như con chó cắn bậy, không giới nào chẳng phá. Ở đây chỉ nói về giới, vì bị lửa dữ tà kiến đốt cháy của báu giới luật cho nên giới là nền tảng cho Tịnh nghiệp, tất cả bạch pháp từ giới mà sinh.
5.Chi ly đọa: Có nhiều vị Pháp sư thông hiểu giáo điển, chú thích chương cú, chấp vào giả danh của pháp thân, phân tích giới hạn của danh tướng, chỗ này bớt, chỗ kia thêm, suốt năm suốt tháng, đùa bỡn với bức vẽ Tỳ-lô, ngồi trên sân rộng pháp giới, cống cao ngã mạn, được
ít cho là đủ. Nghe người niệm Phật thì cho rằng đây là một trong các pháp để thu nhiếp vọng tưởng của Tiểu thừa, hoặc nói biển giáo pháp nghĩa sâu xa, những người này độn căn nên niệm Phật cũng tốt, hoặc nói trong ba tạng này thuộc về tạng nào? Hoặc nói đây thuộc về giáo nào? Dường như bọn trẻ trong làng đấu đá, bên nào đông thì thắng, mỗi người đều tranh hơn kiến giải của mình, không thật sự hành trì. Như Phạm Chí Trường Trảo nhờ khả năng luận nghị nên hàng phục được các bậc thầy, từ đó đường đột hung hăng, không thể tự chế phục. Sau đến chỗ Phật, nghĩ rằng: Tất cả luận ta phá được, tất cả chấp ta chuyển được, trong đó cái gì là Thật tướng các pháp, cái gì là nghĩa bậc nhất, cái gì là tánh, cài gì là tướng không điên đảo? Nghĩ đoạn, Phạm Chí Trường Trảo bạch Phật rằng: Thưa Cù-đàm! Tôi không thọ tất cả pháp. Phật hỏi Phạm Chí: Ông không thọ tất cả pháp, vậy cái thấy này có thọ không? Phạm Chí đáp: Thưa Cù-đàm! Tất cả pháp không thọ, cho nên cái thấy cũng không thọ. Phật bảo: Ông không thọ bất cứ pháp nào cai thấy này cũng không thọ thì không khác với mọi người, vì sao lại cống cao mà sinh kiêu mạn? Như thế Phạm Chí không đáp được, do đó hết sức tin phục. Vì thế nên biết đứa trẻ bị đói đi qua chỗ bán nhiều thức ăn ngon mà nuốt nước bọt, càng làm thêm tâm thèm ăn chứ không giúp được bụng đói. Thuở xưa ở Giang Nam, có một vị tọa chủ lanh lợi, vì tôi mà phân tích Duy thức và chỉ bày sâu kín sở đắc trong kinh giáo, đối với các chú sớ của những người nổi tiếng phần nhiều ông phê bình bác bỏ. Tôi hỏi rằng: Ngài có đối địch với sinh tử được không? Vị Tăng đáp một cách tự tin: Làm gì có sinh tử để đối địch. Tôi nói: Phải thì tức phải, nhưng e rằng trước điện Diêm-la không dịch được chữ sinh, không hiểu được ngữ ngôn Tam-muội của Toạ chủ. Đó là lời nói chơi trong nhất thời nhưng cũng đúng với cái bệnh lớn ở các trường giảng. Xin khuyên các Bồ-tát niên thiếu, đối với thiên chương ngắn dài, trích dẫn nhiều chỗ, miệng tụng tâm nhớ, trí mê mắt mờ, nghiên cứu sự hiệu nghiệm chẳng bằng mấy lần lên tòa xuống toà, mấy lần giảng kinh ấy, nhận mấy lần người mù lễ bái. Nếu không có công hạnh chân thật thì chỉ thêm nghiệp oan trái. Đâu bằng một câu A-di-đà thẳng lên giai vị không còn lui sụt, việc một mà công trăm. Như Ngài Đàm Mô Tối giảng kinh Niết-bàn, Hoa Nghiêm, lãnh chúng một ngàn vị, bị vua Diêm-la quở trách rằng: Người giảng kinh mà tâm còn bỉ ngã, vì tâm kiêu mạn nên coi thường chúng sinh, là hạnh xấu bậc nhất trong hàng Tỳ-kheo. Liền đưa về Phó ty. Nhưng Ngài là người hiểu rõ về giới, lại có nghĩa giải cao siêu, nhờ tham cứu giáo điển nên ngộ được việc lớn Tây phương bất tư nghì này,
dùng đó tự lợi lợi tha, làm lợi ích cho đời vị lai, đốt lên ngọn đuốc đêm dài, công đức vô lượng. Lại cần gì phải bỏ uống bỏ ăn, thấy dấu chân mà dừng ngựa.
6.Si không đọa: Người học đạo hơi thấy về pháp không, nghe người niệm Phật liền cho rằng: Pháp xa lìa tên gọi, nếu theo giả danh thì càng thêm luống dối. Vì sao? Vì văn ngôn còn không, huống gì là tên gọi. Đáp kinh Pháp Cú chép: Phật bảo Bồ-tát Bảo Minh: Ông hãy quán tên gọi các Đức Phật này, nếu là có thì nói cho người thức ăn phải được hết đói. Nếu nói tên gọi là không thì Định Quang Như Lai không thọ ký cho ta và tên của các ông. Nếu không thọ ký thì lẽ ra ta không được thành Phật. Nên biết tên gọi đã Như từ lâu. Vì ta Như cho nên hiển hiện đầy đủ. Tên gọi các pháp, tánh nó là không, chẳng ở tại hữu vô. Kinh Hoa Nghiêm chép: Thí như các pháp không phân biệt tự tánh, không phân biệt âm thánh, nhưng tự tánh không xả, tên gọi không diệt.
Luận Quần Nghi chép: nếu nói tên gọi là vô dụng thì không thể giải thích thể của các pháp. Cũng nên gọi là nước đến, lửa đến. Cho nên biết nơm lưới chẳng phải không, cá thỏ nhờ đó mà được, khen ngợi việc này, mở rộng tên gọi, sinh về Tịnh độ chân thật, đâu được nói rỗng không. Ngài Thiên Thai Trí Giả nói: ở thế gian có người thực hành không, chấp trước si không, không hợp với kinh. Nghe điều này rồi quán tâm, sau đó bắt bẻ rằng: Quán tâm là pháp thân... thì ở mọi trường hợp nên bình đẳng, vì sao đối với kinh tượng thì sinh tâm kính trọng, còn đối với giấy gỗ thì sinh tâm xem thường, vì kính trọng và xem thường khác nhau nên chẳng phải bình đẳng, vì chẳng phải bình đẳng cho nên nghĩa pháp thân không thành. Đáp: “Tôi y cứ vào giai vị phẩm phu mà quán tướng như thế, vì muốn khai mở hiển bày Thật tướng này nên cung kính kinh tượng, khiến cho tuệ không trói buộc, giúp cho vô lượng người làm lành lánh dữ, làm cho phương tiện không ràng buộc, đâu có đồng với ông?”
Thượng Đô Nghi nói: Quy mạng Tam bảo cần phải chỉ phương lập tướng, trụ tâm chấp cảnh, không rõ vô tướng lìa niệm. Phật biết hàng phẩm phu buộc tâm còn không được, huống gì là lìa tướng. Như người thông minh không có phương thuật, xây nhà trên hư không. Kinh Pháp Hoa chép: Ông chứng các Phật pháp như Nhất thiết trí, mười Lực... đủ ba mươi hai tướng, đó là chân thật diệt. Đại sư Nam Tuyền nói: Pháp thân tịnh vi diệu, đủ ba mươi hai tướng. Chỉ vì không chấp nhận phần hạn của tâm lượng. Nếu không có tâm như thế thì tất cả hành xứ, cho đến búng ngón tay, chắp tay đều là chánh nhân. Hoà thượng Bách Trượng
nói: Hành đạo lễ bái, từ bi hỷ xả là việc bổn phận của Sa-môn, rõ ràng y theo lời Phật dạy, chỉ là không cho chấp trước. Tịnh độ Chỉ Quy chép: Hành nhân viên đốn, nói nín động tĩnh đều vâng theo lời Phật dạy, đều hợp với tâm Phật. Nếu do niệm Phật mà sinh tâm động niệm, trở thành vọng tưởng thì dứt tâm vô niệm cũng thành vọng tưởng.
Kinh Thủ-lăng-nghiêm chép: Dù diệt tất cả sự thấy nghe hay biết nhưng bên trong giữ sự u nhàn cũng vẫn là pháp trần phân biệt ảnh sự. Nếu do niệm Phật mà chấp trước các họa hoạn hữu vi thì cái chấp này còn hơn cả người chấp không.
Ngài Vĩnh Gia nói: Chấp trước không, bác nhân quả, mênh mông bát ngát vời ương họa. Nếu cho rằng cầu Phật khác bên ngoài là chưa đạt thì bên trong chấp tâm mình không đạt còn nặng hơn.
Ngài Trường Sa nói: Người học đạo không biết chân, chỉ vì từ xưa đến nay nhận thức thần, là gốc sinh tử từ vô lượng kiếp đến nay, người si mê gọi là Bản lai nhân. Nếu cho riêng cầu Tịnh độ là thiên kiến thì chấp trước mắt là Tịnh độ lỗi còn lớn hơn. Kinh Lăng-nghiêm nói người lạc vào đường ma đều chỉ hiện tiền chính là cõi Phật, không phân biệt tịnh cư và tướng sắc vàng, miệng thích nói mắt tai mũi lưỡi đều là Tịnh độ, hai căn nam và nữ tức là Bồ-đề, đệ tử và thầy đều rơi vào nạn vua, mê lầm không biết, đọa vào ngục Vô gián. Nếu chấp có tu chứng là Quyền nói thì chấp không tu chứng, đọa lạc vào ngoại đạo, lỗi ấy còn lớn hơn.
Kinh Lăng-nghiêm chép: Nếu trong định ấy các người thiện nam thấy sắc ấm tiêu, thọ ấm rõ ràng, tự cho là đã đủ thì có một phần ma Đại ngã mạn nhập vào trong tâm phủ, cho rằng ba tăng-kỳ kiếp một niệm có thể vượt qua, trong tâm còn xem thường cả các Đức Như Lai trong mười phương, huống gì Thánh văn, Duyên giác ở địa vị dưới, không lễ bái tháp miếu, phá huỷ kinh tượng, cho rằng Đàn-việt nói đây là đồng mạ vàng, là gỗ đất, kinh là lá cây, hoặc là điệp hoa. Nhục thân là chân thường không tự cung kính, lại tôn kính gỗ đất, thật là điên đảo, làm nghi lầm chúng sinh, đọa vào ngục Vô gián. Vì thế nên biết chấp không phá tướng đều là quyến thuộc của ma.
Luận Trí Độ chép: Thí như người giữ ruộng, ban đầu không biết muối, thấy người để muối vào các thứ rau thịt mà ăn, bèn hỏi vì sao như thế? Người kia đáp: Vì muối này làm cho thức ăn có vị ngon hơn. Cho nên người ấy bèn nghĩ muối này làm cho thức ăn có vị ngon thì tự nó phải rất ngon. Nghĩ đoạn người ấy bèn ăn nguyên một miệng muối, làm mặn đắng cả miệng, bèn hỏi rằng: Vì sao ông nói muối làm cho ngon
hơn? Người kia đáp: Ông là người ngu! Muối này phải liệu mà để vào ít nhiều mới làm cho thức ăn ngon hơn, tại sao ông lại ăn muối không?
Người không có trí tuệ nghe pháp môn không, giải thoát liền bỏ các thiện căn cũng giống như thế, hãy suy nghĩ cho kỹ. Tất cả không, sinh tử không, vì sao vua Diêm-la lại không chẳng được.
7.Tùy duyên đọa.
Người xưa nói: Tùy duyên tiêu nghiệp cũ, nhậm vận mặc y áo. Chỉ thuận theo trời, muôn hành tự viên. Giở chân, đặt chân đều là Tịnh nghiệp, đâu cần các thứ làm gì. Đáp lời người xưa hỏi rằng: Ngay tâm này là Phật, thì cần gì tu hành? Đáp: Chỉ vì thế cho nên tu hành, nếu trong sắt không có vàng thì dù có luyện vẫn không trở thành vàng được. Quốc sư Hiền Thủ nói: Nay ba thân, mười Ba-la-mật của Phật, cho đến hạnh Bồ-tát lợi tha… đều dựa vào tự pháp dung chuyển mà hành, do trong tâm chúng sinh có chân như thể lớn, tướng lớn, dụng lớn, ngày nay tu hành, dẫn ra pháp thân, báo thân, do trong tâm chúng sinh có pháp tánh chân như, tính tự không có san tham, ngày nay tu hành thuận theo pháp tính vô san, dẫn xuất Đàn Ba-la-mật… kinh Niết-bàn chép: Phật bảo Bồ-tát Sư Tử Hống, tất cả chúng sinh đều có niệm tâm, tuệ tâm, phát tâm, cần tinh tiến tâm, tín tâm, định tâm, những pháp như thế tuy niệm niệm diệt nhưng vẫn tiếp nối không dứt, nên gọi là tu đạo. Như ngọn đèn tuy niệm niệm diệt, nhưng vẫn có ánh sáng mà phá bỏ u tối. Như cái ăn của chúng sinh tuy niệm niệm diệt, nhưng vẫn làm cho người đói được no bụng. Như thuốc tốt tuy niệm niệm diệt nhưng vẫn trị dứt được bệnh. Ánh sáng mặt trời mặt trăng tuy niệm niệm diệt, nhưng vẫn làm cây cỏ muôn vật phát triển.
Kinh Bảo Tích chép: Nếu không có người chánh tu, thì thỏ mèo lẽ ra cũng sẽ được thành Phật. Đại sư Ngưu Đầu Dung nói: Nếu nói tu sinh thì tạo tác chẳng phải chân. Nếu nói vốn có thì muôn hạnh luống lập.
8.Duy tâm đọa.
Tự tính Tịnh độ, ngay nơi tục là hằng chân, bảy báu ngói gạch, nhất đạo bình đẳng. Chỉ cần tịnh tự tâm đâu cần phân biệt khác nhau? Đáp: Ông nói tâm tịnh cõi tịnh, không cần phân biệt, vậy dẫn ông vào trong nhà xí, ông ở lâu trong đó được không? Nơi xác chết đầy rẫy mùi hôi thối ngươi không bịt mũi có chịu được không? Đối với người đầy ghẻ lở máu mủ, ông có dùng chung chén, ngủ chung giường đắp chung mền với họ được không? Nếu không được, thì tướng ấy chính là “Chán ghét tướng ngủ trược”. Nếu ông có thể chịu đựng được những điều ấy, không hề tránh xa thì sâu bọ chó quạ đều cũng có thể gần gũi những
thứ ô uế ấy, chẳng cũng đều đắc đạo giải thoát hay sao? những tịnh uế đều lìa, y nhiên lấy bỏ, đối với nghĩa duy tâm cũng không tương ứng. Cho nên phải biết chư Phật vì duy tâm nên sinh ra ưa thích, nhàm chán, vì duy tâm nên thuyết danh bình đẳng, vì duy tâm nên trang nghiêm cõi Phật. Nếu không duy tâm, làm sao tùy niệm, nếu chẳng bình đẳng thì phẩm phu không có phần. Uế còn không bỏ, sao lại bỏ tịnh. Đã bỏ tâm này, lấy cũng trái gì? Đều do không hiểu ý chỉ của Phật mà gây ra sự chấp trước này. Nhưng biết duy tâm thì nghĩa nghi ở đây loại bỏ.
9.Đốn ngộ đọa.
Người tu thiền đời nay đều cho rằng hễ vừa hạ thủ công phu thành tựu thì liền thẳng vào địa vị Chánh đẳng giác, không chấp trước công đức huân tập, thành Phật còn không cầu, huống gì cầu vãng sinh Tịnh độ? Đáp: Kẻ nói không cầu thành Phật, sau khi xả thân sẽ đoạn diệt hẳn hay còn thọ thân sau? Nếu còn có thế giới sau khi chết thì sinh Tịnh độ hay sinh vào ba cõi? Nếu sinh vào ba cõi thì không bằng sinh về Tịnh độ. Nếu sinh Tịnh độ, thì đồng với vãng sinh. Lại người xưa nói rằng: Bậc Thiện tri thức, tuy thấy rõ Phật tánh, đồng đẳng với Phật, nhưng nếu luận về công đức thì chưa bằng được với các Thánh, phải cố gắng từng bước từ hôm nay. Lại nói rằng: Chưa ngộ mà tu không phải là chân tu. Chỉ có việc đốn ngộ tiệm tu, mới hợp với Phật thừa, không trái với ý chỉ viên đốn. Như đốn ngộ đốn tu cũng là nhiều đời tiệm tu. Đời nay mau chóng thành thục đó là do khi đang mang thân người thường tự nghiệm xét, nếu lời nói đúng như việc làm, việc làm đúng như lời nói, lượng tận cùng bờ mé pháp giới, tâm hợp với lý hư không. Tám gió không động, ba thọ vắng lặng, chủng hiện đều tiêu, căn tùy đều hết. Thí như những người không bị bệnh, thì không nên uống thuốc. Nếu hiện hành chưa dứt, phiền não tập khí lại nhiều, chạm mắt sinh tình, gặp việc thì dính mắc, tuy hiểu ý nghĩa vô sinh, nhưng năng lực chưa đủ. Không thể chấp nói: “Ta đã ngộ hiểu phiền não tánh không. Nếu khởi tâm tu, trở thành điên đảo.” Như thế thì phiền não tánh tuy không nhưng có thể khiến phải chịu nghiệp. Nghiệp quả vô tính cũng là nhân khổ. Khổ đau tuy là luống dối, nhưng khó chịu đựng nổi. Nếu bị bệnh nặng, bệnh cũng hoàn toàn không, nhưng sao cứ phải kiếm thầy chữa trị, dùng mọi phương thuốc?
Tổ Sư nói: Đem tâm hư không, hợp vào lý hư không, cũng không có lượng hư không mới đắc được báo bất tương thù (không trả báo).
Phần Dương Vô Nghiệp Thiền Sư nói:
Ngày nay người ta giải thiền giải đạo đến hằng sa số. Nói Phật nói
tâm có đến trăm ngàn vạn ức. Một hạt vi trần vẫn không hết thì chưa thoát khỏi luân hồi. Hệ niệm không quên, làm sao không thối đọa. Như các loại này còn không tự biết nghiệp báo của mình lại vọng nói việc tự lợi lợi tha. Tự cho mình là thượng lưu, ngang hàng với chư vị tiên đức. Chỉ biết nói rằng việc xúc chạm trước mắt đều là Phật sự, động chân cất bước đầu là đạo tràng. Còn việc tu tập hành trì, lại không bằng hạng phạm phu giữ ngũ giới thập thiện.
Xem những lời phát ngôn của họ, hiềm chê người là hàng nhị thừa thập địa Bồ-tát. Vả lại đề hồ thượng vị, là vật trân quý ở đời, nếu gặp phải bọn người này ắt sẽ hóa thành độc dược. Giả sử có tài ngang với Ngài Mã Minh, giải ngộ đồng như Ngài Long Thọ, Cũng chỉ được một đời hai đời không bị mất thân người. Khi mạng lâm chung, một chút tình lượng phẩm Thánh không dứt, một vi trần tư niệm chưa buông, thì sẽ tùy niệm thọ sinh, tùy theo ngũ ấm khinh trọng, sẽ hướng về thai lừa bụng ngựa mà thác sinh, vạc dầu lò lửa thiêu đốt thân tâm. Trước kia thường ghi nhớ nắm trì kiến giải, nhất thời đều mất hết. Y vào nghiệp cũ lại sinh vào các loài trùng kiến, tuy là thiện nhân mà chiêu lấy ác nghiệp.
Hòa thượng Viên Ngộ nói: Ranh giới của sinh tử, rơi vào trong chỗ lành không dễ, duy chỉ có bậc đại đạt siêu chứng, một lần dứt đoạn thì không khó.
Nhưng đều tuy do căn lực cuả mình, cũng cần phải mượn phương tiện. Lúc bình thường đối với vai cảnh giới nhỏ, chuyển thành hạnh được, thông suốt đã được, bỏ những điều cạn cợt đi, nuôi dưỡng sự thuần thục. Đến khi tạ duyên đời, tự nhiên không còn lo sợ gì. Cho nên bậc cổ đức đứng ngồi đi nằm đều có thể thoát xác, đều dũng mãnh, đều là do đào thải hết những việc trước kia mà được yên tịnh. Hương lâm bốn mươi năm được thành một khối. Dõng Tuyền bốn mươi năm còn có tẩu tác, Thạch Sương khuyên người nên bỏ hết ngừng hết lò hương miếu xưa.
Ngài Vĩnh Gia nói: Thể tức vô sinh, liễu vốn không mau. Bởi không ngừng tu tập, niệm đây ở đây mới được vô ngại tự tại, sau khi xả thân, đắc ý sinh thân, tùy tự ý thú, hậu báo đều dùng lý sai sử, không do nghiệp lôi kéo. Cái gọi là thấu thoát sinh tử? Nên biết chư Đại sư đều đã đi qua, chỉ là tìm cầu chỗ sinh tử tốt đẹp. Đường đi tuy khác nhau nhưng đều hướng đến tịnh nhất. Xưa có vị cuồng tăng tự phụ với chỗ thấy biết của mình, ta bèn hỏi rằng: Ông tin được xuất gia không? Ngươi tin được thân ở Trường An không? Vị Tăng ngạc nhiên nói “Không tin”. Ta nói:
Khi ông nằm mơ, hoặc nằm mơ khi chưa xuất gia, khi thấy cha mẹ anh em, hoặc khi trẻ con chơi đùa, lúc ấy có biết thân mình là khách không? Vị Tăng nói: “Không biết”.
Ta nói: Dù cho ông tin được xuất gia và hành cước thật sáng tỏ thì sự kiến đạo của ông mới rõ ràng. Đằng này không được như vậy, mới nằm xuống gối đã bỏ tăng làm tục, đổi khách làm nhà, mà tự mình đã không biết. Huống gì sinh tử đêm dài mà chỉ dựa vào chút ít hiểu biết của ông, làm sao bảo đảm rằng sẽ không bị điên đảo? Lúc ấy kẻ cuồng tăng ấy giật thót người.
10.Viên thật đọa, nghĩa là Hoa tạng thế giới, một sát-na, một vi trần, mà bao hàm vô lượng quốc độ, vốn không có tịnh uế, làm gì có qua lại. Cho nên trưởng giả nói, cõi Tây phương Tịnh độ là Quyền biến mà không có thật. Vì tình chấp thủ xả, chẳng phải là thể pháp giới như như.
Đáp: Nếu ước về chân luận thì Hoa tạng thế giới cũng là Quyền lập, huống gì riêng cõi Tây phương. Như trong luận nói, lý trí vô biên, gọi là Phổ. Trí tùy theo căn mà tăng lên, gọi đó là Hiền. Vậy Phổ Hiền Bồ-tát cũng là Quyền biến. Văn-thù-sư-lợi là diệu tuệ khéo giản trạch ở tự tâm, các Bồ-tát Giác Thư, Mục Thư… tùy tín tâm mà lý trí hiện tiền, các Bồ-tát đó… và Văn-thù đều là Quyền. Như các bậc Thánh hiền ở phương này như Khổng Phu tử, Nhan Hồi trong luận đều cho là biểu pháp, vốn không có người thật. Vậy tất cả Bậc hiền Thánh đều là Quyền biến.
Nay ta thử so sánh định lượng về Ngài Văn-thù, Phổ Hiền cùng các Bậc hiền Thánh ở phương này, là Quyền hay là Thật?
Nếu cho là Quyền thì hiện nay vẫn có các vị ấy và sự việc đi đứng nằm ngồi, những lời di ngôn vẫn còn đó. Nếu nói thật thì trưởng giả ấy cũng là khi phẩm diệt Thánh, phạm tội đại vong ngữ. Nói như đây thì Tây phương Tịnh độ cũng thể nhập vào sát trần. Sát trần cũng báo hàm cả Tây phương, sao lại có chuyện Quyền và Thật?
Lại trong luận có nói: Thể của Liên Hoa tạng là hạnh đi theo pháp thân, không y trụ vào trí thể mà được. Cung điện là quả báo hàm chứa tổng đại Bi. Lầu các là quả báo của trí chiếu quán căn thuận theo lòng bi tế độ chúng sinh, đất kim cang bằng phẳng là quả báo của Pháp thân tự tánh. Ma-ni trang nghiêm là quả báo của hạnh đi theo pháp thân giới thể. Kim cang luân bao quanh núi, là quả báo của giới đại bi phòng hộ nghiệp. Chúng hoa trang nghiêm là quả báo của Sự khai mở của vạn hạnh lợi sinh. Bảo thọ là quả báo của việc thực hành lợi sinh