Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 172, Bộ Chư Tông XII, Số 1970- 1985

Đại Tập 172, Bộ Chư Tông XII, Số 1970- 1985

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 932.

Chương 56: Số 1973- Lô Sơn Liên Tông Bảo Giám, Lời Tựa (Trang 193 - 196)

                  SỐ 1973
 
LÔ SƠN LIÊN TÔNG BẢO GIÁM

                  LỜI TỰA
 
Thiền môn và Tịnh môn, mỗi môn đều có các Tổ làm hưng thạnh pháp môn mình, cơ đồng với Địch quốc. Thiền sư Từ Giác Tông Trách có ví dụ làm ruộng mở kho, tùy theo ý muốn của mọi người đều được như ý, đây cũng là lời phương tiện hòa hợp. Hai vật có thể hòa hợp, nếu vốn chẳng phải hai thứ hòa hợp thì làm sao có Như Lai Thiền, Tổ sư Thiền? Tổ sư Thiền cũng là lời Phật.
Thiền-na, Hán dịch là Tĩnh lự, đó là tám Thiền tám Định. Tam- muội niệm Phật chép: “Nhất tâm bất loạn, nhiếp cả lục căn, tịnh niệm nối nhau chẳng phải là tĩnh định ư? Vả lại, niệm Phật và xướng Phật khác nhau, xướng Phật thuộc về miệng, niệm Phật thuộc về nhớ nghĩ, mẹ nhớ con, con nhớ mẹ, là miệng hay là tâm? Phật sở niệm là chiên- đàn hay là vàng Diêm-phù-đàn? Do trời Tỳ-thủ-yết-ma làm ra chăng? Là ứng thân hay là Báo thân? Hay là Pháp thân? Là Phật quá khứ? Hay là Phật hiện tại? Là Tịnh độ ở Tây phương chăng? Giở chân, hạ chân tức đạo tràng? Quán kinh do miệng vàng của Phật nói ra : Tâm này làm Phật, tâm này là Phật, cho nên quán tâm tức quán Phật, quán Phật tức niệm Phật. Nói một cách cùng cực thì niệm vốn vô niệm, Phật cũng vô Phật, năng niệm không, sở niệm cũng không, Như Lai Thiền tức Tổ sư Thiền. Cho nên, Bồ-tát Đại Thế Chí thì niệm Phật vô sinh, Bồ-tát Quán Thế Âm nghe lại tự tánh, hai Bồ-tát dường như mỗi vị đều có viên thông riêng nhưng đồng về An dưỡng, hầu cận Đức A-di-đà, tiếp dẫn chúng sinh ở Đông độ. Rõ được lý này thì ngay nơi Tịnh là Thiền, các
Thánh đồng về một mối, nhưng các Thích tử đời sau lại phân chia môn hộ, thí như phòng nhà của Tổ tông vốn chỉ có một gian, nhưng con cháu ở trong đó lại ngăn chia ra tường vách, cắm cây làm rào trồng gai nên không qua lại với nhau được, đó là do chấp mê điên đảo cùng cực.
Có người hỏi rằng: Tam Thánh tiếp dẫn thì Tịnh độ ở Tây phương là rõ ràng, có mâu thuẫn với ý chỉ tự tánh duy tâm hay không? Tôi nói: Di Đà là Di-đà của chúng sinh, chúng sinh là chúng sinh của Di-đà, Cực lạc là duy tâm của Di-đà, duy tâm là Cực lạc của chúng sinh, cho nên biết ý chỉ tự tánh duy tâm nghĩa là Tây phương có Phật Di-đà, có thể nói Đông độ đều có Di-đà, cũng có thể nói Pháp thân, Báo thân là Phật, có thể nói Liệt ứng thân cao trượng sáu và Phật do trời Tỳ-thủ-yết-ma làm ra đều là Phật. Cũng có thể nói niệm Phật quá khứ, có thể nói niệm tất cả Phật hiện tại, vị lai, cũng có thể nói đâu có sự khác nhau nào giữa Thiền và Tịnh.
Bộ sách Liên Tông Bảo Giám do Hòa thượng Ưu Đàm ở Lô Sơn biên tập, nêu lên chỗ chánh ngụy, theo mùi hương tìm gốc, thật là chỉ nam của Tịnh độ. Nhân đó vì Pháp sư Lăng-nghiêm Bạch mà khắc in truyền bá, thay thế dắt dẫn.
Đệ tử là Tử Bá Tiền Sĩ Thăng viết tại Cánh Vũ đường ở am Phóng Hạ.
-Tổ đường Thiện pháp, tông Bạch Liên ở Lô Sơn Đông Lâm Thiền tự khuyên tu Tịnh nghiệp.
Thần là tăng Phổ Độ kính cẩn biên tập bộ Liên Tông Bảo giám. Bộ Liên Tông Bảo Giám này đã phát minh ra pháp môn niệm
Phật Tam-muội của chư Phật, chư tổ. Rất mong chư tôn túc, chư Thiện tri thức đề bạt, ấn chứng để được đưa vào đại bộ. Xin đảnh lễ, Đáp sư phụ, công ban nước Kế tân, người đứng đầu làm cho Phật pháp được tôn sùng nhận được tông chỉ giáo pháp, chỉ dạy pháp Bát-nhã cho trưởng lão Thất-lợi, Hiền-da, Na-thất-lợi lại truyền rộng rãi khắp các ty thừa. Ngày mười một tháng mười Đại Nguyên đến cung Giáng Phước. Nay thời hoàng đế Tiềm Long, phân nguyệt, hải khiếp tiết, ngày thứ nhất đích thân tôn thờ quyển Liên Tông Bảo Giám, dâng sách lên sắc lệnh bảo người khắc bản ấn hành. Sự cung kính này ngang với Đại bộ; nghĩa lý rõ ràng không thể bỏ qua công của thừa tướng ban bố đến chùa Vô Lượng Thọ Pháp Vương. Công việc khắc bản đã xong, nhân đây xin chúc triều đình:
Chúc Hoàng đế Thánh thọ vạn an! Hoàng Thái hậu, hoàng hậu trai niên! Thái tử và chư vương thiên thu văn võ quan liêu cao tăng lộc
vị, hoàng đồ vĩnh cố! Phật nhật tăng huy, phẩm nhật kiến văn đồng thành Phật đạo!
Ngày trăng tròn tháng giêng niên hiệu Hoàng Khánh năm Giáp tý, Ưu-Đàm Phổ Độ kính dâng.
-Xét trong kinh nói ở phương Tây có cõi nước tên là Cực lạc, cõi ấy có Phật hiệu là A-di-đà, vòi vọi mênh mông, vượt ngoài thái hư, không hẹp không rộng, tự nhiên hóa độ, ao quỳnh đất vàng, không nhiễm một hạt bụi, cây rừng, nước chim đều giảng nói khổ không, nguyện lực của Phật thâu nhiếp các chúng sinh đó, một niệm tương ưng liền bước lên đài vàng, dù là phẩm hạ hạ cũng là thai hoa sen. Tôn giả Nhạn Môn kết xã, răn nhắc luôn tu Tịnh nghiệp, cho nên đạo niệm Phật đề xướng thạnh hành ở thế gian, đến nay gọi đó là Liên Tông, cách xưa đã lâu xa, dòng pháp thành tệ, tà đạo lẫn lộn, lời lẽ nhiệm mầu thành mờ tối. Do đó, Hòa thượng Ưu-Đàm nương nguyện lực xưa, noi theo chánh tông, phấn phát tâm chân thật, tìm kiếm yếu chỉ, sắp xếp đầu cuối, chia ra chân ngụy, lập thành mười môn, gọi là Bảo Giám tặng cho những người tham học.
Năm Giáp dần, niên hiệu Diên hựu, tại núi Đại ngưỡng, Thiền sư Đại Viên Phật Giám truyền pháp, Sa-môn Hy Lăng ghi chép.
Tâm tánh bị sai sử bởi trần lao phiền não nhưng không bị trần lao phiền não nhận chìm, như sen mọc từ bùn nhơ mà không bị bùn nhơ làm nhiễm ô tinh chất, cho nên chỉ thẳng là “Liên”. Tâm tánh chung cho các pháp Tam Thừa nhưng không bị các pháp Tam Thừa lăng đoạt, từ tông chia ra chi phái, nhưng không do chi phái mà đánh mất căn bản. Cho nên niệm Phật là “Tông”. Tâm tánh hư không trùm chứa dưỡng nuôi muôn vật, thí như trong biển cả có kho báu vô tận xuất hiện bốn thứ châu, cho nên gọi là “Bảo”. Tâm tánh sáng suốt thánh tịnh, chiếu soi rõ ràng các sắc tượng, dụ như một chiếc gương ở trên đài có công năng phân biệt đẹp xấu, nên gọi là “Giám”. Hòa thượng Ưu-Đàm là người họ Tưởng ở Đơn Dương, gia đình nhiều đời thờ Phật, chứa nhóm điều lành, sinh ra thông minh lanh lợi. Năm hai mươi tuổi, sư nhàm chán duyên đời cạo tóc xuất gia, ban đầu tham học với Thiền sư Tuệ ở Bảo Sơn thuộc Long Hoa, Thiền sư vừa thấy Sư liền biết là pháp khí. Sư lần lượt tham học với các Thiền lão, giũa mài gạn lọc, đạt tâm Tịnh độ, thấy tánh Di đà, rất tiếc cho đạo tổ đã bị chìm đắm, nên biên tập Niệm Phật Cảnh Yếu, đặt tên là Liên Tông Bảo Giám, mỗi lời đều phá hoặc, mỗi điều đều cảnh tỉnh. Thiền sư Viên Ứng Nhật ở Đông Nham thuộc Thiên Đồng vừa thấy Sư liền chứng minh nói rằng: “Lành thay, lành
thay, đúng vậy, đúng vậy.” Sau đó, sư khai pháp tại Pháp Vương Thiền tự ở kinh đô, quốc sư Quán Đảnh dâng Bảo Giám lên vua.
Vua Kim Luân hưng khởi chánh tông và ban hạ ngọc chỉ, quên mình vì pháp, làm khuôn phép cho đời sau, khai đạo trời người, chứa nhóm tuệ mạng của Phật, là vật báu trong thật tăng, từ gốc đến ngọn, dẫn dắt chúng trở về tông, không bỏ bi nguyện, dung hợp chân tục, thị hiện sen trong lửa, phấn phát lại ngọn gió Tịnh độ đã ngừng thổi trong ngàn năm của Tổ sư Tuệ Viễn ở Đông Lâm. Cái gọi là Lô Sơn Liên Tông Bảo Giám đâu phải là lời nói suông. Xưa, sư tên là Đức Công Đại nhân, soạn lời bạt khen ngợi tên phẩm, đầy đủ ở cuối quyển. Người tu Tịnh nghiệp về sau giở xem tập sách này thì rõ suốt chỉ thú của Phật tổ, mở mang đạo này, lưu lại vô cùng. Công đức to lớn không gì sánh bằng? Vì muốn kéo dài phước đức nên nhà vua đổi niên hiệu. Đầu mùa hạ năm Giáp dần tất cả Tỳ-kheo tăng ở Minh Trí, Sùng Thắng Thiền tự, đồng đảnh lễ viết lời tựa.
/129
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »