Thiền sư này vãng sinh
Nghe Phật tâm tin ưa
Tụng niệm và thọ trì
Tảng đá bỏ trong thuyền
Là vãng sinh hạ liệt
A-nan tài học rộng
Đứng đầu đệ tử Phật
Chẳng bằng niệm một Phật
Đốn rõ các kinh pháp
Vì sao nhà nghĩa giải
Lại xem thường niệm Phật
Các pháp môn chánh niệm
Trong kinh đều nói đủ
Chỉ một pháp Đại thừa
Không hai cũng không ba
Kính khuyên người ngộ đạt
Xin chớ có cuồng giải
Nhất tâm niệm Di-đà
Hoa sen mọc theo niệm
Đây là thường tịch quang
Chẳng phải báo phương tiện
Quán như thế là chánh
Chớ vọng sinh phân biệt Tam
Thừa thiền, giáo, luật
Đồng về biển Tịnh độ
Tất cả pháp đều nhập
Là phổ môn vô thượng
Biển giáo nghĩa vô lượng
Nên quán một phần nhỏ
Trùm khắp chỗ tối tăm
Trong đây có toàn tạng.
THỨ 4: GIÁO TƯỚNG MÔN
Một đại tạng giáo, như bình đựng hư không, không vô tướng thể, bình có vuông tròn, bình vỡ thì hư không không mất, duyên mất giáo diệt. Cho nên tùy duyên khắp ứng, thì Niết-bàn và chân như cùng một đồ đựng, gọi là trí tự tại thì duyên trì danh tướng, vì cùng là không. Thuốc không có phương nhất định, phương nhất định phải tùy theo bệnh. Há
chẳng phải là phương thuốc hay vô thượng như vụn ngọc san hô có thể trị được bốn trăm lẻ bốn bệnh. Bệnh hết thì thuốc quý, phân tiểu tức là đề hồ, khác chứng cùng phương, sâm linh trở thành thuốc độc. Huống gì thuốc của Đấng Vô thượng y vương trị Tam Thừa xuất thế, có thể chữa trị được bệnh tật của trời, người, Thánh văn, phẩm phu… Cho nên người xưa y cứ vào giáo, hoặc một, hoặc nhiều, danh tướng tuy khác nhau, nhưng lý thú thì giống nhau, người tu đạo không giấu tật xấu cũ, thầm nương các bậc tiên triết phân biệt các câu để làm sáng tỏ nhất thừa khiến người xem biết pháp môn Tịnh độ thâu nhiếp giáo pháp một thời đại, chớ vì hiểu khái quát Thiền tông mà coi thường cuồng nghĩa hổ (?), đó là sự tự lừa dối mê hoặc chính mình. Gồm có:
-Thuần hữu giáo.
-Xu tịch giáo.
-Hữu dư giáo.
-Vô dư giáo.
-Đốn ngộ giáo.
-Viên cực giáo.
1.Thuần hữu giáo.
Vì các phẩm phu mê đắm ái nhiễm, gây ra các nghiệp ác, Như Lai thương xót nên nói cho nghe về nỗi khổ ở địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, khổ không có phước đức, chấp ngã sở, muốn sinh lên cõi trời, người thì phải tu thiện căn như Phật mới thành đạo, vì Đề-vị nói nhân quả thế gian. Năm trăm người đồng thọ năm giới, trước hết sám hối những tội như tội ngũ nghịch, mười điều ác, báng pháp… đây là Hữu giáo; trong ba thứ phước của Quán kinh thì đầu tiên là hiếu thảo dưỡng nuôi cha mẹ, thờ phụng sư trưởng và có lòng Từ bi không sát sinh, tu thập thiện nghiệp. Trong kinh Vô lượng Thọ lai nói đến nỗi khổ năm ác, năm thống, năm thiêu, giáo hóa chúng sinh, khiến giữ năm điều lành, cũng thuộc về nghĩa này, nhưng kinh này là cầu vãng sinh, ngăn những điều bất thiện, chứ không phải là tâm vui mừng với tiểu quả trời, người. Tu trì là đồng, chứng quả là khác. Như Lăng-nghiêm, Hoa Nghiêm các kinh Phương Đẳng tuy không đơn thuyết, nhưng cũng có kèm theo, không gọi là thuần hữu, Quán kinh sao chép: Hành giả viên đốn, đâu trái với hình thức xuất gia cuả Tiểu thừa, các giới tam quy y, các việc uy nghi. Lại nói rằng: Người được trước trước không được sau sau, người được sau sau không được trước trước. Vì sao? Vì tất cả chư Phật đều do thập thiện mà được độ. Kinh Hoa Nghiêm chép: Mười nghiệp đạo bất thiện là nhân thọ sinh địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ. Mười
nghiệp đạo thiện là nhân thọ sinh trời, người, cho đến trời hữu đảnh. Thượng phẩm của mười nghiệp đạo này dùng trí tuệ tu tập. Vì tâm thấp kém, vì sợ hãi ba cõi, vì thiếu tâm đại Bi, từ nghe người nói mà hiểu được nên thành Thánh văn thừa. Lại thượng phẩm mười nghiệp đạo lành này, tu trì thanh tịnh, không theo giáo pháp khác, tự giác ngộ, đại bi phương tiện không đầy đủ, ngộ giải sâu xa pháp nhân duyên, thành “Độc giác thừa” lại thập thiện nghiệp thượng thượng này, tu hành. Tu trị thanh tịnh, tâm rộng lớn vô lượng, có lòng Từ bi thương xót, phương tiện sở nhiếp nên phát sinh đại nguyện, không lìa bỏ chúng sinh, mong cầu đại trí chư Phật, tịnh tụ Bồ-tát các địa, tịnh tu tất cả các độ, thành hạnh rộng lớn của Bồ-tát. Vì từ nhất thiết chủng thanh tịnh cho đến chứng mười Lực vô úy, tất cả Phật pháp đều thành tựu, cho nên nay ta thực hành bình đẳng thập thiện, phải khiến tất cả đầy đủ thanh tịnh, cho đến Bồ-tát chứa nhóm thiện căn như thế, thành tựu, tăng trưởng thiện căn, tư duy thiện căn, hệ niệm thiện căn, phân biệt thiện căn, yêu thích thiện căn, tu tập và an trụ thiện căn, Bồ-tát Ma-ha-tát chứa nhóm thiện căn như thế rồi, dùng thiện căn có được này nương vào quả tu hạnh Bồ-tát. Trong mỗi niệm thấy vô lượng Phật, như sự mong cầu mà ứng hiện, thờ phụng cúng dường. Tuy vô sở tác nhưng luôn trụ ở thiện căn. Lại nói: Tuy biết các pháp không có chỗ nương tựa nhưng nói nhờ thiện pháp mà được ra khỏi. Xin khuyên kẻ ngộ đạt manh mẽ bỏ đi lời hoát đạt mà sớm tìm bạn Bạch xã không mời, chớ khinh giới luật, trên trời không có Đức Phật tạo nghiệp; chớ tham hư danh, dưới đất có quỷ đối chứng. Liêng ban không xa xin cố gắng hơn.
2.Xu tịch giáo: Tức giáo nhị thừa tịch diệt xu hướng Niết-bàn, trang nghiêm cõi nước, lợi tha, bất sinh hỷ lạc, đó là giáo pháp của Tiểu thừa và Tịnh độ Đại thừa. Nay nói phần nhiếp, vì kinh Vô Lượng Thọ và Quán kinh đều có Tu-đà-hoàn, cho đến khi đắc quả La-hán. Người xưa nói: Tiểu thừa bất sinh, y cứ quyết định tánh bất sinh, trong đây nói về sinh, vì trong đây trước phát tâm Đại thừa và ươm thành hạt giống. Thoái tâm hạ địa, phải từ sắp lâm chung bỏ tiểu hướng về đại mà vãng sinh.
Hỏi: Đã hồi tâm hướng đại, vì sao đến đây vẫn chứng tiểu quả?
Giải thích: Vì thoái Đại đã lâu, công phu tu tập Tiểu thừa sâu dầy, cho nên Phật ấy theo thói quen chúng sinh mà nói Tiểu thừa và khiến cho chứng quả. Lại việc chứng tiểu quả này, không giữ tiểu vị mà trụ, lại khởi phát đại tâm, tiến tới càng nhanh, hoặc năm kiếp hoặc mười kiếp được thành Sơ địa, tầng bậc như thế do đó thù thắng, cho nên
không giống nhau. Lại nói trong kinh cũng có Tần-bà chứng quả A-na- hàm, nhưng chẳng phải là căn cơ mà giáo này bao trùm, nay chính là vì Vi-đề-hy… mà giảng nói Tịnh độ quán, vẫn chẳng phải Thông Biệt, chẳng lẽ là Tiểu thừa. Như Phật Thích-ca ra đời, cũng có Thánh văn rốt ráo Đại thừa, đó chính là xe dê, xe nai… chẳng phải xe thực.
3.Hữu dư giáo: Rõ chân lý hai không, tu tập muôn hạnh, hướng về quả Phật Đại Thừa, nhưng không chấp nhận Xiển-đề và Nhị thừa thành Phật, vì Xiển-đề là vô tánh, Nhị thừa là định tánh, chắc chắn không thể thành Phật, không cùng tận chân lý Đại thừa, nên gọi là hữu dư. Kinh này nói trừ hạng người phạm tội ngũ nghịch không được vãng sinh. Lại nói hàng Nhị thừa không được vãng sinh, giáo nghĩa dường như đồng, Nhị thừa ở trên đã giải thích rồi. Nói người phạm tội ngũ nghịch không được vãnh sinh là vì họ phỉ báng Phật pháp nên không có tín tâm, chẳng phải là vô tánh, chắc chắn không thể thành Phật. Cho nên trong Quán kinh nói chúng sinh phá giới khi sắp qua đời những hình ảnh ghê sợ hiện ra, nghe khen ngợi công Đức Phật nên lửa dữ địa ngục hóa thành gió mát. Cho đến người phạm tội ngũ nghịch, thập ác mà niệm đủ mười niệm thì hoa sen vàng lớn như vầng mặt trăng, trong khoảng sát-na đều được vãng sinh, đó là công đức không thể suy nghĩ bàn luận của tự tánh nhờ năng lực không thể suy nghĩ bàn luận của Phật được biểu hiện. Cho nên nếu không có Phật tánh thì như đá trai cặn đục, đâu thể thấu đến mặt trăng. Nên biết niệm có công năng hiển bày Phật tánh, vãng sinh như thế là thuộc về tánh lực, như mặt trời có công năng hiển bày hư không, hư không chẳng phải do mặt trời mà được biểu hiện. Cho nên tất cả chúng sinh đều sẽ thành Phật, vì vậy không đồng thỉ giáo, là giáo hữu dư.
4.Vô dư giáo: Tất cả chúng sinh đều bình đẳng một tánh, đều sẽ thành Phật, đó là giáo phái cao tột của Đại thừa. Chỉ có một tự tâm làm giáo thể, nên gọi là vô dư. Pháp môn Tịnh độ này nương vào các pháp tánh, nguyện…, cuối cùng đều trở về nhất tâm, cho nên trong kinh nói nhất tâm bất loạn liền được vãng sinh. Lại trong Đại bản nói ba bậc vãng sinh về cõi kia đều là những vị đã phát tâm vô thượng Bồ-đề, tâm Bồ-đề tức là Phật tánh. Kinh Hoa Nghiêm chép: “Tâm Bồ-đề giống như hạt giống, có công năng sinh ra tất cả các Phật pháp, giống như thửa ruộng tốt, có công năng làm cho pháp bạch tịnh của chúng sinh mọc lên. Giống như mặt đất có công năng nâng đỡ tất cả thế gian. Giống như nước sạch có công năng rửa sạch tất cả cấu uế phiền não. Giống như gió mạnh thổi khắp thế gian không hề chướng ngại. Giống như lửa dữ, có
công năng đốt cháy tất cả các thứ củi kiến chấp, có nói rộng trong kinh ấy. Nên biết tâm Bồ-đề là thuốc bổ trong siêu sắc thuốc, niệm Phật là mạch dẫn thuốc. Kinh Hoa Nghiêm chủ trương lúc mới phát tâm liền thành Thánh giáo, tức là nghĩa này. Năm địa vị gia hạnh của Bồ-tát cũng chỉ là mạch dẫn trong thuốc mà thôi. Vô lượng diệu hạnh đâu có gì ngoài Tam-muội Nhất hạnh.
5.Đốn ngộ giáo: Luận Trưởng giả chép: Chỉ cần một niệm không sinh thì gọi là Phật, không nói theo địa vị thứ lớp, nên lập thành Đốn giáo. Như kinh Tư Ích chép: Người được chánh tánh của các pháp, không từ một địa đến một địa. Kinh Lăng-già chép: Thập địa là sơ địa, sơ địa là bát địa, cho đến không hề có thứ lớp gì. Nên biết Đốn tức là nghĩa không trải qua thứ lớp. Thiên Thai Quán kinh sớ chép: Đốn ngộ như tiệm nhập, đó tức là Đốn giáo. Chính là phu nhân Vi-đề-hy và các thị nữ đều là phẩm phu, chưa chứng tiểu quả, cho nên biết là Đốn, không từ Tiệm mà vào. Sớ sao chép: Đốn trong kinh này thuộc về hóa pháp, lấy Viên làm Đốn, vì sao? Vì giác vị vô sinh nhẫn, Biệt giáo thì ở sơ địa, Viên giáo thì ở sơ trụ. Phẩm phu của Biệt giáo trải qua vô số kiếp mới đến giai vị này, chỉ có Viên giáo ngay đời này có thể nhập vào. Ở đây y cứ vào bà Vi-đề-hy ngay thân này được nhẫn, thuộc về Đốn, là Viên đốn. Kinh khác nói thọ giới Bồ-tát, các đời nối nhau, giới hạnh không thiếu, trải qua một kiếp, hai kiếp, ba kiếp mới đến sơ phát tâm trụ. Cứ như thế tu hành vô lượng hành nguyện như mười Ba-la-mật… nối nhau không đứt quãng, đủ một muôn kiếp, đến Chánh tánh trụ thứ sáu, từ đây tu hành tiến lên mới đến bất thoái trụ thứ bảy. Nay trong kinh này, người phạm tội ngũ nghịch mười đường ác, trì danh liền vãng sinh, đều không còn lui sụt, chính là hợp với nghĩa Đốn. Như những lời “Tâm này làm Phật, tâm này là Phật”… trong Quán kinh đều chỉ thẳng Tâm tông, không còn quanh co. Lại như một câu Di-đà, phải quấy đều dứt bỏ thì có gì để vướng mắc, cho nên người xưa gọi nó là công án đầu tiên. Trong đáy chảo nước sôi đâu có thể còn cục băng, trong đống lửa dữ đâu còn dư một ngọn cỏ. Dù Đạt-ma có sống lại cũng không dời đổi được lời tôi, nếu còn do dự sẽ luống qua muôn dặm ngàn năm.
6.Viên cực giáo: Cho nên trong Từ Ân Thông Tán chép: Các bậc tiên đức Trung Quốc đều xếp kinh luận vào bốn tông: Tông Lập tánh, tông Phá tánh, tông Phá tướng và tông Hiển thật. Kinh Niết-bàn, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm... hiển bày nghĩa Trung đạo chân thật, bỏ hóa thành trở về bảo sở, cho nên biết kinh Di-đà thuộc về tông thứ bốn. Lại y cứ vào giáo để chuẩn định tông thì có tám tông: tông Ngã pháp câu hữu,
tông Hữu pháp vô ngã, tông Pháp vô khứ lai, tông Hiện thông giả thật, tông Tục vọng chân thật, tông Chư pháp đản danh, tông Thắng nghĩa giai không và tông Ứng lý viên thật. Như kinh Hoa Nghiêm và kinh Di- đà thuộc về tông thứ tám. Lại như Thiền sư Chân Hiết Thánh Liễu... y cứ vào ngàn hạt châu trên mành lưới của trời Đế Thích để phát minh ý nghĩa viên dung của Tịnh độ, các sách đều có ghi chép. Gần đây có vị lão túc phối hợp Hoa Nghiêm với kinh này, cho rằng Viên giáo hoàn toàn được thâu nhiếp trong kinh này, phần này thuộc về Viên giáo, được một phần ít Viên giáo, phần thuộc Viên giáo. Y cứ vào sự phán nghĩa của kinh thì có chỉ thú rất sâu, chỉ có nghĩa viên mãn cùng cực, không hoàn toàn vô phần, như mặt trăng in bóng xuống dòng sông thì các dòng sông đều có mặt trăng, cho đến bình hư, ao, hồ, một tấc nước cũng đều có mặt trăng không thiếu sót. Như gió thổi trên cây, cây nào cũng đều có gió một chiếc lá, một cọng cỏ cũng đều có gió, không thiếu sót. Nếu trong Viên có phần thì Viên có đoạn, nếu trong phần chẳng có toàn thì Viên tức không khắp, phần và toàn đều trái nhau thì nghĩa Viên không thành. Ở đây y cứ vào lý Viên cực của Liên tông mà chia ra làm năm nghĩa: Nghĩa Sát hải tương hàm (các cõi nước dung chứa lẫn nhau), nghĩa Tam thế nhất thời (ba đời cùng một lúc), nghĩa Vô tình tác Phật (vô tình thành Phật), nghĩa Y chánh vô ngại (y báo, chánh báo vô ngại), nghĩa Sung biến bất động (trùm khắp bất động).
-Nghĩa Sát hải tương hàm: Cõi nước báo thân, hóa thân của tất cả chư Phật nhiếp nhập lẫn nhau, toàn kia là toàn đây, không hề ngăn ngại. Nếu chấp không nhiếp nhập thì đó là tình kiến, tình kiến chẳng phải thật, như trong một ngôi nhà hàm chứa một hư không. Trong đó, hoặc người, hoặc súc sinh, hoặc quỷ, hoặc côn trùng, hoặc ghế, hoặc bình, hoặc giá máng áo đều nương hư không mà kiến lập, khi hư không thuộc về người thì hư không mà các quỷ, súc sinh, côn trùng, ghế, bình, giá máng áo nương tựa tất cả đều thuộc về người. Khi hư không thuộc về quỷ thì hư không mà người, súc sinh, côn trùng, ghế, bình, giá máng áo nương tựa tất cả thuộc về quỷ. Khi hư không thuộc về côn trùng thì hư không mà người, quỷ, súc sinh, ghế, bình nương tựa tất cả đều thuộc về côn trùng, khi hư không thuộc về giá máng áo thì hư không mà người, quỷ, súc sinh, ghế, bình nương tựa đều thuộc về giá máng áo. Xen nhau mà không lẫn lộn, lìa nhau mà không cách, chẳng phải nhập chẳng phải không nhập, cho nên kinh chép: Cõi nước tươi sáng thanh tịnh, trùm khắp không gì bằng, soi suốt vô lượng vô số không thể suy nghĩ, bàn luận thế giới. Như trong gương sáng hiện các hình ảnh, nên biết cõi tịnh
cõi uế ánh sáng đan xen, nhiếp nhập lẫn nhau, như đốt ngàn ngọn đèn trong một ngôi nhà.
-Nghĩa tam thế nhất thời: chúng sinh tình kiến chấp có thời phân, những việc ở quá khứ, hiện tại, vị lai... y cứ vào Thật tướng thì thể tánh của thời gian là không có thật. Vì sao? Vì nếu chấp sáng tối là thời gian thì sáng tối là nghiệp tướng, như người bệnh mắt thấy có hoa đốm, chẳng phải tướng nhất định. Nếu chấp già trẻ là thời gian thì già trẻ là huyễn chất, như gió thổi vào mành lưới rách nát, chẳng có hình chất nhất định, cho nên nói trong ấy làm gì có nghĩa thật. Ở đây y cứ vào hai nghĩa kéo dài và rút ngắn nhiếp nhập vào nhau để nói về thể của thời gian, một là, trong sự rút ngắn có kéo dài; hai là, trong sự kéo dài có rút ngắn. Một là, trong sự rút ngắn có kéo dài: Như người nhờ nằm ngủ mà mộng thấy đi qua các thành ấp, xóm làng và thấy người xưa, buồn khóc và tươi cười rõ ràng. Trải qua thời gian một tháng, tỉnh dậy bèn hỏi người mình ngủ mê trong bao lâu, người hầu đáp rằng trải qua thời gian mấy ngàn quan tiền. Người ấy tự nghĩ mình ngủ không bao lâu sao lại trải qua sự biến đổi như thế? Ghi nhớ rõ ràng, chẳng bệnh chẳng say, lần lượt nhớ lại việc ấy, rốt cuộc thấy không thật có. Hai là, trong sự kéo dài có sự rút ngắn: Như người hai mươi tuổi bỗng bị bệnh điên, nuốt dao, bốc lửa, hoặc nói chuyện vị lai cho người nghe, hoặc vui cười như thường với vợ con và sinh con trai con gái, hoặc bỗng nhiên giỏi về văn, biên soạn các sách vở, suốt ba mươi năm như vậy, tình cờ được một người lạ chú nguyện vào nước cho uống, người ấy như ngủ chợt thức giấc, cho rằng lúc hai mươi tuổi như việc mới hôm qua. Người trong nhà bấm ngón tay tính số năm, sinh ra con cái và biên soạn các sách, người ấy tự nghĩ vốn không có năm thì làm gì có việc ấy, cũng không còn nhớ bệnh hay không bệnh. Y cứ vào hai thí dụ này đắp đổi quán sát, rốt ráo không thật có ba đời, cho nên kinh chép: Quán thời gian lâu xa kia như hiện tại hôm nay, trong thời gian khoảnh khắc mà lần lượt kính thờ các Đức Phật, khắp các thế giới mười phương, đó là ba đời không có khoảng cách. Ba đời không có khoảng cách vì thế thể của thời gian không thật có.
-Nghĩa Vô tình tác Phật: Trong quyền giáo nói có tình có Phật tánh, vô tình không Phật tánh, tất cả cỏ cây khí thế giới không thể thành đạo và quay bánh xe pháp, đây là tình chấp gượng chấp, thuộc ý tức có, ngay thuộc vật tức không, chẳng rõ các pháp đều an trụ vào pháp vị của nó. Vì sao? Vì ý là sắc, là không căn, là từ xưa đến nay, là vô tình, vì một vô tất cả vô, vì xanh vàng là ý, vì gió thổi hang trống có tiếng
là ý, vì cỏ cây ngói gạch là ý, vì là hữu tình, vì một hữu tất cả hữu, cho nên biết tình chính là tình, vừa có thể nói tự, vừa có thể nói vật, không nên nói rằng ai vô ai hữu, như đôi vợ chồng sinh ra một đứa con, không nên nói rằng ai sinh, ai không sinh. Tóc, lông, móng, răng cũng là vô tình, cùng với ta đều là Phật hay cùng với ta đều không phải Phật. Trong mộng thấy núi, thấy sông, thấy cây thấy đá cũng là vô tình, là thuộc về tình tưởng hay chẳng thuộc tình tưởng? Nên biết trong đây còn không có ngã hay chẳng phải ngã, vì sao chấp có tình hay vô tình? Cho nên trong kinh nói cây báu đạo tràng có công năng làm thanh tịnh các căn, gió thổi qua cây, nước chảy thành tiếng đều giảng nói pháp mầu, không một vật nào chẳng phải thân Phật, không một vật nào chẳng quay bánh xe pháp, chẳng lẽ tình kiến hiểu sai mà chấp kể được hay sao?
-Nghĩa Y chánh vô ngại: Y là khí giới, chánh là thân căn, nếu y cứ vào phẩm tình tức là chấp một cách ngang xương có y có chánh, nghĩa này chẳng thật, vì sao? Nếu nói hư không là y báo, như người há miệng thì hư không vào, cho đến lỗ chân lông, khớp xương, trong bụng cũng đều có hư không, vậy thuộc về y báo hay thuộc về chánh báo? Nếu nói đất nước gió lửa là y báo, như người khạc nhổ vào ống là nước, tóc cháy thành đất, hai tay xoa vào nhau thành lửa, hà hơi là gió, như vậy thuộc về y báo hay chánh báo. Cho nên trong kinh nói vô lượng hoa báu, trong mỗi hoa phát ra ba mươi sáu ức na-do-tha trăm ngàn ánh sáng, trong mỗi ánh sáng phát ra ba mươi sáu ức na-do-tha trăm ngàn Đức Phật, các Ngài giảng nói tất cả pháp cho chúng sinh trong mười phương nghe. Nhờ năng lực Phật nên hiện ra hoa báu, vì là hoa báu nên lại hiện ra chư Phật. Cho nên biết rằng toàn thể một cõi đều là thân Phật, tất cả các cõi đều như thế. Không một thân nào chẳng phải cõi Phật, tất cả các thân đều như thế. Chẳng phải do thần lực Phật biến hiện, mà chỉ là Nhất chân pháp giới, vì trí là y chánh.
-Nghĩa Sung biến bất động: Chúng sinh vọng chấp thân Phật có đến đi mà thật ra thân Phật không đến không đi, cũng chẳng không đến không đi. Ví như chim bay trong hư không một ngày cả ngàn dặm, hư không chẳng theo chim, chim không lìa hư không, cho nên kinh phép: Phật A-di-đà thường ở phương Tây, lại nói đến chỗ tất cả hành nhân. Như trong kinh Niết-bàn, Phật dạy: Này người thiện nam, trong thành Ba-la-nại có vị Ưu-bà-di đã gieo trồng thiện căn với Phật Vô Lượng Quang ở thời quá khứ. Vị Ưu-bà-di này trong chín mươi ngày mùa hạ xin cúng dường thuốc thang cho chúng Tăng. Bấy giờ, trong chúng có một vị Tỳ-kheo bị bệnh nặng, thầy thuốc xem bệnh bảo phải dùng thịt,
nếu không có thịt thì bệnh sẽ không hết.
Bấy giờ, vị Ưu-bà-di tự cầm dao lóc thịt ở bắp đùi mình trao cho vị Tỳ-kheo bệnh, Tỳ-kheo ăn xong liền hết bệnh. Vị Ưu-bà-di này bị vết thương làm đau đớn không thể chịu nổi, liền thốt lên rằng: Nam-mô Phật-đà, Nam-mô Phật-đà. Lúc ấy, ta ở thành Xá-vệ nghe âm thánh ấy liền khởi tâm đại Từ đối với cô gái ấy, cô gái này liền thấy ta dùng thuốc hay bôi lên vết thương, vết thương liền lành lặn như lúc đầu. Ta liền nói pháp bằng mọi cách cho nghe. Cô gái nghe pháp vui mừng, phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Này người thiện nam, lúc bấy giờ, ta thật không đến thành Ba-la- nại cầm thuốc bôi vào vết thương vị Ưu-bà-di, nên biết đều là do năng lực của thiện căn từ bi khiến cho cô gái ấy thấy sự việc như thế.
Lại nữa, người thiện nam, Điều-đạt là người ác, tham không biết đủ, vì thường uống bơ nên bị nhức đầu sình bụng, chịu khổ não dữ dội, bèn niệm rằng: Nam-mô Phật-đà, Nam-mô Phật-đà. Bấy giờ, ta trụ trong thành Ưu-thiền-ni, nghe âm thánh ấy liền sinh tâm từ, khi ấy Điều-đạt liền thấy ta đến chỗ ông ấy đưa tay xoa, trao cho nước muối bảo uống, Điều-đạt uống vào liền bình phục. Này người thiện nam, Ta thật không đến chỗ Điều-đạt, xoa đầu xoa bụng, trao cho nước nóng bảo uống, nên biết đều là do năng lực của thiện căn từ bi khiến cho Điều- đạt thấy sự việc như thế.
Lại nữa, này người thiện nam, nước Kiều-tát-la có bọn cướp đông đến năm trăm tên. Vua Ba-tư-nặc sai quân đi bắt, sau khi bị bắt các tên cướp bị móc mắt và bỏ trong khu rừng tối tăm, chịu khổ não dữ dội, mỗi người đều xưng rằng Nam-mô Phật-đà, Nam-mô Phật-đà, kêu gào than khóc. Bấy giờ, ta trụ trong tinh xá Kỳ-hoàn, nghe âm thánh ấy liền sinh tâm từ, lúc ấy có ngọn gió mát thổi các thứ thuốc thơm trong hương sơn vào đầy mắt của các tên cướp mù, họ liền được bình phục như trước không khác. Các tên cướp được sáng mắt liền thấy Đức Như Lai đứng trước mặt nói pháp cho nghe, nghe pháp xong các tên cướp liền phát tâm Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Này các thiện nam, bấy giờ ta thật không có làm gió thổi các thứ thuốc thơm trong núi Hương Sơn, không đứng trước mặt bọn người ấy nói pháp cho nghe. Nên biết đều là do năng lực của thiện căn Từ bi khiến bọn cướp ấy thấy những việc như thế.
Các sự việc trên đây đâu thể nào suy nghĩ bàn luận, nói chung đều là Nhất chân pháp giới, không được nói là do tự tâm cảm thấy, cũng không được nói tâm và Phật hoà hợp, vì trong Phật địa lìa tự, lìa tha,