Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 172, Bộ Chư Tông XII, Số 1970- 1985

Đại Tập 172, Bộ Chư Tông XII, Số 1970- 1985

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 932.

Chương 80: Số 1976- Tây Phương Hợp Luận, Thứ 7: Vãng Sinh Môn (Trang 530 - 535)

sinh nhỏ này không hay không biết. Như người đánh nhạc của trời Đế Thích chạy trốn vào lỗ mũi của một cô gái nhỏ, tìm khắp không được, nhưng cô gái này không hay không biết. Đó là xứng đạo hạnh.
5.Bồ-tát muốn trụ lại lâu dài ở thế gian, liền kéo dài một niệm thành vô lượng, vô số trăm ngàn ức na-do-tha kiếp. Nếu muốn trụ lại thế gian trong thời gian ngắn thì rút ngắn vô lượng vô số trăm ngàn ức na-do-tha kiếp thành một niệm, như đứa bé xem ngựa chạy trong chiếc đèn kéo quân, chấp là nhiều ít, đầu đuôi hoàn toàn không thật có, đó là xứng pháp hạnh.
Cho nên nếu chứng được hạnh không thể suy nghĩ, bàn luận như thế thì trong một niệm Tịnh độ của chư Phật ba đời đều thuộc về vô dư, đó gọi là hạnh trang nghiêm Tịnh độ của Bồ-tát, vì không có suy nghĩ trí chiếu để thấy, tình lượng chẳng thể so lường. Vì sao? Vì tự tánh vượt ngoài tất cả lượng.
 
THỨ 7: VÃNG SINH MÔN
Rốt ráo được Niết-bàn, chỉ trừ Như Lai. Nhị thừa phá hữu chấp không, giả gọi là vắng lặng. Bồ-tát phát chân vô lậu, phần phá vô minh. Huống chi là căn thấp hiểu cạn như một giọt nước so với biển cả, buông lung vui chơi, cho việc tu hành là ràng buộc, tự giết mình và giết người khác, chẳng khác nào liều độc dược. Như thời Phật tại thế, có một Tỳ- kheo đạt được tứ thiền, sinh tâm tăng thượng mạn. Cho rằng đã đắc quả A-la-hán, không cầu tiến nữa. Đến lúc sắp qua đời, thấy có tướng trung ấm tứ thiền hiện ra, bèn sinh tà kiến, nói rằng không có Niết-bàn, rằng Đức Phật lừa dối mình. Vì sinh tà kiến, nên mất trung ấm tứ thiền, bèn hiện tướng trung ấm trong địa ngục A-tỳ, khi qua đời thì đọa vào địa ngục A-tỳ. Trường hợp này vẫn là ngồi thiền giữ giới, vì một niệm vọng chứng, nên bị đắm chìm trong ngục tối. Nay người tu Thiền chỉ đạt một ít thành tựu đã cho là đủ, đến khi lệch lạc tâm tưởng xa rời quỹ đạo của cái thiện, bị ác báo lại không biết vì sao? Người xưa nói: Không sinh Tịnh độ thì còn độ nào để sinh? Đường tam-kỳ xa xôi, người nhập vào pháp môn khác phần nhiều lui sụt, vì thế trong dòng Thánh xưa nay đều chủ trương pháp môn Tịnh độ. Nay lược giải sáu trường hợp để làm chỉ nam.
-Bồ-tát sinh làm người.
-Bồ-tát sinh lên trời Đâu-suất.
-Bồ-tát sinh lên trời Trường thọ.
-Bồ-tát sinh giới ngoại.

-Bồ-tát khi mới phát tâm, sinh vào nhà Như Lai.
-Bồ-tát công hạnh trong ba A-tăng-kỳ viên mãn, sinh vào các thế giới trong mười phương làm lợi ích tất cả chúng sinh.
1.Bồ-tát sinh làm người.

Như kinh Bát-nhã chép: Có Bồ-tát qua đời trong cõi người lại được sinh làm người, trừ A-bệ-bạt trí, Bồ-tát này là độn căn, không thể nhanh chóng tương ứng với Bát-nhã ba-la-mật. Các Đà-la-ni môn, Tam- muội môn không thể nhanh chóng hiện tiền. Sống trong nhà lửa cõi người, có hàng trăm nỗi khổ trói buộc, chỉ có Đại Bồ-tát sống trong đó mới không bị đắm nhiễm hệ lụy, như con thiên nga xuống nước, không bị nước làm ướt. Nếu các tiểu Bồ-tát, không trồng sâu thiện căn thì tiến một bước nhưng lùi cả chục bước, làm sao mà đạt được các Tam-muội. Như Xá-lợi-phất trong một ngàn lẻ sáu mươi kiếp hành đạo Bồ-tát, khi muốn qua sông bố thí, thì có người khất thực đến xin đôi mắt của Ngài, Xá-lợi-phất cho người ấy một con mắt. Người ấy được con mắt, cầm lên mũi ngửi rồi vứt bỏ ngay trước mặt Xá-lợi-phất, lại dùng chân dẫm đạp. Xá-lợi-phất nghĩ rằng, loại người như vậy khó mà độ được, chẳng bằng tự điều phục, sớm thoát khỏi sinh tử. Nghĩ đoạn, Ngài bèn lui sụt đạo Bồ-tát trở về Tiểu thừa. Lại như vị tiên bay đi trên hư không, bị phu nhân của vua chạm tay nên thần thông liền mất, dùng thuốc hoan hỷ để thông dâm. Hiền Thánh còn như thế, huống chi là mới phát tâm. Đâu bằng nhất niệm Di-đà, Tam-muội mau hiện, gá chất Liên bang, lìa hẳn tham dục.
Luận chép: Bồ-tát vì không thấy Phật hiện tại, nên tâm độn, vì thế nên biết rằng Bồ-tát phải thường gần Phật, vì gần gũi Phật thì tánh bén nhạy, chóng được Bát-nhã.

2.Bồ-tát sinh lên tầng trời Đâu-suất: Vì Bồ-tát Nhất sinh bổ xứ, đều sinh Đâu-suất. Muốn theo Bồ-tát hạ sinh, cũng sinh ở đó. Luận Thập Nghi chép: “Tầng trời Đâu-suất thuộc về cõi dục, nhiều người lui sụt. Lại có người nữ, làm cho các vị trời thêm lớn ái dục, thiên nữ xinh đẹp, chư Thiên ham chơi, tự không thể lìa bỏ được. Chẳng bằng Tịnh độ A-di-đà, thuần nhất Đại thừa, bạn lành thanh tịnh, phiền não ác nghiệp đều không sinh khởi, tu đến địa vị vô sinh. Như Bồ-tát Sư Tử Giác sinh ở tầng trời đó, vì hưởng thụ thú vui cõi trời, từ khi sinh đến giờ chưa được thấy Đức Di-lặc, các tiểu Bồ-tát còn đắm ngũ dục, huống chi kẻ phẩm phu? Lại kinh Di-lặc Thượng Sinh, nhập được chánh định thì mới được sinh, lại không có nghĩa phương tiện dắt dẫn, cho nên nội viện Đâu-suất còn không cầu sinh, huống gì các tầng trời cõi Dục là rừng diệu dục.
3.Bồ-tát sinh lên trời Trường thọ.
Luận Trí Độ chép: Bồ-tát không có phương tiện nhập Sơ thiền, cho đến thực hành Lục Ba-la-mật cũng không có phương tiện. Khi nhập Sơ thiền, không nghĩ nhớ chúng sinh, lúc nhập thiền lúc xuất thiền, không nghĩ nhớ chúng sinh chỉ đắm vị thiền, không thể hòa hợp với sơ thiền thực hành Bát-nhã ba-la-mật, là vì Bồ-tát tâm Từ bi yếu kém. Công đức mỏng manh, quả báo sơ thiền lôi kéo, sinh lên tầng trời Trường thọ. Tầng trời Trường thọ, không phải là nơi Hữu tưởng, không phải là nơi Vô tưởng, thọ tám muôn đại kiếp, hoặc có người nói rằng tất cả vô sắc định, đều có tên gọi chung là Trường thọ thiên, vì vô hình nên không thể giáo hóa. Chưa được đắc đạo, thường là phẩm phu xứ, có chỗ nói rằng “Vô tưởng thiên”, gọi là Trường thọ, cũng chưa đắc đạo. Hoặc nói từ sơ thiền đến đệ tứ thiền, trừ tầng trời Tịnh cư, đều gọi là Trường thọ, vì chấp vị tà kiến, nên thiện tâm khó sinh, như trong kinh nói: Phật hỏi Tỳ-kheo, đất dính trên móng tay là nhiều hay đất của đại địa là nhiều. Các Tỳ-kheo trả lời: Đất của đại địa là nhiều, không thể ví dụ. Phật nói: người qua đời trên cõi trời lại sinh xuống làm người ít như đầu móng tay, còn người bị đọa xuống địa ngục nhiều như đất trên đại địa. Vì sao? Vì vốn phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hoặc trong Thiền nhóm họp các phước đức, mới được sinh lại cõi người, được nghe Phật pháp. Nếu là người đầu tiên phát tâm cầu sinh Tịnh độ thì sẽ thường được nghe pháp, cho đến không còn lui sụt. đâu có các lỗi như thế ư?
4.Bồ-tát sinh ngoài ba cõi.
Gồm hai loại:
1.Nhị thừa, ba loại Bồ-tát; chiết phục hiện hành phiền não, bỏ phần đoạn mà sinh giới ngoại, bi trí thấp kém, đối với việc trang ng- hiêm Tịnh độ, lợi tha không sinh hoan hỷ bị Như Lai quở trách. Nếu không hồi tâm thực hành Lục độ, thì rốt cuộc sẽ không vào được biển trí Đại thừa.
2.Bồ-tát pháp thân, như kinh Bát-nhã, Phật bảo Xá-lợi-phất rằng: Có Bồ-tát Ma-ha-tát chứng được sáu thần thông, không sinh cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc, từ một cõi Phật đến một cõi Phật, cúng dường cung kính tôn trọng khen ngợi chư Phật. Này Xá-lợi-phất có Bồ-tát Ma-ha- tát du hý thần thông, từ cõi Phật này sang cõi Phật khác, những nơi đến đều không có Thánh văn, Bích-chi cho đến không có danh từ Nhị thừa. Này Xá-lợi-phất, có nơi mà Bồ-tát Ma-ha-tát đến, ở đấy có tuổi thọ vô lượng. Giải thích rằng: Bồ-tát có hai loại: Một là Bồ-tát sinh thân, hai là Bồ-tát pháp thân. Bồ-tát Pháp thân dứt bỏ kết sử, được sáu thần thông.
Bồ-tát sinh thân không dứt bỏ kết sử, hoặc lìa dục, được năm thứ thần thông. Người được sáu thần thông không sinh vào ba cõi, những thế giới nào họ đến đều là nhất thừa thanh tịnh, thọ vô lượng A-tăng-kỳ kiếp, Bồ-tát sinh về cõi ấy là do ưa thích chứa nhóm công đức của chư Phật. Nên biết Bồ-tát có sáu thần thông mới được sinh về đó, đó là việc rất ít có. Kẻ phẩm phu vãng sinh là nhờ Phật lực, lại vì niệm lực là bất khả tư nghì, trong mỗi niệm đều có sáu thần thông.
5.Bồ-tát lúc mới phát tâm sinh vào nhà Như Lai:
Đó là người có thượng thượng căn chóng nêu bày bản trí, sơ tâm khởi phát, trên giai vị Thập trụ, tức đồng với Phật. Như trong kinh Hoa Nghiêm, có một hạng Bồ-tát trải qua trăm ngàn ức na-do-tha kiếp, thực hành Lục Ba-la-mật, không sinh vào nhà Phật, vẫn là giả danh Bồ-tát, vì tuy thấy Phật tính nhưng chưa hiện bày trí nghiệp.
Luận Trưởng Giả Quyết Nghi chép: Sơ phát tâm trụ, nói về từ thiền định hiển đắc căn bản không trí tuệ môn, vô minh mới vừa hết, trí tuệ vừa sáng, bắt đầu sinh vào nhà trí tuệ của Như Lai, gọi là vào nơi Phật trụ. Cho nên được nhớ nghĩ pháp môn của tất cả chư Phật cảnh giới trí tuệ quang minh phổ môn. Nhờ đây mà thấy đạo, không có các kiến chấp xưa nay, giữa, bên... trải qua năm vị, rèn luyện thói quen, tăng trưởng Từ bi, gọi là tu đạo. Cho nên nói rằng mới phát tâm liền thành Chánh giác, mới có thể tu đạo. Như Thiện Tài đi về phương Nam tìm các bạn lành đều nói rằng: Ta đã phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Sao nói là học đạo Bồ-tát, tu Bồ-tát hạnh, mà không nói là tăng trưởng Phật đạo? Vì trí căn bản do định mà hiển đắc, vô tác vô tu, chỉ học hạnh Bồ-tát, trí căn bản tự sáng tự bày. Nếu không được thể Chánh giác thì các hạnh đều là vô thường, nghiệp báo sinh tử của trời người. Lại nói rằng trải qua đời này hể vừa phát tâm tương ứng thì được chính trí, đối với thân phần đoạn thì tâm quán hạnh thành, tu cả thiện nghiệp, đời sau nhập thân biến dịch, vì thân phần đoạn đời này là do tác nghiệp ở quá khứ, đời này dùng trí tu quán hành nghiệp, đời sau được thần thông biến hóa sinh. Như thập thiện nghiệp còn sinh lên cõi trời, đắc nghiệp báo thần thông như rồng đại lực quỷ còn do ác nghiệp vô minh mà có thần thông, huống gì đạo nhãn khai mở từ thiện căn lực, sử trí thần dụng, nhất sinh tác ý, mà đời sau không được đại dụng thần thông hay sao?
Tông kính lục chép: Người sơ tâm thành Phật chẳng gọi là không đầy đủ các công đức. Như kính nói đồng tử Phổ Trang Nghiêm một đời được huân tập nghe việc lành, hai đời thành tựu giải hạnh, ba đời được
vào biển quả, đồng một duyên khởi mà ba đời này chỉ trong một niệm như đi xa khởi đầu từ bước đầu tiên, nhưng đến từ bước đầu tiên này chẳng phải không từ bước sau, thấy rõ đồng tử này được vào biển quả đều do từ lâu đã trồng thiện căn.
Hỏi: Tu tập lâu mới được thì sao lại nói một niệm mà được? Đáp: Nói tu tập thiện căn đã lâu tức thuộc về Tam Thừa giáo, từ
Tam thừa nhập Nhất thừa tức là tu tập đầy đủ một niệm đầu tiên. Nên kinh nói: Khi sơ phát tâm bèn thành chánh giác. Ví như các con sông về biển, dù chỉ một giọt mới chảy vào biển thì vẫn gọi chung là biển lớn, không có đầu cuối. Dù nước trăm sông thật nhiều cũng không bằng một giọt chảy vào biển lớn, như tu tập nhiều kiếp trong Tam Thừa không bằng một niệm của Nhất thừa. Số thời kiếp ấy không nhất định, hoặc một niệm tức vô lượng kiếp, như thời xứ của mười huyền môn là vô ngại. Vả lại Đại thừa nói về một niệm thành Phật có hai: Một là tập hợp duyên để vào thật tánh vì không có ít nhiều nên rõ ràng một niệm thành Phật. Hai là, nhiều hạnh mới đủ, lấy niệm sau cùng gọi là một niệm thành Phật. Như người đi xa lấy bước sau cùng làm đích đến. Nếu Nhất thừa nói nhất niệm thành Phật thì cũng như Đại thừa lấy niệm sau chót thành Phật. Nếu vào Nhất thừa thì lấy sau cuôí làm đầu tiên, niệm đầu tiên tức là thành tựu. Vì sao? Vì nhân quả tương tức, đồng thời tương ưng. Nhưng một niệm thành tựu tức đồng địa với Phật, chưa được cứu cánh nên có sự sâu cạn khác nhau. Như người mới ra khỏi cửa và đã dạo lâu nơi vùng khác, tuy đồng trong khoảng không nhưng xa gần khác nhau. Do đó năm địa vị Thập tín, Thập trụ… đều gọi là thành Phật nhưng phân biệt sâu cạn, ở đây nên suy nghĩ kỹ. Như hai đại sĩ nói nên biết bậc ngộ đạt của Thiền môn không được bỏ tất cả hạnh làm tiêu hết kết tập từ vô thỉ. Sống trong đời trược ác này phẩm tiến được một bước thì lùi muôn bước, nếu không gần gũi Phật, phiền cấu tích tụ thì do đâu thành tựu. Như Thiện Tài khi sơ phát tâm ngộ đạo, Tỳ-kheo Đức Vân dạy pháp môn nhớ nghĩ tất cả chư Phật; sau khi vào lầu Di-lặc, Bồ-tát Phổ Hiền vì phát mười đại nguyện vương mà được sinh Cực lạc, đây đều là mẫu mực vào đạo của tất cả các Đức Như Lai. Kinh Hoa Nghiêm nói về môn Nhất chân pháp giới khác với các giáo pháp khác, có quyền có thật, nếu không tin kinh này thì chính Phật là Xiển-đề. Tuy được Thích-ca khen ngợi, Phổ Hiền khuyên răng, Di-lặc chứng minh thì cũng chỉ như vậy mà thôi.
6.Bồ-tát hạnh tu trong ba A-tăng-kỳ viên mãn.
Sinh vào các thế giới trong mười phương làm lợi ích tất cả chúng
sinh. Bồ-tát hạnh tu trong ba A-tăng-kỳ kiếp viên mãn, tự nhiên có nghiệp bất tư nghì, có khả năng hiện ở mười phương làm lợi ích chúng sinh.
Luận Khởi Tín chép: Chứng phát tâm Bồ-tát, trong một khoảnh khắc đến được các thế giới trong mười phương, cúng dường chư Phật, thỉnh xoay bánh xe pháp, mong được khai đạo lợi ích chúng sinh, không nương văn tự, hoặc thị hiện siêu vượt địa vị, mau thành Chánh giác, vì các chúng sinh yếu kém hoặc nói rằng ta được thành Phật đạo trong vô lượng A-tăng-kỳ kiếp, vì chúng sinh lười biếng mà gieo trồng cội gốc Bồ-tát, phát tâm bình đẳng, sở chứng cũng bình đẳng, không có pháp nào vượt qua, vì tất cả Bồ-tát đều phải trải qua ba A-tăng-kỳ kiếp. Như luận Trí độ chép: Đức Thích-ca Thế Tôn, từ Đức Phật Thích-ca đến Phật Thi Khí, ở quá khứ gọi là sơ A-tăng-kỳ, từ Phật Thi Khí đến Phật Nhiên Đăng thụ ký, gọi là nhị A-tăng-kỳ, từ Phật Nhiên Đăng đến Phật Tỳ-bà-thi gọi là tam A-tăng-kỳ. Luận Bà-sa nói rằng tam A-tăng-kỳ kiếp tu hạnh Lục độ, trăm kiếp gieo nhân tướng hảo sau đó mới được năm phần pháp thân. Duy thức cho là Địa tiền trải qua một tăng-kỳ, sơ địa mãn hai tăng-kỳ, từ Bát địa đến Đẳng giác, là ba A-tăng-kỳ, sau đó được pháp thân rốt ráo. Vấn nạn rằng: Trưởng giả hợp luận đều nói rằng không lìa một niệm trải qua A-tăng-kỳ, đâu được chấp nhiều kiếp cố định, trái với nghĩa đệ nhất? Đáp rằng: Trưởng giả chỉ nói: Tam-kỳ vốn không thời, thể không thật có, phải quấy vô thời, như mắt, mũi, tai, lưỡi, thân hiện tại của con người. Nói lục căn vốn không, chẳng phải là phế bỏ, nhưng lại nói rằng lục căn là không. Giống như trẻ con nhìn thấy ánh trăng dưới mặt nước, trong lòng rất thích nhưng lại không thể nào vớt lên được. Lời dạy của người trí tuệ là mắt có thể nhìn thấy được, nhưng không thể dùng tay mà bắt được (ánh trăng). Chư Phật, Bồ-tát ba đời hành nghiệp cũng thế, tuy tất cả đều không thật có, nhưng chẳng phải là vô hành. Lại như hai vị Đại Bồ-tát Long Thọ và Mã Minh đều là những vị Tổ truyền của phái Thiền tông, đâu chịu tự lừa mình dối người, làm hại cả thế hệ sau. Phải biết sinh tử là việc lớn, không phải biết nửa vời là có thể vượt qua được.
Luận Trí Độ chép: Có vị Bồ-tát lợi căn tâm rất vững chắc, khi chưa phát tâm đã nhóm họp vô lượng phúc đức trí tuệ lâu ngày, người này gặp Phật, nghe pháp Đại thừa, phát tâm A-nậu-đa-la tam-miệu-tam Bồ-đề, tức thời thực hành Lục Ba-la-mật, nhập Bồ-tát vị, được không còn lui sụt. Vì trước đó đã nhóm họp vô lượng phúc đức, lợi căn tâm vững, theo Phật nghe pháp, giống như đi xa mà được đi xe ngựa, xe dê,
/129
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »