Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 172, Bộ Chư Tông XII, Số 1970- 1985

Đại Tập 172, Bộ Chư Tông XII, Số 1970- 1985

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 932.

Chương 79: Số 1976- Tây Phương Hợp Luận, Thứ 6: Xứng Tánh Môn (Trang 525 - 529)

trượng thất của Ngài Tịnh Danh không thể suy nghĩ, bàn luận. Như cái bình nhỏ của Ưu-bà-di Cụ túc không thể suy nghĩ, bàn luận. Vì sao? Vì tất cả pháp đều không thể suy nghĩ, bàn luận. Cho nên nếu có một mảy đầu lông mà có thể suy nghĩ, bàn luận thì chẳng phải biển tánh pháp giới.
Như trên nói tâm, nói cảnh, nói có tướng, vô tướng đều là pháp có thể suy nghĩ, bàn luận, nếu nhập vào sự giải thoát không thể suy nghĩ, bàn luận này thì liền biết tất cả phân biệt niệm Phật đều là lý luận.
 
THỨ 6: XỨNG TÁNH MÔN
Tất cả Hiền Thánh đều xứng tầm mà thực hành, pháp tánh vô biên, biển hạnh vô lượng, cho nên hoặc  trong một sát-na mà thực hành viên mãn tam-kỳ, hoặc  Hằng hà sa kiếp mà không thành một niệm. Dấu chim bay trên hư không phân biệt rõ giới hạn cuả địa vị; gió thổi trong nắng ấm, nói lên ảnh tượng quá khứ, hiện tại; không chân mà chạy, Xá-a-di lấy gì để đến; không mau mà chóng, biết Tây phương chẳng xa. Thí như năm mầu, chí huyền thì mất, muôn dòng lấy biển làm cùng cực. Ở đây y cứ vào Đại thừa, các hạnh đều vào một hạnh, lược chỉ bày năm môn: Tín tâm hạnh, Chỉ quán hạnh, Lục độ hạnh, Bi nguyện hạnh và Xứng pháp hạnh. Về Tín tâm hạnh, kinh dạy: Tín là nguồn gốc của đạo, là mẹ sinh ra các công đức. Tất cả các hạnh đều lấy Tín làm chánh nhân, cho đến quả Bồ-đề viên mãn cũng chỉ là hoàn thành gốc Tín này. Như hạt giống rơi xuống đất, đợi đến khi thành quả, không khác với hạt giống ban đầu. Bồ-tát mới phát tâm đều nương vào Tín lực này mà được thành tựu, cho nên trong pháp môn Liên tông hoàn toàn nương vào Tín này làm cội gốc:
1.Tin Phật A-di-đà có trí bất động, trí căn bản không khác gì với ta. Như một bầu hư không, mặt trời chiếu thì sáng, mây giăng thì bị che, hư không vốn là vô, cho nên mây và mặt trời đều tức là hư không.
2.Tin Phật A-di-đà từ khi phát nguyện đến nay, trong na-do-tha kiếp, tất cả các sự việc tu tập khó thực hành, khó nhẫn chịu ta đều thực hành được. Vì sao? Vì ta tự nhớ trong vô thỉ kiếp chìm đắm trong ba đường, khổ sinh khổ tử, khổ mang lông đội sừng, khổ giường sắt cột đồng, tất cả khổ vô ích ta đều chịu đựng được, huống chi như ngày nay Bồ-tát có muôn hạnh cứu giúp việc chúng sinh, chẳng lẽ không làm được hay sao?
3.Tin Phật A-di-đà có vô lượng trí tuệ, vô lượng thần thông và thành tựu vô lượng nguyện lực… ta cũng sẽ được. Vì sao? Vì Như Lai có
phương tiện tự tánh, có những việc không thể suy nghĩ, bàn luận như thế, ta và Như Lai đồng nhất, vì tự thể là tánh thanh tịnh.
4.Tin Phật A-di-đà không đi không đến, ta cũng không đi không đến, Tây phương và cõi này không cách nhau dù khoảng các nhỏ như đầu sợi lông, muốn thầy thì thấy ngay. Vì sao? Vì tất cả chư Phật đều lấy pháp tánh làm thân và cõi.
5.Tin Phật A-di-đà tu hành trải qua nhiều kiếp, thẳng đến khi chứng quả, không dời một sát-na, nay ta cũng không dời một sát-na, địa vị ngang bằng với chư Phật. Vì sao? Vì thời phân là thuộc về nghiệp, trong biển pháp giới thì nghiệp không có thật. Cho nên Như Lai tín giải nghĩa là vào đạo sơ tâm, tin vào hạnh Tịnh độ của tất cả chư Phật.
Về chỉ quán hạnh, như các kinh Phương Đẳng, Viên Giác, Lăng- nghiêm, Hoa Nghiêm... các học giả xưa nay rộng lập ra quán môn chỉ có ba quán của tông Thiên Thai là thẳng tắt nhất, chỉ bày nơm bẫy của nhất tâm, nêu lên yếu lãnh của các pháp, đường tắt tu hành không gì vượt hơn pháp môn này. Tông chỉ của Tây phương tự có mười sáu chánh quán, nhưng trong mỗi pháp quán bao gồm đủ ba nghĩa này, cho nên tông Thiên Thai giải thích kinh đều dùng ba đế để thâu nhiếp mười sáu pháp quán kia. Diệu Tông sao chép: Thể của ba đức trong tánh là ba thân của chư Phật, tức là ba đức của ba thân này, là nhất tâm ba quán của ta. Nếu không như thế thì ngoài quán có Phật, cảnh không tức tâm thì làm sao gọi là pháp quán Viên tông tuyệt đãi? Cũng có thể lấy ba thân của Phật Di-đà để làm pháp thân, lấy ba quán của ta để làm Bát- nhã. Quán thành thì thấy Phật, tức giải thoát, nêu một mà đủ ba, như nghĩa Y mới. Quán Phật đã như thế thì quán các thứ y báo, chánh báo, lý chẳng phải khác đường, rộng như trong sớ sao, ở đây không thể nói hết. Còn như Thiền sư Ôn Lăng thuần dùng niệm Phật, một câu nhập vào pháp môn ba quán, lời nói và ý niệm đều nằm trong ba quán. Như một câu Phật liền rõ năng niệm này thể không, sở niệm vô tướng, tức niệm nằm trong không quán, Phật sở niệm tức là ứng thân, ngay nơi tâm dứt bỏ được kiến hoặc, tư hoặc. Tuy năng niệm thể là không, sở niệm vô tướng nhưng không ngại năng niệm rõ ràng, sở niệm hiển nhiên. Ý niệm nằm trong giả quán, Phật sở niệm tức là báo thân, ngay nơi tâm dứt được hoặc trần sa. Ngay khi năng niệm, sở niệm là không tức năng niệm, sở niệm hiển bày tức là năng niệm, sở niệm vắng lặng, không và giả giúp nhau tồn tại. Ý niệm nằm trong Trung quán, Phật sở niệm tức là pháp thân, ngay nơi tâm dứt bỏ được hoặc vô minh. Lại ngay nơi nhân niệm Phật là ba đế rốt ráo, thanh tịnh bốn cõi kia. Như giơ lên một hạt
bụi nhỏ, biến mặt đất thành vàng ròng, đó là quán môn không thể suy nghĩ bàn luận của pháp giới viên dung.
Về Lục độ hạnh, luận Khởi Tín chép: Bồ-tát từ khi mới phát tâm chánh tín cho đến nay, khi A-tăng-kỳ thứ nhất sắp viên mãn, đối với pháp chân như sự hiểu biết sâu sắc hiện tiền, sở tu lìa tướng, biết thế cuả pháp tánh xa lìa san tham, mà thuận theo tu hành Đàn ba-la-mật; vì pháp tánh vô nhiễm, xa lìa lỗi lầm cuả ngũ dục lạc, mà thuận theo tu hành Giới ba-la-mật; vì pháp tánh không có khổ, xa lìa sân não mà thuận theo tu hành Nhẫn ba-la-mật; vì pháp tánh không có tướng thân tâm, xa lìa biếng nhác mà thuận theo tu hành Tinh tấn ba-la-mật; vì pháp tánh thường định, thể không loạn động mà thuận theo tu hành Thiền ba-la-mật; vì thể của pháp tánh là sáng suốt, xa lìa vô minh mà thuận theo tu hành Bát-nhã ba-la-mật; vì luận Trí Độ chép: Bồ-tát quán tất cả pháp rốt ráo không, không sinh tâm san tham. Vì sao? Vì trong rốt ráo không chẳng có san tham, vì cội gốc san tham đã nhổ bỏ, cho đến Bát-nhã ba-la-mật rốt ráo không, thường không sinh tâm si mê. Vì sao? Vì Phật nói tất cả pháp không có bố thí, không có nhận lãnh, không có giới, không có phạm, cho đến không có trí, không có ngu. Lại nói: Bồ- tát tuy không thấy bố thí nhưng dùng thanh tịnh không tâm để bố thí, nghĩ rằng: Đây là bố thí không vô sở hữu, vì chúng sinh cần nên bố thí cho, như đứa trẻ cho đất là vàng bạc, còn trưởng giả thì không thấy là vàng bạc nên tùy ý mà cho, chứ rốt ráo không có cho. Năm pháp còn lại cũng giống như thế. Đó gọi là Bồ-tát thực hành Lục độ. Người tu Tịnh độ thì không có các danh tướng sai biệt như thế, nhưng cũng không vượt qua ngoài một hạnh. Nếu có sáu nghĩa này thì:
1.Xóa bỏ các tạp niệm, đó là thực hành bố thí. Lại ràng buộc vào Phật, không trụ trong niệm xả, đó là tánh thí.
2.Trong mỗi niệm đều thanh tịnh, đólà thực hành giữ giới. Lại ràng buộc vào Phật, không cầu niệm vắng lặng, đó là tánh giới.
3.Các niệm thế gian đều vắng lặng, đó là thực hành nhẫn nhục. Lại ràng buộc vào Phật, chẳng ghi nhớ niệm, đó gọi là tánh nhẫn.
4.Rốt ráo niệm không khởi, đó là thực hành tinh tấn. Cho nên một niệm chính là không đắm trước khổ hạnh, đó gọi là tánh tinh tấn.
5.Đắc niệm Tam-muội, đó gọi là thực hành định. Cho nên niệm niệm là Phật, không tham thiền vị, đó là đại định.
6.Rõ được nhân niệm Phật, ngay nơi niệm là Phật, đó là thực hành trí. Cho nên niệm vốn chẳng thật có, Phật vốn chẳng phải vô, không rơi vào đoạn thường, đó là Nhất thiết chủng trí. Vì thế pháp môn
niệm Phật có khả năng bao gồm các hạnh. Vì sao? Vì niệm Phật là pháp môn nhất tâm, ngoài tâm không có các hạnh, cố nhiên cũng không bỏ các hạnh, nếu bỏ các hạnh tức là bỏ tâm.
Về Bi nguyện hạnh, chư Phật, Bồ-tát có biển tánh vô tận, cúng dường vô tận, giới thí vô tận, cho đến nhiêu ích vô tận. Như Ngài Phổ Hiền phát ra mười nguyện lớn, thế gian hư không, thế giới chúng sinh không có lúc cùng tận, nguyện này của ta cũng không có cùng tận, Tam nghiệp thân, ngữ, ý không có mệt mỏi, gọi là nguyện vương. Tất cả chư Phật đều thành tựu nguyện vương như thế, chứng quả Niết-bàn, cho nên trong Tịnh độ ngũ niệm Phật, Bồ-tát Thiên Thân dùng hạnh lễ bái, khen ngợi làm nguyện để quán sát bốn thứ trước. Vì thành tựu nhập vào công đức môn, hồi hướng cho tất cả chúng sinh phiền não, nhổ gốc khổ thế gian. Vì thành tựu xuất công đức môn nên Bồ-tát tu năm niệm môn, mau được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vấn nạn rằng: Phật và chúng sinh vốn không thật có, như kinh Tịnh Danh nói Bồ-tát quán sát chúng sinh như âm vang của tiếng gọi, như chùm bọt nước, như sự chắc thật của cây chuối, như sự tồn tại lâu dài cuả tia chớp, như sắc của cõi Vô sắc, như mầm non đã bị đốt cháy, như Bồ-tát đắc nhẫn mà tham nhuế hủy hoại giới cấm, như tập khí phiền não của Phật, như đã thức giấc đối với những điều đã thấy trong giấc mộng. Bồ-tát quán sát chúng sinh là khổ, cho nên chúng sinh vốn không, Bồ-tát phát các thứ nguyện lợi sinh lẽ nào như mắt thấy hoa đốm trong hư không chăng? Đáp rằng: Trong Luận Trí Độ, Phật nói trong đây nói không có Phật là phá ý tưởng chấp Phật, chứ không nói về tướng chấp không có Phật, cho nên phải biết nói không có chúng sinh là phá ý tưởng chấp chúng sinh, chứ không nói về tướng chấp không có chúng sinh, như kinh Tịnh Danh chép: Bồ-tát thực hành quán này rồi, tự nói rằng: “Ta sẽ giảng nói pháp như thế cho chúng sinh nghe”, tức là lòng từ chân thật, tức là biết Bồ-tát không chấp tướng vô chúng sinh, chân thật lợi sinh, chân thật Bi nguyện, không có việc độ chúng sinh riêng.
Lại như kinh Bát-nhã, Bồ-tát vào sâu trong đại Bi, như người cha lành thấy con vì không có vật gì giá trị nên bị chết đi, người cha rất thương xót đứa con này chỉ vì luống dối cho nên chết. Chư Phật cũng giống như thế, biết các pháp không, rốt ráo không có thật, nhưng chúng sinh không biết, vì chúng sinh không biết nên đắm nhiễm pháp không, vì nhân duyên đắm nhiễm nên đọa vào đại địa ngục, vì thế Bồ-tát vào sâu trong đại Bi, chư Phật hưng khởi tâm từ bi chính là vì chúng sinh không, chúng sinh đi vào trong sinh tử một cách luống dối, đâu có lý lại
dứt Bi nguyện, cho nên Bồ-tát độ sinh bằng mọi cách, đó là thấu đạt sâu xa nghĩa không có chúng sinh. Vì sao? Vì nếu thấy có chúng sinh thì liền có ngã, tâm Từ bi yếu kém, đâu thể thực hành hạnh nhiêu ích như thế. Lại bậc tiên đức có dạy: Chưa đạt được địa vị rốt ráo thì hoàn toàn có pháp môn tự lợi, từ Thập tín sơ tâm lần lượt trải qua Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, thẳng đến đẳng giác trước khi thành Phật Phổ Hiền vẫn còn là pháp môn tự lợi, lợi tha, khi bước lên địa vị Diệu giác, sau khi thành Phật Phổ Hiền mới là hạnh lợi tha, như Phật bảo Tỳ-kheo: Quả báo công đức rất sâu xa, không có ai biết ân phần như ta, ta tuy đã hết bờ mé nhưng nhờ tâm mong muốn không thỏa mãn nên mới thành Phật, vì thế nay vẫn không dừng nghĩ tuy không còn công đức nào khả đắc thì tâm mong muốn của ta vẫn chưa thôi. Nên biết biển hạnh vô biên, không thể dùng gậy, sào, thước gỗ mà dò được tận đáy, như đứa trẻ ngờ ngệch thấy người chỉ vào cây sào trước cửa nói là cao đến nửa tầng trời, liền suy nghĩ cho là từ đất đến trời chỉ cao khoảng hai cây sào, Phật pháp hý luận cũng giống như thế.
Về Xứng pháp hạnh thì biển pháp giới rộng vô lượng, vô biên, biển hạnh Bồ-tát cũng vô lượng vô biên, hư không dính mầu thì phấn mực luống nhọc, pháp giới không phương hướng thì dấu vết làm sao dùng? Cho nên hạnh tự tánh của Bồ-tát chẳng phải có chẳng phải vô, chẳng phải thực hành, chẳng phải không thực hành, nhưng là hạnh xứng pháp tự tại.
1.Bồ-tát độ tất cả chúng sinh rốt ráo được Niết-bàn vô dư, nhưng thế giới chúng sinh không bớt, như con rối lên sân khấu thì buồn vui rõ ràng, chỉ là một khối đất bùn, là không, chẳng có thật, đó là xứng pháp hạnh.
2.Bồ-tát thực hành năm vô gián nhưng không có phiền não sân nhuế, khi vào địa ngục không có các tội cấu, khi đọa súc sinh không có các lỗi vô minh kiêu mạn,… như dâm nữ lìa hồn đi về hướng nào thích đi, cho đến sinh con, nhưng thân thường ở trước cha mẹ, đó là xứng pháp hạnh.
3.Bồ-tát tự thân nhập định, thân khác xuất định, một thân nhập định, nhiều thân xuất định, từ thân hữu tình nhập định, từ thân vô tình xuất định. Như cọp dữ dựng thây chết dậy, quỳ lạy múa men, chỉ là ý muốn của cọp, thây chết vốn không biết, đó là xứng pháp hạnh.
4.Bồ-tát nơi thân một chúng sinh nhỏ mà quay bánh xe Đại pháp, đốt lên ngọn đuốc Đại pháp, chấn khởi lên sấm Đại pháp, cung ma sụp đổ, mặt đất rung chuyển, độ vô lượng, vô biên chúng sinh, nhưng chúng
/129
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »