Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 172, Bộ Chư Tông XII, Số 1970- 1985

Đại Tập 172, Bộ Chư Tông XII, Số 1970- 1985

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 932.

Chương 76: Số 1976- Tây Phương Hợp Luận, Thứ 3: Bộ Loại Môn (Trang 497 - 506)

THỨ 3: BỘ LOẠI MÔN
Như Lai thuyết giáo có nhiều pháp môn, trong kinh hoặc thỉnh thoảng nhắc đến, hoặc nêu vài ví dụ không thể nêu ra hết được. chỉ có pháp môn niệm Phật là thường xuyên được nhắc đến và khen ngợi như mặt trời soi sáng. Nên mới biết rằng đây là pháp môn cao siêu không có pháp môn nào vượt qua được. Nay y cứ vào các kinh, chỉ những gì nói về việc lớn Tây phương thì đều thu vào, chia làm hai nghĩa kinh và vĩ. Thuyết văn chép: “Dệt có kinh, gom các sợi tơ để làm. Kinh là thường còn vĩ thì biến đổi.” Vì thế kinh thì không thu thập những thứ không chuyên bàn về An dưỡng, còn vĩ thì những ai niệm Phật cũng đều cho vào. Khổng Tử nói: Điều ngươi không biết là sự buông bỏ của người. Nghe những điều chưa nghe thì không vô vọng với sự khôn ngoan sau này. Thứ nhất, “Kinh ở trong kinh”; thứ hai “Vĩ ở trong kinh”; thứ ba “Kinh ở trong vĩ”; thứ tư “Vĩ ở trong vĩ”.
 
I.Kinh ở trong kinh.
1.Kinh Vô Lượng Bình Đẳng Thanh tịnh Giác.
2.Kinh Vô Lượng Thọ.
3.Kinh A-di-đà.
4.Kinh Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm.
5.Xuất từ kinh thứ mười tám trong Bảo Tích, tên là Vô Lượng Thọ Như Lai Hội.
Năm bộ kinh này đều là bản tiếng Phạn. Bốn bộ đầu thì dịch không được hay và chính xác lắm.
6.Kinh Đại A-di-đà, do Cư sĩ Long Thơ tập họp bốn bộ dịch trước và những điều Phật nói giảng nói cho A-nan, Từ thị nghe ở núi Linh thứu trong thành Vương xá. Không biết vì sao Long Thơ không thấy bản này.
Một là kinh Phật Thuyết A-di-đà, hai là kinh Xưng Tán Tịnh độ Phật Nhiếp Thụ. Hai bộ kinh này đều là tiếng Phạm. Bản đầu tiên dễ hiểu hơn so với bản dịch sau này. Do Phật giảng nói cho Xá-lợi-phất nghe ở vườn Cô độc nước Xá-vệ, người đọc tụng thường chọn bộ kinh này.
Kinh Quán Vô Lượng Thọ, do Phật giảng nói cho Vi-đề-hy phu nhân ở thành Vương xá. Trong kinh nói về mười sáu diệu quán, pháp môn tu trì nói đầy đủ trong kinh này. Nên Ngài Cô Sơn xếp vào định thiện, nhưng ba thứ kinh đều chuyên vì Tây phương mà khởi giáo như trời trong loài trời, vua trong loài người. Thí như bầu hư không, một còn
không có, huống là có hai, ý nghĩa huyền diệu trong kinh đều đã thấy trong các pháp môn khác, nay không nói lại.
 
I.Vĩ ở trong kinh
Một là “Kinh Cổ Âm Thánh Vương”, Phật ngự ở bên ao Già-già- linh trong đại thành Chiêm-ba, thuyết giảng cho hàng trăm Tỳ-kheo, trong đó nói nếu có bốn chúng thọ trì danh hiệu Phật A-di-đà, thì khi qua đời Phật và các vị Thánh sẽ đến dắt dẫn vãng sinh. Một là “kinh A- di-đà Phật kệ có ra sau này, Tỳ-kheo tự suy nghĩ niệm pháp, là từ Thế Nhiêu vương, đến thệ nguyện mở mang vô lượng này, đời đời cung kính thực hành, tổng cộng là năm mươi sáu câu, từ đầu đến cuối đều là kệ. Hai bộ kinh này cũng chuyên nói về Tịnh độ, ý nghĩa ngôn ngữ so với trước tương đối giản lược, xếp vào loại “vĩ”. Hơn nữa kinh Cổ Âm chú trọng việc trì chú, kệ kinh là bộ Già-đà vì không nằm trong giáo bổn.
 
II.Kinh ở trong vĩ
Kinh Hoa Nghiêm, Bồ-tát Phổ Hiền khuyến tiến đồng tử Thiện Tài ở trước hải hội đại chúng phát mười đại nguyện, đến khi sắp qua đời các căn đều mất tác dụng, tất cả uy thế đều sẽ biến mất, chỉ có nguyện vương là không xa rời và trong lúc ấy sẽ dẫn đường đi trước, trong một sát-na sẽ được vãng sinh về thế giới Cực lạc. Người đó tự thấy mình sinh trong hoa sen, được Phật thọ ký, thụ ký xong trải qua vô số kiếp, ở khắp bất khả thuyết bất khả thuyết các thế giới ở mười phương, dùng năng lực trí tuệ, tùy theo tâm chúng sinh mà làm lợi ích, cho đến có thể vào trong biển khổ đại phiền não cứu giúp chúng sinh, khiến họ thoát khỏi biển khổ phiền não và đều được vãng sinh về thế giới Cực lạc. Lại trưởng giả Giải Thoát nói: Nếu ta muốn thấy thế giới Cực lạc, Vô Lượng Thọ Như Lai thì tùy ý liền thấy. Tất cả thế giới mười phương và tất cả các Đức Như Lai như thế nếu ta muốn thấy thì tùy ý liền thấy. Ta có thể biết rõ thần thông và việc trang nghiêm cõi nước của các Đức Như Lai không từ đâu đến cũng không đi về đâu, cũng không có chỗ trụ, cũng như thân ta không đến không đi, không có chỗ hành chỗ.
Kinh Pháp Hoa chép: “Nghe kinh điển này, đúng như lời dạy tu hành thì khi sắp qua đời liền vãng sinh về thế giới an lạc của Phật A-di- đà, chúng Đại Bồ-tát vây quanh chỗ ở, sinh trên tòa báu trong hoa sen, đắc thần thông vô sinh pháp nhẫn của Bồ-tát, được Vô sinh pháp nhẫn thì nhãn căn thanh tịnh, vì nhãn căn thanh tịnh nên thấy bảy trăm muôn hai ngàn ức na-do-tha hằng hà sa các Đức Phật Như Lai.
Trong kinh Lăng-nghiêm, Bồ-tát Đại Thế Chí bạch Phật: Con nhớ thuở xưa cách nay hằng hà sa kiếp, có Đức Phật ra đời, tên là Vô Lượng Quang, mười hai Đức Như Lai nối nhau ra đời trong một kiếp, vị Phật cuối cùng tên là Siêu Nhật Nguyệt Quang, Đức Phật ấy dạy con niệm Phật Tam-muội. Giống như có một người lúc nào cũng nhớ, một người lúc nào cũng quên. Hai người như vậy nếu gặp nhau cũng như không gặp, thấy cũng như không thấy. Hai người nhớ nhau rất sâu sắc. Như thế cho đến đời này sang đời khác, cũng như hình với bóng, không hề trái xa nhau. Các Đức Phật Như Lai ở mười phương thương nhớ chúng sinh như mẹ nhớ con, nếu con trốn tránh thì mẹ tuy nhớ cũng không làm được gì. Nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con thì sẽ không xa cách nhau. Nếu tâm chúng sinh nhớ Phật, thì hiện tại và tương lai chắc chắn thấy Phật, cách Phật không xa, không nhờ phương tiện, tự được tâm khai. Như người dính chất thơm thì trên thân có mùi thơm, đó gọi là “Hương quang trang nghiêm”. Nhân địa gốc của con dùng tâm niệm Phật, mà nhập vào Vô sinh nhẫn, nay ở cõi này dẫn dắt người niệm Phật trở về Tịnh độ.
Kinh Bảo Tích viết: Phật nói với vua cha rằng: Tất cả chúng sinh đều tức là Phật, nay cha nên niệm Phật A-di-đà ở thế giới Tây phương, thường siêng năng tinh tiến, sẽ đắc Phật đạo. Vua nói rằng: vì sao tất cả chúng sinh đều là Phật? Phật nói: “Tất cả pháp môn vô sinh, không dao động, không lấy bỏ, không tướng mạo, không tự tính, hãy an trú tâm mình trong Phật pháp này, chớ tin pháp khác.”
Lúc ấy, vua cha và bảy muôn người họ Thích nghe nói pháp này, tin hiểu vui mừng, ngộ vô sinh nhẫn, Phật mỉm cười và nói kệ rằng:
Họ Thích quyết định trí
Nên đối với Phật pháp
Quyết tín tâm an trú
Khi chết trong loài người
Được sinh cõi An lạc
Tận mặt thấy Di-đà

Vô úy thành Bồ-đề.
Lại, Phật bảo Di-lặc phát mười thứ tâm, sẽ vãng sinh Cực lạc.
Mười thứ tâm ấy là:
1.Đối với các chúng sinh khởi tâm đại Từ, không có tâm tổn hại.
2.Đối với các chúng sinh khởi tâm đại Bi, không có tâm bức não.
3.Đối với chánh pháp của Phật không tiếc thân mạng, tâm ưa
thích giữ gìn.
4.Đối với tất cả pháp phát sinh thắng nhẫn, không có tâm chấp trước.
5.Không tham lợi dưỡng, cung kính tôn trọng, tâm thanh tịnh vui mừng.
6.Cầu chủng trí Phật, bất cứ lúc nào cũng không có tâm quên mất.
7.Đối với chúng sinh, tôn trọng cung kính, không có tâm thấp kém.
8. Không mê đắm thế luận, đối với Bồ-đề phần, sinh tâm quyết định.
9.Gieo trồng các thiện căn, không có tạp nhiễm, tâm luôn thanh tịnh
10.Đối với các Đức Như Lai, lìa bỏ các tướng, khởi tâm tùy niệm.
Đó gọi là Bồ-tát phát mười thứ tâm, nhờ những thứ tâm này mà được vãng sinh, nếu người thành tựu một tâm trong mười thứ tâm này, ưa muốn vãng sinh về thế giới của Đức Phật kia mà không được sinh, thì không có việc ấy.
Kinh Ban-chu Tam-muội, Phật bảo Bồ-tát Bạt-đà-hòa: Nếu Sa- môn, bạch y nghe cõi Phật A-di-đà ở phương Tây, thường niệm Phật ở phương ấy, không được thiếu giới, nhất tâm niệm Phật, nếu một ngày đêm, hoặc bảy ngày bảy đêm, qua bảy ngày rồi sẽ thấy Phật A-di-đà, lúc thức không thấy thì ở trong mộng thấy. Ví như thấy trong mộng, không biết ngày, không biết đêm, cũng không biết trong, cũng không biết ngoài. Không phải ở trong tối nên không thấy, không phải bị che nay nên không thấy, như thế Bồ-tát Bạt-đà-hòa tâm nên khởi niệm như thế. Bấy giờ các cảnh giới cõi nước chư Phật tên là Đại sơn, Tu-di sơn những chỗ u tối đều khai sáng, mắt cũng không bị che, tâm cũng không bị trở ngại. Vị Bồ-tát Ma-ha-tát ấy không cần thiên nhãn mà nhìn thấu suốt, không nhờ thiên nhĩ mà nghe thấu suốt, không nhờ thần túc mà đến cõi nước Phật, không qua đời ở cõi này mà thấy sinh về cõi Phật kia. Ngay nơi cõi này ngồi thấy Đức Phật A-di-đà, những kinh Phật nói đều nghe nhận được, từ trong Tam-muội đều được đầy đủ và đem nói lại cho người nghe.
Trong kinh Quán Phật Tam-muội, Văn-thù tự trình bày nhân đời trước, rằng được niệm Phật Tam-muội sẽ sinh Tịnh độ, Đức Thế Tôn lại thọ ký rằng: “Ông sẽ được vãng sinh thế giới Cực lạc.”
Phẩm Hiền Hộ trong kinh Đại Tập chép: “Người cầu Vô thượng Bồ-đề, nên tu niệm Phật Thiền Tam-muội.” Kệ rằng:
Nếu người xưng niệm Phật Di-đà
Gọi là vô thượng thâm diệu thiền
Khi dốc lòng tưởng tượng thấy Phật

Tức là pháp bất sinh bất diệt.
Kinh Thập Trụ Đoạn kiết chép: “Có bốn ức người tự biết chết đây sinh kia, liên quan với nhau không dứt, muốn sinh ở cõi nước vô dục.”
Phật nói: “Tây phương cách đây vô số cõi nước, có Đức Phật tên là Vô Lượng Thọ, cõi ấy thanh tịnh, không có dâm nộ si, hóa sinh trong hoa sen chứ không có cha mẹ sinh ra, các vị nên cầu sinh về đó. Kinh Như Lai Bất Tư Nghì Cảnh Giới viết: Bồ-tát hiểu rõ chư Phật và tất cả pháp đều do tâm lượng, đắc được nhẫn tùy thuận, hoặc vào Sơ địa, bỏ thân chóng sinh về thế giới Diệu hỷ hoặc sinh trong Cực lạc Tịnh độ. Kinh Quỳ Nguyện Vãng Sinh viết: Cõi nước Phật nhiều vô lượng, vì sao chỉ cầu cõi Cực lạc? Một là do nhân thù thắng: Mười niệm là nhân; hai là duyên thù thắng: Bon mươi tam nguyen độ khap chúng sinh. Kinh Xưng Dương Chư Phật Công Đức viết: Nếu có kẻ nghe được tên Đức Vô Lượng Thọ Như Lai, một lòng tin ưa, người ấy khi mạng chung, Đức Phật A-di-đà và các Tỳ-kheo đứng ở trước người ấy, mà không thể làm hư hoại tâm chánh giác cuả người đó. Lại nói: Trì, phúng, tụng, niệm (kinh này) kẻ đó sẽ được phước vô lượng, lìa hẳn ba đường, sau khi mạng chung sẽ vãng sinh về cõi đó.
Kinh Đại Vân chép: “Này người thiện nam, ở phương Tây có một thế giới tên là An lạc, cõi ấy có Phật hiệu là Vô Lượng Thọ, hiện đang giảng nói chánh pháp cho chúng sinh nghe”. Phật bảo một vị Bồ-tát: “Này người thiện nam. Đức Phật Thích-ca Mâu-ni ở thế giới Ta-bà vì các chúng sinh bạc phúc độn căn mà nói kinh Đại Vân. Ông hãy đến đó dốc lòng lắng nghe, vì vị Bồ-tát ấy sắp đến đây, nên trước hiện điềm lành. Này người thiện nam, ông hãy nhìn thân các vị Bồ-tát ở cõi đó, cao năm mươi sáu ngàn do-tuần.” “Bạch Thế Tôn, vị Bồ-tát đến đây danh hiệu là gì? Vì sao mà đến cõi này? Có lẽ là vì độ chúng sinh mà đến, cúi mong Như Lai vì các chúng sinh phân biệt giải thích”. Này người thiện nam, Bồ-tát ở cõi ấy muốn nghe việc Tịnh Quang được thọ ký và muốn cúng dường Tam-muội ấy, vì lý do ấy mà đến đây.
Này thiện nam, vị Bồ-tát ấy tên là “Vô Biên Quang”, thông đạt phương tiện, có khả năng giáo hóa, dẫn dắt một cách khéo léo”.
Kinh Nhập Lăng-già chép: “Đại Tuệ ông nên biết, sau khi Thiện
thệ diệt độ, ở nước Nam Thiên trúc có đại danh đức Tỳ-kheo, hiệu là Long Thụ, có khả năng phá được hữu vô tông, hiển bày ngã trong thế gian, pháp Đại thừa vô thượng, đắc Sơ hoan hỷ địa, vãng sinh cõi An lạc. Kinh Đại Bi nói: Sau khi ta diệt độ nước Thiên trúc có Tỳ-kheo tên là Kỳ-bà-già, tu tập thiện căn vô lượng tối thắng, sau khi mạng chung sinh về Tây phương, cõi nước của Phật Vô Lượng Thọ cách đây trăm ngàn ức thế giới, về sau thành Phật hiêu là Vô Cấu Quang Như Lai.
 
I.Vĩ ở trong vĩ
Như phẩm Tỳ-lô-giá-na trong kinh Hoa Nghiêm chép: “Lúc ấy, Đồng tử Đại Uy Quang, thấy Ba-la-mật Thiện Căn Trang Nghiêm Vương Như Lai thành Đẳng chánh giác, hiện năng lực thần thông liền đắc niệm Phật Tam-muội, gọi là Vô Biên Hải Tạng Môn.”
Lại phẩm Quang Minh Giác chép: Lúc ấy, Quang Minh qua ngàn thế giới, đến chỗ Bồ-tát Nhất Thiết Xứ Văn-thù, mỗi người trong chỗ Phật đồng thời lên tiếng nói bài kệ như sau:
Trong tất cả oai nghi
Thường niệm công đức Phật
Ngày đêm không hề dứt
Nên làm nghiệp như thế.
Lại phẩm Hiền Thủ chép: Thấy người sắp mất khuyên họ niệm Phật lại bày tôn tượng để chiêm ngưỡng khiến khởi sự quy ngưỡng sâu xa với Đức Phật cho nên thành tựu được ánh sáng này. Lại trong Niệm tạng thứ tám của phẩm Thập vô tận tạng chép: Niệm này có mười loại đó là niệm tịch tĩnh, niệm thanh tịnh, niệm bất trược, niệm minh triệt, niệm ly trần, niệm ly chủng, niệm ly cấu, niệm quang diệu, niệm khả ái lạc, niệm vô năng chướng ngại. Lại phẩm Đâu-suất kệ tán chép: Bồ- tát Ly Cấu Tràng nói: Lấy Phật là cảnh giới, chuyên niệm không bỏ thì người ấy được gặp Phật, số Phật bằng số tâm.
Trong phẩm Thập hồi hướng, hồi hướng thứ mười chép: “Dùng pháp thí hồi hướng, nguyện được ức niệm và pháp giới, bình đẳng với tất cả chư Phật vị lai, hiện tại trong vô lượng, vô biên thế giới.”
Trong phẩm Thập địa, mỗi địa đều nói rằng: Tất cả mọi việc làm đều không rời niệm Phật.
Phẩm Phật bất tư nghì pháp chép: Như Lai có mười thứ Phật sự:
1.Nếu có chúng sinh chuyên tâm nhớ nghĩ, thì được hiện tiền.
2.Nếu có chúng sinh tâm không điều thuận, thì nói pháp cho nghe.
Lại phẩm Nhập Pháp Giới chép: Tỳ-kheo Đức Vân bảo Thiện Tài rằng: Này người thiện nam, ta được tự tại quyết định giải lực, tín căn thanh tịnh, trí quang chiếu diệu, quán khắp cảnh giới, lìa tất cả chướng, đủ hạnh thanh tịnh, đến khắp mười phương, cúng dường các Đức Phật, thường nhớ nghĩ tất cả chư Phật Như Lai, tổng trì nhất thiết chánh pháp tất cả Phật, thường thấy tất cả chư Phật, tùy theo các thứ tâm ưa thích của các chúng sinh, mà thị hiện các pháp môn thành Chánh giác, ở trong đại chúng, làm Sư tử hống. Này người thiện nam, ta chỉ được ức niệm Nhất thiết chư Phật cảnh giới trí tuệ quang minh phổ kiến này, cái gọi là Trí quang phổ chiếu niệm Phật môn, nghĩa là thường thấy tất cả cõi nước của chư Phật, các thứ cung điện đều trang nghiêm thanh tịnh; khiến tất cả chúng sinh niệm Phật môn, tùy tâm ưa thích trong tâm của chúng sinh, đều khiến thấy Phật, được thanh tịnh; khiến cho an trú lực niệm Phật môn, khiến cho nhập mười phương của Như Lai, khiến cho an trú pháp môn niệm Phật, thấy vô lượng Phật, nghe nói pháp; chiếu diệu chư phương niệm Phật môn, đều thấy trong tất cả các thế giới bình đẳng không sai khác vì là biển chư Phật. Nhập bất khả kiến xứ niệm Phật môn, đều thấy tất cả cảnh vi tế, việc thần thông tự tại của chư Phật. Trụ trong chư kiếp niệm Phật môn, trong tất cả kiếp thường thấy các việc làm của Như Lai. Không hề lìa bỏ trụ nhất thiết thời niệm Phật môn, trong tất cả thời thường thấy Như Lai, thân cận cùng ở đều không lìa bỏ. Trú nhất thiết sát niệm Phật môn, tất cả cõi nước đều thấy thân Phật, vượt quá tất cả, không ai sánh bằng. Trú nhất thiết thế niệm Phật môn, tùy theo tâm ưa muốn của mình mà thấy khắp các Như Lai ba đời. Trú nhất thiết cảnh niệm Phật môn, đối với tất cả các cảnh giới đều thấy các Đức Như Lai thứ lớp hiện ra. Trú tịch diệt niệm Phật môn, ở trong nhất niệm thấy tất cả các Đức Phật ở trong tất cả cõi thị hiện Niết-bàn. Trú viễn ly niệm Phật môn, ở trong nhất niệm thấy tất cả Phật từ chỗ ở của các Ngài mà đi ra. Trụ trong quảng thái niệm Phật môn, tâm thường quán sát mỗi mỗi thân Phật đầy khắp tất cả các pháp giới. Trú vi tế niệm Phật môn, ở đầu một sợ lông có bất khả thuyết Như Lai xuất hiện, thảy đều phụng thờ. Trú trang nghiêm niệm Phật môn, ở trong nhất niệm thấy tất cả cõi đều có chư Phật thành Đẳng chánh giác hiện thần biến. Trụ năng sự niệm Phật môn, thấy tất cả Phật xuất hiện thế gian, phát ra ánh sáng trí tuệ, quay bánh xe pháp. Trú tự tại tâm niệm Phật môn, biết tùy theo sự ưa muốn của tự tâm, tất cả chư Phật hiện hình tượng. Trú tự nghiệp niệm Phật môn, biết tùy theo nghiệp chứa nhóm của chúng sinh mà hiện ảnh tượng, giúp họ giác ngộ. Trú thần biến niệm Phật môn,
thấy hoa sen rộng lớn mà Phật ngồi trùm khắp pháp giới và nở ra. Trú hư không niệm Phật môn, quán sát tất cả thân của Như Lai nhiều như mây trang nghiêm pháp giới, hư không giới.
Kinh Pháp Hoa chép: Nếu có nhân duyên, một mình vào nhà người thì phải nhất tâm niệm Phật, khất thực không có bạn, phải nhất tâm niệm Phật. Lại nói: Nếu người tâm tán loạn, bước vào trong chùa tháp, xưng rằng Nam-mô Phật, đều đã thành Phật đạo.
Kinh Tịnh Danh chép: Này Bảo Tích nên biết rằng trực tâm là Tịnh độ của Bồ-tát, khi Bồ-tát thành Phật không lừa dối chúng sinh và đến sinh vào nước kia. Thân tâm là Tịnh độ của Bồ-tát, khi Bồ-tát thành Phật đầy đủ chúng sinh công đức đến sinh vào nước kia. Tâm Đại thừa là Tịnh độ của Bồ-tát, khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh Đại thừa đến sinh vào nước kia. Bố thí là Tịnh độ của Bồ-tát, khi Bồ-tát thành Phật tất cả chúng sinh năng xả đến sinh vào nước kia. Trì giới là Tịnh độ của Bồ-tát, khi Bồ-tát thành Phật chúng sinh mãn nguyện vì hành thập thiện nghiệp đến sinh vào nước kia. Nhẫn nhục là Tịnh độ của Bồ-tát, khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh đủ ba mươi hai tướng trang nghiêm đến sinh vào nước kia. Tinh tấn là Tịnh độ của Bồ-tát, khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh khuyên tu tất cả công đức đến sinh vào nước kia. Thiền định là Tịnh độ của Bồ-tát, khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh nhiếp tâm không loạn động đến sinh vào nước kia. Trí tuệ là Tịnh độ của Bồ-tát, khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh chánh định đến sinh vào nước kia. Bốn tâm vô lượng là Tịnh độ của Bồ-tát, khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh thành tựu Từ Bi Hỷ Xả đến sinh vào nước kia. Bốn nhiếp pháp là Tịnh độ, khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh giải thoát do sở nhiếp của Ngài đến sinh vào nước kia. Phương tiện là Tịnh độ của Bồ-tát, khi Bồ- tát thành Phật, chúng sinh không bị tất cả phương tiện làm chướng ngại đến sinh vào nước kia. Ba mươi bảy phẩm là Tịnh độ của Bồ-tát, khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh có niệm xứ, chánh cần, thần túc, căn lực, giác đạo đến sinh vào nước kia. Tâm hồi hướng là Tịnh độ của Bồ-tát, khi Bồ-tát thành Phật, được tất cả cõi nước đầy đủ công đức. Nói trừ tám nạn là Tịnh độ của Bồ-tát, khi Bồ-tát thành Phật, cõi nước không có ba ác tám nạn. Tự giữ giới hạnh không dối khuyết là Tịnh độ của Bồ-tát, khi Bồ-tát thành Phật, cõi nước không có tên phạm cấm, là bậc phạm hạnh giàu có, nói lời thành thật chắc chắn, nói năng mềm mỏng, quyến thuộc không xa lìa, tranh cãi hiền hòa, lời nói ra có ích, không ganh ghét, không sân giận, có chánh kiến đến sinh vào nước kia. Như thế Bảo Tích, Bồ-tát tùy theo trực tâm tự thân mà phát hạnh, tùy phát
hạnh mà được thâm tâm, tùy thâm tâm mà ý điều phục, tùy ý điều phục mà làm theo lời nói, tùy việc làm theo lời nói ra mà hồi hướng, tùy hồi hướng mà có phương tiện, tùy phương tiện mà thành tựu chúng sinh, tùy thành tựu chúng sinh mà cõi Phật tịnh, tùy cõi Phật tịnh mà nói pháp tịnh, tùy nói pháp tịnh mà trí tuệ tịnh, tùy trí tuệ tịnh mà tâm tịnh, tùy tâm tịnh mà tất cả công đức tịnh. Như thế Bảo Tích, nếu Bồ-tát muốn có được Tịnh độ thì nên tịnh tâm mình. Tùy tâm mình tịnh mà cõi Phật tịnh. Lại nói, nếu Bồ-tát thành tựu tám pháp, nơi thế gian này thực hành không thiếu sót sẽ sinh về Tịnh độ. Tám thứ là những thứ gì?
1.Lợi ích chúng sinh mà không mong báo đáp.
2.Thay các chúng sinh chịu các khổ não.
3.Công đức làm ra đều dùng bố thí.
4.Tâm bình đẳng với chúng sinh, khiêm hạ không ngăn cách.
5.Xem các Bồ-tát như Phật.
6.Kinh chưa nghe, khi nghe không nghi.
7.Không làm trái với Thánh văn, không ghen ghét sự cúng dường của kẻ khác, không đề cao lợi bản thân mà giữ mức ung dung.
.8Điều phục tâm mình, thường tỉnh táo sáng suốt với lỗi tự thân, không bàn cãi sở đoản của người, hằng một lòng cầu các công đức.
Kinh Niết-bàn chép: Bồ-tát có sáu niệm, niệm Phật là bậc nhất. Lại chép: Nhờ năng lực nhân duyên buộc niệm tư duy nên dứt được phiền não.
Kinh Đại Bi chép: Niệm Phật một câu, nhờ thiện căn này, nhập cõi Niết-bàn, không thể cùng tận.
Kinh Đại Bát-nhã chép: Phật bảo Mạn-thù-thất-lợi rằng: Bồ-tát có khả năng chánh tu hành Nhất tướng trang nghiêm Tam-muội, mau chứng Bồ-tát. Những người tu hành này nên xa rời nơi huyên náo, không nghĩ đến tướng chúng sinh, chuyên tâm buộc niệm niệm một Đức Như Lai, xét lấy danh tự, khéo tưởng dung nghi, tức là quán, khắp tất cả chư Phật ba đời, liền được tất cả trí tuệ của chư Phật.
Kinh Tọa Thiền Tam-muội chép: Bồ-tát ngồi thiền không nhớ nghĩ tất cả, chỉ niệm một Đức Phật, liền được Tam-muội.
Kinh Tăng nhất A-hàm chép: Dùng bốn sự cúng dường tất cả chúng sinh trong Diêm-phù-đề, nếu có người xưng danh hiệu Phật, chỉ trong khoảnh khắc có công đức hơn trên không thể nghĩ bàn.
Kinh Văn-thù Bát-nhã chép: Phật bảo Văn-thù: Người muốn nhập Nhất hạnh Tam-muội, thì nên ở chỗ vắng, lìa bỏ các loạn ý, không giữ tướng mạo, buộc tâm vào một Đức Phật, chuyên xưng danh tự, tùy
theo chỗ ở, thân ngồi thẳng, mắt nhìn thẳng, đối với một Đức Phật, niệm niệm nối nhau, thì trong niệm ấy sẽ thấy các Đức Phật trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Niệm một công đức Phật và niệm vô lượng công đức Phật không có gì khác nhau. Phật pháp mà A-nan đã nghe vẫn trụ trong số lượng, nếu được Nhất hạnh Tam-muội, pháp môn các kinh, mỗi mỗi phân biệt, thảy đều rõ biết, ngày đêm giảng nói, trí tuệ biện tài không bị đoạn tuyệt, A-nan dù học rộng biện tài, nhưng trăm ngàn phần cũng không bằng một phần người này.
Kinh Đại Tập chép: Nếu người chuyên niệm Đức Phật một phương, hoặc đi hoặc ngồi đến bốn mươi chín ngày hiện thân thấy Phật liền được vãng sinh.
Kinh Pháp Hoa Tam-muội quán: Chúng sinh mười phương ai xưng Nam-mô Phật đều sẽ thành Phật. Chỉ có một Đại thừa, không có hai ba, tất cả các pháp một tướng, một môn, gọi là vô sinh vô diệt rốt ráo không tướng. Tu quán như thế, ngũ dục tự dứt, năm cái tự hết, ngũ Căn tăng trưởng, liền được thiền định. Kinh Na-tiên chép: “Vua hỏi Na- tiên: Người suốt đời làm ác, lúc sắp qua đời niệm Phật, được sinh về cõi Phật, ta không tin lời ấy. Na-tiên đáp: Giống như việc bỏ tảng đá lớn lên thuyền sẽ không bị chìm. Con người tuy ác nhưng nhờ niệm Phật nên không bị đọa. Còn hòn đá nhỏ lại bị chìm, giống như người làm ác mà không biết niệm Phật, nên bị đọa vào địa ngục.” Tụng rằng:
Lời miệng vàng Như Lai
Khen ngợi cõi Tây phương
Như vào thành Trường An

Vào Đông, Tây, Nam, Bắc
Vào rồi là một thành
Không riêng đô thành vua
Phổ Hiền trưởng tử Phật
Văn-thù thầy bảy Phật

Thụ ký và hồi hướng
Quả vị này vãng sinh
Họ Thích được pháp nhẫn
Thiện Tài chứng quả Phật
Tân mặt thấy Di-đà
Bồ-tát này vãng sinh
Long Thụ phá hữu vô
Kỳ-bà căn tối thắng
Đều được Phật thọ ký

 
/129
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »