tin. Ở cõi người không tu vậy ở cõi nào dễ tu? Chớ bảo một ngày thay đổi cả, dù có ngàn Phật khó cứu ngươi, như lửa cháy đầu không thể đợi, xin ngay đây nhận lấy, chớ để đời này luống qua. Ngài Hàn Sơn nói:
Trăm xương tản mác lìa bùn đất
Một vật mãi mãi là của ai
Chi bằng ngay đây thông đường nẻo
Đầu lâu đầy đất mấy ai hay.
VẤN ĐỀ BA ĐIỀU NGHI LÚC LÂM CHUNG
CỦA TÔNG CHỦ TỪ CHIẾU
Trong “Tịnh độ thập môn”, Từ Chiếu tông chủ đã răn dạy rằng: Vì người niệm Phật có ba điều nghi lúc lâm chung nên không sinh Tịnh độ:
1.Nghi rằng từ xưa đến nay mình đã tạo những nghiệp cực nặng mà thời gian tu tập lại quá ít nên sợ rằng sẽ không được sinh.
2.Nghi rằng tuy mình niệm A-di-đà, nhưng do tâm nguyện chưa thành hoặc tham, sân, si chưa hết nên sợ rằng không được vãng sinh,
3.Nghi rằng mình tuy niệm A-di-đà, nhưng sợ lúc lâm chung Đức Phật không đến tiếp dẫn.
Vì nghi nên chướng ngại sinh khởi và đánh mất chánh niệm nên không được vãng sinh. Vì vậy, hành giả niệm Phật cần phải hết sức tin tưởng và ý chỉ thông sáng của kinh, không sinh tâm nghi ngờ. Kinh nói: “Niệm một tiếng A-di-đà Phật thì diệt trừ được tội nặng trong suốt tám mươi kiếp sinh tử.” Trên thì đạt đến nhất tâm, dưới thì thành tựu mười niệm là hành giả được tiếp đón để sinh về chín phẩm sen và xả ly được ngũ trược. Nếu hành giả đạt đến trình độ tâm tâm thông sáng, niệm niệm nhất hư, thì đoạn hẳn nghi tình và quyết định vãng sinh.
-Văn nói về chánh niệm vãng sinh lúc lâm chung của Hòa thượng Thiện Đạo.
Tri Quy Tử hỏi: “Bạch Ngài! Việc lớn ở đời là sống chết. Một hơi thở không vào là thân tâm người ta đã thuộc đời sau rồi. Một niệm sai lầm là người ta đã đọa vào luân hồi. Con đã từng được Ngài khai thị pháp niệm Phật vãng sinh. Chân lý của Pháp này quả là vô cùng sáng tỏ. Song, con lại sợ lúc bệnh và cái chết ập đến thì tâm thức sẽ tán loạn, lại sợ bị người khác mê hoặc làm động loạn chánh niệm, khiến quên mất cái nhân của Tịnh độ. Ngưỡng mong Ngài từ bi khai thị cho con
thêm một lần nữa về phương cách quay về lối tắt, khiến con được thoát nỗi khổ của trầm luân?”
Sư nói: “Lành thay là câu hỏi ấy! Ngươi hãy lắng nghe!”
“Thế này: Tất cả mọi người muốn sinh Tịnh độ lúc lâm chung thì cần phải không sợ cái chết. Tất cả nên luôn nghĩ rằng, thân này có lắm nỗi khổ, không sạch, và có đủ các loại ác nghiệp trói buộc nhau. Nếu chúng ta được từ bỏ cái thân dơ bẩn này để siêu sinh Tịnh độ, để thọ nhận Vô lượng niềm an lạc, để giải thoát nẻo khổ sinh tử, thì đó là việc phù hợp với ý nguyện của mình; cũng như người cởi bỏ chiếc áo rách và được khoát chiếc áo quý. Nghĩa là, chúng ta nên buông bỏ thân tâm mà không nên sinh niềm luyến tiếc. Lúc bị bệnh, chúng ta nên lập tức nghĩ đến luật Vô thường và một lòng chờ chết, đồng thời nên dặn dò gia nhân, người khám bệnh, hoặc những người tới lui thăm viếng rằng: “Nếu các vị đang đứng trước tôi thì xin vì tôi mà niệm Phật, không nên nói những chuyện vô bổ, hay những việc tốt hoặc xấu trước mặt tôi. Cũng không nên đem những lời thương cảm mà an ủi, vỗ về hoặc mong cho tôi được an lạc; bởi lẽ, những điều đó là rỗng tuếch và vô ích!”
Nếu lúc bệnh chuyển nặng và sắp mất, thì thân quyến không được khóc lóc hoặc phát ra những tiếng thở than áo não làm rối loạn tâm Thần, làm mất chánh niệm của người tu. Tất cả chỉ nên đồng thanh niệm Phật cho đến lúc người tu trút hơi thở cuối cùng mới có thể buồn khóc. Bởi vì nếu người bệnh chỉ vừa khởi lên một niệm luyến tiếc thế gian, thì niệm ấy liền trở thành chướng ngại và làm cho người tu không được giải thoát. Nếu lúc lâm chung mà có được người hiểu rõ về Tịnh độ đến sách tiến thì quả là một sự may mắn lớn lao.
Nói chung, nếu người tu căn cứ vào những điều trên để thực thi thì chắc chắn được siêu sinh.”
Lại hỏi: Có thể tìm thầy để cầu thuốc chăng?
Đáp: Đầu tiên, việc tìm thầy để uống thuốc chẳng có gì trở ngại cả. Nhưng nên nhớ rằng, thuốc chỉ trị được bệnh mà không trị được mệnh. Nếu mạng sống đã hết thì thuốc có thể làm được gì? Nếu người tu giết mạng sống của loài vật để cầu sự an ổn cho bản thân mình thì không nên làm. Tôi thấy có nhiều người nhân bị bệnh mà trì trai; vừa thuyên giảm đôi chút thì họ lại bị thầy thuốc dùng rượu và thịt để hỗ trợ cho thuốc, nhân đó mà bệnh lại tái phát. Nếu người tu đã tin và biết rằng Phật lực có thể cứu mình thì việc dùng rượu thịt ấy nào có ích lợi gì đâu!
Lại hỏi: Cầu Thần cầu phước được chăng?
Đáp: Mạng sống của con người dài hay ngắn đã được định lúc còn sống, thì cần gì phải nhờ bàn tay của Thần kéo dài ra. Nếu do ngu si mà tin tưởng vào tà kiến rồi sát hại chúng sinh để cúng tế quỷ Thần, thì chỉ tăng thêm tội nghiệp và làm cho mạng sống bị hao tổn mà thôi. Nếu mạng sống đã hết thì phường tiểu quỷ sẽ làm được trò trống gì? Ngược lại, chỉ làm cho tâm thức áo não, chẳng cứu vớt được gì. Mong người tu nên cẩn thận với những tà niệm ấy. Chư vị nên dán bài văn này vào nơi mà mắt mình thường nhìn đến, và luôn luôn đọc nó để tránh sự sai lầm và quên mất lúc lâm chung.
Lại hỏi: Người ngày thường chưa từng niệm Phật có sử dụng pháp ấy được không?
Đáp: Với pháp này thì dẫu tăng hay tục, hay người chưa từng niệm Phật nếu áp dụng thì đều được vãng sinh. Tôi thấy có nhiều người ngày thường luôn niệm Phật, lễ Phật, tán thán Phật và phát nguyện vãng sinh hết sức ân cần. Nhưng đến phút lâm chung họ lại sợ chết nên không nói gì đến việc vãng sinh hoặc giải thoát cả. Đến lúc hơi tàn, mạng dứt, Thần thức đã vào nơi tăm tối, mới bắt đầu áp dụng phép mười niệm; việc làm ấy chẳng khác gì giặc đã đến cửa mới chuẩn bị chiến đấu thì còn cứu vãng được gì nữa!
Sinh tử là việc lớn nên tự bản thân của người tu phải nỗ lực mới nên việc. Nếu sai lầm chỉ trong một niệm là sẽ chịu khổ muôn đời và ai có thể thay thế cho mình! Ngưỡng mong người tu suy đi nghĩ lại cho thấu đáo vấn đề. Lúc rảnh rỗi, quý vị nên tinh tiến tu trì pháp này, vì đó là việc lớn lao dành cho lúc lâm chung.
-Phép mười niệm vào lúc sáng sớm của Từ Vân Sám chủ.
Mười niệm là: Mỗi ngày, vào sáng sớm, sau khi mặc áo tràng, hành giả đứng quay mặt hướng Tây, chấp tay và niệm lớn danh hiệu A-di-đà. Hết một hơi là một niệm. Đủ mười hơi như vậy là mười niệm. Chỉ tùy hơi của hành giả dài hay ngắn chứ không giới hạn ở số lượng danh hiệu Phật. Điều quan trọng là duy trì công phu ấy cho dài lâu và lấy lúc hết hơi làm mốc. Tiếng niệm Phật của hành giả không cao thấp, không nhanh chậm. Mục đích của mười niệm là khiến cho tâm hành giả không tán loạn, lấy sự chuyên tinh làm công. Vì thế, gọi mười niệm tức là nói rõ việc mượn hơi để gom tâm. Khởi niệm đó xong phát nguyện hồi hướng rằng:
“Đệ tử tên là... một lòng quy y Đức Phật A-di-đà. Nguyện Ngài dùng tịnh quang để chiếu soi con, dùng lời nguyện từ bi để nhiếp thọ con. Con nay xưng tụng danh hiệu Như Lai trong mười niệm, và vì đạo
Bồ-đề mà cầu sinh Tịnh độ. Thuở xưa, Đức Phật có nguyện rằng:
“Nếu có chúng sinh nào
Muốn sinh về nước tôi
Một lòng yêu và thích
Dầu chỉ niệm mười niệm
Nếu họ không được sinh
Tôi không thành Chánh giác
Chỉ trừ kẻ ngũ nghịch
Kẻ bài báng Chánh pháp.”
Nay con tự nhớ từ xưa đến nay không tạo nên tội nghịch, không bài báng Đại thừa. Con nguyện dùng mười niệm này để được vào trong biển đại thệ nguyện của Như Lai. Nhờ nương vào nguyện lực của Phật nên những tội lỗi của con được tiêu trừ, tịnh nhân được tăng trưởng. Lúc sắp mất tự mình biết được ngày giờ, thân không có bệnh khổ, ý không tham luyến và tâm không điên đảo như người nhập định. Đức Phật và Thánh chúng cầm đài vàng đến đón tiếp con, chỉ trong một niệm mà con đã sinh về Cực lạc. Lúc hoa nở thì con được thấy Phật, được nghe giáo pháp của Phật thừa. Phật tuệ của con được hiển bày, độ tất cả chúng sinh và hoàn thành lời nguyện Bồ-đề.
Bồ-đề nguyện.
(Lúc phát nguyện xong, hành giả lạy hoặc không lạy cũng được. Điều quan trọng là hành giả không bỏ một buổi nào suốt cả cuộc đời. Còn như không phát nguyện, thì tùy theo tâm mình mà được sinh về cõi ấy).
Kệ khen ngợi Đức Phật.
(Cùng văn hồi hướng phát nguyện. Đến tận cùng của sự thì đạt lý. Đây đều là những phương pháp được chư Tổ soạn. Những vị tu Tịnh độ nên tùy ý để dùng chung).
“Thân Phật Di-đà màu vàng chói,
Tướng quý ánh sáng không ai bằng,
Bạch hào uyển chuyển năm Tu-di,
Mắt xanh trong suốt đường bốn biển.
Vô số Hóa Phật trong ánh sáng,
Hóa Bồ-tát cũng nhiều vô cùng,
Bốn tám nguyện cứu độ chúng sinh,
Chín phẩm đều làm cho giải thoát.”
Ở đây niệm Phật một trăm, một ngàn cho đến mười ngàn tiếng, các danh hiệu Bồ-tát niệm mười tiếng hoặc một trăm tiếng; niệm xong,
thì đọc bài hồi hướng phát nguyện:
“Con nay xưng niệm A-di-đà,
Công đức chân thật danh hiệu Phật,
Ngưỡng nguyện từ bi thương nhiếp thọ,
Chứng biết sám nguyện của lòng con.
Bao nghiệp ác con làm kiếp trước,
Đều do vô thỉ tham sân si,
Được sinh ra từ thân khẩu ý,
Nay con xin sám hối tất cả.
Nguyện con trong giây phút lâm chung,
Trừ sạch tất cả những chướng ngại,
Diện kiến Đức Phật A-di-đà,
Liền được vãng sinh cõi Cực lạc.”
“Nguyện đem công đức này,
Để trang nghiêm Tịnh độ,
Trên báo bốn ân nặng,
Dưới cứu ba đường khổ.
Nguyện những người thấy nghe,
Đều phát Bồ-đề tâm,
Lúc hết báo thân này,
Cùng sinh nước Cực lạc.”
Thập phương Tam thế nhất thiết chư Phật, chư Bồ-tát Ma-ha- tát...
Lại nói: Tám mươi bốn ngàn tướng vi diệu đều là bản tánh Di-đà, cách đây mười muôn ức cõi nước đều là duy tâm Tịnh độ. Tịnh uế tuy khác xa nhưng không ngoài tự tâm. Chúng sinh và Phật tuy không đồng vào ngoài tự tánh. Tâm thể trống rỗng bao la không trở ngại đến đi, tánh vốn bao trùm nào cản trở lấy bỏ. Do vậy vừa khởi niệm liền lên cõi báu, trở lại quê nhà xưa. Búng tay liền đứng trước từ dung, nối lại tình cha con trong sáng. Bao đời trái đức chịu oan chìm nổi, ngày nay thành tâm lễ lạy cầu mong cứu giúp, ba tâm trọn phát, một lòng về Tây, tận đời vị lai vẫn nương về, trải vô lượng kiếp mà tán tụng.
(Niệm danh hiệu Phật và Bồ-tát như trên).
Con là Tỳ-kheo pháp danh là… vì cứu độ chúng sinh mà một lòng quy mạng đầu thành đảnh lễ, tán dương Đức Phật A-di-đà và Thánh chúng ba thừa. Nguyện ánh sáng trong sạch và thệ nguyện Từ bi nhiếp thâu con. Con nay vì để thoát quả báo khổ cõi Ta-bà cầu sinh Tịnh độ, viên mãn nguyện Bồ-đề mà phát tâm chân thành tu hành theo Tịnh
nghiệp. Nguyện đem công đức lễ bái, nhớ nghĩ Thánh hiệu Như Lai và tụng đọc kinh chú gieo vào biển thệ nguyện của Như Lai, nương sức từ của Phật mà các tội tiêu diệt, nhân Tịnh độ tăng trưởng, chánh niệm trước mắt, khi sắp qua đời biết trước thời khắc, thân không có bệnh khổ, nghiệp khẩu trong sạch, tâm không tán loạn nghiêng ngã như vào thiền định, Đức Phật và Thánh chúng tay bưng đài vàng, hương lạ, nhạc Trời đến đón rước con, chỉ trong một niệm liền sinh về cõi Phật, hoa nở thấy Phật, liền nghe Phật thừa, mau khai mở trí tuệ Phật, lìa chứng Vô sinh, rộng độ hữu tình đều về Tịnh độ. Chỉ nguyện Như Lai đặc biệt cứu giúp.
(Niệm danh hiệu…) Lại tụng:
Quy mạng cha lành nơi Lạc bang
A-di-đà dũng mãnh điều ngự
Một âm diễn nói kinh sâu xa
Bồ-tát Thanh văn, chúnh Thánh hiền
Ánh sáng lành chiếu khắp thâu nhiếp con
Thành tựu mười niệm, tam Bồ-đề
Xa hẳn năm trược sạch các duyên
Liền lên chin phẩm như Phật ở
Trăng Phật hiện nơi nước lòng con
Tâm con cũng hiện trong trăng Phật
Nguyện lực hễ còn thệ về nương
Nghe con khan cầu liền đến rước
(Niệm danh hiệu…)
Công đức niệm Phật, lễ sám, trì chú, tụng kinh trên một lòng đều quy mạng vì chúng sinh, hồi hướng thẳng đến biển nguyện của Phật A-di-đà ở thế giới Cực lạc, ngưỡng xin Thế Tôn dùng bánh xe nguyện lớn và thệ nguyện Từ bi nhiếp thọ cho ba nghiệp và thiện căn của con tăng tiến, nơi cõi ác này mau hết báo duyên, tất cả nhân sinh tử rốt ráo đoạn hết. Khi sắp mạng chung được chánh niệm vãng sinh, thấy Phật, ngộ tâm, trở lại độ tất cả chúng sinh. Các tội lỗi và nghiệp chướng con đều xin sám hối, nguyện được Phật tiếp dẫn, cùng về với Phật, giữ gìn tinh Thần Phật pháp, khắp với chúng sinh đều được lợi lạc mà khai triển oai linh, trong Tam-muội đồng được hộ về, nguyện Phật Từ bi thương xót nhiếp thọ.
(Niệm danh hiệu…) Lại tụng: