Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 172, Bộ Chư Tông XII, Số 1970- 1985

Đại Tập 172, Bộ Chư Tông XII, Số 1970- 1985

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 932.

Chương 75: Số 1976- Tây Phương Hợp Luận, Thứ 2: Duyên Khởi Môn (Trang 488 - 496)

đây, chúng sinh vì nhớ Phật mà sinh về cõi đó, tức là có “đến đi”, có đến đi, thì có đường đi, có khó khăn nguy hiểm và có dễ dàng an toàn, giống như người ở gần kinh thành thì dễ gặp quân vương, xa thì khó khăn hơn. Quả thật, niệm Phật cầu sinh phải có khó dễ, nên A-di-đà phải gian nan trên đường đi, cũng không có ngày nói pháp. Vì thế kinh Ban-chu Tam-muội nói rằng: “Không qua đời cõi này, sinh về cõi Phật ấy, Phật không đi đến đây, ta cũng không đến đó”. Lại người xưa nói rằng: “Sinh thì quyết định sinh, đi thì thật chẳng đi, như trống trời kêu, xa gần đều nghe thấy, không vì chẳng đến đi, như ánh trăng trên mặt nước, ta đi về phía Đông thì trăng theo về phía Đông, ta đi về phía Tây thì trăng theo về phía Tây, thật ra không có đến đi. Đó là nghĩa Khứ lai bất tư nghì.
5.Rốt ráo bất khả tư nghì bất tư nghì: Như đầm trong hiện bóng núi, như nắng xuân chiếu trên cây cỏ, như nghiệp lực chúng sinh, như ánh sáng mặt trời mặt trăng, như căn trong thai, như ngã trong thân, như răng cứng lợi mềm, như lông mày ngang tóc dài, đó là ý nghĩa rốt ráo bất khả tư nghì bất tư nghì. Cho nên chư Phật mười phương hết lời hết ý, cũng chỉ là hy vọng nói được pháp khó tin mà thôi. Tuy có chiếc lưỡi trùm khắp tam thiên đại thiên nhưng làm sao có thể phân ra trong muôn một. Khổng Tử nói: “Cái ngu của những kẻ tầm thường có thể biết hết, còn bậc Thánh không biết.” Vô lượng pháp môn, dùng một để phán thông tất cả.
 
THỨ 2: DUYÊN KHỞI MÔN
Người thích vào chợ cá thì không nhớ đến chiên-đàn, chẳng phải thật không nhớ mà chỉ vì không nhàm chán. Vừa khiến dẫn vào nhà tối, đốt chiên-đàn cứu trầm, không phải suốt ngày buồn thương về sự ô uế cũ, mà chỉ vì không sớm chán lìa. Sự xú uế của sinh tử dụ cho chợ cá, sự tham muốn của chúng sinh gấp bội lần ruồi nhặng. Chư Phật vì Dục Hương trưởng giả, nhìn thấy một lớp người chìm ngập trong bể đục ngầu, làm sao không trắc ẩn. Vì thế A-di-đà Đạo sư, mở rộng chợ hương nghiêm, cha lành Thích-ca, chỉ đích xác cánh cửa Tịnh vực. Khắp mặt đất không ai không là đứa con nghèo khó, một câu danh hiệu Phật bèn trở thành nguồn vốn, muốn xem xét lời thành thực, thì chớ lìa mười niệm. Bịt mũi ngăn mùi lâu ngày sẽ tự thấy nhàm chán. Nay y cứ theo Tây phương khởi giáo, chia làm mười nghĩa:
1.Nhất đại sự.
2.Túc nhân thâm.
3.Hiển quả đức.
4.Y nhân tánh.
5.Thuận chúng sinh.
6.Uế tướng không.
7.Thắng phương tiện.
8.Đạo nhị thừa.
9.Kiên nhẫn phương.
10.Thị chân pháp.
1.Nhất đại sự (một việc lớn).

Chúng sinh trong thế giới có năm thứ vẩn đục, như tù nhân ở trong ngục, nhưng do tội nặng nhẹ khác nhau, nên chịu sự trừng phạt không giống nhau. Hoặc phạm tiểu pháp, hoặc đầu cực võng, tội tuy không giống nhau nhưng về sự trừng phạt chịu khổ thì không ai tránh khỏi được. Vì những người vào ngục đều là người tội, người ở cõi trời cõi người, đều là thân nghiệp báo phần đoạn. Nhưng người tội một khi vào ngục không ai không luôn cầu mong được thoát khỏi, như thế cũng đã đủ biết được nỗi đau khổ ở trong ngục là vô cùng tận, bên ngoài tường rào vẫn có một thế giới an vui. Nay chúng sinh lấy phiền não làm nhà, lấy sinh tử làm vườn tược, buộc lòng vào ngục tù cơm áo. Đâu biết núi đại Thiết vi là bức tường gai của ta ngoài pháp trường ba cõi, mỗi mỗi đều có quê hương nhà cửa ruộng vườn. Chư Phật thương xót, đau lòng buốt xương, cho nên phân biệt cho biết tịnh uế, chỉ cho con đường thoát khỏi. Như người vứt bỏ (quê nhà) đã lâu thì hoàn toàn không chỗ trở về, chư Phật lại xây nhà lớn để sắp xếp chỗ ở cho họ, một là qua lại cửa ngục để canh đường, hai là xem xét ngoài ngục, tu sức lữ quán. Ân lớn như thế, thân nào để báo, Phật đã không tiếc sức tiếc công, tại sao chúng sinh lại lưu luyến như thế, kinh chép: “Như Lai vì một việc lớn mà xuất hiện trên thế gian, việc lớn ấy chính là việc này. Chúng sinh vì luyến tiếc những điều nhỏ nhặt mà cam tâm chịu chết, vì sao?”

2.Túc nhân thâm (nhân đời trước sâu dầy), gồm ba phần:
-Chính nhân.
-Chính nguyện.
-Chính hành.

Chính nhân: Tức là chư Phật ba đời và các chư hữu tình tự thanh tịnh thể như muôn tượng nương hư không, núi sông nương trên đất, vỏ nương hạt giống, hoa quả nương nhân. Nếu không có nhân này thì Phật quả không thành, tất cả bi trí đều được thiết lập từ nhân nên trưởng giả hợp luận chép: “Thân Như Lai tạng, tức là Pháp thân, chư Phật trí hải

đều ở trong ấy nên gọi là tạng. Nếu không thấy Pháp thân, thì mọi phúc trí đại Từ, đại Bi đều không thể phân biệt được và vẫn thuộc về sinh diệt. Pháp thân tức là Chính nhân.
Chính nguyện: Như kinh này, Tỳ-kheo ở trước Thế Tự Tại Vương Như Lai, phát bốn mươi tám đại nguyện, một nguyện không thành, thì không thành Bồ-đề. Đó là dựa vào tự tính vô lượng bi trí phát ra nguyện lực bất khả tư nghì ấy, chứ không phải là ngoài tâm thấy có chúng sinh phát nguyện muốn độ, vì chúng sinh chẳng phải ngoài tâm.
Chính hành: Như kinh này nói rằng phát nguyện xong, như thế an trụ các thứ công đức, tu tập hạnh Bồ-tát, trải qua vô lượng vô số ức na- do-tha trăm ngàn kiếp, lại như kinh Nhất Hướng Xuất Sinh Bồ-tát rằng: “Phật A-di-đà xưa là Thái tử, nghe được pháp môn huyền diệu này vâng giữ tinh tấn, trong bảy ngàn năm, không nghĩ đến ái dục, tiền tài châu báu, không lo những chuyện khác, không hề xao động ý chí và giáo hóa được tám ngàn ức muôn na-do-tha những người không còn lui sụt. Đó là tự tính hành trì, tự tính tinh tiến, không phải là công đức hữu tác hữu vi, tuy trải qua ức kiếp, nhưng không lìa nhất niệm, do pháp môn vi diệu xa lìa tất cả hạnh, tất cả kiếp vì thế gọi là “Chính nhân, chính nguyện, chính hành”. Ba điểm này nếu thiếu một thì không thành, vì chẳng phải làm được, chẳng phải không làm được, vì vậy người xưa nói rằng: “Gốc sâu quả sai, nguồn chảy dài xa, nhân trước đã sâu, giáo khởi cũng lớn” thật sự là như vậy!
3.Hiển quả đức: Như trong Phổ Hiền Hành Nguyện phẩm trong kinh Hoa Nghiêm chép: “chư Phật Như Lai vì chúng sinh mà khởi phát lòng đại Bi, vì đại Bi mà sinh tâm Bồ-đề, vì tâm Bồ-đề mà thành Đẳng chánh giác. Ví dụ như ở nơi hoang vu sa mạc, có cây đại thụ chúa nếu hấp thu được nước thì cành lá hoa quả sẽ phát triển sum suê rậm rạp. Cây Bồ-đề vua ở hoang mạc cũng giống như vậy, tất cả chúng sinh là rễ cây, chư Phật, Bồ-tát là hoa quả, dùng nước đại Bi để tưới nhuận chúng sinh thì sẽ thành tựu được hoa quả trí tuệ của chư Phật, Bồ-tát. Vì thế nên biết, tất cả các Phật có được quả Phật là dựa vào chúng sinh. Nếu không có chúng sinh thì quả Phật không thành. Ví dụ như Hán vương vì muốn cứu dân mà có hơn trăm trận chiến, vì có trăm trận chiến nên được lên ngôi vua. Lên ngôi vua thì trăm họ được bình yên, an cư lạc nghiệp. Nếu không có bá tánh thì tất nhiên sẽ không có những việc ở trên xảy ra. Xét như thế, hễ ai làm một đức, một việc, một lợi, một danh, nếu không có chúng sinh thì đều sẽ không thành. Vì vậy ta không có chúng sinh thì ta chẳng thành ta, chúng sinh là chỗ dựa, ta là chính,
chúng sinh là chính, ta tức là chỗ dựa, nhân ngã bình đẳng, y chính vô ngại. Đó là “Pháp nhĩ”, pháp nhĩ tức quả đức tự nhiên, nếu hướng ra bên ngoài kiến lập thì không thành quả.
4.Y nhân tính: Tất cả chúng sinh đều có tịnh tánh như thế, giống như vàng được luyện thành cây trâm cài thì tính chất của nó vẫn là vàng. Các mạt vàng cho dù được đúc thành dụng cụ gì khác đi nữa thì vẫn không đổi chất. Chúng sinh và Phật cũng vậy, đồng một tịnh tính, nhưng có sự khác nhau giữa cây trâm vàng và các vàng, chứ không khác về tính chất. Vì vậy, phẩm phu khắp nơi mười niệm liền sinh là vì vốn tịnh, Phật A-di-đà muốn nhiếp thụ chúng sinh tức là người nhiếp thụ, vì chúng sinh vốn tịnh, cho nên như ánh sáng trong gương, không phải do mài mà có. Người được sinh Tịnh độ, không phải là hành nguyện và niệm lực mà thành tựu. Vì sao? Vì niệm hành giống như cái lò đốt có thể nung chảy vàng nhưng không thể sinh ra vàng được.
5.Thuận chúng sinh: Nghĩa là muốn làm cho trẻ nhỏ vui thì cho bánh trái, muốn làm phụ nữ vui lòng thì phải dùng tơ lụa. Những thứ chúng sinh xem trọng là châu báu ngọc ngà, cơm ăn áo mặc, vì vậy có “bảy báu tự nhiên” và cho phòng ốc sang trọng, áo quần ăn uống. Như có một số con em nhà giàu, khi ra khỏi cửa nhất định là phải lên xe xuống ngựa, nếu không thì không chịu đi. Nay Đức Thích-ca Như Lai thuận theo chúng sinh mà nói A-di-đà thất bảo Tịnh độ, chỉ vì chúng sinh thấy cảnh như vậy, hợp với điều nói ra, chúng sinh sinh rồi, mỗi người tự thấy tịnh tướng nhiệm mầu không gì sánh được. Mới biết rằng lưu ly, mã não, ngọc bích cũng tựa như ngói gạch mà thôi. Như những người làm quan thành đạt kể cho những người làm ruộng nghe về sự trang nghiêm lộng lẫy của hoàng cung, họ sẽ chẳng thể tưởng tượng ra việc ấy cũng giống như nói màu sắc cho người mù nghe, không có tác dụng gì.
6.Uế tướng không: Như Trí luận chép: “Ví như người có một đứa con cứ thích chơi đùa ở nơi không sạch sẽ, gom đất lại thành đống, lấy cây cỏ làm chim thú và rất thích chơi như thế. Nếu có ai đến giật thì khóc lóc kêu la. Người cha biết được, nghĩ rằng đứa con này bây giờ thích chơi như thế, nhưng việc này dễ bỏ, khi nó lớn dần sẽ bỏ trò này thôi.” Lý do là vì những vật ấy đều không phải là thật. Bồ-tát cũng giống như vậy, thấy chúng sinh cứ yêu thích tấm thân không sạch sẽ và ham thích ngũ dục, nếu ngũ Căn như tín căn… thành tựu thì liền sẽ bỏ. Nếu như cái mà đứa trẻ yêu thích là vật thật thì đến trăm tuổi sự yêu thích ấy vẫn sâu hơn. Nếu chúng sinh xem vật chất là có thật thì dù được
ngũ Căn vẫn không thể bỏ. Vì các pháp đều là không, giả dối không thật có, vì thế nên mới có thể lìa bỏ. Như Lai vì chúng sinh mà nói Tịnh độ cũng giống như vậy, những điều chúng sinh dựa vào là không có thật, thì dễ giáo hóa hơn. Như người trẻ tuổi thì háo sắc, người trưởng thành thì thích làm quan, lúc tuổi già thì ham lợi. Nếu là thực thì lẽ ra không nên thay đổi theo tháng năm như vậy. Vì biến đổi nên khi nghe nói Tịnh độ cũng ưa cũng thích cũng ham, như người trong giấc mộng, gọi thì liền thức. Nếu mộng là thật thì gọi cũng vô ích, vì đều không thật cho nên chư Phật vì tất cả chúng sinh mà nói pháp môn như thế.
7.Thắng phương tiện: Vì “Phương tiện” này không phải tự lực, cũng không phải tha lực. Trong biển duyên tự tính có công đức tự tại như thế, tất cả sẵn có. Vì thế một câu Thánh hiệu không còn phiền não, mười niệm công thành đốn vượt nhiều kiếp, như muôn khiếu kêu gọi này, lực do nâng đỡ, nhờ khiếu mà hiển bày. Như hang tối rỗng sáng, công tại thần hy, vì hang hiện ra. Như một bầy kiến có thể đi xuyên qua cả ngọn núi, xuyên qua bờ đê bao, đó là sức mạnh của nước, chứ không phải sức của kiến. Lại như một cánh buồm vải có thể kéo đi được cả con thuyền cả muôn tấn, đó cũng là sức của gió, chứ không phải sức của cánh buồm. Tóm lại, đều là do biển tánh pháp giới vô tác vô vi bất tư nghì lực hiện ra, chẳng phải tự lực chẳng phải tha lực, tất cả đầy đủ. Cho nên có phương tiện tốt đẹp như thế, là pháp tu nhanh nhất trong các pháp tu nhanh, làm con đường tắt trong các con đường, nếu bỏ pháp này không tu thì thật là ngu si.
8.Đạo nhị thừa: Nhị thừa tránh cảnh, hướng về yên lặng, chứng giả Niết-bàn, không được Pháp thân Như Lai, chịu nghiệp hoặc khổ.
a.Vô minh trụ địa, không thể rốt ráo thấy được phiền não cấu trược tập khí xú uế, cứu cánh diệt tận tịnh Ba-la-mật quả.
b.Do vô minh trú địa, nên có hạnh hư vọng chưa diệt trừ, nên không thấy được Ba-la-mật vô tác vô hành ngã.
c.Vì hư vọng nhỏ nhiệm khởi phát nghiệp vô lậu, ý sinh các ấm chưa trừ hết, nên không thấy được quả Ba-la-mật cực diệt viễn ly lạc.
d.Biến dịch sinh tử, đoạn dứt lưu chú tiếp nối, không thấy được quả Ba-la-mật cực vô biến dịch thường.
Vì bốn thứ hoặc này mà chưa chứng chân lý, Như Lai thương xót dạy khiến bỏ tâm đoạn diệt, tu hạnh Tịnh độ khiến cho biết rằng ngay nơi không là bất đoạn, ngay nơi hữu là bất thường. Nương trí Đại thừa, nhập vào biển Niết-bàn.
9.Kiên nhẫn lực: Bồ-tát Long Thụ nói rằng: “Con nít bốn tuổi trở
lên, chưa đầy hai mươi tuổi, gọi là Cưu-ma-la-già địa. Nếu Bồ-tát mới sinh vào nhà Bồ-tát, như trẻ con được vô sinh pháp nhẫn, cho đến Thập trú địa; lìa các việc ác, gọi là Cưu-ma-la-già địa.” Nếu muốn đạt đến địa này, nên học Bát-nhã ba-la-mật, thường muốn không lìa chư Phật.
Hỏi: Bồ-tát phải giáo hóa chúng sinh, vì sao thường muốn không lìa chư Phật?
Đáp: Có Bồ-tát chưa nhập giai vị Bồ-tát, chưa được thụ ký không còn lui sụt, nếu xa rời chư Phật là sẽ hủy hoại các thiện căn, chìm trong phiền não, tự không thể độ, làm sao độ người. Như người ngồi trên thuyền, giữa dòng thuyền vỡ, muốn đưa người khác sang, lại tự mình bị đắm chìm dưới nước. Bồ-tát chưa nhập pháp vị, nếu xa rời chư Phật, vì ít công đức không có năng lực phương tiện, muốn giáo hóa chúng sinh, tuy được chút lợi ích nhưng lại tự đọa lạc. Vì thế Bồ-tát mới học không nên xa rời chư Phật.
Hỏi: Nếu thế vì sao không nói không rời Thánh văn, Bích-chi- Phật, vì Thánh văn, Bích-chi-Phật cũng có thể lợi ích Bồ-tát?
Đáp: “Bồ-tát đại tâm, Thánh văn, Bích-chi-Phật tuy có Niết-bàn lợi ích, nhưng không có trí nhất thiết nên không thể giáo hóa Bồ-tát. Chư Phật có Nhất thiết chủng trí nên có thể giáo hóa dắt dẫn Bồ-tát. Như voi bị sa lầy, không phải tự nó thoát thì không ai giúp được. Bồ- tát cũng giống như vậy, nếu đi lầm đường, chỉ có Phật mới cứu được vì đồng là đạo lớn, vì vậy nói Bồ-tát thường muốn không lìa chư Phật. Lại nữa, Bồ-tát nghĩ rằng: Ta chưa được Phật nhãn chẳng khác nào kẻ mù, nếu không được Phật dẫn đường, thì không biết đường đi sẽ đi lầm vào đường khác, dù nghe Phật pháp nhưng lại thực hành khác đi, chưa biết thời tiết giáo hóa, hành pháp bao nhiêu. Bồ-tát gặp Phật, được các thứ lợi ích hoặc mắt thấy, tâm thanh tịnh. Nếu được nghe thuyết giảng thì tâm sẽ ưa pháp, được trí tuệ rộng lớn, tùy pháp tu hành mà được giải thoát, gặp Phật được vô lượng lợi ích như thế, há không nhất tâm thường muốn thấy Phật hay sao? Giống như trẻ con, không nên xa rời cha mẹ, lại như người đi đường không xa lìa lương thực, như lúc nóng nực không thể lìa gió mát nước lạnh, như khi giá rét phải có lửa sưởi ấm, như khi qua nơi nước sâu cần phải đi thuyền. Giống như người bệnh phải có thầy thuốc giỏi, Bồ-tát không thể xa lìa khỏi chư Phật còn quá hơn việc ấy. Vì sao? Vì cha mẹ thân thuộc, tri thức, trời, người, vua… đều không thể làm ích lợi như Phật, Phật làm ích lợi cho các Bồ-tát xa rời các nơi khổ cực, đến trú ở vùng đất của Thế Tôn, do nhân duyên ấy nên Bồ-tát thường không xa lìa chư Phật.
Hỏi: Các pháp môn hữu vi đều giả dối không thật, đều không đáng tin, vì sao được như nguyện, không lìa chư Phật.
Đáp: Phước đức trí tuệ có đủ mới được thấy Phật, huống gì không xa lìa chư Phật, chúng sinh có vô lượng nhân duyên kiếp tội, nên không được như nguyện. Tuy phúc đức, mà trí tuệ cạn mỏng, tuy hành trí tuệ mà phúc đức ít ỏi, thế nên sở nguyện bất thành, Bồ-tát cầu Phật đạo, phải thực hành hai phẩm sinh nhẫn và pháp nhẫn. Thực hành sinh nhẫn, tất cả chúng sinh phát tâm Từ bi diệt tội trong vô lượng kiếp, được vô lượng phước đức. Thực hành pháp nhẫn, phá các pháp vô minh, được vô lượng trí tuệ. Hai hành hòa hợp, nguyện nào mà không thành. Vì thế Bồ-tát đời đời thường không lìa chư Phật. Bồ-tát thường ưa thích niệm Phật, xả thân thọ thân thường được gặp Phật. Thí như dục tâm của chúng sinh sâu nặng, thì làm thân dâm điểu, như chim Công, Uyên ương; nặng về sân nhuế thì sinh trong loài độc trùng, như rồng dữ, bò cạp rắn độc, La-sát.
Tâm của Bồ-tát này không quý phước lạc của Chuyển luân Thánh vương, trời, người, chỉ niệm chư Phật, vì thế tùy theo tâm nặng nhẹ mà thọ thân hình. Bồ-tát thường khéo tu nhân duyên niệm Phật Tam-muội, sinh ra bất cứ nơi đâu thường được gặp chư Phật.
Hỏi: Bậc ngộ đạt Thiền tông, đã gọi là thấy tánh thành Phật, sao lại còn cầu sinh Tịnh độ?
Đáp: Những người ngộ đạt, chính nguyện là cầu sinh, nếu như chưa ngộ thì giúp cho ngộ, hướng về Tịnh độ muôn trâu khó kéo.
Hỏi: Người học chỉ sợ không rõ việc lớn, việc lớn đã rõ rồi thì nên thực hành Phật giáo, tùy loại hóa thân. Vào bùn vào nước, không tránh sinh tử, rộng độ sinh linh. Vì sao cầu sinh Tịnh độ, chán khổ thích vui?
Đáp: Sau khi ngộ đạt, tập lậu dứt hẳn thì không còn lui sụt và sẽ cho rằng sau khi ngộ đạt thì không còn chuyện học Phật pháp tu hành chánh quả sao? Sẽ cho rằng sau khi ngộ là ngang bằng chư Phật vào sinh tử không bị chướng duyên kéo lôi hay sao? Nếu như thế thì các Đại Bồ-tát tu Lục độ muôn hạnh, trải hằng hà sa số kiếp đều phải hổ thẹn sao? Người xưa có nói rằng: “Thánh văn còn có sự mê mờ khi ra thai, Bồ-tát còn có sự tối tăm khi cách ấm.” Huống gì gần đây hiểu cạn ngộ thấp tự cứu không xong, cho dù có đốn ngộ sâu xa, chỗ thấy biết cao minh, hành giải tương ứng, mục đích là độ người, nhưng phải làm sao khi chưa lên bất thoái, lực dụng chưa đủ. Ở cõi trược ác này, hóa độ độ chúng sinh ngang bướng đây cũng là việc mà bậc Tiên Thánh không cho phép. Giống như chiếc thuyền chưa đóng xong, chưa vững
chắc, nếu chứa quá nhiều người lại đi trên biển lớn sóng dữ thì sẽ nhận chìm tất cả mọi người. Vì vậy luận Vãng sinh chép: “Những ai muốn dạo chơi chốn địa ngục, phải sinh cề cõi kia, sau khi đắc vô sinh nhẫn còn phải vào trong sinh tử, cứu khổ chúng sinh, bằng nhân duyên này mà cầu sinh Tịnh độ.” Lại nữa, bậc Tiên Thánh có nói: Chưa đạt đến địa vị không còn lui sụt vị thì chưa thể đi vào thế tục độ sinh, chưa được vô sinh pháp nhẫn, thì phải luôn không xa rời Phật, giống như con trẻ không thể xa rời mẹ. Nay ở cõi này, Đức Thích-ca đã diệt, Đức Di-lặc chưa sinh, khổ bốn đường ác, nhân quả rối bời. Ngoại đạo tà ma, thị phi nhiễu loạn. Sắc đẹp tiếng dâm mê hoặc, ác duyên uế xúc xâm chiếm, đã không có hiện Phật để nương, lại bị cảnh duyên quấy nhiễu, những người vừa mới ngộ đạt, có không ít người lui sụt, cho nên Đức Thế Tôn ân cần chỉ quy Cực lạc, là vì lý do đó. Vì Đức Di-đà kia hiện tại đang nói pháp, cảnh duyên, cõi vui, các thứ thanh tịnh, nếu dựa vào Đức Phật ấy, thì nhẫn lực dễ thành. Chứng cao thành Phật, đích thân được thụ ký, sau đó ra đời hóa độ chúng sinh, đến đi vô ngại. Thường thấy các Thiền giả ngày nay, không tìm hiểu ý nghĩa của Như Lai, không biết huyền cơ của Đạt-ma, đầu óc trống rỗng, tham vọng ngông cuồng thành thói quen, thấy người tu Tịnh độ thì chế nhạo nói rằng: “Chúng chỉ học theo việc làm của những kẻ tầm thường.” Tuy cười nhạo những người tu hành tầm thường nhưng chính là xem thường các vị Bồ-tát như: Văn- thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ, chẳng những tự mê chánh đạo, tự đánh mất thiện căn, tự đánh mất tuệ thân, hạt giống Phật mà còn gây nên nghiệp ác phỉ báng đạo pháp, ý tưởng xem thường bậc Thánh. Phật tổ coi đó là những kẻ đáng thương.
Hòa thượng Vĩnh Minh rất thương xót nên vắt tận tâm can chủ trương Tịnh độ, vừa tự tu lại vừa để hóa độ thế gian, vì thế khi Ngài qua đời có vô số tướng lành hiện ra, có xá-lợi và Ngài được sinh Cực lạc thượng phẩm. Đến nỗi Diêm-la cũng cho là ít thấy, vẽ tranh nặn tượng lễ bái, Vĩnh Minh vừa hiểu được thiền trực chỉ của Đạt-ma vừa có thể dấn thân vào chốn Cực lạc thượng phẩm. Ta lấy ví dụ này để giải mối cố chấp của người theo Thiền, làm lời khuyên cho chúng sinh đời mạt pháp. Những người thực sự có công với tông giáo đâu chỉ riêng Vĩnh Minh, còn có Thiền sư Tử Tâm Tân, soạn bài văn “Khuyến tu Tịnh độ”; lại như Thiền sư Chân Yết Thánh Liễu trong “Tịnh độ thuyết” có  nói: Tông chỉ cuả một tông đều có mục đích là mật tu, vì sao? Vì pháp môn niệm Phật là pháp môn nhanh nhất, dễ tu hành nhất. Theo Đại tạng: Tiếp lấy bậc căn khí thượng thượng, bên cạnh dẫn dắt hàng căn
cơ trung hạ, lại nói rằng: “Bac đại tượng trong Tông môn đã ngộ pháp bất “không hữu”, nhưng vẫn hết lòng tu hành Tịnh độ, vì Tịnh nghiệp thấy Phật còn dễ dàng hơn cả tông môn.”
Lại nói: “Làm Phật làm Tổ, ở giáo ở thiền, đều tu Tịnh nghiệp, đồng trở về một nguồn. Nếu có thể vào được pháp môn Tịnh độ thì bất cứ pháp môn nào cũng có thể vào được. Còn như Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài, Thiền sư Viên Chiếu Tông Bổn, Thiền sư Từ Thụ Thâm, Thiền sư Nam Ngọc Tư, Thiền sư Pháp Chiếu, Thiền sư Tịnh Từ Đại Thông... Đều là các bật tông tượng Thiền môn, nghiên cứu mật, tu hiển hóa, đều phát huy yếu chỉ Tịnh độ. Nên biết Thiền, Tông, Mật tu đều không lìa Tịnh độ. Nếu vào được pháp môn Tịnh độ thì mới là pháp môn vững chắc không lui sụt.
10Thị chân pháp: Tất cả pháp môn tu hành, nói không tức đoạn, nói có tức thường, chưa phải là rốt ráo, chỉ duy có niệm Phật Tam-muội này, ngay nơi niệm mà tịnh, tịnh chẳng phải là vô, ngay nơi tịnh mà niệm, niệm chẳng phải là hữu. Đạt được tịnh không chỗ nương tức là niệm thể, rõ niệm vốn lìa tức là tịnh dụng. Cho nên chẳng ngoài tịnh có niệm, có khả năng niệm tịnh. Nếu ngoài tịnh có niệm, thì niệm tức có chỗ, chẳng phải tịnh, chẳng phải ngoài niệm có, tịnh có khả năng nhập vào các niệm. Nếu ngoài niệm có tịnh, thì tịnh sẽ có đến hai, hai chẳng phải là tịnh. Nếu biết chư Phật thuận theo tâm tịch diệt mà trang nghiêm Tịnh độ, vì thế người niệm Tịnh độ sẽ vào được các tất cả tịch diệt môn. Chư Phật thuận theo tâm thường lạc ngã tịnh mà trang nghiêm Tịnh độ, vì thế người niệm Tịnh độ sẽ nhập vào tất cả thường lạc ngã tịnh môn. Chư Phật thuận theo tâm bình đẳng chúng sinh mà trang nghiêm Tịnh độ, vì thế người niệm Tịnh độ sẽ nhập vào tất cả bình đẳng chúng sinh môn. Chư Phật thuận theo nghiệp đại Bi trí mà trang nghiêm Tịnh độ, do đó người niệm Tịnh độ sẽ vào tất cả nghiệp môn đại Bi Trí.
Chư Phật thuận theo nghiệp vô tác vô vi bất khả tư nghì mà trang nghiêm Tịnh độ, vì thế người niệm Tịnh độ sẽ nhập vào tất cả vô tác vô vi bất khả tư nghì môn. Chư Phật thuận theo tánh trần lao phiền não mà trang nghiêm Tịnh độ, nên người niệm Tịnh độ sẽ được nhập vào tất cả trần lao phiền não môn. Chư Phật thuận theo tướng vi trần giới tử mà trang nghiêm Tịnh độ, nên người niệm Tịnh độ sẽ được nhập vào Nhất thiết vi trần giới tử môn. Các đại pháp môn kể trên chỉ một câu Phật A-di-đà đều có thể chứng nhập, cũng không có tướng năng chứng sở chứng. Nếu không như thế thì đó là tịnh hữu dư, niệm Phật Tam-muội không phải như thế.

 
/129
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »