Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 172, Bộ Chư Tông XII, Số 1970- 1985

Đại Tập 172, Bộ Chư Tông XII, Số 1970- 1985

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 932.

Chương 53: Long Thư Tăng Quảng Tịnh Độ Văn, Quyển 12: Khuyên Tất Cả Mọi Người Tu Trì (Trang 136 - 142)

Kính lạy A-di-đà
Đại Từ phụ cứu đời
Chân pháp tạng sâu xa
Hiền thánh tăng ba thừa
Con với tâm thành thực
Cầu xin cõi tịnh Phật
Nguyện giữ thệ rộng xưa
Vô duyên từ dùng khắp
Ứng niệm theo cơ duyên
Giống như trăng trong nước
(Niệm danh hiệu như trước…)
Với công đức tụng kinh niệm Phật trên, xin chúc Tăng chư Thiên hộ pháp, báo đáp bốn ơn ba cõi, lợi lạc chúng sinh trong pháp giới. Chúng con xin sám hối gốc tội, trang nghiêm cõi Tịnh. Nguyện khi thân báo này sắp hết nhờ thiện căn chắc chắn được sinh về thế giới Cực lạc, thấy Phật nghe pháp, mau chứng Bồ-đề, rộng độ chúng sinh, rộng làm Phật sự.
(Niệm danh hiệu…)


                                    KHUYÊN TẤT CẢ MỌI NGƯỜI TU TRÌ
Nam-mô A-di-đà Phật.
“Nguyện cùng người niệm Phật,
Sinh hết về Cực lạc,
Thấy Phật thoát sống chết,
Độ tận theo gương Ngài.”
Đại Tạng kinh nói: “Người niệm Phật A-di-đà thì hiện đời tai nạn được tiêu trừ, tuổi thọ được trọn vẹn”. Đức Phật A-di-đà có lời nguyện rằng: “Lúc tôi thành Phật, nếu có chúng sinh khắp mười phương tin tưởng, yêu thích và muốn sinh về nước tôi, dầu họ chỉ niệm lớn danh hiệu tôi có mười tiếng, nhưng nếu không được sinh thì tôi thề không thành Phật”.
Mỗi buổi sáng, hành giả chắp tay, mặt hướng về Tây chí thành niệm Phật mười tiếng cùng niệm bốn câu kệ trên một biến. Nếu ngày nào hành giả cũng tu trì như vậy thì tự nhiên trong ao thất bảo ở Tây phương sẽ sinh một đóa hoa sen và ngày khác hành giả sẽ thác sinh vào đó. Quần áo, thức ăn của hành giả được hóa hiện ra theo ý nguyện của
mình và được sống lâu không già.
Trong Long Thư Tịnh độ văn nói về sự cảm ứng rất nhiều, Vương Nhật Hưu khuyên tôi nên vẽ hai bức tranh Tây phương. Nguyện kẻ phát tâm Đại Bồ-tát viết, in thành khá nhiều bản. Bản nhỏ in mười bản, bản lớn in một bản, bản nhỏ cho người bất kỳ, bản lớn chọn người mà cho, bản nhỏ để khuyên kẻ tỳ thiếp, bản lớn để khuyên người làm quan. Nếu có thể in ấn toàn bộ và lưu hành rộng là phước đức không dễ lường. Nhân sự tụng đọc lại kèm việc in cho, nên biết đó là sự khuyên răn tốt lành nhất.
Khuyên răn khẩu nghiệp: Miệng tụng danh hiệu Phật như nhả châu ngọc (được quả báo cõi Trời, cõi Phật); miệng thuyết pháp giáo hóa như phóng ánh sáng (phá vỡ sự mê ám của người); miệng nói lời vô ích như nhai gỗ nát (chẳng bằng im lặng dưỡng hơi); miệng ưa đùa cợt như mùa dao kiếm (sẽ làm tổn thương người); miệng nói lời nhơ bẩn như giòi bọ (quả báo súc sinh, địa ngục); miệng nói lời lành như phun hương trong lành (như việc khen ngợi sở trường của người); miệng nói lời thành thật như mở vải vóc ra (dùng để độ người); miệng nói lời lừa gạt như nay hố bay nguy hiểm (làm người mê lầm); miệng nói việc ác như phun hơi hôi thối (như nói chuyện kém của người).
Đời người chẳng qua là ba nghiệp thân miệng ý; sát đạo dâm là ba nghiệp của thân; nói dối, hai lưỡi, thêu dệt, nói lời ác là bốn nghiệp của miệng; tham sân si là ba nghiệp của ý. Tổng cộng là mười nghiệp; nếu giữ gìn không phạm thì đó gọi là mười điều lành. Theo lời Phật dạy thì quả báo khẩu nghiệp nhiều hơn hai nghiệp thân ý. Do vì khởi ý niệm thì chưa hẳn thành hình ra bên ngoài, nhưng đã nói ra miệng thì liền thấy sự việc. Toàn thân làm ác còn có lúc bị khó khăn ngăn trở, còn miệng thì dễ phát ra lời. Chưa nói việc đời sau, chỉ nói việc đời nay, ví như có người khen kẻ khác một lời thì người ấy suốt đời được mang ơn, để phước cho cháu con. Nói một lời hại người, kẻ ấy suốt đời bịhại, liên lụy cháu con. Khẩu nghiệp quả thật nặng nề. Một lời nói ra sẽ trở lại với chính mình, cho nên nó thật đáng sợ. Kẻ oán Trời thì nghèo khốn, kẻ vô trí thì oán người, chỉ nên tự cẩn thận ngăn tránh. Thuật lại ý Hiền thánh ở đây là để khuyên ngăn. (Một thiên này, nếu ai có thể ấn tống thì người đó là bậc thiện nhân trong số những người thiện).
Con đường siêu thoát luân hồi nhanh và tắt.
Trong Đại tạng có hơn mười cuốn kinh nói về những sự việc của Tịnh độ Tây phương; mọi người đều được hóa sinh trong hoa sen, áo quần và thức ăn đều do hóa thành, mọi người được sống lâu không già.
Nói về pháp môn tu hành của Tịnh độ gồm có chín phẩm. Nay tôi chọn ra một phương pháp mà mọi người đều có thể tu hành.
Đó là, Đức Phật A-di-đà có thệ nguyện rằng: “Lúc tôi thành Phật, nếu chúng sinh tin tưởng, yêu thích và muốn sinh về cõi nước của tôi, dẫu họ niệm lớn danh hiệu của tôi có mười tiếng nhưng nếu không được sinh thì tôi thề không thành Phật.” Hiện đời, những chúng sinh ấy có thể tiêu trừ được tai nạn, giải được oán kết, tăng thêm phước và bảo toàn được tuổi thọ.
Phương pháp ấy như thế nào? Hành giả mỗi sáng chấp hai tay, mặt hướng về phía Tây, đảnh lễ mà niệm Nam-mô A-di-đà Phật. Nam-mô Quán Thế Âm Bồ-tát. Nam-mô Đại Thế Chí Bồ-tát. Nam-mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ-tát (mỗi danh hiệu mười biến).
Lại đảnh lễ mà niệm một biến bài kệ “Đại Từ Bồ-tát tán Phật sám hối hồi hướng phát nguyện”:
“Phật ba đời mười phương,
Đệ nhất A-di-đà,
Chín phẩm độ chúng sinh,
Oai đức không cùng tận.
Con nay quyết quy y,
Sám hối tội ba nghiệp,
Nếu có những phước lành,
Một lòng đem hồi hướng.
Nguyện cùng người niệm Phật,
Tùy thời hiện cảm ứng,
Lúc mất cảnh Tây phương,
Hiện rõ ràng trước mắt.

Thấy nghe đều tinh tấn,
Cùng sinh nước Cực lạc,
Thấy Phật thoát tử sinh,
Độ chúng sinh như Phật”.
(Lại đảnh lễ mà lui ra).
Bài kệ này có uy lực rất lớn. Nó có thể diệt trừ tất cả tội và nuôi lớn tất cả phước. Dạy người niệm sẽ được phước báu lớn.
Nếu hành giả chí thành tụng niệm như thế thì sẽ sinh vào Trung phẩm. Hành giả lại tinh tiến thêm nữa lại đem pháp môn niệm Phật này để giáo hóa tất cả mọi người, khiến cho họ cùng khuyến hóa lẫn nhau. Được như thế, hành giả chắc chắn sinh vào Thượng phẩm thượng sinh. Người tội ác tu tập cũng được sinh vào Hạ phẩm. Trong khi niệm
Phật thì ao bảy báu ở phương Tây sinh ra một đóa sen, nêu tên họ người niệm, ngày sau sẽ thác sinh vào đó. Việc này so với việc nói âm phủ ghi họ tên đợi khi tuyệt mạng đến bắt hoàn toàn khác nhau.
Nhân duyên niệm Phật báo ứng.
Con gái nhà họ Lương hai mắt đã mù lại được sáng. Phu nhân họ Bằng bị bệnh lâu ngày được lành. Trần Trọng Cử đuổi quỷ oán đi. Lưu Tuệ Trọng đêm ngủ không còn bị kinh sợ. Những hiện tượng ấy là hiệu quả của việc niệm Phật lúc còn sống.
Bà lão họ Đào thấy Phật xuất hiện giữa bầu Trời. Đàm Giám có được hoa sen trong chiếc bình. Hoài Ngọc được đài vàng đón về Cực lạc. Trí Thuấn thấy chim khổng tước bay và hót. Những hiện tượng đó là hiệu quả của sự vãng sinh lúc lâm chung.
Chí Thông có mây lành năm màu xuất hiện. Ông họ Lý được ba căn không hư hoại. Bảo Tạng có đồng tử hiện trên đỉnh đầu. Công Tắc có màu vàng hiện trong thôn xóm. Những hiện tượng đó là hiệu quả của sự thị hiện thân đời sau.
Người sinh Tịnh độ thì chỉ tiến thẳng đến quả vị Phật chứ không thối lui. Vì vậy, nếu ta khuyên một người tu Tịnh độ tức là ta đã thành tựu một chúng sinh làm Phật. Thông thường, làm một vị Phật tất sẽ độ vô số chúng sinh. Như vậy, những chúng sinh được độ đó đều bắt đầu từ nơi ta. Vì thế, phước đức của người khuyên dạy kẻ khác tu tập Tịnh độ là không có cùng tận.
Kệ của Đại Từ Bồ-tát nói:
“Khuyên được một người tu,
Bằng tự mình tinh tiến,

Khuyên được quá mười người,
Phước đức là vô lượng.
Nếu khuyên đến trăm, ngàn,
Gọi là chân Bồ-tát,
Nếu hơn cả mười ngàn,
Là Di-đà từ phụ.”
Kệ lại nói:
“Ân tình cốt nhục thương nhau,
Khó mong cầu được bạc đầu đoàn viên,
Lắm người mất buổi tráng niên,
Lại còn nhiều đứa trẻ con qua đời,
Chuyên cần niệm Phật A-di,
Trong ao thất bảo tức thì hóa sinh,
Được an lạc được trường sinh,
Vầy sum mãi mãi chẳng còn biệt ly.”
Thơ người xưa nói:
“Ngàn món chẳng được mang đi,
Có mang chăng, chỉ nghiệp tùy tấm thân.”
Những người có chí nguyện cứu đời không tự cảnh tỉnh và lo sợ hay sao?
/129
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »