thì sẽ sinh phẩm cao nhất, nếu chỉ có giới gấp thì sẽ sinh bậc thấp nhất. Nếu chỉ có thừa mà không có giới thì đa phần bị nghiệp lực lôi kéo rơi vào tám bộ chúng quỷ thần, chính anh thấy nhiều bạn đồng học như vậy. Khi phần Bát-nhã của em rất sâu nhưng lực giới và định vô cùng ít, nếu chỉ ngộ lý mà không thể sinh giới định thì cũng chỉ là cuồng tuệ, trở lại cõi ngủ trược. Nhân sắc lực còn mạnh khỏe, em nên thật ngộ thật tu, cộng với Tịnh nguyện và siêng thực hành phương tiện, thương xót muôn loài thì chẳng lâu xa tự sẽ có cuộc gặp mặt tốt đẹp. Đã rơi vào đường khác thì thật đáng lo sợ. Nếu không thể trì giới thì các pháp lục trai là pháp để lại của Ngài Long Thọ nên theo đó mà hành trì. Trong các giới thì giới sát là nặng nhất. Gửi lời đến bạn đồng học, nếu chưa có ngày múa loạn đạo, miệng còn tham mùi vị mà có thể sinh vào chốn bình yên tốt lành. Tuy nói pháp như mây, như mưa thì nào có ích gì. Anh và em ở kiếp không vương là anh em, luân hồi trong sáu đường cũng đều như vậy. Đời nay ta may mắn đã được địa vị tốt lành, chỉ e rằng em bị đọa lạc nên dùng phương tiện thần lực đưa em đến đây. Chốn tịnh, uế cách xa nhau không thể ở lâu. Tôi bèn hỏi các vị Bá tu sinh ở đây, đáp rằng nơi sinh về đều tốt đẹp, em sau này sẽ tự biết. Nói xong bỗng bay lên không đi mất, chớp mắt đã không còn thấy nữa. Tôi khởi bước trên ao, bỗng như bị rơi xuống, giật mình thức giấc, khắp người tuôn mồ hôi. Lúc ấy tim đèn đã lụn, trăng sáng chiếu cửa sổ, đã hơn canh tư.
Viên Trung Đạo.
THỨ 1: SÁT ĐỘ MÔN
Nhất chân pháp giới, thân cõi xen nhau, cõi Phật nhiều như số giọt nước biển, tịnh uế không khác nhau. Chỉ vì chúng sinh hành nghiệp khác nhau, nên chư Phật hóa hiện cũng khác nhau, hoặc quyền hoặc thật, hoặc thiên hoặc viên, hoặc tạm hoặc thường, hoặc tiệm hoặc đốn, một trăng ngàn sông, mỗi một con sóng đều chứa đựng trăng sáng. Ng- hìn ngọn đèn trong một căn phòng ánh sáng tỏa chiếu toàn bộ các đèn. Lý tức nhất đế, tướng có ngàn sai, nếu không dẫn rộng linh văn, chúng sinh làm sao chọn được. Nên y cứ theo các giáo, nói sơ lược về mười môn:
1.Tỳ-lô-giá-na Tịnh độ.
2.Duy tâm Tịnh độ.
3.Hằng chân Tịnh độ.
4.Biến hiện Tịnh độ.
5.Ký báo Tịnh độ.
6.Phân thân Tịnh độ.
7.Y tha Tịnh độ.
8.Chư phương Tịnh độ.
9.Một tâm bốn thứ Tịnh độ.
10.Nhiếp thụ thập phương nhất thiết hữu tình bất khả tư nghì Tịnh độ.
1.Tỳ-lô-giá-na Tịnh độ.
Tức cõi nước bổn báo của chư Phật, mười liên hoa tạng thế giới hải, mỗi mỗi liên hoa tạng, thế giới thấp nhất, đều có mười Phật thế giới số như bụi nhỏ quảng đại sát, thanh tịnh trang nghiêm. Mỗi quảng đại sát lại có mười Phật thế giới, số như bụi nhỏ các tiểu sát bao quanh và tăng rộng ra. Mỗi thế giới Hoa tạng đều đầy hư không, triệt nhập lẫn nhau, tịnh uế đều chứa, lớp lớp vô tận, đúng như pháp mà luận: Thì một ngọn cỏ, một cái cây, một sợi lông, một hạt bụi đều có chứa vô tận pháp giới này, Phật và chúng sinh đều như một, không khác gì nhau. Có chỗ nói rằng: Đây là chúng sinh Thật báo trang nghiêm, không giống như quyền giáo cho Tịnh độ là ở phương khác đó là thật giáo.
Có chỗ nói: “Chúng sinh tuy có Thật báo này, nhưng vì sao thân như vô tính không thể tự chứng, đêm dài thăm thẳm, không có ngày gặp ánh mặt trời, muôn trùng sóng dữ, không biết ngày nào cập bến bờ. Tuy nói rằng địa ngục phát tâm diệu giác, Phật quả hiện cõi địa ngục, nhưng cũng giống như giường sắt cột đồng trước mắt mà thôi. Ví như ngạ quỷ chết khát ở ven bờ biển, người nghèo đếm tiền trong rương vàng, chỉ thấy đó là điều luống dối, đâu nói là thật được. Nếu không phải là giả phương tiện từ quyền vào thật, chúng sinh làm sao có được ngày chứng Tỳ-lô?”
Đáp rằng: Nếu y cứ vào phạm vi “chư Phật hóa nghi” thì có thể được. Còn trong cõi Thật tướng thì không có lời nói suông như thế. Phẩm Tỳ-lô-giá-na, Hán dịch là Biến nhất thiết xứ. “Biến nhất thiết xứ” tức là nghĩa tiêu biểu cho Vô lượng thọ, đâu có hơn kém. Chỉ do Như Lai vì “Một phần phẩm phu chấp tướng” mà nói rằng có Phật A- di-đà ở phương Tây. Cũng như trong Đại Vân kinh Phật A-di-đà nói với một Bồ-tát rằng có Đức Thích-ca ở thế giới Ta-bà. Hễ xem Thích-ca là chủ, thì Thích-ca sẽ ở khắp mọi nơi, mà A-di-đà là một nơi trong đó. Khi A-di-đà là chủ, thì A-di-đà sẽ ở khắp mọi nơi và Thích-ca Mâu-ni là một trong những nơi mà A-di-đà hiện diện. Như thân của một người, khi đương tự tự thì không ngại làm “tha” cho tất cả mọi người. Khi đương
tha tha thì không ngại làm tự cho tất cả mọi người. Vì lý do này mà “tự” tha bất thành, tự tha bất thành thì “tự” cũng khắp tất cả mọi nơi, “tha” cũng ở khắp mọi nơi, chứ đâu nhất định là có phương khác để chấp. Cho nên Tây phương Tỳ-lô chẳng phải tự tha. Vì sao? Vì Tỳ-lô trùm khắp, nếu nói quyền, nói phương tiện, vì có không khắp nên nghĩa Tỳ-lô bất thành.
2.Duy tâm Tịnh độ: Ngay đó tự chứng, đương thể vô tâm, tức là Tịnh độ, như kinh Duy-ma nói rằng: “Bảo Tích nên biết, trực tâm là Tịnh độ của Bồ-tát. Khi Bồ-tát thành Phật, không lừa dối chúng sinh sinh về nước ấy. Thâm tâm là Tịnh độ của Bồ-tát. Khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh có đủ công đức sinh về nước ấy, tâm Đại thừa là Tịnh độ của Bồ-tát, khi Bồ-tát thành Phật thì chúng sinh Đại thừa sinh về nước ấy. Văn kinh rất nhiều không thể dẫn lược, đại khái là muốn được Tịnh độ, thì phải tịnh tâm, hễ tâm tịnh thì cõi Phật tịnh. Tâm là tâm tức cõi tức tâm, tâm tịnh cõi tịnh, pháp là như thế. Lời này há chẳng phải chú thích của Tây phương hay sao? Người thường có tâm chấp cho pháp môn này chỉ dắt dẫn hàng độn căn, là do thấy có cõi ngoài tâm. Niệm tức là tâm, niệm Phật há chẳng phải tâm tịnh. Tâm vốn bao trùm cõi, Liên bang há ở ngoài tâm. Cho nên biết rằng y theo tướng chẳng trái duy tâm xứng tâm thật ngại độ khắp.
3.Hằng chân Tịnh độ: Tức là Tịnh độ trong hội Linh Sơn dẫn Bồ- tát quyền giáo trong Tam Thừa. Để cho biết rằng cõi này ngay trong uế mà hằng tịnh, các chúng tin mà chưa gặp. Phẩm tánh của uế vốn tịch, tướng tục hằng không. Vì vốn tịch (lặng) nên Bồ-tát cư uế thường tịch; hằng không, nên Bồ-tát nhập tục thường không Chính hiển nghĩa tịnh, nhưng vì chúng sinh chấp biển khó trong, dây thức dễ trói buộc, nói rằng nghiệp vốn không thì tùy tình tác nghiệp, ngôn hạnh vô thể, tức tha hồ hành phạm, bị Vĩnh Gia quở trách, đọa vào chỗ Thiện Tinh, cho đến gặp nạn vua, chết thành quyến thuộc của ma, luôn luôn như thế. Khiến khắp mặt đất đều là Bồ-tát, thì lời này thật là lợi ích, Bồ-tát trong thiên hạ thì ít mà phẩm phu thì nhiều, vì thế lời này có lợi cho thiên hạ cũng ít mà hại thì nhiều.
4.Biến hiện Tịnh độ:
Như kinh Pháp Hoa, nói ba lần biến Tịnh độ, dời chuyển các trời người đến nơi khác. Trong kinh Duy-ma, Thế Tôn ấn ngón chân xuống đất tức thì tam thiên đại thiên thế giới, như trăm ngàn châu báu nghiêm sức, đây là Như Lai tạm khiến hiển hiện, cũng là pháp nhĩ, người có trí như Thu tử, còn giống như bị mù, chúng sinh có căn thấp kém, không
có duyên để được nhìn thấy. Hơn nữa trời, người ở ngoài các phương, hoàn toàn không có nhân duyên được đắt dẫn, thần lực tạm hiện hoàn vô, cõi thường hằng há như An dưỡng Tịnh bang, trần kiếp thường trú, Di-đà từ phụ, mười điều ác không đổi thì cõi nước tốt xấu, đương nhiên có thể biết được.
5.Ký báo Tịnh độ:
Như trời Ma-he-thủ-la, Đức Như Lai ở cõi trời ấy mà thành Đẳng Chánh giác, đó là Thật báo Tịnh độ. Luận Khởi tín chép: “Bồ-tát công đức thành mãn, ở tầng trời sắc cứu cánh thị hiện thân cao lớn nhất của tất cả thế gian, nghĩa là dùng một niệm tương ưng tuệ, vô minh đốn sạch, gọi là nhất thiết chủng trí. Tự nhiên có bất tư nghì nghiệp, có thể hiện mười phương lợi ích chúng sinh.” Tạng Hòa thượng nói: “Vì sao những người thọ dụng báo thân ở tầng trời này, dùng ký báo thập vương, hiển Biệt Thập địa. Địa thứ mười nương vào thiên vương này, tức ở thân kia, thị hiện thành Bồ-đề. Nhưng tầng trời ấy tuy nói là vô lậu nhưng chẳng bằng Liên bang, ra khỏi ba cõi. Vì sao? Vì ở Sắc cứu cánh.
6.Phân thân Tịnh độ:
Như kinh Niết-bàn, Phật trả lời Cao Quý Đức Vương rằng: “Này thiện nam, về phương Tây cách thế giới Ta-bà này khoảng ba mươi hai hằng sa cõi Phật, có thế giới tên là Vô thắng, giống như thế giới Cực lạc. Ta ở cõi ấy, xuất hiện ra đời, vì giáo hóa chúng sinh, nên ở thế giới đó hiện quay bánh xe pháp. Lại kinh Ương-Quật. Phật nói với Ương- Quật rằng: “Ta trú mé vô sinh mà ông không giác biết.” Ương-Quật nói: “Nếu trú mé vô sinh, vì sao sinh cõi này.”
Phật dạy: “Phương Đông có Đức Phật, ông đến đó mà hỏi.”
Ương-Quật đến đó hỏi, thì vị Phật ở đó nói rằng: “Thích-ca tức là thân của ta”, đại ý nói Tịnh độ kia là Thật báo của Phật, đây là phân thân, tuy rõ được báo cảnh của một Phật, nhưng chưa có nghĩa nhiếp hóa. Phật phần thượng tức là hữu, chúng sinh phần thượng tức là vô, chưa phải là thù thắng.
7.Y tha Tịnh độ:
Như kinh Phạm Võng chép: “Nay ta Lô-xá-na, đang ngồi đài hoa sen, trên ngàn cánh chung quanh, lại hiện ngàn Thích-ca, một hoa trăm ức cõi, mỗi cõi một Thích-ca…” vì Sơ địa hóa trăm cõi Phật, nên có hoa trăm cánh. Nhị địa hóa ngàn cõi Phật, nên hoa có nghìn cánh. Nếu đến Tam địa thì ứng hiện Tứ địa thì mười muôn cánh và cứ thế mà tăng lên. Đó là thân y tha thụ dụng, phân thân thị hiện báo cảnh, nhập địa bèn thấy thập chẳng phải như thập niệm chúng sinh sinh trong hội. Liên Trì,
đốn thấy cõi Phật thanh tịnh.
8.Chư phương Tịnh độ.
Như Phật Dược Sư, ở phương Đông, Phật Nhật Nguyệt Đăng ở phương Nam, Phật Thương Tích ở phương trên, mỗi Phật đều có Tịnh độ riêng, những điều nói trong các kinh không thể nói đủ, đều là Thật báo trang nghiêm của chư Phật. Trong kinh hoặc có khi dùng thần lực Phật tạm thời khiến cho hiển hiện, hoặc các Đại Bồ-tát đến đó cúng dường, vì Đức Phật ấy không nói nhiếp hóa chúng sinh, nên các chúng sinh cũng không có nhân duyên sinh về nước ấy. Tức như thế giới diệu hỷ, Đức Thích-ca tuy ký có người vãng sinh nhưng không nghe Phật Vô Động có lời dắt dẫn, hơn nữa nước ấy có các núi Thiết vi, Tu-di và quỷ thần phụ nữ, cho nên biết sự nghiêm tịnh không bằng An dưỡng. Lại như Đức Dược Sư Như Lai dùng mười hai đại nguyện độ các hữu tình, trong kinh cũng nói người có lòng tin sẽ được sinh về. Xét nguyện lực của Đức Phật ấy, phần nhiều là giải thoát mọi âu lo sầu khổ, rốt ráo an vui, chẳng phải như Di-đà Như Lai thuần dùng niệm Phật nhiếp dẫn tất cả mọi người vãng sinh về cõi ấy.
9.Nhất tâm tứ chủng Tịnh độ.
a.Phẩm Thánh đồng cư độ.
b.Phương tiện hữu dư độ.
c.Thật báo vô chướng ngại độ.
d.Thường tịch quang độ.
-Phẩm Thánh đồng cư độ: Tự nó lại chia thành hai loại “Sơ đồng cư uế độ” và “Thứ đồng cư Tịnh độ”. Trong Uế độ phẩm cư có hai loại và Thánh cư có hai loại. Hai loại trong Phẩm cư gồm một là ác chúng sinh, tức bốn đường; hai là thiện chúng sinh, tức trời, người. Hai loại trong Thánh cư, thứ nhất là “Thật Thánh”, tức bốn quả Bích-chi, Thông giáo Lục địa, Biệt giáo thập trụ và Viên giáo thập tín hậu tâm, thông hoặc tuy hết nhưng báo thân vẫn còn, đều gọi là thật. Thứ hai là “quyền Thánh”, nghĩa là Diệu giác Phật và pháp thân Bồ-tát trong Phương tiện Thật báo tịch quang độ, vì lợi ích cho người hữu duyên, nên ứng sinh đồng cư, đều là Quyền, các vị này và bốn đường ở chung, nên gọi là uế độ.
Thứ đến là “Đồng cư Tịnh độ”, như ở Cực lạc có chúng sinh, ở cõi Diệu hỷ có các loại núi Thiết vi, nam nữ, vì không có bốn đường ác nên gọi là Tịnh độ, ta dựa theo đồng cư uế độ đã có các Thánh, cũng có thể gọi là “đồng cư Tịnh độ”, như thế giới Ta-bà ở lớp thứ mười ba của Hoa tạng thế giới, còn gọi là Hoa tạng.
-Phương tiện hữu dư độ: Nhị thừa, ba loại Bồ-tát, phá kiến tư hoặc, chứng phương tiện đạo trần sa biệt hoặc, vô minh chưa dứt, bỏ thân phần đoạn mà sinh giới ngoại, gọi là “hữu dư”, vì thế Thích luận chép: “Ra khỏi ba cõi có Tịnh độ, Thánh văn, Bích-chi-Phật sinh ra trong đó, thụ thân pháp tính, chẳng phải phần đoạn.
-Thật báo vô chướng ngại độ: Không có Nhị thừa, thuần là các Bồ-tát pháp thân, dứt hết hoặc trần sa, phần phá vô minh, đắc quả chân thật, nhưng vô minh chưa hết, nhuận nghiệp vô lậu thọ báo thân pháp tính, còn gọi là “quả báo quốc”, vì thế kinh Nhân Vương nói rằng: “Tam hiền thập Thánh trú quả báo, do quán Thật tướng, nên phát chân vô lậu, chiêu cảm quả báo tốt đẹp, bảy báu trang nghiêm, đầy đủ năm trần tịnh diệu, cho nên gọi là “thật”, sắc tâm không hai, các cõi tương dung nhau, nên gọi là “vô chướng ngại”, kinh Hoa Nghiêm nói về võng thế giới Nhân-đà-la chính là đó.
-Thường tịch quang độ: Diệu giác cực trí sở chiếu như như pháp giới, gọi đó là “quốc”, còn gọi là Pháp tánh độ. Nhưng nhất chân như tính, chẳng phải thân chẳng phải cõi mà nói thân cõi, lìa thân không cõi, lìa cõi không thân, là chỗ ở và dạo chơi của chư Phật Như Lai. Diệu tông nói: “Trong kinh luận nói rằng Tịch quang vô tướng đó là tướng đã diệt hết nhiễm ngại, chẳng phải như thái hư, hoàn toàn không có một vật, bởi do ba hoặc rốt ráo thanh tịnh, cho nên y chánh sắc tâm rốt ráo hiển bày rõ ràng”. Đại kinh chép: “Nhân diệt là sắc, đạt được thường sắc, thọ tưởng hành thức, cũng giống như thế. Nhân vương gọi là pháp tánh ngũ ấm, đó là cực quả. Nhưng các cõi nước trong mười phương tùy theo sự thấy biết khác nhau của tâm mà bảy báu hay ngói gạch đương xứ khác nhau, nên Tráp Xuyên nói cõi nước Cực lạc có bốn cõi khác nhau, sao lại y cứ vào hai thừa trời người, tức là hai thứ cõi nước, y cứ vào Bồ-tát, Phật, tức hai thứ cõi sau. Nên biết sáu mươi muôn ức na- do-tha hằng hà sa do-tuần… thân, không chướng ngại, lại có thân trượng sáu, Hoa tạng hải hội vô biên cõi Phật, không ngại lại có Ni-liên hà độ, vì sao? Vì là pháp nhĩ, chẳng phải do thần lực biến hiện.
10.Nhiếp thọ thập phương nhất thiết hữu tình bất khả tư nghì Tịnh độ.
Tức là Tịnh độ phương Tây của Phật A-di-đà, trong đó, tất cả biển công đức lớn, biển đại Bi trí, biển đại nguyện lực, nếu nói đủ thì dù cho chư Phật, Bồ-tát, Thánh văn, Bích-chi, trời người, quỷ súc, thấp kém như loài bay lượn bò trườn và tất cả cây cối thảo mộc gạch ngói bụi bặm vô tình, trong các thế giới ở mười phương mọi thứ đều có vô lượng
cái miệng, mỗi miệng lại có vô lượng cái lưỡi, mỗi cái lưỡi lại phát ra vô lượng âm thánh, thường nói, nói hoài, nói không ngừng nghỉ trải qua trăm ức muôn trần sa A-tăng-kỳ kiếp, cũng không thể nào hết được, nay chỉ giải thích sơ lược. Thứ nhất, thân độ bất tư nghì nghĩa; thứ hai, tính tướng bất tư nghì nghĩa; thứ ba, nhân quả bất tư nghì nghĩa; thứ tư, khứ lai bất tư nghì nghĩa; thứ năm, tất cánh bất khả tư nghì nghĩa.
1.Thân độ bất tư nghì nghĩa: Trong thân Phật A-di-đà có vô lượng chúng sinh, trong thân chúng sinh có vô lượng A-di-đà. Cõi nước cũng giống như vậy. Cho nên một chúng sinh niệm A-di-đà, một A-di-đà hiện ra, nhiều chúng sinh niệm A-di-đà, nhiều A-di-đà xuất hiện. Nếu trong thân chúng sinh không có A-di-đà thì A-di-đà không hiện, trong thân A-di-đà không có chúng sinh thì A-di-đà cũng không hiện, giống như gái bất dục muốn sinh con không thể nào được, vì đó là điều không thể được. Cho nên trong thân hàm chứa thân, thân hàm chứa nhiều thân, trong cõi hàm chứa nhiều cõi, thân cõi đan xen hàm chứa lẫn nhau lớp lớp vô tận, chính là mang ý nghĩa Thân độ bất tư nghì.
2.Tánh tướng bất tư nghì: Nếu lìa tánh mà nói về cõi thì cõi tức ngoài tâm, là huyễn hóa, không có thật. Huyễn hóa là tướng đoạn diệt, chúng sinh bất sinh. Nếu ngay nơi tánh mà nói về cõi thì tánh là hữu hình, là nhất định. Nhất định tức là không có biến dịch, không biến đổi, thì chúng sinh cũng bất sinh, ngay nơi tánh là tướng, chẳng phải tánh chẳng phải tướng, tồn phi phi vong, tồn tức tức hoại. Đó là nghĩa Tánh tướng bất tư nghì.
3.Nhân quả bất tư nghì: Có hai nghĩa, thứ nhất là, nhân trước quả sau, như niệm Phật là nhân, thấy Phật là quả; thấy Phật là nhân, thành Phật là quả; thành Phật là nhân, độ chúng sinh là quả. Nghĩa thứ hai là, nhân quả không có trước sau, tức niệm tức kiến, tức thành tức độ, cùng một lúc có đủ, giống như con người từ ba mươi đến bốn mươi tuổi, ba mươi là nhân, bốn mươi là quả, giữa ba mươi và bốn mươi không có tướng gián đoạn. Nếu không có bốn mươi thì ba mươi không có được, không có ba mươi thì không thành được bốn mươi. Vì thế nên biết là không lìa ba mươi mà đến bốn mươi, nếu lìa ba mươi mà đến bốn mươi thì giữa chúng phải có tướng phân hạn, mà thân này của ta không có phân hạn, giống như từ ba mươi đến bốn mươi, chính giữa phải có tướng nối tiếp tướng, mà thân này của ta, cho đến sự tương tục không thật có, niệm Phật nhân quả cũng giống như thế, đó là nghĩa “Nhân quả bất tư nghì”.
4.Khứ lai bất tư nghì: Nếu Phật A-di-đà vì nghe niệm mà đến